
► CHUYÊN ĐỀ LAO ►
357
CLASSIFICATION CHARACTERISTICS AND ASSOCIATED FACTORS
OF ACUTE STROKE AT CA MAU GENERAL HOSPITAL IN 2024
Huynh Ngoc Linh1*
, Vo Hoai Thuong2, Nguyen The Tan1, Phan Thi Ngoc Diem1
1Ca Mau Medical College - 146 Nguyen Trung Truc, Ly Van Lam Ward, Ca Mau Province, Vietnam
2Ca Mau General Hospital - 16 Hai Thuong Lan Ong, Tan Thanh Ward, Ca Mau Province, Vietnam
Received: 06/11/2025
Revised: 20/11/2025; Accepted: 08/01/2026
ABSTRACT
Objective: To determine the proportion of acute stroke classifications and to analyze associated
factors in patients treated at Ca Mau General Hospital in 2024.
Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 1643 patients
with acute stroke admitted to Ca Mau General Hospital from January to December 2024. Data
were collected from medical records and interviews with patients or their relatives, and analyzed
using STATA software version 18.0. Associations between risk factors and stroke classification were
assessed using multivariable logistic regression, with statistical significance defined as p < 0.05.
Results: The rate of cerebral infarction was 84.18%, much higher than cerebral hemorrhage
(15.82%). Some factors associated with cerebral hemorrhage include: male gender (adjusted OR =
2.02; p = 0.01), hypertension (adjusted OR = 2.18; p = 0.01), impaired consciousness (adjusted OR
= 4.59; p = 0.01). Conversely, atrial fibrillation was inversely associated with cerebral hemorrhage
(adjusted OR = 0.34; p = 0.001). The mortality rate in the cerebral hemorrhage group was
significantly higher (46.92% compared to 7.74%).
Conclusion: Cerebral hemorrhage accounted for a lower proportion but was associated with
a more severe prognosis and multiple factors, including male sex, advanced age, prolonged
hypertension, and impaired consciousness. These findings underscore the need to prioritize blood
pressure control and risk screening in high-risk groups.
Keywords: Acute stroke, cerebral infarction, cerebral hemorrhage, risk factors, logistic regression.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, No. 1, 357-362
*Corresponding author
Email: drlinhcm78@gmail.com Phone: (+84) 918601231 DOI: 10.52163/yhc.v67i1.4198

www.tapchiyhcd.vn
358
H. Ngoc Linh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, No. 1, 357-362
ĐẶC ĐIỂM PHÂN LOẠI VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘT QUỴ CẤP
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA CÀ MAU NĂM 2024
Huỳnh Ngọc Linh1*
, Võ Hoài Thương2, Nguyễn Thể Tần1, Phan Thị Ngọc Diễm1
1Trường Cao đẳng Y tế Cà Mau - 146 Nguyễn Trung Trực, P. Lý Văn Lâm, Tỉnh Cà Mau, Việt Nam
2Bệnh viện Đa khoa Cà Mau - 16 Hải Thượng Lãn Ông, P. Tân Thành, Tỉnh Cà Mau, Việt Nam
Ngày nhận: 06/11/2025
Ngày sửa: 20/11/2025; Ngày đăng: 08/01/2026
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phân loại đột quỵ cấp và phân tích các yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều
trị tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau năm 2024.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1643 bệnh nhân đột quỵ cấp nhập
viện tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2024. Dữ liệu được thu thập từ
hồ sơ bệnh án và phỏng vấn người bệnh hoặc thân nhân của họ, xử lý bằng phần mềm STATA 18.0.
Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với phân loại đột quỵ sử dụng hồi quy logistic đa
biến với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Kết quả: Tỷ lệ nhồi máu não là 84,18%, cao hơn so với xuất huyết não (15,82%). Một số yếu tố liên
quan đến xuất huyết não gồm: giới tính nam (OR hiệu chỉnh = 2,02; p = 0,01), tăng huyết áp (OR hiệu
chỉnh = 2,18; p = 0,01), suy giảm ý thức (OR hiệu chỉnh = 4,59; p = 0,01). Ngược lại, rung nhĩ có liên
quan nghịch với xuất huyết não (OR hiệu chỉnh = 0,34; p = 0,001). Tỷ lệ tử vong ở nhóm xuất huyết
não cao hơn rõ rệt (46,92% so với 7,74%).
Kết luận: Xuất huyết não có tỷ lệ thấp hơn nhưng tiên lượng nặng, liên quan đến nhiều yếu tố như
giới nam, tuổi cao, tăng huyết áp kéo dài, rối loạn ý thức. Các kết quả này cho thấy cần tập trung
kiểm soát huyết áp và tầm soát nguy cơ ở nhóm có yếu tố nguy cơ cao.
