ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
TRẦN MINH CHUYÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT TRỒNG RAU XÃ
HÓA THƯỢNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2015 – 2019
Thái Nguyên, năm 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
TRẦN MINH CHUYÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT TRỒNG RAU XÃ
HÓA THƯỢNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
: K47 – KHMT – N02 Lớp
: Môi trường Khoa
: 2015 – 2019 Khóa học
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Thế Hùng
Thái Nguyên, năm 2019
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệplà một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng
của mỗi sinh viên, đó là thời gian sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố
và vận dụng những kiến thức mà mình học được trong nhà trường.
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Môi trường, em đã về thực tập tại Trang trại sản xuất nông nghiệp sạch Thái
Nguyên – Chi nhánh Doanh nghiệp tư nhân Cao Bắc. Đến nay em đã hoàn
thành quá trình thực tập tốt nghiệp.
Lời đầu tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Ban chủ nhiệm khoa và tập thể thầy cô trong khoa Môi trường đã tận
tâm giúp đỡ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập.
- Bà Dương Thị Đào chủ cơ sở sản xuất, cùng toàn thể các cô các chú
và các anh trong Trang trại đã giúp đỡ em hoàn thành tốt đợt thực tập tốt
nghiệp này.
- Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Hóa Thượng,
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực
hiện tốt nội dung đề tài tốt nghiệp này.
- Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ, chỉ đạo tận
tình của thầy giáo GS.TS Nguyễn Thế Hùng đã giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
- Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 22, tháng 5, năm 2019
Sinh viên
Trần Minh Chuyên
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Lượng phân bón tiêu thụ toàn cầu .................................................. 13
Bảng 1.2. Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm 2017/2018
......................................................................................................................... 14
Bảng 2.1. Kí hiệu mẫu đất nghiên cứu ............................................................ 32
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất xã Hóa Thượng năm 2016 – 2018 ............ 37
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của xã qua năm 2013, 2018 ............ 40
Bảng 3.4. Tình hình lao động của xã Hóa Thượng năm 2018 ........................ 41
Bảng 3.5. Tình hình biến động dân số và lao động của xã năm 2016-2018 ... 43
Bảng 3.6. Kết quả sản xuất kinh doanh của xã trong 3 năm 2016 – 2018 ...... 46
Bảng 3.7. Diện tích cơ cấu các loại cây trồng trên địa bàn xã Hóa Thượng .. 47
Bảng 3.8. Sản lượng một số loại cây trồng chính trên địa bàn xã Hóa Thượng
......................................................................................................................... 49
Bảng 3.9. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây ăn quả chính trên địa
bàn xã Hóa Thượng năm 2016 - 2018 ............................................................ 50
Bảng 3.10. Đánh giá nồng độ pH đất tại xã Hóa Thượng............................... 52
Bảng 3.11. Đánh giá hàm lượng Nts trong đất tại xã Hóa Thượng theo TCVN
7373: 2004 ....................................................................................................... 53
Bảng 3.12. Đánh giá hàm lượng Pts trong đất xã Hóa Thượng theo TCVN
7374:2004 ........................................................................................................ 53
Bảng 3.13. Kết quả phân tích lượng mùn trong đất trồng rau xã Hóa Thượng
......................................................................................................................... 54
Bảng 3.14. Đánh giá tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất ......................... 55
iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
: Bảo vệ môi trường BVMT
: Dung lượng cation trao đổi CEC
: Phương pháp Quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS
: Bảo vệ thực vật BVTV
: Cánh đồng CD
CN-TTCN-XD : Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng
: Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc FAO
: Giá trị sản xuất GTSX
: Khu công nghiệp KCN
: Kim loại nặng KLN
: Neutral Red Retention Time NRRT
: Quy chuẩn Việt Nam QCVN
: Đạm tổng số Nts
: Lân tổng số Pts
: Phân tổng hợp NPK
: Tiêu chuẩn môi trường TCMT
HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật
NN : Nông nghiệp
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Những yêu cầu của đề tài ............................................................................. 2
4. Ý nghĩa cuả đề tài ......................................................................................... 2
4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học .......................................... 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................ 2
PHẦN 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
1.1.1. Cơ sở lý thuyết ........................................................................................ 3
1.3. Hiện trạng ô nhiễm đất trồng rau trên thế giới và Việt Nam ................... 11
1.3.1. Ô nhiễm do sử dụng phân bón .............................................................. 12
1.3.2. Do sử dụng thuốc BVTV ...................................................................... 16
1.3.3. Ô nhiễm đất trồng rau do chất thải công nghiệp ................................... 19
1.3.4. Ô nhiễm đất trồng rau do các loại chất thải khác .................................. 21
1.4. Mối quan hệ giữa rau với đất ................................................................... 21
1.4.1. Lựa chọn nguồn giống .......................................................................... 25
1.4.2. Sử dụng hóa chất BVTV hợp lý và đúng kỹ thuật để bảo vệ năng suất –
phẩm chất rau, an toàn cho người và môi trường. .......................................... 25
1.5. Ứng dụng các sản phẩm sinh học trong nông nghiệp .............................. 28
1.5.1. Nhóm chế phẩm sinh học ứng dụng cho phòng trừ sâu bệnh ............... 28
1.5.2. Phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, chất tăng trưởng cây trồng. ......... 29
Phần II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ......................................... 30
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................ 30
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 30
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ ... 30
v
2.3.2. Tình hình sản xuất rau xã Hóa Thượng ................................................ 30
2.3.3. Hiện trạng môi trường đất trồng rau của khu vực nghiên cứu .............. 30
2.3.4. Đề xuất giải pháp .................................................................................. 31
2.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 31
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ................................................... 31
2.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa ............................................................. 31
2.4.3. Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất rau
tới môi trường đất ............................................................................................ 31
2.4.4. Phương pháp lấy mẫu ............................................................................ 32
2.4.5. Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm ............................................ 32
PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................... 34
3.1. Đăc điểm địa bàn nghiên cứu ................................................................... 34
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 34
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ......................................................................... 36
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch của xã ........................................ 36
3.2.2. Thực trạng tổ chức kinh tế và tổ chức sản xuất .................................... 38
3.2.2.3. Hạ tầng kinh tế xã hội ........................................................................ 44
3.3. Thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Hóa Thượng ............... 47
3.3.1. Thực trạng sản xuất ngành trồng trọt .................................................... 47
3.4. Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng rau xã Hóa Thượng, Huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ............................................................................ 51
3.5. Đề xuất một số giải pháp canh tác rau an toàn trên địa bàn xã Hóa
Thượng ............................................................................................................ 55
3.5.1. Sử dụng phân bón và thuốc BVTV hợp lý, hiệu quả ............................ 56
3.5.2. Sử dụng các loại bẫy để bắt côn trùng .................................................. 56
3.5.3. Đảm bảo chất lượng nguồn nước tưới .................................................. 56
3.5.4. Công tác quản lý .................................................................................... 58
PHẦN 4KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................... 59
vi
4.1. Kết luận .................................................................................................... 59
4.2. Kiến nghị .................................................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 61
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm thiết yếu và cần thiết trong bữa ăn hằng
ngày của mỗi người trên khắp hành tinh. Đặc biệt, khi lương thực và các thức
ăn giàu đạm đã được đảm bảo theo yêu cầu về số lượng và chất lượng thì rau
xanh lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và
kéo dài tuổi thọ.
