BÀI TẬP TÌNH HUỐNG LUẬT HÀNH CHÍNH
Tình huống 1:
Chiến sỹ cảnh sát giao thông A đang thi hành công vụ, khi phát hiện B có hành vi vi phạm giao
thông đã ra quyết định xử phạt người vi phạm 250.000 đồng và không lập biên bản.
Hỏi: Thủ tục xử phạt đó có hợp pháp không? Tại sao?
Trả lời:
Chiến sỹ cảnh sát giao thông A xử phạt B là đúng quy định pháp luật.
Vì theo điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020 quy
định:
“Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:
b) Phạt tiền đến1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24
củaLuật này nhưng không quá 500.000 đồng”
Tình huống 2:
Ngày 11/7/2022, các cơ quan chức năng phát hiện và lập biên bản về hành vi tàng trữ, lưu hành
văn hóa phẩm độc hại của M. Đến ngày 25/10/2022 Chủ tịch ủy ban nhân dân Quận H ban hành
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của M, bao gồm các biện pháp
sau: phạt tiền và buộc tiêu hủy toàn bộ số văn hóa phẩm độc hại đó.
Hỏi: Đánh giá tính hợp pháp của Quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân Quận H.
Trả lời:
Quyết định xử phạt của Chủ tịch UBND quận H là hợp pháp.
Vì, thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện được quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Luật Xử
lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020 như sau:
“Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của
Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứngchỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có
thời hạn;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiềnphạt
được quy định tại điểm b khoản này;
đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, h, I và k khoản 1
Điều 28 của Luật này”.
Tình huống 3:
Ông M có hành vi xây nhà trái phép từ năm 2019. Đến năm 2021, UBND Quận H mới lập biên
bản xử lý vụ việc, sau đó ban hành Quyết định buộc tháo dỡ phần căn nhà xây dựng trái phép
của ông M.
Hỏi: Quyết định của UBND quận H có hợp pháp không? Tại sao?
Trả lời:
Quyết định của UBND quận H hợp pháp.
Mặc dù, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi,
bổ sung 2020 thì thời hiệu xử phạt hành chính đối với vi phạm hành chính về xây dựng là 2 năm.
Trong tình huống, hành vi xây nhà trái phép đã diễn ra từ năm 2019, đến nămc 2021 đã là 3 năm,
quá thời hiệu áp dụng xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, quyết định của UBND quận H là
quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của vi phạm hành chính quy định tại khoản b
Điều28, Điều 30 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020. Đối với các biện
pháp khắc phục hậu quả pháp luật không quy định về thời hiệu áp dụng.
Tình huống 4:
Anh C đã trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức và được nhận vào tập sự tại UBND huyện N. Trong
thời gian tập sự, do có hành vi vi phạm pháp luật, anh C bị Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định
kỷ luật với hình thức cảnh cáo. Sau đó, Chủ tịch UBND huyện N đã ra Quyết định hủy bỏ quyết
định tuyển dụng đối với anh C.
Hỏi:cQuyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với anh C đúng hay sai? Tạisao?
Trả lời:
Quyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với C là đúng.
Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 138/2020/NĐ-CP Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản
lý công chức:
“Điều 24. Huỷ bỏ quyết định tuyển dụng đối với người tập sự
1. Quyết định tuyển dụng bị hủy bỏ trong trường hợp người tập sự không đạt yêu cầu sau thời
gian tập sự hoặc có hành vi vi phạm đến mức phải xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp
luật về cán bộ, công chức.
Trong tình huống, anh C bị xử phạt kỷ luật với hình thức cảnh cảo thì sẽ bị hủy bỏ quyết định
tuyển dụng.
Tình huống 5:
Ông A là người nước ngoài, vi phạm hành chính nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền trục xuất
khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Hỏi: Đây là biện pháp xử phạt chính hay bổ sung? Tại sao?
Trả lời:
Là hình thức xử phạt chính.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung
2020:c“Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và
áp dụng là hình thức xử phạt chính. Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1
Điều này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính”.
Theo nguyên tắc áp dụng hình thử xử phạt hành chính, hình thức xử phạt bổ sung phải được áp
dụng kèm theo với hình thức xử phạt chính mà không thể được áp dụng độc lập. Nên trong
trường hợp trên là hình thức xử phạt chính.
Tình huống 6
Trong những người giữ các chức vụ sau đây, người nào là công chức và giải thích: Bộ trưởng;
Chủ tịch ry ban nhân dân huyện; Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, Đại biểu Hội đồng nhân
dân xã; Nhân viên Phòng Tư pháp huyện; Nhân viên tư pháp xã; thành viên Ban thanh tra nhân
dân.
