
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
67
5. Pakfetrat M, Nikoo MH, Malekmakan L, et al.
Risk Factors for contrast-related acute kidney injury
according to risk, injury, failure, loss, and end-stage
criteria in patients with coronary interventions. Iran J
Kidney Dis. 2010;4(2):116-122.
6. Saritemur M, Turkeli M, Kalkan K, et al.
Relation of uric acid and contrast-induced
nephropathy in patients undergoing primary
percutaneous coronary intervention in the ED. Am
J Emerg Med. 2014;32(2):119-123.
7. Baldwin W, McRae S, Marek G, et al.
Hyperuricemia as a mediator of the
proinflammatory endocrine imbalance in the
adipose tissue in a murine model of the metabolic
syndrome. Diabetes. 2011;60(4):1258-1269.
8. Barbieri L, Verdoia M, Schaffer A, et al. Uric
acid levels and the risk of Contrast Induced
Nephropathy in patients undergoing coronary
angiography or PCI. Nutr Metab Cardiovasc Dis.
2015;25(2):181-186.
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TỚI ĐỘ NẶNG CỦA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN CẤP Ở TRẺ EM
Nguyễn Ngọc Sáng1, Nguyễn Đức Thập2,
Nguyễn Thị Ngọc Thủy1, Hoàng Đức Hạ1
TÓM TẮT17
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và
một số yếu tố liên quan tới độ nặng của viêm tiểu phế
quản cấp (VTPQC) ở trẻ em. Đối tượng và phương
pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang
trên tất cả trẻ bị VTPQC điều trị tại Bệnh viện Trẻ Em
Hải Phòng từ 1/10/2016 đến 30/9/2017. Kết quả:
Trong 377 trẻ bị VTPQC, có 261 trẻ trai và 116 trẻ gái,
tỉ lệ trẻ trai: trẻ gái = 2,14:1; tuổi dưới 6 tháng chiếm
tỉ lệ cao nhất (57%), có 12,5% trẻ bị VTPQ nặng. Khò
khè là lý do trẻ được đưa đến viện nhiều nhất
(69,2%). Biểu hiện trên lâm sàng của VTPQC là ho,
khò khè, xổ mũi,… chiếm tỉ lệ rất cao, trên 90% và
thường xảy ra và mùa thu đông (69,2%). Hình ảnh ứ
khí trên XQ tim phổi chiếm tỉ lệ 32,9%. Trẻ ≤ 6 tháng
tuổi; trẻ đẻ nhẹ cân, đẻ non, không được bú mẹ đầy
đủ trong 4-6 tháng đầu sau sinh, bị hút thuốc lá thụ
động là yếu tố nguy cơ viêm tiểu phế quản nặng. Kết
luận: VTPQC là bệnh lý thường gặp ở mùa thu đông,
gặp nhiều hơn ở trẻ trai, triệu chứng lâm sàng chủ
yếu là ho, khò khè, khó thở. Trẻ ≤ 6 tháng tuổi; trẻ đẻ
nhẹ cân, đẻ non, không được bú mẹ đầy đủ trong 4-6
tháng đầu sau sinh, bị hút thuốc lá thụ động là các
yếu tố nguy cơ của viêm tiểu phế quản nặng ở trẻ em.