Cho đến nay, khoa học đã làm rõ vai trò của rau xanh. Chúng là nguồn
cung cấp chủ yếu các vitamin (đặc biệt là các vitamin A, C...), các chất
khoáng (Canxi, phốt pho, sắt...) và một lượng lớn chất xơ cho cơ thể, các chất
pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra, bên cạnh giá trị dinh dưỡng, rất nhiều loại rau
có tính dược lý cao là những loại thảo dược quý giúp ngăn ngừa và chữa trị
nhiều bệnh nan y của con người, nhất là trẻ em và người cao tuổi.
Hiện nay, nông nghiệp khá phát triển và có nhiều phương thức canh tác
rau khác nhau như : khí canh, thủy canh....nhưng canh tác trên đất vẫn là chủ
yếu. Đất hội tụ đầy đủ các điều kiện và là môi trường sống lý tưởng cho các
loại cây. Đất cung cấp các chất dinh dưỡng (N, P, K....), các chất vi lượng
(Fe,Bo, Mo...) và có hệ sinh vật đất phong phú và đa dạng......Chính vì vậy mà
chất lượng môi trường đất sẽ quyết định chủ yếu tới chất lượng rau.
Đất trồng rau ở nhiều vùng của nước ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Một trong các vùng trồng rau điển hình ở khu vực phía bắc là huyện Thanh
Trì – thành phố Hà Nội. Nguyên nhân là do người dân sử dụng phân bón và
thuốc trừ sâu không hợp lý, do hoạt động sản xuất công nghiệp, hoạt động tái
chế từ các làng nghề....Trong quá trình sinh trưởng cây rau sẽ hấp thụ và tích
lũy các chất ô nhiễm này trong các bộ phận của cây. Rau bị nhiễm bẩn và
nhiễm độc sẽ gây hại cho sức khỏe của con người: gây ngộ độc, các bệnh ung
thư.... Do vậy đánh giá hiện trạng chất lượng đất trồng rau sẽ giúp ích cho
việc quy hoạch vùng trồng rau an toàn, hạn chế tác hại của rau xanh chứa chất
độc đến sức khỏe của con người.
2
Trên cơ sở đó tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài : “Đánh giá hiện
trạng môi trường đất trồng rau xã Hóa Thượng, huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái
Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thành phần hữu cơ trong đất trồng rau như : Nitơ tổng số,
Phố pho tổng số, pH, Mùn.
- Đánh giá hàm lượng chất bảo vệ thực vật có trong đất trồng rau tại xã
Hóa Thượng.
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm mỗi trường đất.
3. Những yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác và khách quan.
- Đánh giá chất lượng môi trường đất trồng rau tại xã Hóa Thượng,
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Các giải pháp đưa ra phải có tính thực tiễn và phù hợp với điều kiện
của xã.
- Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi
ra trường.
4. Ý nghĩa cuả đề tài
4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp
dụng vào thực tế.
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu, học hỏi
những kinh nghiệm từ thực tế.
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được chất lượng môi trường đất trồng rau tại xã Hóa
Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Có những biện pháp đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất.
- Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường của đất nước.
3
PHẦN 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1.Cơ sở lý thuyết
1.1.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm về môi trường
Hiện nay, môi trường là một lĩnh vực khoa học đã và đang được nhiều
nhà bác học quan tâm, nghiên cứu, từ đó đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về
môi trường. Tuy có nhiều quan điểm và mục đích nghiên cứu về môi trường
khác nhau nhưng cũng có có thể nêu lên một số định nghĩa tổng quát: Môi
trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có
khả năng tác động đến sự tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh
vật. Môi trường là tổng các điều kiện bên ngoài, chỉ ảnh hưởng đến sự phát
triển hay tồn tại của một sinh vật hay một cộng đồng. Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng
đến đời sống, sản xuất, tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo
vệ môi trường Việt Nam, 2015).
Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng
lượng với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận. Ô
nhiễm môi trường là hiện tượng môi trƣờng tự nhiên bị bẩn, đồng thời các
tính chất vật lí, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới
đời sống của con người và sinh vật khác. Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi
các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây
ảnh hưởng.
Ô nhiễm môi trường bao gồm các dạng ô nhiễm chính: Môi trường đất,
nước, không khí, tiếng ồn... Ô nhiễm đất là sự biến đổi các thành phần, tính
chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động canh
4
tác sản xuất nông nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau, và do
thải bỏ không hợp lí các chất cặn bã đặc và chất lỏng vào đất, ngoài ra ô
nhiễm đất còn do sự lắng đọng các chất gây ô nhiếm không khí lắng đọng
xuống đất (theo mùa mưa)....
Khái niệm chất gây ô nhiễm
Chất gây ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có
trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn và gây tác động có hại cho
môi trường tự nhiên, cho con người cũng như sinh vật sống. Chất gây ô nhiễm
có thể là do các hiện tượng tự nhiên sinh ra gây ô nhiễm trong phạm vi nào đó
của môi trường (ví dụ: Núi lửa, cháy rừng, bão lụt...) hoặc do các hoạt động
của con người gây lên (ví dụ: Hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận
tải, sinh hoạt đô thị).
1.1.2.Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo Vệ Môi Trường 2015 được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 tại kì họp thứ
7 khóa XIII và chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2015.
- Nghị định số 26/2011/NĐ-CP ngày 08/4/2011 của Chính Phủ thay thế
nghị định số 68/2005/NĐ-CP về an toàn hóa chất.
- Quyết định số 22/2006/QĐ/BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường. 7
- Quyết định số 33/2004/QĐ – BKHCN ngày 29/10/2004 của Bộ Khoa học và
Công nghệ về việc ban hành tiêu chuẩn Việt Nam.
- Quyết định số 04/2008/QĐ – BTNMT ngày 18/7/2008 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trường.
- TCVN 7538-2:2005 về chất lượng đất và hướng dẫn lấy mẫu.
- TCVN 6647:2000 (ISO 11464:1994) Chất lượng đất – Xử lí sơ bộ đất
để phân tích lí hóa.
5
- TCVN 7377:2004 Chất lượng đất – Xác định pH
- TCVN 7374:2004 Chất lượng đất - phương pháp xác định tổng số
photpho.
- TCVN 7373:2004 Chất lượng đất – Phương pháp xác định tổng số Nitơ.
- QCVN 15:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Dư lượng
Hóa chất bảo vệ thực vật trong đất.
- QCVN 03:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng
kim loại nặng trong đất.
1.2.Ô nhiễm đất và một số nguyên nhân ô nhiễm đất
Môi trường đất
Đất là một tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con
người...Đất được hình thành và tiến hoá chậm hàng thế kỷ do sự phân huỷ xác
thực vật dưới sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường. Một số đất được hình
thành do sự bồi lắng phù sa sông, biển hay gió. Đất có bản chất khác cơ bản
với đá là có độ phì nhiêu và tạo sản phẩm cây trồng. Đất được xem như sản
phẩm hoạt động của khí hậu (Cl) trên đá mẹ (P) được làm thay đổi dưới ảnh
hưởng của thực vật và các cơ thể sống khác (O), địa hình (R) và phụ thuộc
vào thời gian (t). Jenny đã biểu
diễn mối quan hệ sau: Đất = f(P, Cl, t, R, O), bao gồm 5 biến số và
người ta gọi là 5 yếu tốhình thành đất(Theo Phan Tuấn Triều, 2016).
