
vietnam medical journal n02 - MARCH - 2020
174
BSGMHS trong và ngoài phòng mổ cũng như về
các nguy cơ liên quan đến quá trình GMHS. Thực
trạng này đòi hỏi hệ thống y tế (đặc biệt là Hội
Gây mê hồi sức Việt Nam, các bệnh viện) cũng
những người làm công tác quản lý y tế, các
BSGMHS cần tăng cường công tác giáo dục,
truyền thông cộng đồng để cải thiện hơn nữa hiểu
biết của người dân về chuyên ngành GMHS. Chiến
lược này đã được Hội gây mê Israel áp dụng
thành công trong một chương trình kéo dài vài
năm với việc sử dụng đồng thời nhiều hình thức
quảng bá khác nhau như; quảng cáo trả tiền,
phỏng vấn chuyên gia và bệnh nhân, điều tra và
báo cáo có chủ đích thông qua báo, tạp chí,
truyền thanh, truyền hình, website và cuối cùng là
áp phích, tờ phơi trong và ngoài bệnh viện [8].
Hạn chế của nghiên cứu này là số lượng bệnh
nhân tham gia còn ít. Vì vậy để có được bức
tranh tổng thể hơn về vấn đề nghiên cứu, trong
tương lai nên tiến hành điều tra tại nhiều bệnh
viện ở các tuyến khác nhau với số lượng bệnh
nhân lớn hơn.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu này cho thấy các bệnh nhân
ngoại khoa tại bệnh viện Bạch Mai có hiểu biết
chưa đầy đủ về nhiệm vụ và vai trò của các bác
sỹ gây mê hồi sức ở giai đoạn chu phẫu. Chúng
tôi cho rằng thông qua các hình thức khác nhau,
hội Gây mê hồi sức Việt Nam, các bệnh viện
cũng như cá nhân bác sỹ gây mê cần có ý thức,
chiến lược tuyên truyền, quảng bá nhằm cải
thiện thực trạng trên.
Lời cám ơn. Nhóm tác giả xin chân thành
cám ơn các bệnh nhân, khoa ngoại tổng hợp,
khoa gây mê hồi sức Bệnh viện Bạch mai về sự
hợp tác và hỗ trợ của họ cho nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Murray, T., Avidan, M.S., Ever, A.S. (2018).
The Scope and Future of Anesthesia Practice, in
Anesthesiology, D.E. Longnecker, Editor, MacGraw
Hill. p. 9-14.
2. Acosta-Martínez, J., Rosana, G.D., Daniel,
L.H.R., et al. (2016). The anaesthetist's role
from the patient's perspective. Colombian Journal
of Anesthesiology, 44: p. 121-127.
3. Hariharan, S., Merritt-Charles, L and Chen, D,
(2006). Patient perception of the role of
anesthesiologists: a perspective from the
Caribbean. Journal of clinical anesthesia, 18(7): p.
504-509.
4. Onutu, A.H., Rus, C., Acalovschi, I. (2017).
The public perception of the anaesthesiologist in
Romania: a survey. Rom J Anaesth Intensive Care,
24(1): p. 21-28.
5. Garcia-Marcinkiewicz, A.G., Long, TR.,
Danielson, DR., Rose, SH. (2014). Health
literacy and anesthesia: patients' knowledge of
anesthesiologist roles and information desired in the
preoperative visit. J Clin Anesth, 26(5): p. 375-82.
6. Gottschalk, A., Seelen, S., Tivey, S., et al
(2013). What do patients know about
anesthesiologists? Results of a comparative survey
in an U.S., Australian, and German university
hospital. J Clin Anesth, 25(2): p. 85-91.
7. Calman, L.M., Mihalache, A., Evron, S., et al
(2003). Current understanding of the patient's
attitude toward the anesthetist's role and practice
in Israel: effect of the patient's experience. J Clin
Anesth, 15(6): p. 451-4.
8. Cohen, B., Ogorek, D., Oifa, S., et al (2015).
Smart marketing may improve public
understanding of the anesthesia profession. Israel
Journal of Health Policy Research, 4(1): p. 16.