Từ khóa
: Viêm tiểu phế quản cấp, trẻ em
SUMMARY
CLINICAL EPIDEMIOLOGICAL
CHARACTERISTICS AND SEVERAL
FACTORS RELATED TO SEVERE LEVEL OF
ACUTE BRONCHOLITIS IN CHILDREN
Objective: To describe clinical epidemiology
characteristics of and some factors related to severe
level in children with acute bronchiolitis. Subjects
1Trường Đại học Y dược Hải Phòng;
2Bệnh viện Sản-Nhi Hưng Yên
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Ngọc Sáng
Email: nnsang@hpmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 18.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 13.4.2020
Ngày duyệt bài: 20.4.2020
and Methods: A cross sectional study was
implemented in all patients with acute bronchiolitis
were treated in Haiphong Childen’s hospital from
1/10/2016 to 30/9/2017. Results: Among 377
children, have 261 boys and 116 girls with ratio of
boy: girl = 2.14:1; children under 6 months accounted
for the highest proportion (57%) of acute bronchiolitis
and with 12.5% with sereve disease. Wheezing is the
main reason to taken to hospital (69.2%). Clinical
symptoms of acute bronchiolitis were cough,
wheezing, runny nose (90%), often occurred in
winter- autum season (69.2%). Image of stasis on
chest X-ray accounted for 32.9%. The risk factors
included age (≤ 6month), low birth weight, preterm
birth, non- breastfeeding for 6 first months, early
weaning and exposition to cigarette smoke increased
the severe disease, were statistically significant with p
<0.05. Conclusions: Acute bronchiolitis was a
common disease in winter- autum season, more
popular in boys, clinical symptoms related to upper
respiratory tract inflammation. The risk factors
included age ≤ 6 month, low birth weight, preterm
birth, non- breastfeeding for 6 first months, early
weaning and exposition to cigarette smoke increased
the severe disease.
Key words:
acute bronchiolitis, children
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phế quản là một bệnh nhiễm trùng
đường hô hấp dưới xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi,
thường gây ra bởi một số loại virus. Viêm một
phần hoặc hoàn toàn đường thở, phù nề và tăng
tiết dịch tiểu phế quản gây tắc nghẽn đường thở,
diễn biến lâm sàng đa dạng và phức tạp, có thể
nhanh chóng dẫn đến suy hô hấp, cần được
chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời để hạn chế tử
vong [9]. Phần lớn các trường hợp VTPQ có biểu
hiện nhẹ, có thể được điều trị và chăm sóc tại
nhà, ước tính khoảng 2-3% trẻ mắc bệnh cần
phải nhập viện, trong số này có khoảng 5% trẻ
phải chuyển vào khoa hồi sức tích cực vì suy hô
hấp [6]. Tỷ lệ tử vong của VTPQC nặng là 1-7%,

vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
68
tăng đến 30-40% ở nhóm trẻ nguy cơ sinh non,
loạn sản phế quản phổi, tim bẩm sinh [1]. Có
nhiều yếu tố ảnh hưởng làm nặng VTPQC như
môi trường sống đông đúc, hít khói thuốc lá, trẻ
không bú mẹ, bệnh tim bẩm sinh… với thời gian
nằm viện trung bình dài hơn và tỷ lệ tử vong cao
hơn [10]. Việc nhận biết các yếu tố tiên đoán
VTPQC nặng rất cần thiết trong điều trị trẻ nhỏ
bị VTPQ cấp tính. Do đó chúng tôi tiến hành đề
tài này với 2 mục tiêu: 1- mô tả đặc điểm dịch tễ
học lâm sàng của viêm tiểu phế quản cấp ở trẻ
em tại Bệnh viện trẻ em Hải Phòng từ 1/10/2016
đến 30/9/2017; 2- mô tả một số yếu tố liên quan
của viêm tiểu phế quản nặng ở các bệnh nhi trên.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian
nghiên cứu: Gồm tất cả trẻ được chẩn đoán
viêm tiểu phế quản cấp nhập viện và được điều
trị tại Bệnh viện Trẻ em Hải phòng từ 1/10/2016
đến 30/9/2017.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Gồm
toàn bộ trẻ 02 tháng đến 24 tháng tuổi được
chẩn đoán viêm tiểu phế quản theo tiêu chuẩn
của AAP năm 2014 như sau:
- Viêm đường hô hấp trên: sốt, ho, hắt hơi,
sổ mũi…
- Diễn biến trong vòng 48 - 72 giờ đến thở
nhanh, rút lõm ngực hoặc co kéo gian sườn và
có dấu hiệu ứ khi trên lâm sàng hoặc X quang
lồng ngực.