Các loại đất thường khác nhau về thành phần và tính chất do trong quá
trình hình thành và phát triển chịu tác động của nhiều yếu tố nên bản thân nó
là một dị thể, gồm: thể rắn; thể lỏng; thể khí và Đất là một tài nguyên vô cùng
quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người...Đất được hình thành và tiến
hoá chậm hàng thế kỷ do sự phân huỷ xác thực vật dưới sự ảnh hưởng của các
yếu tố môi trường . Một số đất được hình thành do sự bồi lắng phù sa sông,
biển hay gió. Đất có bản chất khác cơ bản với đá là có độ phì nhiêu và tạo sản
phẩm cây trồng. Đất được xem như sản phẩm hoạt động của khí hậu (Cl) trên
6
đá mẹ (P) được làm thay đổi dưới ảnh hưởng của thực vật và các cơ thể sống
khác (O), địa hình (R) và phụ thuộc vào thời gian (t). Jenny đã biểu diễn mối
quan hệ sau: Đất = f(P, Cl, t, R, O), bao gồm 5 biến số và người ta gọi là 5
yếu tốhình thành đất(Theo Phan Tuấn Triều, 2009).
Các loại đất thường khác nhau về thành phần và tính chất do trong quá
trình hình thành và phát triển chịu tác động của nhiều yếu tố nên bản thân nó
là một dị thể, gồm: thể rắn ; thể lỏng; thể khí và các sinh vật cùng các tàn dư
của chúng (phần hữu cơ của đất). Như vậy, về bản chất đất là một hỗn hợp thể
vật liệu tạo nên một môi trường tơi xốp. Độ xốp của đất chủ yếu được xác
định bởi các hợp phần: Khoáng, hữu cơ và thể lỏng. Khả năng phản ứng giữ
pha rắn và pha lỏng ảnh hưởng rất lớn đến tính bền vững và ổn định của môi
trường xốp, đặc biệt là khi có sự tương tác của chất ô nhiễm.
Nếu xét trên quan điểm cấu trúc và chức năng, thì đất tự nó đã là một hệ
sinh thái hoàn chỉnh. Tác nhân sản xuất của đất là những thực vật bậc thấp như vi
sinh vật tự dưỡng, địa y, tảo, rêu. Tác nhân tiêu thụ và phân hủy là các quần thể vi
sinh vật, động vật đất và nấm. Tuy nhiên, số lượng sinh vật và tổng sinh khối của
hệ sinh thái đất nhỏ hơn so với các hệ sinh thái khác tồn tại trên Trái đất.
Ngoài ra, đất còn là phần vỏ ngoài của quả địa cầu, hình thành do sự
biến đổi của đá mẹ dưới ảnh hưởng của các tác nhân lý, hóa, sinh vật...Do
vậy, đất là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là không gian thích hợp để
con người xây dựng nhà ở và các công trình khác. Đất cũng giống như tài
nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, năng lượng...là loại tài
nguyên có thể phục hồi nếu con người sử dụng một cách khôn ngoan.
Theo Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2018) cho tới nay có nhiều định nghĩa
về đất, nhưng định nghĩa của Docutrave (1879) , một nhà thổ nhưỡng học
người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất. Theo ông “ Đất là vật thể thiên
nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả hoạt động tổng hợp của 6 yếu tố
hình thành đất gồm: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình, nước và thời gian.
7
Đất được hình thành từ đá mẹ, dưới các điều kiện nhiệt độ, áp suất nhất
định, các thông số về khí hậu, thời tiết, sự tham gia của các yếu tố sinh vật và
con người...quá trình phong hóa vật lý, hóa học và sinh học. Đá mẹ thông qua
sự phong hóa vật lý, hóa học và sinh học, cùng với sự thay đổi đột ngột của
nhiệt độ...Các lớp đá có cấu trúc từ những khoáng vật khác nhau, cùng với
những tác nhân có trong nước mưa (H2SO4, HNO3...)đã làm vỡ tan nhanh
chóng, tạo thành các mảnh vụn. Quá trình đó vẫn còn tiếp tục để cho ra sản
phẩm là những mẫu chất và cuối cùng sẽ tạo thành đất.
Nếu như đất là một vật thể thì môi trường đất là một phạm trù rộng lớn
hơn. Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô
sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định. Các thực vật, động vật và vi sinh vật
sống trong lòng trái đất. Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt
chẽ với nhau. Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ
môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu.
Ô nhiễm môi trường đất
Môi trường đất là một phạm trù rất rộng và các quá trình gây suy thoái
môi trường đất cũng rất khác nhau. Ví dụ: vào năm 1991, FAO đã tổ chức hội
nghị về sử dụng đất ở 12 nước Châu Á và hội nghị đưa rác các vấn đề về môi
trường đất: độ phì nhiêu kém và không cân bằng sinh thái; dân số tăng nhanh;
đất thoái hoá do xói mòn; chính sách đất đai, luật đất đai và tình hình thực hiện;
mặn hoá; phá rừng; bồi tụ; du canh; ngập nước; sự biến đổi chất đất; hạn hán;
đất trở nên chua dần; ô nhiễm đất; sa mạc hoá; chăn thả quá mức; thoái hoá
chất hữu cơ; phèn hoá; đất trượt; cơ cấu đất trồng nghèo nàn; đất than bùn sình
lầy. Bình thường hệ sinh thái đất luôn tồn tại ở trạng thái cân bằng. Tuy nhiên,
khi có mặt một số chất và hàm lượng của chúng vượt quá khả năng chịu tải của
đất thì hệ sinh thái đất sẽ mất cân bằng và môi trường đất bị ô nhiễm.
Theo tác giả Lê Văn Khoa viết trong sinh thái và môi trường đất thì ô
nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
8
trường đất bởi các chất ô nhiễm. Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt
động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới
hạn sinh thái của các quần xã sống trong đất.
Để kiểm soát được ô nhiễm môi trường đất, cần phải biết được giới hạn
sinh thái của quần xã sống trong đất với từng nhân tố sinh thái. Xử lý ô nhiễm
có nghĩa là điều chỉnh và đưa các nhân tố sinh thái trở về giới hạn sinh thái
của quần xã đất. Đây là nguyên lý sinh thái cơ bản được vận dụng vào việc sử
dụng hợp lý tài nguyên đất và bảo vệ môi trường.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho rằng: “Ô nhiễm môi trường là sự
đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái
chất lượng môi trường”.Vì vậy, ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả
các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm, gây
ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật và con người. Đất được xem là ô nhiễm
khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm
sạch của môi trường đất.(Dẫn nguồn Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2018)
Một bài viết trên tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường chỉ ra
rằng: “Ô nhiễm môi trường đất thực chất là những tác động của tự
nhiên, con người làm biến đổi các yếu tố sinh thái vượt ra ngoài phạm
vi chống chịu của sinh vật. Ô nhiễm đất chính là việc đưa vào môi
trường đất các thành phần có hại đối với sự sống của cộng đồng và hệ
sinh vật. Trong đó, có hai nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là tự nhiên và
nhân tạo”.
Có nhiều cách phân loại nguồn gây ô nhiễm đất nhưngngười ta có thể
phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh, hoặc theo các tác nhân gây
ô nhiễm.
- Nếu theo nguổn gốc phát sinh có: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc
nhân tạo.
9
- Nếu phân loại theo các tác nhân gây ô nhiễm: Ô nhiễm do tác nhân
hóa học, tác nhân vật lý, tác nhân sinh học.
a. Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn gốc tự nhiên là những nguyên nhân nằm ngoài sự can thiệp của con
người như:
*Hiện tượng nhiễm phèn
Hiện tượng nhiễm phèn do nước từ các rốn phèn ( trung tâm sinh phèn)
theo dòng nước mặt hoặc nước ngầm lan truyền đến các vị trí khác nhau gây
2- và đồng thời làm cho nồng độ của chúng tăng cao trong
hiện tượng nhiễm phèn. Các đất nhiễm phèn chủ yếu là nhiễm các chất độc
Fe2+ , Al3+ , SO4
dung dịch đất, mật độ keo đất tăng lên cao, pH của môi trường giảm xuống.
