CƠ CHẾ BỆNH SINH BỆNH TỰ MIỄN
Năm 1897 Paul Ehrlich với khái niệm “tự độcđã khám phá được đặc điểm
bản của hệ thống miễn dịch là phân biệt được kháng nguyên bản thân và không
phải là bản thân. Paul Ehrlich cũng đã tiên đoán rằng tất cả những bất thường do
snhận biết kháng nguyên bản thân và không phải của bản thân sẽ khởi động sự
xuất hiện phản ứng miễn dịch chống lại một hay nhiều cấu trúc của cơ thể, và dẫn
đến sự tự phá huỷ.
Ngày nay c cơ chế miễn dịch liên quan bnh tự miễn đã được hiểu biết
nhiều nhờ vào stiến bộ của hình thực nghiệm, tuy nhiên nguyên nhân khi
động bệnh tự miễn vẫn đang còn chưa rõ ràng. Sxuất hiện của các tkháng thể
ngày nay được xem như chế của một số bệnh đáng kể. Bệnh tỷ lệ 5-7%
dân s thế giới và xếp hàng thba sau bệnh tim mạch ung thư. Mỗi năm
bệnh được bổ sung với sự phát hiện của tự kháng thể mới.
Người ta có thể tìm hiểu bằng cách nghiên cứu về cơ chế tại sao cơ thể duy
trì dung th kháng nguyên bản thân. Đáp ứng tự miễn xảy ra thphát sau một sự
rối loạn nhận biết về bản thân, đồng thời với sự hoạt tác của tế bào lympho B T
tphản ứng (autoreactive cells). Hiện nay có nhiều giả thuyết đặt ra nhằm giải
thích m thế o thđã vượt qua sự cân bằng để dẫn đến tổn thương sdung
thứ của bản thân.
Hiện tượng tmiễn sinh được kiểm soát trong giới hạn hẹp, do đó không
phát triển phản ứng miễn dịch chống lại thành phần bản thân. Trước đây người ta
cho rằng phần lớn các tự kháng nguyên tiếpc sớm với hệ thống miễn dịch trong
quá trình trưởng thành tế bào lympho. Đáp ứng tự miễn xảy ra sau khi sự tổn
thương của tchức như tự miễn xảy ra sau tổn thương tim, phản ứng chống
protein của thuỷ tinh thể gây viêm mắt giao cảm, phản ứng chống tinh trùng sau
thắt ống dẫn tinh. Trong những trường hợp này, đáp ứng tự miễn thể thoáng
qua và bệnh tự miễn chỉ xuất hiện nếu kháng nguyên tồn tại dai dẳng.
Các kháng nguyên ngoại lai khả năng phản ứng chéo với các tự kháng
nguyên của cơ thể sinh vật sẽ kích thích đáp ứng tự miễn. Sự bt chước cấu trúc
phân tđã được chứng minh một số kháng nguyên của vi sinh vật (vi khuẩn,
virus, sinh trùng). dnhư đáp ứng tự miễn sau nhiễm liên cầu khuẩn, viêm
não sau chủng ngừa dại. Cấu trúc bản thân có thể thay đổi sau khi liên kết với một
kháng nguyên nào đó tạo ra do virus hay loại thuốc nào đó. dụ t miễn với
cytochrom 450 sau khi gắn với chất chuyển hoá của acid tienilic
I. Dung thbản thân
1. Dung thtrung ương
1.1 Dung thtrung ương của tế bào T
Các tế bào tiền thân tế bào lympho T từ tuỷ xương di chuyển vào tuyến ức để
được huấn luyện trưởng thành. Trong tuyến ức, các tế bào tại đây tăng sinh và biệt
hoá rời vùng vđể đến vùng tuỷ. Trong suốt quá trình trưởng thành các tế bào
sắp xếp lại các gen mã hoá chuổi TCR. Đặc điểm chức năng của TCR giai đoạn
này trải qua quá trình chọn lọc dương tính âm tính. Các tế bào T được chọn
lọc sẽ di chuyển ra ngoại vi và đóng góp nguồn dự trữ các tế bào T trưởng thành.