- Khò khè lần đầu hoặc lần 2.
- Khám phổi: ran ít, ran ngáy chủ yếu ở thì
thở ra và/ hoặc ran ẩm nhỏ hạt. Có thể có rì rào
phế nang giảm hoặc không nghe thấy ran.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Khò khè lần thứ 3 trở lên hoặc đã được
chẩn đoán hen phế quản.
- Trẻ nằm ngoài độ tuổi nghiên cứu, gia đình
không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.4. Tiêu chuẩn bệnh nhân viêm tiêu
phế quản nặng. Chẩn đoán mức độ nặng của
VTPQ dựa theo thang điểm MCBS (Modified
Cincinnati Bronchiolitis Score) [1-3]. Thang điểm
MCBS như sau:
Chỉ số
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Tần số thở theo
tuổi khi nằm
yên (*)
Bình thường
Nhanh
Sử dụng cơ hô
hấp phụ
Không co kéo
Co kéo
vừa
Co kéo
nặng
Trao đổi khí
(nghe)
Bình thường
Giảm một
vùng
Giảm
nhiều
vùng
Khò khè
Không/cuối
thì thở ra
Suốt thì
thở ra
Cả 2 thì
Tổng điểm
Tối đa 7 điểm
(*) Tần số thở nhanh ≥ 60 lần/phút (trẻ ≤ 2
tháng), ≥ 50 lần/phút (trẻ từ 2 đến 12 tháng), ≥
40 lần/phút (trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi). Nhẹ: 0-
2 điểm; vừa: 3-5 điểm; nặng: 6-7 điểm
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương
pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Chọn mẫu
thuận tiện, lấy toàn bộ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn
nghiên cứu trong thời gian thực hiện đề tài. Mỗi
bệnh nhân có một bệnh án riêng theo mẫu
nghiên cứu, trong đó ghi chép đầy đủ họ và tên
trẻ, tuổi, giới, ngày vào viện, ngày ra viện, lí do
vào viện, bệnh sử, tiền sử, các yếu tố liên quan,
triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán
và điều trị chăm sóc... Số liệu thu thập theo
bệnh án mẫu sẽ được kiểm tra tính hoàn tất và
phù hợp, xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Một số đặc điểm dịch tễ học ở
trẻ VTPQC
Đặc điểm đối tượng
NC
Số bệnh
nhân
Tỉ lệ
(%)
Giới
Trẻ trai
261
69,2
Trẻ gái
116
30,8
Địa dư
Nội thành
64
17,0
Ngoại thành
271
71,9
Nơi khác
42
11,1
Mùa
Thu đông
261
69,2
Xuân hè
116
30,8
Tuổi
(tháng)
< 6
215
57
6- <12
84
22,3
12- <18
52
13,8
18- 24
26
6,9
VTPQC không nặng
330
87,5
VTPQC nặng
47
12,5
Kết quả cho thấy ưu thế ở trẻ trai với tỷ lệ là
2,24/1. Độ tuổi trẻ mắc VTPQC nhiều nhất là từ
6-12 tháng là 22,3% và mức độ VTPQC nặng
chiếm tỉ lệ 12,5%.
Bảng 2. Lý do vào viện của bệnh nhân
VTPQC
Lý do vào viện
Số bệnh
nhân (n)
Tỷ lệ
(%)
Ho
18
4,8
Ho khò khè
60
15,9
Khò khè
261
69,2
Ho, sốt
27
7,2
Khò khè, sốt
11
2,9
Triệu chứng khò khè chiếm tỷ lệ cao nhất
69,2% và triệu chứng gặp thấp nhất là khò khè,
sốt 2,9%.