Hậu quả là gây ngộ độc cho cây trồng và các sinh vật đất.
*Hiện tượng nhiễm mặn
2-. Các chất này gây
Hiện tượng nhiễm mặn gây ra do muối trong nước biển, nước triều hay
từ các mỏ muối, trong đó các chất như : Na+, K+ , Cl-, SO4
tác hại đến môi trường đất do tác động của các ion hoặc cũng có thể gây hại
do áp suất thẩm thấu, nồng độ muối cao trong dung dịch đất đễn cơ thể sinh
vật, đặc biệt là gây độc sinh lý cho thực vật.
*Quá trình glay hóa
Quá trình glay hóa trong môi trường đất là quá trình phân giải các hợp
chất hữu cơ trong các điều kiện ngập nước yếm khí, nơi tích lũy nhiều xác
chết của các sinh vật gây ra nhiều chất độc như: CH4, H2S, FeS..., đồng thời
các sản phẩm hữu cơ được phân hủy dở dang dưới dạng các hợp chất mùn
đóng vai trò gián tiếp trong việc gây ô nhiễm đất do sự liên kết chặt chẽ giữ
chúng với các hợp phần ô nhiễm đi vào đất.
*Các quá trình khác
Các quá trình vận chuyển chất ô nhiễm theo dòng nước mưa lũ, theo
gió từ nơi này đến nơi khác khi xảy ra hoạt động núi lửa hay cát bay. Ngoài ra
10
ô nhiễm đất từ quá trình tự nhiên còn do đặc điểm, nguồn gốc của các quá
trình địa hóa. Tác nhân gây ô nhiễm đất chính chủ yếu là các kim loại
nặng(Bộ môn Công nghệ môi trường, 2018).
b. Nguồn nhân tạo
Cũng theo Bộ môn công nghệ môi trường (2018), nguồn gây ô nhiễm
đất nhân tạo gồm có:
*Quá trình sản xuất công nghiệp, làng nghề:
Quá trình này đa dạng, phức tạp, phụ thuộc vào đặc trưng của các cơ sở
khác nhau, thường là những chất độc hại như : kim loại, hợp chất hữu cơ, dầu
mỡ, thuốc bảo vệ thực vật...
+ Cơ khí, khai khoáng, khai mỏ, chế biến kim loại, tiện... + Khai thác
dầu mỏ, lọc dầu.
+ Khu chôn lấp chứa chất thải.
+ Rò rỉ các kho chứa nguyên liệu ngầm trong đất (bể chứa xăng, dầu ngầm).
*Quá trình sản xuất nông nghiệp:
+ Bón vôi: Cung cấp Ca, Mg có khả năng gắn kết các hạt đất với nhau,
tăng độ bền, độ liên kết của đất nhưng nếu quá lượng nó lại trở thành xi măng
gắn kết các hạt đất.
+ Bón phân làm chua đất.
+ Kho chứa thuốc bảo vệ thực vật, các sản phẩm dư thừa sau thu hoạch.
*Hoạt động giao thông vận tải: tràn dầu, khí thải....
*Sinh hoạt của con người: sự thấm lọc từ các bãi đổ rác, các ao chứa
chất thải...
Tác nhân gây ô nhiễm
Do nhiều tác nhân gây ô nhiễm có thể có nguồn gốc khác nhau nhưng
lại gây tác hại như nhau, nên để thuận lợi cho công việc khảo sát, đánh giá,
khắc phục xử lý ô nhiễm, người ta phân loại ô nhiễm đất theo tác nhân ô
nhiễm. Tác nhân ô nhiễm thì bản thân nó đã có sẵn hoặc không có sẵn mà
11
xuất hiện trong đất đến một giai đoạn nhất định nào đó gây ảnh hưởng đến
sức khỏe con người, chất ô nhiễm có thể là chất hữu cơ, vô cơ, sinh vật...Tác
nhân ô nhiễm gồm có:
- Tác nhân vật lý: nhiệt, phóng xạ, xói mòn thoái hóa...
- Các tác nhân hóa học: Các chất vô cơ, các ion, kim loại nặng, phân
bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)...
- Tác nhân sinh học: vi khuẩn, kí sinh trùng gây bệnh...
( Theo Bộ môn công nghệ môi trường 2018)
Ví dụ: Ô nhiễm đất do tác nhân sinhhọc
Ô nhiễm đất do đổ bỏ các chất thải mất vệ sinh hoặc sử dụng phân bắc
tươi hoặc bón trực tiếp mùn thải sinh hoạt. Đất bị nhiễm trứng giun kí sinh,
nhiễm vi sinh vật thường gặp ở một số vùng nông thôn hoặc vùng trồng rau
hànghóa.
Đất là một con đường truyền dịch bệnh phổ biến: người – đất – nước –
côn trùng – kí sinh trùng – người, hoặc vật nuôi – đất – người, hoặc đất – người.
Ngày nay, do hoạt động của con người mở rộng ra nhiều lĩnh vực đa
dạng thì chất thải và ô nhiễm ngày càng phức tạp và càng nhiều. Môi trường
đất có thể bị ô nhiễm do sự lan truyền từ môi trường không khí, chất ô nhiễm
không khí khi lắng tụ sẽ rơi vào môi trường đất.
Bên cạnh đó, môi trường đất và môi trường nước có liên quan chặt
chẽ với nhau. Nước trên mặt đất, nước trong lòng đất. Khi môi trường nước
bị ô nhiễm thì tất yếu làm ô nhiễm môi trường đất.Ngoài ra môi trường đất
còn bị ô nhiễm từ xác bã động thực vật tồn tại trong môi trường đất.
1.3. Hiện trạng ô nhiễm đất trồng rau trên thế giới và Việt Nam
Ngày nay,cùng với sự phát triển của các lĩnh vực trong xã hội thì hiện
tượng ô nhiễm ngày càng tăng. Đó không chỉ là tình trạng riêng của Việt Nam
mà còn là xu hướng chung của thế giới. Ô nhiễm môi trường không khí, môi
trường nước...theo các con đường khác nhau nhưng cuối cùng mọi tác động
12
đều dồn về đất. Đấtđai bị ô nhiễm thì đất dùng để sản xuất và canh tác rau
cũng không ngoại lệ.
Đất sử dụng để trồng rau trên thế giới và Việt Nam hiện nay đang bị ô
nhiễm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do sử dụng phân bón
và thuốc BVTV. Ngoài ra còn do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt,
các sự cố (rò rỉ hạt nhân, tràn dầu...).
1.3.1. Ô nhiễm do sử dụng phân bón
Phân bón không chỉ có vài trò quan trọng đối với an toàn lương thực
mà còn có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe con người. Tăng cường sử dụng
phân bón cho cây trồng đã đẩy mạnh sản xuất trên một đơn vị diện tích, tăng
nguồn cung cấp lượng thực cũng như góp phần vào cải thiện chất lượng thực
phẩm như bổ sung các vi lượng thiết yếu(Tom W. Bruulsema et al., 2018
).Vì vậy để tăng năng suất cho cây trồng con người đã dùng nhiều loại phân
bón hóa học và sinh học trong nông nghiệp.Trong quá trình sử dụng các chất
dư thừa hoặc không được cây trồng hấp thụ đã ảnh hưởng đến chất lượng đất
và gây ô nhiễm đất. Dưới đây là hiện trạng sử dụng phân bón dẫn đến ô nhiễm
đất trên thế giới và nước ta.
