TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 489 - THÁNG 4 - S 1 - 2020
99
năm 2018 vẫn còn cao. Mặc dù trong nghiên cứu
này chúng tôi chưa thực hiện phân tích về
cấu chi phí chuyển tuyến theo quỹ khám chữa
bệnh của Viện cũng như chi phí bình quân cho
một BN theo từng nhóm bệnh, tuy nhiên con số
này cũng sẽ không nhỏ. Để góp phần hạn chế số
lượt BN phải chuyển tuyến điều trị, theo chúng
tôi Viện cần xây dựng kế hoạch định hướng phát
triển một số chuyên khoa mang tính chất mũi
nhọn bao gồm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên
sâu, đầu trang thiết bị từng bước p hợp,
tăng cường loại hình dịch vụ kỹ thuật mang tính
đặc thù...
V. KẾT LUẬN
Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
của Viện YHCT Quân đội là nhiệm vụ rất trọng
yếu, vừa bức thiết, vừa cơ bản đồng thời cần giải
quyết nhiều vấn đề cả trên phương diện luận
thực tiễn. Trước mắt cần các nghiên cứu
để định hướng đào tạo chuyên u về công tác
chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế của Viện,
song song với việc tăng cường triển khai các dịch
vụ kỹ thuật mới năng lực cung ứng thuốc
chuyên khoa nhằm đảm bảo chăm sóc tốt sức
khỏe người bệnh, hạn chế số lượt bệnh nhân
phải chuyển tuyến điều trị vì lý do chuyên môn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Công Trường, Bùi Minh Sang, Nguyễn
Tuấn Lượng (2018). Khái quát tình hình thu
dung điều trị tại Viện Y học cổ truyền Quân đội giai
đoạn 2008-2017. Tuyển tập các công trình nghiên
cứu khoa học - 40 năm Viện YHCT Quân đội, NXB
Y học, Hà Nội, 9-15.
2. Bộ Y tế (2016). Quyết định số 3465/QĐ-BYT ngày
8/7/2016 về việc ban hành bộ danh mục dùng
chung trong khám bệnh, chữa bệnh thanh toán
bảo hiểm y tế. Phụ lục: Danh mục bệnh theo ICD-
10, Hà Nội.
3. Nguyễn Đỗ Nguyên (2003). Những thiết kế
nghiên cứu dịch tễ học. Tài liệu giảng dạy bộ môn
dịch tễ học, TP Hồ Chí Minh.
4. Bộ Y tế (2013). Thông s 43/2013/TT-BYT
ngày 11/12/2013 quy định chi tiết phân tuyến
chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống sở khám
bệnh, chữa bệnh.
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC SƠ CẤP CỨU NẠN NHÂN
TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
VIỆT TIỆP 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018
Phạm Minh Khuê1, Vũ Hải Vinh1,2
TÓM TẮT26
Cấp cứu tai nạn giao thông (TNGT) vấn đề y tế
cần được ưu tiên. Một nghiên cứu cắt ngang tả
được tiến hành nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng
cấp cứu nạn nhân TNGT được chuyển đến cấp cứu tại
Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp trong 6 tháng đầu năm
2018. 202 nạn nhân TNGT đủ tiêu chuẩn được thu
nhận vào nghiên cứu. 69,3% nam giới, các nhóm
tuổi thường gặp 30-39, 20-29 40-49 tuổi, lần
lượt chiếm 24,2%, 23,3% và 20,8%. 65,3% nạn nhân
sử dụng rượu, bia. 55,4% được cứu ban đầu tại
chỗ, 42,6% cứu trên đường vận chuyển. Phương
tiện sơ cứu ban đầu đa số là tự tạo (86,6%), do người
nhà hoặc cộng đồng tiến hành (91,6%). 99,0% nạn
nhân được vận chuyển bằng xe cứu thương 115, trong
vòng 1h đầu (91,6%) sau tai nạn. Nạn nhân thường
được chuyển đến bệnh viện vào 13h1’-17h (28,7%) và
17h1’-23h (37,1%). Đa số các nạn nhân được nhập
viện điều trị (89,%). Thời gian xử trí tại Khoa Cấp cứu
1Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Minh Khuê
Email: pmkhue@hpmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 6.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 23.3.2020
Ngày duyệt bài: 26.3.2020
trong vòng 1h chiếm 59,4%, 1-3h chiếm 40,1%.