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN CO GIẬT DO SỐT ĐƠN THUẦN
TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG
Nguyễn Ngọc Sáng1, Đoàn Thị Linh1,
Hoàng Đức Hạ1, Phạm Thị Ngọc1
TÓM TẮT45
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng,
cận lâm sàng và một số nguyên nhân của co giật do
sốt đơn thuần ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Trẻ em
1Trường Đại học Y dược Hải Phòng
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Ngọc Sáng
Email: nnsang@hpmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 9.01.2020
Ngày phản biện khoa học: 28.2.2020
Ngày duyệt bài: 10.3.2020
Hải Phòng từ tháng 01/02/2018 đến tháng 31/1/2019.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phương
pháp mô tả cắt ngang, gồm 415 bệnh nhân (BN) nhi
được chẩn đoán co giật do sốt đơn thuần. Kết quả và
kết luận: Co giật do sốt đơn thuần xảy ra ở tất cả các
lứa tuổi, có tỉ lệ cao nhẩt ở nhóm tuổi từ 12 đến 24
tháng (39,8%); độ tuổi trung bình là 26,96 ± 1,23
tháng; 78,6% cơn co giật dưới 5 phút; thân nhiệt
trung bình lúc co giât là: X = 39,22 ± 0,63°C; số
lượng bạch cầu trung bình là: X ± SD = 13.39±6,18
G/l; bạch cầu đa nhân trung tính tăng chiếm 88,6%.
Tỷ lệ tái phát cơn co giật do sốt đơn thuần là rất lớn

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 2 - 2020
175
(chiếm 28,0%, tức gần 1/3 số trường hợp), nên cần
hướng dẫn cha mẹ cách phòng tái phát cơn. Nguyên
nhân chính là nhiễm trùng đường hô hấp trên (chiếm
73,25%), đặc biệt là vào mùa đông xuân cao nhất vào
những tháng từ tháng 10 đến tháng 3, khi nhiệt độ cơ
thể trẻ trên 39°C; nên phát hiện chẩn đoán và điều trị
sớm nguyên nhân nhiễm trùng rất quan trọng để ngăn
ngừa co giật.
Từ khóa:
co giật do sốt đơn thuần, sốt.
SUMMARY
CLINICAL EPIDEMIOLOGY, LABORATORY
CHARACTERISTICS ETIOLOGY OF SIMPLE
FEBRILE SEIZURES AT HAIPHONG
CHILDREN’S HOSPITAL
Objectives: This study aims to o describe clinical
and subclinical epidemiological characteristics and
some causes of simple febrile seizures in children
treated in Hai Phong Children's Hospital from February
1, 2018 to January 31, 2019. Subjects and
methods: a cross-sectional and descriptive study
involving 415 pediatric patients diagnosed with simple
febrile seizures. Results and conclusions: Simple
febrile seizures occur in all age groups, with the
highest incidence in the age group 12 to 24 months
(39.8%); The average age was 26.96 ± 1.23 months;
78.6% of seizures less than 5 minutes; average body
temperature at contraction was 39.22 ± 0.63°C;
neutrophils increased by 88.6%. The rate of recurrent
seizures due to fever was very large (accounting for
28.0%, or nearly 1/3 of cases), so parents need to be
instructed on how to prevent relapses. The main
cause was upper respiratory tract infection
(accounting for 73.25%), especially in the winter-
spring season from October to March, when the body
temperature was over 39°C; Early diagnosis and
treatment of the cause of the infection should be
identified to prevent seizures.