Từ khóa: Đột quỵ cấp, nhồi máu não, xuất huyết não, yếu tố nguy cơ, hồi quy logistic.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế
ở người trưởng thành trên toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế
Thế giới, mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị đột quỵ,
trong đó gần một phần ba tử vong và phần còn lại để lại di
chứng nặng nề. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc và tử vong do đột
quỵ đang gia tăng, đặc biệt tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ,
nơi người dân có nhiều yếu tố nguy cơ mạch máu và hạn
chế tiếp cận y tế chuyên sâu [1]. Đột quỵ cấp gồm hai thể
chính là nhồi máu não và xuất huyết não. Các nghiên cứu
trong nước cho thấy nhồi máu não chiếm tỷ lệ cao hơn rõ
rệt, từ 75-85% tổng số ca, và có mối liên quan với các yếu
tố như tuổi cao, tăng huyết áp kéo dài, đái tháo đường và
rung nhĩ [2-3]. Trong khi đó, xuất huyết não thường gặp
hơn ở nam giới, người trung niên và bệnh nhân tăng huyết
áp không kiểm soát [4].
Việc khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và các yếu tố
liên quan đến từng thể bệnh có ý nghĩa quan trọng trong
định hướng điều trị và phòng ngừa. Vì vậy, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu đặc điểm phân loại và yếu tố liên quan
đến đột quỵ cấp tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau năm 2024
với 2 mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ phân loại đột quỵ cấp ở bệnh nhân điều
trị tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau năm 2024;
2. Phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố với phân
loại đột quỵ cấp tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau năm 2024.
*Tác giả liên hệ
Email: drlinhcm78@gmail.com Điện thoại: (+84) 918601231 DOI: 10.52163/yhc.v67i1.4198

359
H. Ngoc Linh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, No. 1, 357-362
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Cà
Mau, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2024.
2.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán đột
quỵ cấp (nhồi máu não hoặc xuất huyết não), điều trị tại
Bệnh viện Đa khoa Cà Mau.
- Tiêu chí chọn mẫu: bệnh được chẩn đoán xác định đột
quỵ cấp qua lâm sàng và hình ảnh học (CT hoặc MRI), có
đầy đủ hồ sơ bệnh án và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chí loại trừ: bệnh nhân đột quỵ do chấn thương, tai
biến sau phẫu thuật, xuất huyết dưới nhện, hoặc có dữ
liệu không đầy đủ để phân tích.
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu gồm 1643 bệnh nhân, được chọn theo phương
pháp chọn mẫu toàn bộ trong thời gian nghiên cứu. Tất
cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn sẽ được đưa vào phân tích.
2.5. Biến số nghiên cứu
- Biến phụ thuộc: phân loại đột quỵ (nhồi máu não hoặc
xuất huyết não).
- Biến độc lập: tuổi, giới tính, nơi cư trú, chỉ số BMI, tiền
sử tăng huyết áp, thời gian tăng huyết áp, đái tháo đường,
rung nhĩ, mức độ suy giảm ý thức (Glasgow < 9), tình trạng
tử vong.
2.6. Kỹ thuật, công cụ và quy trình thu thập số liệu
Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án điện tử và hồ sơ
giấy của bệnh nhân, theo phiếu thu thập số liệu được
thiết kế sẵn. Các biến lâm sàng và cận lâm sàng được
chuẩn hóa theo hướng dẫn của Bộ Y tế và tài liệu chuyên
ngành thần kinh. Việc thu thập được thực hiện bởi nhóm
nghiên cứu đã được tập huấn.
2.7. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, phân tích
bằng phần mềm STATA 18.0. Phân tích mối liên quan giữa
các yếu tố bằng hồi quy logistic, sử dụng odds ratio (OR)
và khoảng tin cậy (KTC) 95%. Giá trị p < 0,05 được xem là
có ý nghĩa thống kê.