87,6% nạn nhân có 1 chấn thương, trong đó 54,0% là
chấn thương sọ não, 12,4% đa chấn thương. Các nạn
nhân được sàng lọc HIV (100%), xét nghiệm thường
quy (61,9%), chụp cắt lớp vi tính (60,9%), chụp
Xquang (39,1%) siêu âm bụng (32,2%). 60,4%
được can thiệp ngoại khoa, 39,6% điều trị nội khoa.
Thời gian điều trị trung bình 8,8 ngày. 69,8% bệnh
nhân khỏi bệnh, 26,7% di chứng. Tỷ lệ bệnh nhân
tử vong là 3,5%.
Từ khóa:
Tai nạn giao thông đường bộ, nạn nhân,
cấp cứu, Việt Tiệp, Hải Phòng.
SUMMARY
ASSESSMENT OF CARE FOR ROAD TRAFIC
ACCIDENT VICTIMES AT VIET TIEP HOSPITAL
DURING THE FIRST 6 MONTHS OF 2018
Emergency care for traffic accident victims is a
priority medical issue. A descriptive cross-sectional
study was performed to assess the emergency care
for traffic accidents victims transferred to Viet Tiep
Hospital in the first 6 months of 2018. 202 eligible
victims were enrolled to the study. 69.3% were male,
commonly at age groups 30-39, 20-29 and 40-49
years-old (24.2%, 23.3% and 20.8%, respectively).
65.3% used alcohol or beer. 55.4% received first aid
on the spot and 42.6% on the transport road. First aid
facilities were mostly self-created (86.6%), conducted
vietnam medical journal n01 - APRIL - 2020
100
by family members or community (91.6%). 99.0%
victims were transported by 115 ambulance, within
the first 1 hour (91.6%) after the accident. Victims
were usually transferred to hospital at 13h1’-17h
(28.7%) and 17h1’-23h (37.1%). The majority of the
victims were hospitalized for treatment (89,%). The
time at the Emergency Department was within 1 hour
(59.4%) or 1-3 hours (40.1%). 87.6% victims had 1
injury, of which 54.0% were brain injuries, 12.4%
were multiple injuries. The victims were screened for
HIV (100%), routine tests (61.9%), CT scan (60.9%),
X-ray (39.1%) and abdominal ultrasound (32.2%).
60.4% received surgical intervention, 39.6% received
medical treatment. The average duration of treatment
was 8.8 days. 69.8% of patients recovered, 26.7%
had sequelae. The mortality rate was 3.5%.
Keywords:
Road traffic accident, victime,
emergency, Viet Tiep, Hai Phong.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ hay gặp
nhất trong các TNGT. Đây một vấn đề quan
trọng, cần được hội nói chung ngành y tế
nói riêng quan tâm. Hàng năm, theo báo cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 50 triệu
người bị thương 1,35 triệu người tử vong do
TNGT [1]. Ngoài ra, TNGT còn thể để lại c
di chứng, thương tật vĩnh viễn cho nạn nhân,
gây hậu quả nặng nề cho nền kinh tế hội.
Thực tế, WHO d đoán gánh nặng bệnh tật
(đánh giá thông qua chỉ số DALYs) do TNGT sẽ
chuyển từ vị trí thứ 9 vào năm 1999 lên vị trí thứ
3 vào năm 2020, sau nhồi máu tim trầm
cảm [2]. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Ủy ban
an toàn giao thông quốc gia, năm 2017
30.874 vụ TNGT đường bộ làm 31.982 người bị
thương và 9.627 người tử vong [3].