Key words:
simple febrile seizures, fever.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Co giật do sốt là rối loạn thần kinh thường
gặp ở trẻ dưới 5 [6]. Co giật do sốt được chia
thành 2 loại: co giật do sốt đơn thuần và co giật
do sốt phức tạp [5]. Tại Việt Nam, số trẻ bị co
giật do sốt gặp khoảng 3% số trẻ dưới 5 tuổi
[1]. Các nguyên cứu về giật do sốt cao đơn
thuần đã được tiến hành ở nhiều nơi nhưng đặc
điểm dịch tễ học lâm sàng có sự khác nhau giữa
các địa phương. Tại Hải Phòng, vẫn chưa có
nhiều nghiên cứu về co giật do sốt đơn thuần
được thực hiện. Vậy đặc điểm dịch tễ học lâm
sàng của co giật do sốt cao đơn thuần ở trẻ em
vào điều trị tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
trong năm qua như thế nào, các nguyên gây
bệnh là những câu hỏi rất cần có lời giải đáp? Do
đó, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục
tiêu mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, cận
lâm sàng và một số nguyên nhân của co giật do
sốt đơn thuần ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Trẻ
em Hải Phòng từ tháng 01/02/2018 đến tháng
31/1/2019.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
- Gồm 415 bệnh nhân bệnh nhi vào điều trị
tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng được chẩn đoán
co giật do sốt (CGDS) đơn thuần
- Tiêu chuẩn chẩn đoán co giật do sốt đơn
thuần dựa theo tiêu chuẩn của Hội Nhi khoa Hoa
Kỳ, Hội đồng kinh thế giới [3].
+ Thời gian co giật dưới 15 phút.
+ Cơn co giật toàn thể.
+ Không có biểu hiện bệnh lý thần kinh trước đó.
+ Xảy ra <2 cơn trong 24 giờ.
- Tiêu chí loại trừ:
+ Những trẻ bị động kinh này không bị sốt
hoặc bị sốt mà không kèm theo co giật.
+ Tiền sử động kinh hoặc co giật do sốt phức
tạp nhiều lần.
+ Co giật do sốt phức tạp.
+ Trẻ được chẩn đoán bị nhiễm trùng hệ thần
kinh trung ương hoặc bệnh não, rối loạn chuyển
hóa (hạ natri máu, hạ canxi máu, hạ đường
huyết), hoặc ngộ độc, chấn thương não đồng
thời hoặc chấn thương đầu kết hợp.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/02/2018
đến tháng 31/1/2019
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Trẻ em Hải
Phòng
- Xử lý số liệu:
số liệu được nhập và xử lý
trên phần mềm SPSS 20.0. Sử dụng các xét
nghiệm thống kê y tế: Thử nghiệm Chi Square
để tìm mức độ phù hợp (χ2), thử nghiệm T- so
sánh hai giá trị trung bình. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê khi p <0,05.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong khoảng thời gian tiến hành nghiên cứu,
đã có 415 BN vào viện với chẩn đoán CGDS đơn
thuần. Tỷ lệ nam / nữ = 1,94 / 1. Trẻ vào viện vì
CGDS xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, có tỉ lệ cao
nhẩt ở nhóm tuổi từ 12 đến 24 tháng (39,8%),
sau đến nhóm 24-<36 tháng (39,8%), thấp hơn
ở nhóm dưới 12 tháng (15,6%), thấp nhất ở
nhóm tuổi >48 tháng (7,7%).
- Về thời điểm mắc bệnh: Trẻ CGDS vào viện
gặp ở tất cả các tháng trong năm, thời điểm
bệnh xuất hiện nhiều nhất từ tháng 10 (7,4%)
đến tháng 3(11,5%) năm sau; Cao nhất tháng 1
(18,07%)
- Đặc điểm của cơn co giật:

vietnam medical journal n02 - MARCH - 2020
176
Bảng 2. Phân bố tái phát cơn co giật do
sốt đơn thuần theo tuổi.
<1
tuổi
>=1
tuổi
Tổng
P
Lần
đầu
57
242
299
p=
0,002
87,7%
69,1%
72,0%
Tái
phát
8
108
116
12,3%
30,9%
28,0%
Tổng
65
350
415
100%
100%
100.0%
Nhận xét:
Hầu hết số trẻ CGDS đơn thuần là
trẻ >= 1 tuổi trong đó trẻ bị CGDS lần đầu
chiếm 60,1%, tái phát 30,9%. Nhóm trẻ <1 tuổi
có 65 BN (chiếm 87,7%).
