
Đặc trưng của mô hình tài phán hiến pháp Đức
Tài phán hiến pháp tồn tại ở nhiều nước khác nhau, muôn màu muôn vẻ, nhưng
đều có thể xếp vào hai nhóm mô hình: mô hình Hoa Kỳ và* mô hình Đức - áo.
Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ được xem là cơ quan tài phán hiến pháp có
quyền lực nhất trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình tài phán hiến pháp phổ biến nhất
trên thế giới lại thuộc về người Đức. Thông qua việc phân tích bảy đặc trưng của
mô hình tài phán hiến pháp Đức, bài viết góp phần lý giải sự thành công của mô
hình Đức ở các môi trường chính trị, văn hóa khác nhau, điều mà mô hình Hoa Kỳ
không có được.
1. Tài phán hiến pháp tập trung
Trong mô hình Hoa Kỳ, mọi tòa án đều có nghĩa vụ từ chối áp dụng một đạo luật,
nếu thấy đạo luật này vi hiến. Những vị cha lập hiến của Hiến pháp Hoa Kỳ năm
1787 cho rằng không chỉ Tòa án tối cao liên bang, mà tất cả các tòa án các cấp của
Liên bang đều có nghĩa vụ vô hiệu hóa các hành vi vi hiến. Nói cách khác, tài
phán hiến pháp ở Hoa Kỳ thuộc về cành quyền lực tư pháp nói chung chứ không
thuộc riêng về một tòa án nào. Người ta gọi đó là mô hình phi tập trung.

Khi Hans Kelsen(1) lần đầu tiên vào năm 1920 giới thiệu mô hình tài phán hiến
pháp áo - Đức, dĩ nhiên ông cũng đã nghiên cứu mô hình Hoa Kỳ. Nhưng nguyên
tắc “Nghị viện tối cao” cộng với truyền thống luật thực định lúc đó ở châu Âu còn
quá mạnh, nên mô hình phi tập trung không được chấp nhận ở áo năm 1920 cũng
như ở Đức năm 1949. Vì nếu một tòa án cấp huyện cũng có thể tuyên bố một đạo
luật của Nghị viện là vi hiến, thì “lòng tự trọng của Nghị viện” sẽ bị tổn hại ghê
ghớm và điều này là không thể chấp nhận được đối với các nghị sĩ Đức đương
thời. áo, Đức bấy giờ hệ thống án lệ không mạnh, cũng tương tự như Việt Nam
hiện nay, nếu chấp nhận hệ thống tài phán hiến pháp phi tập trung sẽ dẫn đến sự
tổn hại cho nguyên tắc hệ thống pháp luật thống nhất, vì cùng một điều khoản hiến
pháp sẽ được các tòa án khác nhau giải thích khác nhau dù hai vụ án có nội dung,
đặc điểm giống nhau.
Hans Kelsen cũng phản đối việc áp dụng mô hình Hoa Kỳ ở áo vì lý do chất lượng
và quy trình đào tạo thẩm phán. Mô hình phi tập trung đòi hỏi trình độ của tất cả
các thẩm phán phải rất cao, không riêng gì thẩm phán tòa án tối cao. Nhưng ở
châu Âu đầu thế kỷ 20, cũng như Việt Nam hiện nay, các thẩm phán thường tốt
nghiệp luật học, sau đó làm thư ký tòa án một thời gian trước khi được bổ nhiệm
làm thẩm phán. Hans Kelsen tin rằng, các thẩm phán như vậy không có đủ kinh
nghiệm và kiến thức để thực thi quyền tài phán hiến pháp (2). Ngược lại, ở Hoa
Kỳ, muốn đăng ký học chương trình cử nhân luật học, học viên phải tốt nghiệp cử
nhân hoặc kỹ sư của một ngành khác. Thêm nữa, tập quán ở Hoa Kỳ thường bổ

nhiệm thẩm phán từ các luật sư kỳ cựu chứ không phải từ các nhân viên văn phòng
như các thư ký tòa án.
Thay cho lập luận dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập cứng rắn để đi đến tài
phán hiến pháp như Alexander Halmilton (3) và John Marshall (4) ở Hoa Kỳ, các
luật gia áo - Đức dựa trên quan niệm người bảo vệ hiến pháp (Verfasungshỹter).
Người bảo vệ này có thể là một cơ quan chứ không nhất thiết phải là cả hệ thống
tư pháp. Vì thẩm quyền tài phán hiến pháp chỉ thuộc về một cơ quan nên người ta
gọi mô hình này là mô hình tập trung.
Như vậy, mô hình áo - Đức không đòi hỏi những điều kiện ngặt nghèo như:
nguyên tắc tam quyền phân lập cứng rắn, tập quán án lệ mạnh, trình độ thẩm phán
rất cao như trong mô hình Hoa Kỳ. Đây là một phần căn nguyên giải thích khả
năng xuất khẩu của từng mô hình.
2. Tài phán cụ thể và tài phán trừu tượng
Các tòa án liên bang Hoa Kỳ chỉ có thẩm quyền tài phán hiến pháp đối với các vụ
việc cụ thể đã xảy ra và quyền lợi của các chủ thể trên thực tế đã bị xâm hại bởi
các hành vi vi hiến. Tòa án liên bang Hoa Kỳ không xem xét các hành vi vi hiến sẽ
xảy ra hay có thể xảy ra trong tương lai. Điều này một phần xuất phát từ triết lý
“chân lý luôn mang tính cụ thể” của người Mỹ. Sự tự hạn chế thẩm quyền tài phán
đồng thời cũng là một nguyên tắc chung trong hoạt động của tòa án Hoa Kỳ, bởi
họ quan niệm nếu làm ngược lại, thì tòa án sẽ ngày càng có khuynh hướng can dự