Cụ thể, công chức được xác định là người làm việc trong cơ quan nhà nước, được tuyển dụng và
có hợp đồng lao động với cơ quan nhà nước, làm nhiệm vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Dưới đây là phân tích về từng chức vụ:
1. Bộ trưởng: Là một trong những chức vụ cao cấp nhất trong chính phủ, Bộ trưởng là cán
bộ vì đây là chức vụ trong bộ máy nhà nước và được bổ nhiệm theo quy định của pháp
luật.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện: Chủ tịch UBND huyện là cán bộ, vì đây là người
đứng đầu cơ quan hành chính cấp huyện, được bổ nhiệm và chịu sự quản lý của nhà
nước.
3. Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện: Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện không phải là
công chức, vì đây là chức vụ đại diện cho cơ quan lập pháp địa phương (Hội đồng nhân
dân) và không trực tiếp tham gia vào hoạt động hành chính nhà nước. Chức vụ này là
người đại diện cho quyền lực lập pháp, không thuộc đối tượng công chức.
4. Đại biểu Hội đồng nhân dân xã: Đại biểu Hội đồng nhân dân xã không phải là công
chức. Mặc dù họ có vai trò trong cơ quan nhà nước, nhưng đây là chức vụ do dân bầu ra,
không phải người làm việc trong bộ máy hành chính của nhà nước.
5. Nhân viên Phòng Tư pháp huyện: Nhân viên Phòng Tư pháp huyện là công chức, vì họ
làm việc tại cơ quan hành chính cấp huyện và thực hiện nhiệm vụ của nhà nước.
6. Nhân viên tư pháp xã: Nhân viên tư pháp xã là công chức, vì họ là cán bộ làm việc tại
cơ quan nhà nước cấp xã, phục vụ các công việc liên quan đến tư pháp và chính quyền
địa phương.
7. Thành viên Ban thanh tra nhân dân: Thành viên Ban thanh tra nhân dân không phải là
công chức. Đây là thành viên được bầu ra từ cộng đồng để giám sát, không làm việc
trong bộ máy nhà nước.
Tóm lại, các chức vụ Nhân viên Phòng Tư pháp huyện, và Nhân viên tư pháp xã là công chức.
Các chức vụ còn lại không phải là công chức.
Tình huống 7
Chiến sỹ cảnh sát giao thông A đang thi hành công vụ, khi phát hiện hành vi vi phạm giao thông
đã ra quyết định xử phạt người vi phạm 250.000 đồng và không lập biên bản. Hỏi: Thủ tục xử
phạt đó có hợp pháp không? Tại sao?
Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ
sung năm 2020), chiến sĩ công an nhân dân khi thi hành công vụ có quyền phạt tiền đối với hành
vi vi phạm hành chính trong phạm vi quyền hạn của mình. Tuy nhiên, mức phạt tiền mà chiến sĩ
cảnh sát giao thông có quyền áp dụng không được vượt quá 500.000 đồng.
Trong trường hợp bạn nêu, chiến sĩ cảnh sát giao thông A đã phạt 250.000 đồng mà không lập
biên bản. Đây là mức phạt hợp pháp trong phạm vi quyền hạn của chiến sĩ công an khi thi hành
công vụ, vì mức phạt này dưới 500.000 đồng và không yêu cầu lập biên bản khi vi phạm không
quá nghiêm trọng (theo quy định tại Điều 39 của Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Thủ tục xử phạt của chiến sĩ cảnh sát giao thông là hợp pháp trong trường hợp này, vì mức phạt
không vượt quá quy định và không yêu cầu lập biên bản đối với vi phạm không nghiêm trọng.
Tình huống 8
Bộ trưởng Bộ A nhận được một số đơn của công chức tố cáo Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ có
hành vi sai phạm trong tuyển dụng công chức. Bộ trưởng đã chuyển đơn cho Chánh Thanh tra
Bộ giải quyết. Hỏi: Chánh Thanh tra có thẩm quyền ra quyết định giải quyết vụ việc này không?
Tại sao?
Câu trả lời là không, Chánh Thanh tra Bộ không có thẩm quyền ra quyết định giải quyết
vụ việc này.
Giải thích:
Theo Điều 40 của Luật Tố cáo 2018, việc giải quyết tố cáo phải được thực hiện theo thẩm
quyền của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Cụ thể, tố cáo về hành vi sai phạm của một
công chức thuộc quyền quản lý của bộ trưởng sẽ được giải quyết bởi cơ quan cấp trên của
người bị tố cáo.
Trong trường hợp này, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ là công chức thuộc Bộ A, và Chánh
Thanh tra Bộ có vị trí pháp lý tương đương với Vụ trưởng trong cơ cấu tổ chức của bộ.
Do đó, Chánh Thanh tra Bộ không có thẩm quyền giải quyết vụ việc này. Thẩm quyền
giải quyết vụ việc thuộc về Bộ trưởng hoặc các cơ quan có thẩm quyền cấp cao hơn.