2.8. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Cao đẳng Y tế
Cà Mau thông qua. Dữ liệu bệnh nhân được mã hóa, đảm
bảo tính bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu
khoa học. Bệnh nhân hoặc thân nhân được cung cấp đầy
đủ thông tin và đồng ý tham gia nghiên cứu một cách tự
nguyện.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (n = 1643)
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ
(%)
Địa chỉ Nông thôn 1220 74,25
Thành thị 423 25,75
Giới tính Nam 961 58,49
Nữ 682 41,51
Nhóm tuổi
≤ 60 tuổi 260 15,82
61-70 tuổi 639 38,89
71-80 tuổi 454 27,63
> 80 tuổi 290 17,66
BMI
< 18,5 kg/m2202 12,29
18,5 đến < 23
kg/m21002 60,99
≥ 23 kg/m2 439 26,72
Tăng huyết áp Có 1494 90,93
Không 149 9,07
Thời gian tăng
huyết áp (chỉ xét
1494 bệnh nhân
tăng huyết áp)
≤ 10 năm 247 16,53
11-20 năm 764 51,14
> 20 năm 483 32,33
Đái tháo đường
type 2
Có 436 26,54
Không 1207 73,46
Rung nhĩ Có 92 5,60
Không 1551 94,40
Suy giảm ý thức
(Glasgow < 9)
Có 232 14,12
Không 1411 85,88
Tử vong Có 229 13,94
Không 1414 86,06
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam giới (58,49%),
sống ở nông thôn (74,25%), tuổi 61-70 (38,89%), BMI
bình thường (60,99%), có tăng huyết áp (90,93%), thời
gian tăng huyết áp trên 10 năm (83,47%), đái tháo đường
(26,54%), rung nhĩ (5,60%), tử vong (13,94%).
3.2. Phân loại đột quỵ và các yếu tố liên quan
Bảng 2. Tỷ lệ các loại đột quỵ (n = 1643)
Phân loại đột quỵ Tần suất (n) Tỷ lệ (%)
Xuất huyết não 260 15,82
Nhồi máu não 1383 84,18
Trong tổng số 1643 bệnh nhân, nhồi máu não chiếm tỷ
lệ áp đảo với 84,18%, trong khi xuất huyết não chỉ chiếm
15,82%, cho thấy nhồi máu não là thể đột quỵ chiếm tỷ
lệ cao.

www.tapchiyhcd.vn
360
H. Ngoc Linh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, No. 1, 357-362
Bảng 3. Mối liên quan giữa một số yếu tố với phân loại đột quỵ
Đặc điểm
Phân loại đột quỵ
OR (KTC 95%) p
Xuất huyết não
(n = 260) Nhồi máu não
(n = 1383)
Giới tính Nam 188 (72,31%) 773 (55,89%) 2,06 (1,52-2,79) < 0,001
Nữ 72 (27,69%) 610 (44,11%)
Địa chỉ Nông thôn 186 (71,54%) 1034 (74,77%) - 0,27
Thành thị 74 (28,46%) 349 (25,23%)
Nhóm tuổi
≤ 60 tuổi 59 (22,69%) 201 (14,53%) 1 -
61-70 tuổi 119 (45,77%) 520 (37,60%) 1,28 (0,88-1,84) 0,16
71-80 tuổi 60 (23,08%) 394 (28,49%) 1,92 (1,26-2,92) 0,001
> 80 tuổi 22 (8,46%) 268 (19,38%) 3,57 (2,07-6,32) < 0,001
BMI
< 18,5 kg/m2 38 (15,26%) 164 (11,76%) - 0,18
18,5 kg/m2 đến < 23 kg/m2 153 (61,45%) 849 (60,91%)
≥ 23 kg/m2 58 (23,29%) 381 (27,33%)
Tăng huyết áp Có 247 (95,00%) 1247 (90,17%) 2,07 (1,14-4,05) 0,01
Không 13 (5,00%) 136 (9,83%)
Thời gian tăng
huyết áp
≤ 10 năm 24 (9,72%) 223 (17,88%) 1 -
11-20 năm 110 (44,53%) 654 (52,45%) 1,56(0,96-2,61) 0,06
> 20 năm 113 (45,75%) 370 (29,67%) 2,83(1,74-4,75) <
0,0001
Đái tháo
đường type 2
Có 74 (28,46%) 362 (26,17%) - 0,44
Không 186 (71,54%) 1021 (73,83%)
Rung nhĩ Có 6 (2,31%) 86 (6,22%%) 0,35 (0,13-0,82) 0,01
Không 254 (97,69%) 1297 (93,78%)
Suy giảm ý
thức (Glasgow
< 9)
Có 88 (33,85%) 144 (10,41%) 4,40 (3,18-6,05) 0,0001
Không 172 (66,15%) 1239 (89,59%)
Tử vong Có 122 (46,92%) 107 (7,74%) 10,54 (7,60-14,59) 0,001
Không 138 (53,08%) 1276 (92,26%)
Xuất huyết não chiếm 15,82%, thường gặp ở nam (72,31%), tuổi 61-70 (45,77%), có tăng huyết áp (95%), thời gian tăng
huyết áp > 20 năm (45,75%), suy giảm ý thức (33,85%), và tỷ lệ tử vong cao (46,92%).