*Trên thế giới:
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển
đều có xu hướng chung là sử dụng phân bón vô cơ để phục hồi đất.
Theo FAO (2016), dự báo nhu cầu phân bón trong các năm 2019-2020
sẽ tăng 1,9% trong đó đạm tăng 1,4%, lân tăng 2,0% và kali tăng 2,4% nhưng
thực tế thì trong giai đoạn này lượng phân bón tiêu thụ toàn cầu lại giảm
mạnh, cùng với khủng khoảng kinh tế tại nhiều nước. Mức tiêu thụ phân bón
đạt gần 169 triệu tấn vào năm 2015, sau đó giảm mạnh xuống còn 155,3 triệu
tấn vào năm 2016/2017 và tăng trở lại từ cuối năm 2017 lên 163,5 triệu tấn,
đạt 172,6 triệu tấn năm 2018/2019và 176,8 triệu tấn năm 2019/2020. (Theo
Lê Quốc Phong, 2018)
13
Bảng 1.1.Lượng phân bón tiêu thụ toàn cầu
Đơn vị: triệu tấn
Năm N Tổng
2015/2016 100,8 P2O5 38,5 K2O 29,1 168,4
2016/2017 98,3 33,8 23,1 155,3
2017/2018 102,2 37,6 23,6 163,5
2018/2019 2019/2020 (ước tính) 104,3 107,5 40,6 41,1 27,6 28,2 172,6 176,6
Nguồn: IFA 11/2018
Trong các nước tiêu thụ phân bón trên thế giới, Trung quốc là nước tiêu
thụ phân bón lớn nhất, tiếp đến là Ấn Độ, Mỹ Và Braxin...Nhóm 10 nước này
chiếm 74% lượng phân bón toàn cầu.
Trong các sản phẩm phân bón được tiêu thụ thì sản lượng urê chiếm
nhiều nhất, có đến 150 triệu tấn urê được tiêu thụ trong năm 2018 và lượng
này tăng lên 155 triệu năm 2011 (Magnus Berge, 2012), trong số đó Trung
Quốc chiếm trên 54 triệu tấn, kế đến Ấn độ trên 21 triệu tấn, các nước Nga,
Indonesia, Mỹ mỗi nước trên 6 triệu tấn, còn lại của các nước khác. Đối với
phân DAP và MAP năm 2018
tiêu thụ 56 triệu tấn, trong đó Ấn Độ tiêu thụ DAP chiếm 34%, Trung
Quốc chiếm 25% thì Trung Quốc tiêu thụ MAP đến 47%, Bắc Mỹ 20% và
Nam Mỹ 15% sản lượng của toàn cầu.Ngoài ra, các loại phân bón NPK, SSP
và CAN cũng được người nông dân ngày quan tâm và tiêu thụ ngày càng
tăng, trong số đó Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Nga, Mỹ là những quốc gia có
lượng phân NPK sử dụng nhiều nhất. Trong đó, sản lượng tiêu thụ các chủng
loại phân bón tại Ấn Độ gia tăng gần như liên tục từ năm 2015 đến 2019 và
các sản phẩm NPK tăng trưởng.
14
Bảng 1.2. Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm
2017/2018
Đơn vị: triệu tấn
N Tổng
34,1 11,7 5,3 51,1
Nước Trung Quốc Ấn Độ Mỹ Nước Trung Quốc 16,15 Ấn Độ 11,93 Mỹ P2O5 Nước K2O Nước Trung Quốc 4,26 Ấn Độ 3,8 Trung Quốc Mỹ Braxin 8 3,99 Mỹ 27,95 20,18
Indonesia 3,35 Braxin 3,3 Ấn Độ 3,8 Braxin 9,8
Pakistan 2,93 Pakistan 0,8 Indonesia 1,05 Indonesia 4,9
Úc
Braxin Pháp 0,74 Malaysia 0,65 Pháp 1 0,48 Pakistan Pháp 3,76 3,05
Canada 1,94 0,54 Đức 0,38 Cannada 2,91
2,7 2,12 Cannada Thổ nhĩ kỳ Nga Indonesia 1,7 1,38 0,54 0,5 Nga Canada 0,35 0,32 Đức Nga 2,33 2,26
78,3 30,76 20,73 128,24 Đức Nga Tổng cộng
Nguồn: IFA, 2018
* Ở Việt Nam:
Ngày 29/7 tại Hội thảo "Giải pháp tăng hiệu suất sử dụng phân bón,
giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn tổ chức, theo báo cáo của Cục trồng trọt cho biết: Trong bảy tháng
đầu năm, xuất khẩu nông sản đạt 7 tỷ USD, tuy nhiên Việt Nam phải nhập tới
1,3 tỷ USD phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Cũng theo báo cáo trên, trong
khi ở các nước phát triển việc sử dụng phân bón có chiều hướng đi xuống thì
tại các nước đang phát triển lại chiều hướng tăng mạnh, trong đó có Việt
Nam. So với các nước sử dụng nhiều phân bón trên thế giới, Việt Nam mới sử
dụng phân bón ở mức 2%.Tuy nhiên mức này lại chiếm một nguồn đầu vào
khá lớn đối với sản xuất nông nghiệp.
15
Từ nay đến hết 2019, mỗi năm sẽ phải nhập khoảng trên 500 nghìn tấn
phân bón như: DAP, lân, kali và việc nhập khẩu chỉ có khả năng chấm dứt
vào năm 2020 khi các nhà máy trong nước sản xuất đủ lượng phân bón theo
nhu cầu của thị trường. Trước tình hình đó, ngành nông nghiệp nước ta đang
nghiên cứu ứng dụng các loại phân bón thay thế DAP như NPK, NEB 26…
nhằm giảm sử dụng phân đạm trong sản xuất.
Một vấn đề khác cũng được hội thảo quan tâm là hiệu quả sử dụng
phân bón. Theo báo cáo của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: "Mỗi
năm Việt Nam sử dụng khoảng trên 2 triệu tấn phân urê, khoảng 600 nghìn
tấn DAP và một lượng gần tương đương như vậy với các loại phân bón khác.
Tổng lượng phân bón các loại sử dụng ở Việt Nam xấp xỉ 7,7 triệu tấn. Tuy
nhiên thực tế cho thấy việc sử dụng phân bón chỉ được trên 40% hiệu suất.
Báo cáo môi trường quốc gia năm 2018 cho biết lượng phân bón dùng
trong nông nghiệp tăng 517% trong vòng 25 năm qua nhưng có tới 2/3 số
lượng phân đã bón không được cây trồng hấp thụ. Riêng năm 2010, khoảng
60-65% lượng phân đạm (tương đương 1,77 triệu tấn), 55 - 60% lượng lân
(2,07 triệu tấn) và 55 -60% kali (344 ngàn tấn) được bón vào đất nhưng cây
trồng không hấp thụ. Hệ lụy là tác động tiêu cực đến nông nghiệp và có thể
gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng. Theo một nghiên cứu khác thì
trung bình mỗi năm nông dân tỉnh An Giang đổ xuống đồng ruộng 183.000
tấn phân bón hóa học và trên 1.000 tấn thuốc BVTV nhằm phục vụ cho
280.000ha đất nông nghiệp. Nếu lấy con số trung bình này nhân với diện tích
trồng lúa của cả khu vực thì sẽ có một con số thật khủng khiếp. Với khoảng
1,5 triệu ha chuyên trồng lúa, nông dân ĐBSCL cần 1 triệu tấn phân bón và
hơn 5.000 tấn thuốc BVTV/năm. Tâm lý chung của nông dân là sử dụng
phân, thuốc “nặng tay” để có năng suất cao hơn nhưng lại ít tính đến yếu tố
môi trường. (TheoHồ Thanh Thúy, 2018).