Công tác cứu, cấp cứu nạn nhân TNGT
đóng vai trò hết sức quan trọng, chìa khóa
giúp giảm thiểu nguy n tật hoặc tvong do
TNGT. Nhận thức tầm quan trọng của ng
tác này, từ nhiều năm qua, ngành y tế Hải
Phòng nói chung Bệnh viện Hữu nghị Việt
Tiệp nói riêng luôn luôn quan tâm, tạo điều kiện,
đầu nhân lực, vật tư, trang thiết bị cho công
tác cấp cứu nạn nhân TNGT. Tuy nhiên, hiện
chưa nhiều nghiên cứu đánh giá công tác này
trên địa bàn thành phố. Đó do sao chúng
tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu
đánh giá công tác cấp cứu nạn nhân TNGT
đường bộ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải
Phòng 6 tháng đầu năm 2018.
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
1.1. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 đến
tháng 6 năm 2018.
1.2. Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Hữu
nghị Việt Tiệp.
2. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các nạn
nhân TNGT đường bộ trên địa bàn thành phố Hải
Phòng được chuyển đến cấp cứu tại Bệnh viện
Hữu nghị Việt Tiệp trong thời gian nghiên cứu.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
3.2. Cỡ mẫu chọn mẫu: chọn mẫu theo
thuận lợi. Chọn tất cả các bệnh nhân đủ tiêu
chuẩn tham gia trong thời gian nghiên cứu.
3.3. Công cụ phương pháp thu thập
số liệu: Phiếu thu thập s liệu được xây dựng
dựa trên c nghiên cứu trước đó, tham khảo
ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực. Phiếu
thu thập số liệu được Hội đồng duyệt đề cương
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Hội đồng
khoa học Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp tng qua.
Điều tra viên được tập huấn trước khi tiến
hành thu thập s liệu. Số liệu được thu thập
thông qua nh thức phỏng vấn trực tiếp bệnh
nhân và/hoặc người nhà bệnh nhân. Các thông
tin y khoa được ghi nhận trên bệnh án điều trị
của bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.
3.4. Xử số liệu. Phiếu thu thập số liệu được
kiểm tra lại trước khi tiến hành nhập liệu. Số liệu
được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 (Epidata
Association, Đan Mạch) xử số liệu bằng phần
mềm Stata 14.0 (StataCorp LLC, Hoa K).
4. Đạo đức trong nghiên cứu. Nghiên cứu
tả, không can thiệp vào quá trình điều trị
bệnh nhân. Đề cương nghiên cứu được Hội đồng
duyệt đề cương Trường Đại học Y Dược Hải
Phòng và Hội đồng khoa học Bệnh viện Hữu nghị
Việt Tiệp thông qua cho phép tiến hành. Đối
tượng nghiên cứu được giải thích đầy đủ về mục
đích, nội dung nghiên cứu hoàn toàn tự
nguyện khi lựa chọn đồng ý hay từ chối tham gia
nghiên cứu. Thông tin bệnh nhân được giữ
mật, chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng sơ cứu, thu dung, vận
chuyển nạn nhân tai nạn giao thông
Bảng 1. Thực trạng cứu, thu dung,
vận chuyển nạn nhân tai nạn giao thông
đường bộ đến cấp cứu tại Bệnh viện Hữu
nghị Việt Tiệp 6 tháng đầu năm 2018.
Đặc điểm
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Giới
Nam
140
69,3
Nữ
62
30,7
Nhóm tuổi
≤15
4
2,0
16-19
8
4,0
20-29
47
23,3
TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 489 - THÁNG 4 - S 1 - 2020
101
30-39
49
24,2
40-49
42
20,8
50-59
23
11,4
≥60
29
14,3
132
65,3
Không
70
34,7
Tại chỗ
112
55,4
Trên đường
vận chuyển
86
42,6
Trung tâm y tế
quận, huyện
4
2,0
Tự tạo
175
86,6
Có sẵn tại chỗ
17
8,4
Y tế cung cấp
10
5,0
Người nhà,
cộng đồng
185
91,6
Nhân viên y
tế
14
6,9
Bản thân nạn
nhân
3
1,5
Xe cứu
thương 115
200
99,0
Xe cảnh sát
2
1,0
< 1h
185
91,6
1-3h
17
8,4
> 3h
0
0
7h1’-11h
32
15,8
11h1’-13h
34
16,8
13h1’-17h
58
28,7
17h1’-23h
75
37,1
23h1’-5h
3
1,5
5h1’-7h
0
0
Nhập viện
điều trị
180
89,1
Chuyển tuyến
trên
21
10,4
Chuyển tuyến
dưới
1
0,5
< 1h
120
59,4
1-3h
81
40,1
> 3h
1
0,5
202
100
Trong thời gian nghiên cứu, 202 nạn nhân
tai nạn giao thông được đưa đến cấp cứu tại
Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. Trong đó, 69,3%
nạn nhân nam giới, nhóm tuổi thường gặp
nhất 30-39 (24,2%), 20-29 (23,3%) 40-49
(20,8%). 65,3% nạn nhân sử dụng rượu, bia
khi tham gia giao thông.