Bảng 3. Triệu chứng lâm sàng của bệnh

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
69
nhân VTPQC
Triệu chứng
Số bệnh
nhân (n)
Tỉ lệ %
Ho
377
100
Xổ mũi
377
100
Thở nhanh
377
100
Khó thở
374
99,2
Ran rít
373
98,9
Khò khè
370
98,1
Mạch nhanh
355
94,2
Sốt
293
77,7
Ran ngáy
50
13,3
Ran ẩm
130
34,5
Tím
3
0,8
Các triệu chứng lâm sàng như khò khè, khó
thở, mạch nhanh, ran rít gặp ở hầu hết các trẻ
VTPQC, trong đó thở nhanh chiếm tỉ lệ 100%.
Trên phim X-quang phổi, dấu hiệu thường
gặp nhất là hình ảnh ứ khí phổi (chiếm 32,9%
tổng số bệnh nhân).
Bảng 4. Một số yếu tố liên quan đến VTPQC nặng
Yếu tố liên quan
Tổng
VTPQC
nặng
VTPQC không
nặng
OR (95% CI)
p
Giới
Trai
261
35
13,4
226
86,6
1,34
(0,67-2,69)
>0,05
Gái
116
12
10,3
104
89,7
Tuổi (tháng)
≤ 6 tháng
217
39
18
178
82
4,16
(1,89- 9,18)
<0,05
> 6 tháng
160
8
5
152
95
Đẻ non
Có
15
6
40
9
60
5,2
(1,76- 15,4)
<0,05
Không
362
41
11,3
321
88,7
Bú mẹ không
đủ 6 tháng
Có
28
11
39,3
17
60,7
5,6
(2,4- 12,9)
< 0,05
Không
349
36
10,3
313
89,7
Hít thuốc lá thụ
động
Có
6
3
50
3
50
7,4
(1,45-37,96)
<0,05
Không
371
44
11,9
327
88,1
Không
375
46
12,3
329
87,7
Không
371
45
12,1
326
87,9
Nhẹ cân
Có
13
8
61,5
5
38,5
13,3
(4,15 - 42,77)
< 0,05
Không
364
39
10,7
325
89,3
Không
145
32
22,1
113
77,9
Không
355
41
11,5
314
88,5
Không
371
45
12,1
326
87,9
Các yếu tố như tuổi ≤ 6 tháng, trẻ bú mẹ không đủ 6 tháng, trẻ bị hít thuốc lá thụ động có liên
quan đến VTPQ nặng, có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Về một số đặc điểm dịch tễ học lâm
sàng của VTPQC ở trẻ em. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy số trẻ trai mắc
VTPQC nhiều hơn trẻ gái với tỉ lệ 2,24/1. Kết quả
này phù hợp với kết quả nghiên cứu của của
Đinh Thị Phương Mai [3] là 1,85/1 và của Phạm
Thị Minh Hồng [2] là 1,88/1. Trẻ mắc VTPQC chủ
yếu là dưới 12 tháng, nhiều nhất là dưới 6 tháng
tuổi (57,0%). Tác giả Phạm Thị Minh Hồng cho
rằng miễn dịch của mẹ truyền cho trẻ đã hết lúc
1-2 tháng trong khi đó trẻ lại chưa tổng hợp
được miễn dịch chủ động của mình. VTPQC nặng
chiếm 12,5% số trường hợp mắc VTPQ cấp [2].
Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên
cứu của tác giả Đinh Thị Phương Mai: VTPQC
nặng là 23,3% [3]. Nghiên cứu này cho thấy khò
khè là triệu chứng chủ yếu khiến gia đình đưa
trẻ đến bệnh viện chiếm 69,2%, khác với nghiên
cứu của Nguyễn Thị Thi cho thấy lý do vào viện
hàng đầu là ho (39,4%), khó thở (32,2%) và
khò khè (19,8%) [4]. Về triệu chứng lâm sàng
của VTPQC: 100% số trẻ có biểu hiện ho, xổ mũi
và thở nhanh. Các biểu hiện khác như khò khè,
khó thở, mạch nhanh chiếm tỉ lệ rất cao, trên
90%. Có tới 98,9% số bệnh nhi khi khám phổi
thấy ran rít, ran ẩm (34,5%) và ran ngáy
(13,3%) . Chỉ có 3 trẻ VTPQC có biểu hiện tím
tái khi đến viện, chiếm 0,8%. Dấu hiệu ứ khí
phổi là dấu hiệu thường gặp nhất trên phim chụp
x-quang ngực, chiếm 32,9% các trường hợp. Tỷ
lệ này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của
Phạm Thị Minh Hồng cho thấy 96% bệnh nhân
chụp X quang thấy ứ khí ở 2 phổi [2].