Do nhu cầu sử dụng phân bón tăng nên ở hàng năm ở nước ta sản
16
xuất hàng triệu tấn phân lân từ các nhà máy lớn (Supephotphat Lâm
Thao, Long Thành, Đồng Nai, Văn Điển và Ninh Bình). Dự báo đến
năm 2020, lượng phân bón sử dụng ở nước ta sẽ trên 3,5 triệu tấn.
Ngoài các loại phân bón vô cơ, nông dân còn sử dụng các loại phân bón
hữu cơ để bón cho đất trồng rau màu.Hiện nay ở các vùng nông thôn miền
bắc, tập quán sử dụng phân bắc và phân chuồng tươi trong canh tác vẫn còn
phổ biến. Chỉ tính riêng trong tỉnh Thái Nguyên, hằng năm lượng phân bắc
thải ra khoảng 550.000 tấn, trong khi đó, công ty vệ sinh môi trường chỉ đảm
bảo thu được 1/3, số còn lại được nông dân chuyên chở về bón cho cây trồng,
gây mất vệ sinh và gây ô nhiễm đất. Huyện Đồng Hỷnhiều hộ nông dân đã
phải dùng phân Bắc tưới với liều lượng 7 – 12 tấn / hecta. Do vậy, 1 lít
nước mương máng khu trồng rau có tới 360 E.Coli, ở nước giếng công
cộng là 20, còn trong đất đến 2.105/100g đất.
Ở các vùng nông thôn phía nam, phân bắc trộn tro bếp cộng với vôi bột
và ủ khoảng 10 -14 ngày, sau đó bón cho cây trồng.
Qua các dẫn chứng ở trên ta nhận thấy hằng năm nông dân sử dụng một
lượng phân bón khá lớn để bón cho đất và cây trồng. Lượng phân bón này khi
bón vào đất cây trồng không sử dụng hết sẽ gây dư thừa, tích tụ các chất độc
hại: KLN (Cu, Zn, Cd...) làm ô nhiễm đất. Bên cạnh đó còn chứa các sinh vật:
trứng giun, sán...làm ảnh hưởng đến chất lượng đất và rau.
1.3.2. Do sử dụng thuốc BVTV
Hóa chất BVTV là loại thuốc quan trọng trong nông nghiệp, nếu sử
dụng tốt sẽ có hiệu quả phòng trừ sâu bệnh. Nhưng nó cũng là con dao 2 lưỡi,
gây ảnh hưởng.
*Trên thế giới
Năm 2018, PAN đã thực hiện phỏng vấn hơn 1.300 nông dân ở tám
quốc gia châu Á, gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Malaysia,
Campuchia, Sri Lanka và Việt Nam. Kết quả nghiên cứu trên được thể hiện
17
trong báo cáo dài
156 trang có tựa đề “Các cộng đồng lâm nguy: báo cáo khu vực châu Á về
việc sử dụng thuốc trừ sâu đặc biệt nguy hiểm”.
Theo báo cáo của PAN, có đến 66% thành phần chính của các loại
thuốc trừ sâu đang sử dụng ở châu Á nằm trong danh mục “Rất nguy hiểm”
theo xếp loại của PAN. “Tình trạng đối mặt với các loại thuốc trừ sâu đó, dù
với mức thấp, sẽ đẩy các cộng đồng dân cư gặp nguy cơ cao về sức khỏe như
rối loạn nội tiết”. Những nông dân được hỏi cũng khẳng định không ít lần bị
những vấn đề về sức khỏe sau khi đi phun thuốc trừ sâu hoặc sống trong khu
vực vừa được phun thuốc trừ sâu.
Còn tại Bangladesh, ngộ độc thuốc trừ sâu từng là một trong những
nguyên nhân tử vong chính trong năm 2018, và chính thức được xác nhận là
nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong nhóm tuổi 15 - 49.(Khuyết
danh,2018)
* Ở Việt Nam
Việc sử dụng thuốc BVTV là một trong những vấn đề đáng quan tâm
trong quá trình phát triển nông nghiệp.Hiện nay thuốc BVTV vẫn được xem
là yếu tố hàng đầu trong việc kiểm soát và phòng ngừa sâu bệnh sau thời kỳ
cách mạng xanh. Tuy nhiên chúng là những nguyên nhân gây hệ lụy cho môi
trường, con người, cây trồng, vật nuôi và hệ sinh thái.
Một kết quả kiểm tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
(2018) được công bố trên báo Nông nghiệp nông thôn Việt Nam, trong 25
mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc, có tới 44% mẫu rau có dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật, trong đó 4% có hoạt chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép. Kiểm
tra 35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam, Cục BVTV phát hiện tới 54% mẫu có
dư lượg thuốc bảo vệ thực vật, trong đó 8,6% mẫu được phát hiện có hàm
lượng thuốc bảo vệ thực vật đủ khả năng gây ngộ độc cho người sử dụng. Số
mẫu rau kiểm tra ở Hà Nội có hàm lượng Arsen cao hơn giới hạn cho phép
18
chiếm từ 22-33%, số mẫu rau có hàm lượng Nitrat (NO3) cao ở mức báo
động (100% mẫu đậu đỗ ở Hà Nội, 66,6% mẫu rau cải tại Tp. Hồ Chí Minh
và Đồng Nai có dư lượng vượt giới hạn tối đa cho phép.
Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2018 của tỉnh Lâm Đồng cho biết,
hàng năm lượng thuốc BVTV lưu thông và sử dụng khoảng 2,8 ngàn - 3 ngàn
tấn/năm. Toàn tỉnh có hơn 70 công ty, đơn vị cung cấp hơn 1 ngàn loại thuốc
BVTV cho gần 800 quầy kinh doanh trên địa bàn. Việc sử dụng phân hóa học
và thuốc BVTV tràn lan trong nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu gây ô
nhiễm nguồn nước và đất.
Theo kết quả điều tra đánh giá ảnh hưởng thuốc BVTV sử dụng trên
rau trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2017 và 2018 của Chi
cục BVTV thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy:
- Về loại thuốc BVTV có 102 loại thuốc BVTV thương phẩm, thuộc 50
hoạt chất khác nhau của 12 nhóm thuốc hóa học được sử dụng. Trong đó các
nhóm thuốc được sử dụng phổ biến để trừ sâu hại gồm nhóm vi sinh
(Abamectin, Emamectin benzoat, Dinotefuran, …), nhóm cúc tổng hợp
(Cypermethrin, Alpha-Cypermethrin), nhóm Carbamate (Fenobucard) với tỷ
lệ lần lượt là 63,4%; 14,1% và 5%. Ngoài ra, các loại thuốc thuộc nhóm lân
hữu cơ như Profenfos, Chlorpyrifos ethyl vẫn được nông dân sử dụng trên
ruộng rau với tỷ lệ thấp (khoảng 1%).