Hầu hết các nạn nhân được cứu ban đầu
tại chỗ (55,4%) hoặc trên đường vận chuyển
(42,6%), chỉ có 2,0% được cứu tại Trung tâm
y tế quận/huyện. Đa số (86,6%) phương tiện
cứu ban đầu tự tạo, ít phương tiện sẵn tại
chỗ (8,4%) hoặc do y tế cung cấp (5,0%). Đối
tượng tham gia cứu ban đầu hầu hết người
nhà hoặc cộng đồng (91,6%), 6,9% là nhân viên
y tế, đặc biệt 1,5% nạn nhân tcứu. Hầu
hết nạn nhân được vận chuyển đến bệnh viện
bằng xe cứu thương 115 (99,0%), trong vòng 1h
đầu (91,6%), 8,4% trong vòng 1-3h, không
trường hợp nào đến bệnh viện sau 3h. Thời điểm
nạn nhân đến bệnh viện thường vào 13h1’-17h
(28,7%) 17h1’-23h (37,1%), ít gặp nhất là
23h1’-5h (1,5%) và 5h1’-7h (0%).
Tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Hữu nghị Việt
Tiệp, đa số các nạn nhân được nhập viện điều trị
(89,%), 10,4% nạn nhân được chuyển lên
tuyến trên 0,5% được chuyển về tuyến dưới
điều trị tiếp. Thời gian xử trí tại Khoa Cấp cứu
hầu hết trong vòng 1h (59,4%) 1-3h
(40,1%), chỉ 0,5% các nạn nhân cần xử trí
trong thời gian > 3h.
2. Đặc điểm m sàng, cận lâm sàng,
phương pháp điều trị kết quả điều trị
nạn nhân tai nạn giao thông
Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng, phương pháp điều trị kết quả điều
trị nạn nhân tai nạn giao thông đường bộ
đến cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt
Tiệp 6 tháng đầu năm 2018.
Đặc điểm
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Hình thái
chấn
thương
1 chấn thương
177
87,6
S não
109
54,0
Xương khớp
60
29,7
Mch máu
1
0,5
Phn mm
7
3,4
Đa chấn thương
25
12,4
2 chấn thương
22
10,9
3 chấn thương
3
1,5
Xét
nghiệm
khi vào
viện
Chụp cắt lớp vi
tính
123
60,9
Chụp Xquang
79
39,1
Siêu âm ổ bụng
65
32,2
Sàng lọc HIV
202
100
Xét nghiệm
thường quy
125
61,9
Xử trí tại
bệnh viện
Can thiệp ngoại
khoa
122
60,4
Khâu vết thương
phn mm
57
28,2
Kết hợp xương
49
24,3
Phu thut s não
9
4,4
Khác
7
3,5
vietnam medical journal n01 - APRIL - 2020
102
Điều trị nội khoa
80
39,6
Thời gian
điều trị
< 10 ngày
115
56,9
≥ 10 ngày
87
43,1
Trung bình (ngày)
8,8
1 chấn thương
8,1
2 chấn thương
10,5
3 chấn thương
13,0
Kết quả
điều trị
Khỏi, không di
chứng
82
40,6
Khỏi, cần phục hồi
thẩm mỹ
59
29,2
Khỏi có di chứng
54
26,7
Tử vong
7
3,5
Tổng
202
100
Đa số các nạn nhân TNGT đến cấp cứu tại
Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp trong thời gian
nghiên cứu 1 chấn thương (87,6%), trong đó
hay gặp nhất chấn thương sọ não (54,0%)
xương khớp (29,7%), 10,9% 2 chấn thương
và 1,5% có 3 chấn thương.