- Thời gian từ khi sốt đến khi co giật: 39,0%
số trẻ xuất hiện cơn co giật khi sốt dưới 6 giờ,
sốt 6-<12 tiếng xuất hiện cơn co giật chiếm tỉ lệ
24,6%, sốt 12-< 24 tiếng xuất hiện cơn co giật
chiếm 19,3%. Sốt trên 1 ngày, tỉ lệ xuất hiện co
giật chiếm thấp (17,1%).
Bảng 3. Phân bố trẻ co giật do sốt theo
thời gian cơn co giật
Thời gian co giật
Số bệnh
nhân (n)
Tỷ lệ
%
<2 phút.
129
31,1
2 - < 5 phút.
197
47,5
5 -< 15 phút.
55
13,3
Không rõ thời gian
34
8,1
Tổng
415
100
Nhận xét:
Hầu hết các cơn co giật thường
ngắn dưới 5 phút 79,6% trong đó cơn co giật
kéo dài <2 phút chiếm 31,1%, 2-<5 phút chiếm
47,5%.
- Thân nhiệt thấp nhất lúc co giât là: 37.8°C.
Thân nhiệt cao nhất lúc co giât là: 41°C. Thân
nhiệt trung bình lúc co giât là: X = 39, 22 ±
0,63°C. 59,57% thân nhiệt của trẻ lúc co giật
nằm trong khoảng 39-<40°C; 21, 29% nhiệt độ
lúc co giật >40°C
- Đặc điểm của đợt sốt: Nhiệt độ cao nhất
trong đợt sốt là: 42°C. Nhiệt độ trung bình trong
đợt sốt là: X = 39,19 ± 0,61°C. Nhiệt độ cao
nhất trung bình trong đợt sốt chủ yếu nằm trong
khoảng 39 -< 40°C. Số ngày sốt: 64,8% các trẻ
co giật do sốt cao đơn thuần có đợt sốt kéo dài
dưới 4 ngày, số trẻ có đợt sốt kéo dài 4-<7 ngày
chiếm 29,4%. Số trẻ có đợt sốt >7 ngày chiếm
tỷ lệ thấp nhât 5,8%.
Bảng 4. Sự thay đổi số lượng bạch cầu
(BC) ở trẻ co giật do sốt cao đơn thuần
Số
lượng
BC
( G/l)
Bệnh nhân (n=415)
Tổng
Tăng BC đa
nhân trung
tính
Không tăng
BC đa nhân
trung tính
<4
1
1
2 (0,5%)
4-<=10
103
35
139(33,3%)
>10
263
11
274 (58,3%)
Tổng
367(88,6%)
48(11,4%)
415 (100%)
Nhận xét:
Số lượng BC trung bình là: X± SD
= 13,39 ± 6,18 G/l. Phần trẻ có số lượng BC
tăng có 274 ( 58,3%), trong đó tăng BC đa nhân
trung tính chiếm 88,6%.
- Sự thay đổi nồng độ CRP trong máu: 68%
trẻ có tăng CRP.
- Về chất điện giải trong máu: Trong số 180
trẻ được xét nghiệm Na +, K+ trong máu, 100%
là bình thường, Nồng độ Na + trung bình là 137
± 2,94 mmol/l. Nồng độ K + trung bình là 3,8 ±
0,41 mmol/l.
Bảng 5. Phân bố trẻ co giật do sốt theo
nguyên nhân
Bệnh lý nguyên nhân
gây sốt
Số bệnh
nhân(n)
Tỷ lệ
%
Nhiễm khuẩn hô hấp trên
(viêm mũi họng, viêm
amidal, viêm giai giữa.....)
304
73,25
Nhiễm khuẩn hô hấp dưới
54
13,01
Sốt do virut cúm
24
5,78
Nhiễm khuẩn tiết niệu
9
2,17
Tiêu chảy cấp + NK đường
tiêu hóa.
23
5,55
Sau tiêm vacxin
1
0,25
Tổng
415
100
Nhận xét:
Có 73,25% trường hợp bệnh lý
nguyên nhân gây sốt là do nhiễm khuẩn đường
hô hấp trên.
IV. BÀN LUẬN
Về tuổi mắc bệnh: kết quả nghiên cứu của
chúng tôi trẻ vào viện vì co giật do sốt đơn
thuần xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, có tỉ lệ cao
nhẩt ở nhóm tuổi từ 12 đến 24 tháng (39,8%).