- Về hỗn hợp thuốc còn dư sau khi phun, phần lớn nông dân xử lý bằng
cách phun trực tiếp cho cây trồng ven bờ hay những nơi bị sâu bệnh tàn phá
nhiều, hoặc đổ trực tiếp xuống mương, ruộng. Việc sục rửa bình phun thuốc
được phần lớn nông dân thực hiện ngay tại kênh nội đồng, mương và nước
thải được đổ trực tiếp xuống ruộng, mương. Việc làm này đã đưa dư lượng
thuốc BVTV vào nước trong kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
đến sức khỏe của người dân và tác động xấu đến hệ sinh thái.( Nguồn Dương
Kim Hà, 2017)
19
Tác giả Hải Yến với bài viết “Thực trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực
vật tại Việt Nam”, đăng ngày 24/11/2015 chỉ ra rằng: trong những tháng đầu
năm 2015, cả nước hiện vẫn còn tồn tại tới 1.562 điểm tồn lưu do hóa chất thuốc
bảo vệ thực vật, nằm rải rác trên địa bàn 46 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.Hiện nay, phần lớn các khu vực bị ô nhiễm lại đang nằm lẫn trong khu dân
cư hay các khu vực đất ruộng đang được canh tác. Những khu vực ô nhiễm này
có diện tích từ vài chục mét vuông cho đến cả hàng ngàn mét vuông; chiều sâu
đất ô nhiễm từ 0,5m - 3m. Từ đó có thể thấy, lượng đất bị ô nhiễm đang là con
số rất lớn, đồng thời việc xử lý dứt điểm cũng hết sức tốn kém.
Trong số các tỉnh tồn tại các điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật, hai
tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện chiếm trên 60% số điểm nằm trong danh mục
100 khu vực ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do tồn lưu hóa chất bảo vệ thực
vật. Điều đáng lo ngại là có tới 90% các điểm ô nhiễm do tồn lưu thuốc bảo
vệ thực vật gây ra tại Nghệ An và Hà Tĩnh đều đang có dân cư sinh sống. Đa
số diện tích đất bị ô nhiễm hiện vẫn được sử dụng để trồng cây lương thực,
rau màu và chăn thả gia súc, gia cầm.
Ở nước ta số lượng thuốc BVTV và phân bón ngày càng tăng, đa dạng
chủng loại cùng với cách sử dụng không đúng liều lượng. Đồng thời các điểm
tồn dư hóa chất BVTV còn nhiều.Chính vì vậy mà lượng thuốcsử dụng quá
mức và tồn dư sẽ gây ô nhiễm đất, ảnh hưởng đến sản xuất và canh tác rau
đồng thời cũng ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người sử dụng.
1.3.3.Ô nhiễm đất trồng rau do chất thải công nghiệp
Hằng ngày các nhà máy, khu công nghiệp (KCN) thài một lượng lớn
nước thải chưa qua xử lý, chất thải ra môi trường. Theo bài viết trên báo Tuổi
trẻ, mục Ô nhiễm môi trường đất kỳ 1 – Sống chung với độc hại được đăng
ngày 14/10/2018 thì theo thống kê mới nhất từ Sở Tài nguyên - môi trường
TP.HCM, mỗi ngày các KCN trên địa bàn TP thải ra 6.700 tấn chất thải rắn.
Trong đó có 1.500-2.000 tấn chất thải rắn công nghiệp và nguy hại.
20
Trên toàn bộ lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có 114 KCN đang hoạt
động tập trung ở bốn địa phương Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM, Bà Rịa -
Vũng Tàu, chỉ có 79/114 KCN có hệ thống xử lý nước thải. Sự gia tăng nước
thải từ các KCN các tỉnh phía Nam trong những năm gần đây là rất lớn.
Các chất thải này thải ra môi trường đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến chất lượng đất. Nhiều nơi đất bị ô nhiễm không canh tác được hoặc vẫn
canh tác nhưng không an toàn.
Cũng trong mục này, bài báo có viết tại làng nghề giấy Phong Khê,
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh - đứng đầu cả tỉnh về ô nhiễm môi trường
đất hiện nay, theo khảo sát của Chi cục Bảo vệ môi trường Bắc Ninh, hàng
chục hecta đất trồng lúa tại khu vực này sau một thời gian tiếp nhận nguồn
nước thải chứa hóa
chất được thải ra từ các cơ sở sản xuất, tái chế giấy thì hầu như không thể
trồng được bất cứ loại cây nào.
Trên thế giới hằng ngày các quốc gia cũng thải ra môi trường một
lượng lớn các chất thải làm ô nhiễm đất. Trên toàn thế giới, khoảng 19 triệu
người đang có nguy cơ nhiễm chì từ quy trình làm nóng chảy quặng hoặc tái
chế kim loại rỉ. Thành phố Thiên Ưng thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc, là một
trong những trung tâm khai thác chì và công nghiệp chế biến của cả nước. Sản
lượng của thành phố này chiếm xấp xỉ 50% sản lượng chung của Trung Quốc.
Các nhà máy quy mô nhỏ ở đây có nhiều tiếng xấu do không tuân thủ các quy
định, dẫn đến hiện tượng không khí và đất nhiễm chì cao hơn 8.5 – 10% so
với tiêu chuẩn về sức khỏe của Trung Quốc. Sức khỏe của 140 ngàn người
đang bị ảnh hưởng và nhiều người dân được báo cáo đang chịu những tác hại
của hiện tượng nhiễm độc chì.
Theo BBC( 2017), Vương quốc Anh mối ngày thải bỏ khoảng 15 triệu
chai nhựa.Cũng theo thực tế điều tra trên, hơn 27 triệu tấn rác thải được xử lý
và chôn lấp mỗi năm tại các bãi chôn lấp của Vương quốc Anh.
21
Theo thực tế ô nhiễm và số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc, được
trích dẫn trong bài báo cáo của CNN năm 2017, Hoa Kỳ đã thải khoảng
53,4% của 222 triệu tấn chất thải rắn đô thị , tức là mỗi thùng rác ngày từ nhà
cửa, trường học, văn phòng ...) vào các bãi rác.
1.3.4. Ô nhiễm đất trồng rau do các loại chất thải khác
Ngoài ra đất dùng để canh tác còn bị ô nhiễm do các loại chất thải sinh
hoạt, ô nhiễm do sa mạc hóa và xói mòn, rò rỉ phóng xạ và hạt nhân.
Hằng năm, ở nước ta và trên thế giới sử dụng một lượng khá lớn các loại
phân bón và thuốc BVTV phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.Nhưng sử dụng
không đúng các loại hóa chất đã dẫn đến hiệu quả thấp và ô nhiễm. Bên cạnh
đó, các lĩnh vực sản xuất khác cũng thải ra một lượng lớn các chất thải có chứa
chất độc hại. Các chất này không bị mất đi mà được tích lũy lại ở trong đất, làm
cho đất bị ô nhiễm. Sau đó ảnh hưởng trực tiếp tới các loại cây trồng.
1.4.Mối quan hệ giữa rau với đất
Đất là môi trường sống lý tưởng và hội tụ đầy đủ các điều kiện cho các
loại cây sinh trưởng và phát triển. Đất cung cấp các chất dinh dưỡng (N, P,
K....), các chất vi lượng (Fe,Bo, Mo...) và có hệ sinh vật đất phong phú và đa
dạng. Chính vì vậy mà giữađất và cây trồng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Cây có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi,
chống bạc màu hóa, làm cho đất tơi xốp, giữ ẩm cho đất. Mỗi năm cây để lại
cho đất lượng hữu cơ rất lớn từ bộ rễ và thân lá cây. Đất không có cây thì coi
như là đất chết. Ngược lại, cây không có đất thì không thể tồn tại được. Cũng
cần nói thêm rằng, đã có những đề tài nghiên cứu trồng cây trong dung dịch,
hoặc trồng cây không cần đất. Những đề tài đó chỉ đi đến kết quả nghiên cứu
cơ bản để xây dựng thang chuẩn cho dinh dưỡng cây trồng ngoài thực địa,
chứ không thể nuôi sống cả loài người với những nông sản ít ỏi như một số
kết luận không mang tính thực tiễn toàn cầu.