Bảng 4. Phân tích hồi quy logistic các yếu tố liên quan
Yếu tố nguy cơ OR thô KTC 95% OR hiệu chỉnh KTC 95% p
Giới tính nam 2,06 1,52-2,79 2,02 1,57-2,93 0,01
Tăng huyết áp 2,07 1,14-4,05 2,18 1,12-4,13 0,01
Rung nhĩ 0,35 0,13-0,82 0,34 0,12-0,78 0,001
Suy giảm ý thức 4,40 3,18-6,05 4,59 3,16-6,24 0,01
Tử vong 10,54 7,60-14,59 11,54 8,24-15,57 0,001
Phân tích hồi quy logistic cho thấy các yếu tố liên quan mạnh với xuất huyết não gồm: tử vong (OR hiệu chỉnh = 11,54),
suy giảm ý thức (OR hiệu chỉnh = 4,59), giới nam (OR hiệu chỉnh = 2,02) và tăng huyết áp (OR hiệu chỉnh = 2,18), với ý
nghĩa thống kê rõ (p < 0,01).

361
H. Ngoc Linh et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, No. 1, 357-362
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên 1643 bệnh nhân đột quỵ tại Bệnh viện
Đa khoa Cà Mau năm 2024 cho thấy phần lớn là nam giới
(58,49%), sống ở nông thôn (74,25%), tập trung nhiều
ở nhóm tuổi 61-70 (38,89%). Đây là nhóm nguy cơ cao,
thường tích lũy nhiều bệnh nền và ít tiếp cận dịch vụ y tế
sớm. Hầu hết bệnh nhân có BMI bình thường (60,99%),
tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng (12,29%) và thừa cân
(26,72%) vẫn đáng lưu ý vì đều liên quan đến nguy cơ đột
quỵ. Đặc biệt, tăng huyết áp chiếm tới 90,93%, trong đó
83,47% có thời gian mắc trên 10 năm, cho thấy đây là yếu
tố nguy cơ hàng đầu và kéo dài [3]. Tỷ lệ đái tháo đường là
26,54% và rung nhĩ là 5,60%, phù hợp với các nghiên cứu
trước đây [2], [4].
4.2. Phân loại đột quỵ
Trong tổng số 1643 bệnh nhân đột quỵ được nghiên cứu,
nhồi máu não chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,18%, trong khi
xuất huyết não chỉ chiếm 15,82%. Kết quả này phù hợp
với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, cho thấy nhồi
máu não là thể đột quỵ phổ biến hơn, thường liên quan
đến các yếu tố nguy cơ mạch máu như tăng huyết áp, đái
tháo đường và xơ vữa động mạch [1-2]. Mặc dù xuất huyết
não ít gặp hơn, nhưng thường diễn tiến nặng và nguy cơ
tử vong cao nếu không được xử trí kịp thời. Việc phân loại
đúng thể đột quỵ đóng vai trò quan trọng trong tiếp cận
điều trị và đánh giá tiên lượng cho bệnh nhân.
4.3. Các yếu tố liên quan đến phân loại đột quỵ
Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng với phân
loại đột quỵ cho thấy một số khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ suy giảm ý thức ở nhóm xuất huyết não là 33,85%,
cao hơn nhiều lần so với nhóm nhồi máu não (10,41%)
(p < 0,001), phản ánh mức độ tổn thương thần kinh cấp
tính nặng và lan rộng trong xuất huyết não. Kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của Lương Quang Triết, cho thấy
người bệnh xuất huyết não thường nhập viện trong tình
trạng lơ mơ hoặc hôn mê [2].
Nhóm tuổi cũng cho thấy mối liên quan đáng kể đến phân
loại đột quỵ. Cụ thể, so với nhóm ≤ 60 tuổi, nguy cơ xuất
huyết não tăng dần theo tuổi, đặc biệt rõ ở nhóm trên 80
tuổi với OR = 3,57 (KTC 95%: 2,07-6,32; p < 0,001). Kết
quả này gợi ý rằng người cao tuổi có thể đối mặt với nguy
cơ vỡ mạch cao hơn do tình trạng thoái hóa mạch máu, xơ
vữa và kiểm soát huyết áp kém theo thời gian. Nghiên cứu
của Marini C và cộng sự cũng ghi nhận tỷ lệ xuất huyết não
tăng ở nhóm ≥ 75 tuổi, đi kèm với tiên lượng nặng hơn [5].