Về các xét nghiệm khi vào viện, 100% các
nạn nhân được xét nghiệm sàng lọc HIV, 61,9%
được xét nghiệm thường quy, 60,9% được chụp
cắt lớp vi tính, 39,1% được chụp Xquang
32,2% được siêu âm bụng. Tại bệnh viện,
60,4% được can thiệp ngoại khoa, trong đó
28,2% khâu vết thương, 24,3% kết hợp xương
4,4% được phẫu thuật sọ não; 39,6% được
điều trị nội khoa. Thời gian điều trị trung bình
của các bệnh nhân 8,8 ngày, trong đó 56,9%
điều trị < 10 ngày, 43,1% điều trị 10 ngày.
Thời gian điều trị trung bình của các bệnh nhân
1, 2 3 chấn thương lần lượt 8,1, 10,5
13,0 ngày. Về kết quả điều trị, 40,6% bệnh nhân
khỏi, không di chứng, 29,2% bệnh nhân khỏi
nhưng cần can thiệp phục hồi thẩm mỹ, 26,7%
bệnh nhân khỏi di chứng (đau đầu, liệt, sẹo,
can lệch, thần kinh…). 7/202 bệnh nhân t
vong, chiếm tỷ lệ 3,5%.
IV. BÀN LUẬN
TNGT, đặc biệt TNGT đường bộ một vấn
đề quan trọng của nền kinh tế, hội. Cấp cứu
TNGT làng tác thiết yếu, cần được ưu tiên đối
với mỗi nền y tế trên thế giới, cũng như tại Việt
Nam. Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành đánh
giá công tác cấp cứu nạn nhân TNGT tại một
bệnh viện tuyến thành phố trực thuộc trung
ương năm 2018. Trong thời gian nghiên cứu,
202 nạn nhân được chuyển đến cấp cứu tại bệnh
viện, đa số (69,3%), nằm trong độ tuổi 20-49
(68,3%). Đây lực lượng lao động chính của
các gia đình, việc họ bị TNGT không chỉ nh
hưởng đến sức khỏe của bản thân họ, n
mang lại những gánh nặng nặng nề về kinh tế,
xã hội cho gia đình họ và cho cộng đồng.
Đặc biệt gần 2/3 số nạn nhân sử dụng
rượu, bia khi tham gia giao thông. c nghiên
cứu trước đây cũng cho thấy kết quả tương tự
[4,5]. Để cải thiện tình trạng này cần có sự tham
gia của toàn hội, từ ng tác truyền thông,
nâng cao hiểu biết của người dân, cho đến việc
thiết lập các quy định, chế tài giám sát người
tham gia giao thông, đảm bảo việc không sử
dụng rượu, bia khi tham gia giao thông, tiến tới
giảm tình trạng TNGT đang diễn ra hết sức phổ
biến hiện nay.
Trong công tác cứu tại chỗ các nạn nhân
TNGT, đa số cứu tại chỗ (55,4%) trên
đường vận chuyển (42,6%), bằng các phương
tiện tự tạo (86,6%), do người nhà hoặc cộng
đồng xung quanh tiến hành (91,6%). Kết quả
này cũng tương tự như một số nghiên cứu khác
tại Việt Nam được tiến hành trước đó [4-7]. Điều
này cho thấy, mặc TNGT một vấn đề y tế
quan trọng nhưng công tác sơ cứu nạn nhân vẫn
chưa được quan tâm, đầu tư, tổ chức, thực hiện
một cách phù hợp. Thực tế cho thấy, công tác sơ
cứu nạn nhân TNGT đóng vai trò thiết yếu,
chìa khóa đảm bảo sự thành công trong việc cứu
nạn cho nạn nhân TNGT. Thời gian tới, các nhà
hoạch định chính sách, các ban, ngành, đoàn thể
nói chung ngành y tế nói riêng cần sự
quan tâm hơn nữa, đầu thích đáng cho công
tác sơ cứu các nạn nhân TNGT, từ đó giảm thiểu
những thiệt hại đáng tiếc có thể sảy ra.