nhiều vào chính trị, ảnh hưởng đến thiên chức độc lập của tòa án. Vì nếu tòa án
thụ lý cả những vụ án trừu tượng, trong đó nguyên đơn chỉ cần nại ra rằng một đạo
luật của Nghị viện là vi hiến mà chưa có các sự kiện, hành vi xảy ra trên thực tế,
chưa có chủ thể nào bị xâm hại quyền lợi, rất có thể dẫn đến hiện tượng phe thiểu
số trong Nghị viện sau khi thất bại trong việc cản trở phe đa số thông qua một dự
luật nào đó sẽ sử dụng tòa án như là “Viện lập pháp thứ ba” để tiếp tục cản trở một
dự luật có hiệu lực. Trong giai đoạn tài phán hiến pháp mới hình thành, nhận thức
của công chúng về vai trò của nó chưa được rõ ràng, việc trực tiếp tuyên bố một
đạo luật là vi hiến sẽ đặt cơ quan tài phán đối chọi trực tiếp với lập pháp và hành
pháp. Chánh án Tòa tối cao Liên bang Hoa Kỳ John Marshall trong vụ án
Marburry v Madison (5) đã sáng suốt nhận ra bối cảnh chính trị Hoa Kỳ năm 1803
chưa cho phép điều này, nên đã giới hạn thẩm quyền tài phán hiến pháp đối với
các vụ việc cụ thể.
Hơn một trăm năm sau, tại thời điểm ra đời mô hình tài phán hiến pháp áo - Đức,
bối cảnh chính trị, đặc biệt là nhận thức của công chúng có nhiều thuận lợi hơn
cho tài phán hiến pháp. Việc mở rộng quyền tài phán trừu tượng dẫn đến Tòa án
hiến pháp Đức - áo có quyền trực tiếp tuyên bố một đạo luật là vi hiến, không còn
giá trị pháp lý. Trong mô hình này, thẩm quyền của cơ quan tài phán đã được mở
rộng, bao gồm không chỉ tài phán cụ thể, mà cả tài phán trừu tượng, bởi nếu chỉ
dừng lại ở tài phán cụ thể sẽ gặp hạn chế trong hai trường hợp:

- Đối với những hành vi vi hiến thụ động như việc Nghị viện không ban hành một
đạo luật áp dụng chế tài cần thiết, hoặc đã gián tiếp tạo khe hở cho những người
như Chí Phèo của Việt Nam chửi cả làng, dẫn đến quyền được sống trong môi
trường văn hóa lành mạnh của họ bị ảnh hưởng. Theo ngôn ngữ hàn lâm có nghĩa
là trong một số hoàn cảnh nhất định làm xuất hiện những quyền khách quan. Việc
xâm phạm quyền này là trái với hiến pháp, nhưng lại không xác định được người
bị hại cụ thể nên không thể trở thành đối tượng của tài phán cụ thể. Thậm chí đối
với quyền gắn liền chủ thể, khi có hành vi xâm phạm quyền này đã diễn ra trên
thực tế, nhưng người bị hại không khởi kiện thì cũng không thể trở thành đối
tượng xét xử của tài phán cụ thể.
- Nếu chờ cho một điều ước quốc tế có hiệu lực và thực tế xâm hại quyền cơ bản
của công dân rồi mới đưa ra tòa án hiến pháp có lẽ đã quá muộn, bởi nếu tòa án có
tuyên bố điều ước đó là vi hiến, thì dường như chẳng thể nào làm thay đổi hiệu lực
của điều ước đó, vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia (6).
Để hạn chế việc các nhóm lợi ích, phe thiểu số trong Nghị viện lạm dụng tài phán
trừu tượng, làm chính trị hóa vấn đề, biến tòa án thành cơ quan chính trị như một
diễn đàn lập pháp thứ ba tiếp sau Hạ viện và Thượng viện, mô hình áo - Đức đã
đặt ra một số điều kiện hạn chế đối với tài phán trừu tượng như chủ thể có quyền
khiếu kiện, đối tượng xét xử, trình tự tố tụng.
3. Chỉ kiểm tra sau, không có chức năng phòng hiến