Mặc dù Bộ trưởng Bộ A chuyển đơn tố cáo đến Chánh Thanh tra Bộ để giải quyết, nhưng theo
quy định về thẩm quyền và cơ cấu tổ chức, Chánh Thanh tra Bộ không có thẩm quyền ra quyết
định giải quyết vụ việc tố cáo này.
Câu 4. Ông V. là công chức làm việc tại Sở T., trong giờ làm việc ông sử dụng xe của cơ quan để
giải quyết việc riêng, trên đường gây tai nạn do vượt quá tốc độ quy định. Hỏi: có những loại
trách nhiệm pháp lý nào có thể áp dụng với ông V?
Trường hợp của ông V. có thể đối mặt với hai loại trách nhiệm pháp lý, cụ thể là:
1. Trách nhiệm kỷ luật:
Vi phạm quy định về sử dụng tài sản công: Theo quy định của pháp luật, công
chức không được phép sử dụng tài sản của cơ quan, tổ chức để phục vụ cho mục
đích cá nhân trong giờ làm việc. Việc ông V. sử dụng xe của cơ quan để giải quyết
việc riêng là vi phạm quy định này và có thể bị xử lý kỷ luật.
Các hình thức xử lý kỷ luật đối với ông V. có thể bao gồm khiển trách, cảnh cáo,
hoặc hình thức xử lý khác tùy thuộc vào mức độ vi phạm và quy định của cơ
quan, tổ chức.
2. Trách nhiệm hành chính:
Vi phạm quy định giao thông: Ông V. đã vượt quá tốc độ quy định, dẫn đến tai
nạn. Đây là hành vi vi phạm quy định về giao thông và có thể bị xử phạt hành
chính theo Luật Giao thông đường bộ. Mức phạt có thể bao gồm phạt tiền và các
hình thức xử lý hành chính khác như tước quyền sử dụng giấy phép lái xe trong
một thời gian nhất định.
Ngoài ra, nếu vụ tai nạn gây thiệt hại về người hoặc tài sản, ông V. có thể phải
chịu trách nhiệm dân sự để bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân.
Ông V. có thể bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật do sử dụng xe cơ quan vào mục đích cá nhân, và
trách nhiệm hành chính do vi phạm quy định về tốc độ và gây tai nạn giao thông.
Câu 5. Bộ G. ban hành quy định về hạn chế việc đăng ký xe môtô, xe gắn máy đối với người dân
có hộ khẩu ở các thành phố lớn, theo đó mỗi người chỉ được đăng ký tối đa một xe môtô hoặc
một xe gắn máy.
Nêu nhận xét của anh/chị về: Tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản đó?
1. Tính hợp pháp:
Không hợp hiến: Văn bản quy định của Bộ G. về việc hạn chế đăng ký xe môtô,
xe gắn máy đối với người dân có hộ khẩu ở các thành phố lớn, theo đó mỗi người
chỉ được đăng ký tối đa một xe, có thể xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công
dân.
Điều 32, Hiến pháp 2013 quy định rằng “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế
được pháp luật bảo hộ”, đồng thời, “không ai bị tước đoạt quyền sở hữu tài sản
hợp pháp của mình, trừ trường hợp vì lợi ích chung, được pháp luật quy định.”
Việc hạn chế quyền sở hữu tài sản của người dân không được quy định rõ ràng
trong pháp luật, và nếu không có cơ sở hợp lý về mặt an ninh, trật tự hay bảo vệ
lợi ích công cộng, thì văn bản này có thể bị coi là vi phạm quyền sở hữu hợp pháp
của công dân, gây ra sự bất hợp hiến.
2. Tính hợp lý:
Mục tiêu giảm ùn tắc giao thông: Việc hạn chế đăng ký xe môtô, xe gắn máy có
thể được hiểu là một biện pháp nhằm giảm ùn tắc giao thông trong các thành phố
lớn, nơi mà mật độ giao thông rất cao. Giới hạn số lượng phương tiện cá nhân có
thể góp phần giảm thiểu tình trạng tắc nghẽn và cải thiện chất lượng môi trường
giao thông.
Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được đánh giá kỹ lưỡng về tính hiệu quả của biện
pháp trong thực tiễn, vì việc hạn chế đăng ký xe cũng có thể tạo ra những tác
động không mong muốn, chẳng hạn như việc thúc đẩy thị trường xe không chính
thức, hoặc làm khó cho những người thực sự có nhu cầu sử dụng phương tiện cá
nhân.
Kết luận:
Về tính hợp pháp: Quy định này có thể không hợp hiến, vì có thể xâm phạm quyền sở
hữu tài sản của công dân mà không có căn cứ hợp lý trong Hiến pháp và các văn bản
pháp luật hiện hành.