Hầu hết tất cả c nạn nhân TNGT đều được
vận chuyển đến bệnh viện bằng xe cấp cứu 115
(99,0%), trong thời gian 1h đầu sau tai nạn
(91,6%). Đây một nỗ lực hết sức đáng ghi
nhận của ngành y tế Trung tâm cấp cứu 115.
Thời gian các nạn nhân nhập viện thường gặp
13h1’-17h (28,7%) và 17h1’-23h (37,1%). Tại
bệnh viện, 89,1% nạn nhân được nhập viện điều
trị, 87,6% do 1 chấn thương, 12,4% 2-3
chấn thương, trong đó tỷ lệ chấn thương sọ não
lên tới 54,0%. Kết quả này phù hợp với đặc thù
giao thông tại Việt Nam, với phương tiện giao
thông xe máy chủ yếu. Trong thời gian tới,
cần thúc đẩy hơn nữa việc sử dụng các phương
tiện bảo hộ khi tham gia giao thông như đội
bảo hiểm, thắt dây an toàn, ghế ngồi an toàn
cho trẻ em… nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ TNGT
nghiêm trọng, đặc biệt chấn thương sọ não do
TNGT [5]. 60,4% các nạn nhân cần được can
thiệp ngoại khoa, 39,6% điều trị nội khoa, tương
tự như c nghiên cứu trước đó [4-7]. Thời gian
điều trị trung bình 8,8 ngày. Nạn nhân càng
TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 489 - THÁNG 4 - S 1 - 2020
103
nhiều chấn thương thời gian điều tri càng dài.
Chi phí điều trị cho nạn nhân TNGT cao mang lại
gánh nặng kinh tế cho gia đình nạn nhân, từ đó
gây nh hưởng đến nền kinh tế, hội. Mặc
tỷ lệ nạn nhân được điều trị khỏi cao (96,5%),
tuy nhiên, trong đó 26,7% để lại di chứng
(đau đầu, liệt, sẹo, can lệch, thần kinh…). Tlệ
tử vong 3,5%. Chính những nạn nhân n để
lại di chứng này sẽ mang lại gánh nặng bệnh tật,
kinh tế cho gia đình và xã hội. Cần xây dung chiến
ợc can thiệp phù hợp, giảm thiểu TNGT cả.
V. KẾT LUẬN
Cấp cứu TNGT là công tác cần thiết, cần được
ưu tiên của nền y tế. Trong thời gian 6 tháng
đầu năm 2018, tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp,
202 nạn nhân TNGT được đưa đến cấp cứu.
Công tác cứu nạn nhân TNGT hiện n chủ
yếu tại chỗ, do người n cộng đồng tiến
hành, dựa vào các phương tiện tự tạo, cần được
cải thiện hơn trong thời gian tới. Ngoài ra, cần
đẩy mạnh n nữa ng tác truyền thông, xây
dựng chiến lược can thiệp phù hợp nhằm giảm
thiểu số vụ TNGT, tỷ lệ người bị thương, tử
vong, di chứng… cũng như các thiệt hại kinh tế,
xã hội mà TNGT mang lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. World Health Organization (2018). Global
status report on road safety.
2. Mohammed AA, Ambak K, Mosa AM,
Syamsunur D (2019). A Review of Traffic
Accidents and Related Practices Worldwide. Open
Transport J, 13; 65-83.
3. y ban an toàn giao thông quc gia (2017).
Báo cáo tng kết công tác đảm bo trt t an toàn
giao thông năm 2017 triển khai kế hoạch năm
an toàn giao thông 2018.
4. Th Hồng Lĩnh, Nguyễn Văn Sơn (2016).
Đánh giá công tác sơ, cấp cu tai nn giao thông
đưng b ti Bnh vin Vit Tip Hải Phòng năm
2013. Tp chí Y hc Vit Nam, tp 440, s 2, tháng
3, tr. 74-79.