Độ tuổi trung bình là 26,96 ± 1,23 tháng. Kết
quả của chúng tôi giống với nghiên cứu của tác
giả Yousefchaijan P[8] hầu hết trẻ CGDS đơn
thuần xảy ra ở độ tuổi 12-24 tháng, tuổi trung
bình 26,1 tháng.
Về thời điểm mắc bệnh: Trẻ bị CGDS đơn
thuần vào tất cả các tháng trong năm, thời điểm
bệnh xuất hiện nhiều nhất từ tháng 10 (7,4%)
đến tháng 3 (11,5%) năm sau, cao nhất tháng 1
(chiếm 18,07%). Như vậy, thời điểm cao nhất
của trẻ bị CGDS là vào mùa đông xuân và cuối
mùa hè. Nghiên cứu của chúng tôi tương tự như
một số nghiên cứu ở Nhật Bản [4] cho thấy hai
đỉnh của tỷ lệ mắc bệnh, từ tháng 11 đến tháng
1 và tháng 6 đến tháng 8, tương ứng với đỉnh
của nhiễm trùng đường hô hấp trên và nhiễm

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 2 - 2020
177
trùng đường tiêu hóa.
Đặc điểm của cơn co giật: Về thời gian co
giật, hầu hết các cơn co giật thường ngắn hơn 5
phút 79,6%. Một số ít không biết chính xác thời
gian (8,1%). Cơn co giật ngắn trẻ ít thiếu oxy
trong não hơn. Vì vậy, nhiều tác giả cho rằng co
giật do sốt đơn thuần là một rối loạn lành tính, ít
có hậu quả tiêu cực. Về sự tái phát cơn giật, hầu
hết trẻ em bị co giật do sốt đơn thuần lần đầu
72,0%, tái phát là 28,0%. Số BN bị co giật dưới
6 giờ kể từ khi bắt đầu sốt là 39,0% trường hợp.
Phần lớn BN bị co giật trong ngày đầu tiên bị sốt
(82,9%). Kết quả của Thébault-Dagher cũng bao
gồm 91% trẻ em bị co giật trong ngày đầu tiên
bị sốt [7].
Về đặc điểm của sốt: Tại thời điểm co giật,
nhiều gia đình không cặp nhiệt độ (66,3%).
Phần lớn các trường hợp CGDS xảy ra khi nhiệt
độ cơ thể của trẻ là 39- <40°C (20,2%), có một
trường hợp trẻ bị sốt nguy hiểm 41°C. Nhiệt độ
trung bình của cơ thể khi co giật là 39,23 ±
0,53°C. Tương đồng với nghiên cứu của
Yousefichaijan P và CS [8]. Về số ngày sốt:
64,8% các trẻ CGDS cao đơn thuần có đợt sốt
kéo dài dưới 4 ngày.
Về đặc điểm cận lâm sàng: phần lớn trẻ có
số lượng BC tăng (chiếm 58,3%), chủ yếu tăng
BC đa nhân trung tính (chiếm 88,6%), CRP tăng
chiếm 68%. Trong số 180 trẻ được xét nghiệm Na
+, K+ trong máu, phần lớn là bình thường, Nồng
độ Na + trung bình là 137 ± 2,94mmol/l. Nồng độ
K + trung bình là 3,8 ± 0,41mmol/l. Kết quả của
chúng tôi tương tự như nghiên cứu Yousefchaijan
P [8], 100% và 99,5% nồng độ Na + và K + là
bình thường. Do đó, xét nghiệm điện giải máu
nên được thực hiện trong trường hợp mất nước
khi có rối loạn nghiêm trọng của đường tiêu hóa
trong khi co giật do sốt có ít thay đổi.
Về nguyên nhân co giật do sốt: Có
73,25% trường hợp bệnh lý nguyên nhân gây
sốt là do nhiễm khuẩn đường hô hấp chủ yếu từ
viêm mũi họng, viêm amidan... kết quả của
chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu Phan Văn
Minh [2] 55,9%; Thứ hai là sốt do nhiễm trùng
đường hô hấp dưới chiếm 13,01%. Tiêu chảy
cấp do Rotavirus và do lỵ gây ra chiếm 5,55%.