4.2. Về một số yếu tố liên quan tới
VTPQC nặng. Nghiên cứu này cho thấy, không
có mối liên quản giữa mức độ nặng của VTPQ
với giới tính của trẻ. Một số yếu tố liên quan đến
mức độ nặng của VTPQ bao gồm tuổi dưới 6
tháng; trẻ đẻ non, trẻ bú mẹ không đủ 4-6
tháng, trẻ bị hút thuốc lá thụ động, trẻ nhẹ cân
có liên quan tới VTPQC nặng và có ý nghĩa thống
kê với p< 0,05. Nghiên cứu của Dadlez NM [5]
cho thấy trẻ 3-6 tháng nguy cơ làm mất bù hô

vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
70
hấp ở trẻ khỏe mạnh mắc VTPQ là 1,76 lần, ở trẻ
<=3 tháng là 3,25 lần. Oaklez E và CS ở
Australia thấy trẻ 2-6 tháng tuổi khi mắc VTPQ
nguy cơ phải nhập khoa điều trị tích cực và hỗ
trợ thông khí tăng lên 1,5 lần so với lứa tuổi
khác [8]. Kết quả nghiên cứu này có sự khác biệt
với nghiên cứu của tác giả Trần Nguyễn Minh
Thi, không thấy mối giữa đẻ nhẹ cân và đẻ non
với biến chứng suy hô hấp của bệnh nhân VTPQ
[4]. Ngược lại, Oakley E và CS thấy trẻ đẻ non có
nguy cơ mắc VTPQ phải nhập khoa điều trị tích
cực và hỗ trợ thông khí gấp 1,5 lần so với trẻ đủ
tháng [8]. Mặt khác, nghiên cứu của Nenna R và
CS cho thấy trẻ không được bú mẹ trước 3 tháng
làm tăng nguy cơ VTPQ nặng lên 2,1 lần so với
trẻ được bú sữa mẹ đầy đủ, trẻ phơi nhiễm với
người hút 11 điều thuốc/ngày hay có 2 người hút
thuốc lá trong gia đình làm tăng nguy cơ VTPQ
nặng (p=0,021) [7].
V. KẾT LUẬN
Bệnh lý VTPQ cấp thường gặp vào mùa thu-
đông. Trẻ trai có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn trẻ gái.
Các dấu hiệu thường gặp trong VTPQ nặng gồm
khò khè (chiếm 69,2%), các biểu hiện lâm sàng
của viêm đường hô hấp cấp như ho, xổ mũi, thở
nhanh, khó thở, sốt, ran ẩm, ran rít, ran ngáy.
Dấu hiệu ứ khí phổi là dấu hiệu thường gặp nhất
trên phim chụp x-quang ngực, chiếm 32,9% các
trường hợp. Các yếu tố liên quan tới VTPQ cấp
nặng bao gồm tuổi ≤ 6 tháng, trẻ đẻ non, trẻ bú
mẹ không đủ 4-6 tháng, trẻ bị hút thuốc lá thụ
động, trẻ nhẹ cân, có tiền sử mổ đẻ, thở máy.
Trẻ được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch và bú mẹ
đầy đủ trong 4-6 tháng đầu để có thể làm giảm
tỷ lệ mắc VTPQC nặng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Thị Minh Hồng (2001). Viêm tiểu phế
quản tại bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2000. Y học
Thành phố Hồ Chí Minh; 5(2): 78-82.