5. Doan HTN, Hobday MB (2019). Characteristics
and severity of motorcycle crashes resulting in
hospitalization in Ho Chi Minh City, Vietnam. Traffic
Inj Prev, 20 (7): 732-737.
6. Nguyễn Văn Xáng (2010). Nghiên cứu đặc điểm
tình trng tai nn giao thông x cp cu tai
nạn giao thông trên địa bàn tnh Khánh Hòa. Tp
chí Y hc Vit Nam, s đặc bit, tr. 173-180.
7. Nguyễn Đức Chính (2014). Tình hình cp cu
tai nn giao thông ti Bnh vin Hu Ngh Việt Đức
m 2013. Tạp c Y hc thc hành, s 9, tr. 23-26.
8. Miller TR, Levy DT, Swedler DI (2018). Lives
saved by laws and regulations that resulted from
the Bloomberg road safety program. Accid Anal
Prev, 113: 131-136.
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA NUÔI DƯỠNG
ĐƯỜNG TIÊU HÓA SỚM Ở BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG
Đồng Ngc Minh*, Lưu Quang Thuỳ*, Trịnh Văn Đồng*
TÓM TẮT27
Mục tiêu: Đánh giá tác dụng không mong muốn
nuôi dưỡng đường tiêu hóa sớm giữa việc cung cấp
80%-100% nhu cầu năng lượng so với cung cấp 50%
nhu cầu năng lượng trong giai đoạn đầu đạt 100%
nhu cầu năng lượng từ ngày thứ 4 bệnh nhân chấn
thương sọ não nặng tại khoa Nội-Hồi sức thần kinh
bệnh viện Việt Đức. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên
đối chứng trên bệnh nhân chấn thương sọ não
nặng, điểm GCS 8 điểm nằm tại phòng hồi sức
tích cực khoa nội hồi sức thần kinh bệnh viện hữu
nghị Việt Đức từ tháng 9/2017-8/2018 chỉ định
nuôi dưỡng đường tiêu hóa. Bệnh nhân được chia làm
2 nhóm: Nhóm A cung cấp 80-100% nhu cầu năng
lượng nhóm B cung cấp 50% như cầu năng lượng
giai đoạn đầu đạt 100% năng lượng vào ngày thứ
*Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Chịu trách nhiệm chính: Lưu Quang Thuỳ
Email: drluuquangthuy@gmail.com
Ngày nhận bài: 5.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 23.3.2020
Ngày duyệt bài: 30.3.2020
4. Kết quả: Thời gian thở máy của nhóm B xu
hướng ngắn hơn so với nhóm A (11.51± 3.78 ngày so
với 12.33 ± 3.11 ngày). Thời gian nằm hồi sức trung
bình của bệnh nhân ở nhóm A dài hơn nhóm B (19.95
± 5.77 ngày so với 17.51 ± 6.51 ngày). Tỷ lệ biến
chứng hay gặp nhất cả 2 nhóm nhiễm khuẩn, táo
bón, trào ngược dạ dày và chậm liền vết thương. Kết
luận: thể chỉ cần cung cấp 50% nhu cầu năng
lượng trong 4 ngày đầu bằng nuôi dưỡng đường ruột
cho bệnh nhân.
Từ khóa:
Chấn thương sọ não, nuôi dưỡng đường
tiêu hóa, thời gian thở máy, nằm hồi sức, biến chứng
sau mổ
SUMMARY
EVALUATE THE ADVERSE EFFECTS OF
EARLY ENTERAL NUTRITION IN PATIENTS
WITH SEVERE TRAUMATIC BRAIN INJURY
Objectives: To evaluate the adverse effects of
early enteral nutrition between providing 80% -100%
and 50% of the energy requirement in the first stage,
and reaching 100% of the energy requirement on the
4th day in patients with severe traumatic brain injury
(TBI) at the Neurology and Neuro Intensive care
Department, Viet Duc Hospital. Method: prospective