Các tế bào tuyến ức cho phép biểu lộ TCR bề mặt được chọn lọc dương
tính vùng vdo sự tương tác với phức hợp MHC trình diện trên tế bào biểu
tuyến ức. Giai đoạn chọn lọc dương tính, các tế bào T CD8 và CD4 skhông
thnhận diện MHC bản thân. Trong quá trình chọn lọc tuyến ức, các tế bào T
tiếp tục tồn tại hoặc CD4 hoặc CD8 để tương tác với MHC lớp I hay lớp II
Trong vùng v- tu nhm loại bỏ các tế bào TCR ái lực mạnh với
kháng nguyên bản thân, chọn lọc âm tính xảy ra đối với tế bào có thụ thể nhận biết
MHC peptid bản thân. Các tế bào tua và đại thực bào dẫn xuất ttuỷ xương
những tế bào trình diện kháng nguyên có liên quan quá trình chọn lọc âm tính.
Các tế bào lympho T tồn tại sau quá trình chn lọc kép sẽ di chuyển đến các
cơ quan lympho ngoại vi hay trong tuần hoàn máu
1.2. Dung thứ trung ương của tế bào B
H thống miễn dịch cho phép chọn lựa đối lập nhau: sản xuất các tế bào
lympho B ththể màng khng nhận biết nhiều loại kháng nguyên nhưng
lại kiểm soát những tế bào lympho phản ứng kháng nguyên bn thân.
1.2.1. Trường hợp kháng nguyên màng
Sphát triển tế bào lympho B trong tu ơng nhằm sản xuất các tế bào
lympho B chưa trưởng thành. Một ít được chọn lọc để đi vào dự trữ tế bào lympho
B trưởng thành ở ngoại vi. Trong quá trình phát triển, các tế bào lympho B tự miễn
nhn biết kháng nguyên bản thân được kiểm soát hoặc ngừng biệt hoá, gọi là hu
diệt theo dòng trung ương (central clonal deletion), hoặc biến đổi thứ phát trong
việc bộc lộ các chuổi nhẹ hay gọi là receptor editing ”
-Hudiệt dòng trung ương : các tế bào lympho B bhuỷ diệt nếu chúng gặp
các tkháng nguyên bộc lộ trên b mặt của một tế bào khác. Các tkháng nguyên
này phải thể ngưng tập các Ig bề mặt của tế bào lympho B với ái lực mạnh.
Hơn nữa, khả năng dung thứ của tế bào lympho B liên quan chặt chẻ mức độ hoạt
hoá ththể bề mặt tế bào. Hoặc tính chất đồng phân, ái lực của kháng nguyên với
thụ thể tế bào lympho B.
-Editing receptor: Sgặp gcác tế bào lympho B tphản ứng và tkháng
nguyên trong tuỷ xương là tất yếu sau khi có sự huỷ dòng tế bào. Thực tế, người ta
thấy sự sắp xếp thứ phát các gen Ig gây nên bởi các tự kháng nguyên trong tu
xương, hiện tượng này gọi là “receptor editing nhằm mục đích thay đổi tính đặc
hiệu kháng nguyên của BCR hầu tránh sự nhận biết các kháng nguyên bản thân.
Các tế bào lympho B chưa trưởng thành có ththay thế chuổi nhẹ của chúng bằng
chuổi nhẹ khác và tạo nên ththể mới không tự phản ứng và cũng thoát khỏi chọn
lọc âm tính
1.2.2. Trường hợp kháng nguyên hoà tan
Tình trạng cảm (anergy): Khi tế bào lympho B gặp tự kháng nguyên hoà
tan trong tuxương thì không bhuỷ diệt mà cảm. cảm là nh trạng
liệt chức năng của tế bào lympho B. Các tế bào lympho B tphản ứng cảm
hiện diện ngoại vi nhưng không thể tăng sinh khi gặp tkháng nguyên. bộc
lộ sIgM yếu không thể sản xuất tự kháng thể trong huyết thanh
2.Dung th ngoại vi
Các tế bào lympho B T sinh ra các tổ chức lympho trung ương di
chuyển đến các cơ quan lympho ngoại vi. Quá trình chọn lọc trung ương đã loại bỏ
phần lớn các tế bào lympho tphản ứng. Tuy vậy, người ta vẫn tìm thy một số tế
bào lympho tự phản ứng ở ngoại vi
2.1.Dung thngoại vi của tế bào lympho T
2.1.1. ”Không biết, lờ đi”