2. Phạm Thị Minh Hồng (2003). Viêm tiểu phế quản
nặng tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2001-2003. Y
học Thành phố Hồ Chí Minh; 1(7): 183-187.
3. Đinh Thị Phương Mai (2015). Nghiên cứu một
số yếu tố liên quan đến độ nặng và hiệu quả khí
dung natriclorid 3% ở trẻ viêm tiểu phế quản cấp
tại khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai. Luận văn thạc sỹ
Y học, Đại học Y Hà Nội.
4. Trần Nguyễn Minh Thi (2012). Đặc điểm viêm
tiểu phế quản ở trẻ 1-3 tháng tuổi tại khoa Hô hấp
Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng 6/2011-4/2012.
Luận văn thạc sỹ y học, Trường đại học Y Dược
TP. Hồ Chí Minh.
5. Dadlez NM et al (2017). Risk factors for
respiratory decompensation among healthy infants
with broncholiotis. Hosp Pediatr, 7(9): 530-535.
6.Fitzgerald D.A (2004). Bronchiolitis: assessement
and evidence - based management. MJA, 180 (8),
pp.399-404.
7. Nenna R et al (2017). Modifiable risk factors
associated with bronchiolitis. Ther Adv Respir Dis,
11(10): 393-401.
8. Oaley E et al (2017). Intensive care unit
admissions and ventilation support in infants with
bronchiolitis. Emerg Med Australas, 29(4): 421-428.
9. Piedra PA, Stark AR (2019). Patient education:
Bronchiolitis (and RSV) in infants and children
(Beyond the Basics). https://www.uptodate.com.
This topic last updated: Jun 12, 2019.
10. Stensballe L.G., Devasundaram J., Simoes
E.A.F. (2003). Respiratery syncytial virus epidmics:
the ups and downs of a seasonal virus. Pediatric
Infectious Disease Journal; 22(2): S21-S32.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA CÁC BỆNH NHÂN
LOÃNG XƯƠNG ĐƯỢC THAY KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG
Nguyễn Đình Hòa1, Nguyễn Anh Dũng2
TÓM TẮT18
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
của các bệnh nhân loãng xương được thay khớp háng
toàn phần không xi măng. Đối tượng nghiên cứu:
Các bệnh nhân được lựa chọn theo tiêu chuẩn từ
tháng 6 năm 2017 tới tháng 9 năm 2017 và đã được
phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai có đủ hồ sơ bệnh
1Bệnh viện Việt Đức
2Trường Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Đình Hòa
Email: ndhoavietducspine@gmail.com
Ngày nhận bài: 17.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 13.4.2020
Ngày duyệt bài: 21.4.2020
án. Kết quả: Qua nghiên cứu 43 bệnh nhân nhóm
bệnh nhân trong độ tuổi lao động là chủ yếu chiếm
84,5%. Nguyên nhân loãng xương chủ yếu là ít vận
động chiếm 67,2%. 27,6% bệnh nhân loãng xương do
dùng corticoid kéo dài để điều trị các bệnh lý nội khoa
(lupus, xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn). Các bệnh
nhân này khi được thay khớp mặc dù vẫn phải dùng
corticoid kéo dài để điều trị bệnh lý nội khoa nhưng
khả năng vận động trở lại rất tốt sau phẫu thuật. Tiền
sử bệnh kèm theo nghiện rượu chiếm nhiều nhất
25,6%, lupus và VCSDK 14%, gout và XHGTC 4,6%,
không tiền sử đặc biệt 34,9%. MĐX trung tâm tại cột
sống trung bình trước mổ T-score: -3,28. Kết quả hình
ảnh khớp háng trong nhóm bệnh nhân thay khớp gặp
chủ yếu là thoái hóa khớp chiếm 62,4%, sau đó là
hoại tử chỏm xương đùi chiếm 34,2%. Gãy CXĐ chỉ có