Nhiễm trùng đường tiết niệu chiếm 2,17%; Có
một trường hợp (chiếm 0,25%) co giật do sốt
sau khi tiêm vắc-xin ComBE Five 1 ngày. Theo
một số tác giả khác, nguyên nhân do sốt chủ yếu
là do virus [8], một số trường hợp co giật do sốt
đã được báo cáo sau khi tiêm vắc-xin, thường là
vắc-xin giảm liều độc tính như sởi quai bị, rubella
(MMR), vắc-xin độc lực hoặc một phần tế bào
như ho gà.
V. KẾT LUẬN
Về đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, cận
lâm sàng: Co giật do sốt đơn thuần xảy ra ở tất
cả các lứa tuổi, có tỉ lệ cao nhẩt ở nhóm tuổi từ
12 đến 24 tháng (39,8%). Độ tuổi trung bình là
26,96 ± 1,23 tháng. Thời điểm mắc bệnh chủ
yếu vào mùa đông xuân. 78,6% cơn co giật dưới
5 phút. Tỷ lệ tái phát là 28,0%. Thân nhiệt cao
nhất lúc co giât là: 41°C. Thân nhiệt trung bình
lúc co giât là: X = 39,22 ± 0,63°C. 59,57% thân
nhiệt của trẻ lúc co giật nằm trong khoảng 39-
<40°C; 64,8% các trẻ co giật do sốt cao đơn
thuần có đợt sốt kéo dài dưới 4 ngày; Số lượng
bạch cầu trung bình là: X± SD = 13,39±6,18G/l.
68% trẻ có số lượng bạch cầu tăng. Số bệnh
nhân tăng bạch cầu đa nhân trung tính chiếm đa
số 88,6%. 68% trẻ có CRP tăng.
Về nguyên nhân gây co giật do sốt đơn
thuần: Có 73,25% trường hợp bệnh lý nguyên
nhân gây sốt là do nhiễm khuẩn đường hô hấp
trên, do nhiễm trùng đường hô hấp dưới chiếm
13,01%, tiêu chảy cấp do Rotavirus và do lỵ
chiếm 5,55%. Nhiễm trùng đường tiết niệu
2,17%, co giật do sốt sau khi tiêm vắc-xin 0,25%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Đức Hinh (1994). Các hội chứng co giật. Thần
kinh học trẻ em; Nhà xuất bản Y học, Hà Nội 1994:
121-3.
2. Phan văn Minh (2017). Đặc điểm lâm sàng và
sự biến đổi nồng độ kẽm huyết thanh ở trẻ từ 6
tháng đến 5 tuổi bị co giật do sốt đơn thuần tại
Bệnh viện trẻ em Hải Phòng. Luận văn thạc sỹ y
học, Đại học Y Dược Hải phòng: 32-52.
3. Fisher RSC, J. H.French, J. A. et al, (2017).
Operational classification of seizure types by the
International League Against Epilepsy: Position
Paper of the ILAE Commission for Classification
and Terminology. Epilepsia; 58(4): 522-30.
4. Mikkonen K, Uhari M, Pokka T, et al. (2015).
Diurnal and seasonal occurrence of febrile seizures.
Pediatric neurology; 52(4):424-7.
5. Nelson KB, Ellenberg JH. (1976). Predictors of
epilepsy in children who have experienced febrile
seizures. N. Engl J Med; 295: 1029-1033.
6. Shinnar S (2003). Febrile Seizures and Mesial
Temporal Sclerosis. Epilepsy Curr; 3:115-8
7. Thébault-Dagher (2019). Febrile seizures and
increased stress sensitivity in children: How it
relates to seizure characteristics. Epilepsy &
Behavior 95: 154-69.
8. Yousefichaijan P, Dorreh F, Abbasian L, et al.
(2015). Assessing the prevalence distribution of
abnormal laboratory tests in patients with simple
febrile seizure. Journal of Pediatric Neurosciences
10: 93-7.