Tăng huyết áp cũng là yếu tố liên quan rõ rệt (OR = 2,07; p
= 0,01). Đặc biệt, thời gian tăng huyết áp kéo dài là yếu tố
có liên quan chặt với xuất huyết não. Bệnh nhân có tiền
sử tăng huyết áp trên 20 năm có nguy cơ bị xuất huyết
não cao gấp 2,83 lần so với người có thời gian tăng huyết
áp ≤ 10 năm (KTC 95%: 1,74-4,75; p < 0,0001). Điều này
khẳng định rằng không chỉ việc hiện diện tăng huyết áp,
mà mức độ mạn tính và thời gian kéo dài cũng là yếu tố
làm tổn thương thành mạch sâu sắc hơn, dễ dẫn đến vỡ
mạch. Các nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của kiểm
soát huyết áp lâu dài trong việc phòng ngừa xuất huyết nội
sọ [3], [6]. Các kết quả trên cho thấy cần đặc biệt chú ý
đến người cao tuổi có tiền sử tăng huyết áp kéo dài, vì đây
là nhóm có nguy cơ cao bị xuất huyết não, thể đột quỵ có
tiên lượng tử vong cao nhất trong nghiên cứu.
Giới tính nam có nguy cơ mắc xuất huyết não cao hơn nữ
(OR = 2,06; p < 0,001), tương tự xu hướng được ghi nhận
bởi nghiên cứu của Nguyễn Quốc Toản [1]. Đáng chú ý,
rung nhĩ có tỷ lệ thấp ở nhóm xuất huyết não. Điều này
phù hợp với sinh lý bệnh, vì rung nhĩ là nguyên nhân phổ
biến gây tắc mạch dẫn đến nhồi máu não, nhưng ít liên
quan đến xuất huyết não [4], [6].
Ngoài ra, tỷ lệ tử vong ở nhóm xuất huyết não rất cao
(46,92% so với 7,74% ở nhóm nhồi máu não), với OR =
10,54 (KTC 95%: 7,60-14,59; p = 0,001), cho thấy mức độ
nguy kịch và tiên lượng nặng nề của thể đột quỵ xuất huyết
não. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây.
Theo nghiên cứu của Marini C và cộng sự, tử vong trong
30 ngày ở bệnh nhân xuất huyết não cao gấp 3-4 lần so
với nhồi máu não [5]. Tại Việt Nam, Lê Thị Hòa (2021) cũng
ghi nhận tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân xuất huyết não cao hơn
đáng kể so với nhóm nhồi máu, do đặc điểm tổn thương
cấp tính, phù não nhanh, chèn ép cấu trúc sống còn và
thiếu các phương pháp điều trị đặc hiệu [4].
Một số yếu tố khác như BMI, đái tháo đường và nơi cư trú
không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với phân loại
đột quỵ (p > 0,05), tương đồng với các nghiên cứu của Tổ
chức Y tế Thế giới (2021) và Bùi Minh Đức [6-7].
4.4. Phân tích hối quy logistic
Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu, giới tính nam vẫn là
yếu tố nguy cơ độc lập với OR hiệu chỉnh = 2,02 (KTC 95%:
1,57-2,93), cho thấy nam giới có nguy cơ mắc xuất huyết
não cao gấp đôi nữ giới. Tăng huyết áp là yếu tố nền phổ
biến nhất, với OR hiệu chỉnh = 2,18 (KTC 95%: 1,12-4,13),
phù hợp với nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ
giữa tăng huyết áp kéo dài và nguy cơ vỡ mạch não [4-5].
Ngược lại, rung nhĩ với OR hiệu chỉnh = 0,34 (KTC 95%:
0,12-0,78), điều này phản ánh đặc điểm sinh lý bệnh của
rung nhĩ thường gây tắc mạch và liên quan nhiều hơn đến
nhồi máu não.
Suy giảm ý thức là dấu hiệu lâm sàng nổi bật, với OR hiệu
chỉnh = 4,59 (KTC 95%: 3,16-6,24), cho thấy bệnh nhân
xuất huyết não có nguy cơ suy giảm ý thức cao gấp hơn 4
lần. Đặc biệt, tử vong có liên quan chặt chẽ với xuất huyết
não (OR hiệu chỉnh = 11,54; KTC 95%: 8,24-15,57), là yếu
tố tiên lượng nặng, phản ánh mức độ nghiêm trọng của
thể bệnh này.
5. KẾT LUẬN
Tỷ lệ đột quỵ xuất huyết não ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh
viện Đa khoa Cà Mau năm 2024 là 15,82%, trong khi nhồi
máu não chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều với 84,18%.
Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố liên
quan độc lập với nguy cơ xuất huyết não gồm: giới tính