Như chúng ta đã biết, trong đất có một tập đoàn sinh vật rộng lớn. Đó
22
là các loại vi khuẩn (Azotobacter, Clostridium pasteurianum...), nấm (
Trichoderma, Mucor sarticrella...), tảo, địay...Trong quá trình hình thành, phát
triển và biến đổi của đất, vai trò của vi sinh vật rất đa dạng. Chúng tham gia
vào việc tổng hợp mùn và tạo thành kết cấu của đất, phân giải và chuyển hóa
các hợp chất hữu cơ, vô cơ khó tan trong đất để cung cấp chất dinh dưỡng cho
thực vật nói chung và cây trồng nói riêng. Các hợp chất hữu cơ và vô cơ phức
tạp trong đất sẽ được chuyển hóa thành các chất đơn giản dưới tác động của
quần thể vi sinh vật. Nhiều loại nấm, vi khuẩn, niêm vi khuẩn đã phân giải
các hợp chất hữu cơ phức tạp như xenlulo, pectin, lignhin, chất nhựa, sáp,
chất béo thành axit hữu cơ, rượu, đường và cuối cùng là thành CO2 và H2O.
Các sản phẩm được tạo thành là thức ăn cho các nhóm vi sinh vật, làm cho
các chu trình chuyển hóa vật chất trong đất xảy ra mạnh mẽ. Các dạng lân khó
tan như apatit, phosphorit, phosphat canxi khó tan được vi sinh vật chuyển
hóa trực tiếp hay gián tiếp thành axit phosphoric và các dạng lân dễ tiêu cung
cấp cho cây trồng, để cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Những vi sinh vật cố định nitơnhư Azotobacter, Rhizobium,
Clostridiumpasteurianum, thanh tảo và nấm hàng năm làm giàu cho đất một
lượng lớn nitơ mà cây trồng yêu cầu. Hoạt động của quần thể vi sinh vật còn
oxy hóa các hợp chất có hại cho cây trồng, biến những chất có hại thành
những sản phẩm khác, hoặc có lợi cho cây trồng.
Vi sinh vật trong quá trình sống của mình còn sản sinh ra chất kích
thích , các vitamin có lợi cho cây. Đặc biệt quá trình hô hấp và phân giải hữu
cơ của vi sinh vật đã sản sinh ra một khối lượng lớn CO2 (7 triệu lit/ha/năm)
bù đắp lại sự hao hụt CO2 trong khí quyển, khép kín vòng tuần hoàn cacbon
trong tự nhiên, đảm bảo duy trì sựsống trên Trái đất.
Vi sinh vật có vai trò quan trọng trong việc hình thành và cải thiện kết
cấu đất, cải thiện chế độ nước, không khí trong đất, làm cho cây phát triển tốt
hơn. Theo Oatxman (1940), các loại nấm Trichoderma, Mucor sarticrella và
23
một số nấm khác có tác dụng rõ trong việc cải thiện kết cấu đất.
Vi sinh vật có mặt trong tất cả các loại đất nhưng ở chân đất có đầy đủ
chất dinh dưỡng có kết cấu, có thành phần cơ giới tốt, có độ ẩm và môi trường
thích hợp thì vi sinh vật phát triển nhiều và phong phú về thành phần. Trên
những chân đất nghèo chất dinh dưỡng, chua mặn, nhiều chất độc, hoặc trên
những chân đất khô hạn, lầy thụt, sự phát triển của vi sinh vật bị hạn chế rõ rệt
và tạo thành một khu hệ vi sinh vật đặc biệt. (Nguyễn Xuân Thành, 2017).
Trong quá trình canh tác và chăm sóc cây trồng, con người làm đất, bón
vào đất các loại phân bón (hóa học, hữu cơ...), các loại thuốc trừ sâu, BVTV,
tưới nước...để chăm sóc và cho cây trồng sử dụng.Nhưng điều này cũng làm
ảnh hưởng tới các vi sinh vật trong đất. Theo tác giả Nguyễn Xuân Thành và
cộng sự:
- Bón các loại phân hữu cơ và vô cơ vào đất sẽ phát huy tác dụng nhanh
hay chậm, nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào quá trình hoạt động chuyển hóa
của sinh vật đất. Ngược lại, phân bón có tác dụng tốt tăng cường số lượng và
hoạt tính vi sinh vật. Tùy theo loại phân, liều lượng bón và phương pháp bón
khác nhau mà ảnh hưởng đến vi sinh vật ở những mức độ khác nhau. Mặt khác,
-...sẽ tích tụ trong đất làm cho đất bị chua hóa, mặn hóa, đất
nếu bón phân hóa học quá nhiều cây trồng sẽ không sử dụng hết. Các ion H+ ,
2-, NO3
K+, Cl-, SO4
bị chai cứng...ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đất. Bón phân quá nhiều còn
làm cho cây trồng bị ngộ độc (Ví dụ bón quá nhiều đạm, cây xanh tốt, lá có
màu xanh đậm, thân mềm...).Ngược lại, khi bón phân quá ít đất không đủ dinh
dưỡng để cung cấp cho cây. Các nguyên tố N, P, K, vi lượng...rất cần thiết đối
với vi sinh vật và cây trồng và chúng yêu cầu các nguyên tố theo mộttỉ lệ nhất
định.Vì vậy bón phân một cách hợp lý sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của
vi sinh vật đất, chất lượng đất và sau đó là cây trồng.
Ví dụ:
+ Đối với cây trồng: Theo kết quả nghiên cứu nhiều công trình cho thấy
24
Cu có vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển của cây trồng. Cây trồng
thiếu Cu thường có tỷ lệ quang hợp bất thường, điều này cho thấy Cu có liên
quan đến mức phản ứng oxit hoá của cây. Lý do chính của điều này làtrong
cây thiếu chất Cu thì quá trình oxit hoá Acid Ascorbic bị chậm, Cu hình thành
một số lớn chấthữu cơ tổng hợp với protein, Acid amin và một số chất khác
mà chúng ta thường gặp trong nướctrái cây.
+ Ngoài những ảnh hưởng do thiếu Cu, thì việc thừa Cu cũng xảy ra
những biểu hiện ngộ độcmà chúng có thể dẫn tới tình trạng cây chết. Lý do
của việc này là do dùng thuốc diệt nấm, thuốctrừ sâu, đã khiến cho chất liệu
Cu bị cặn lại trong đất từ năm này qua năm khác, ngay cả bón phân Sulfat Cu
cũng gây tác hại tương tự. (Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn và Dương Thị Bích
Huệ, 2017)
-Trong quá trình chăm bón cây, con người cũng sử dụng các loại thuốc
trừ sâu, trừ cỏ để phòng trừ bệnh cho cây. Những năm gần đây, thuốc trừ cỏ
dại, sâu bệnh được sử dụng nhiều và đã góp phần quan trọng trong việc bảo
vệ cây trồng, đẩy mạnh sản xuất. Nhưng việc sử dụng thuốc hóa học với số
lượng nhiều, liên tục đã biểu hiện mặt trái của nó: tiêu diệt nhiều thiên địch,
nhiều loại vi sinh vật có ích, tích lũy chất độc trong nông sản, trong đất làm
ảnh hưởng đến chất lượng đất và cây trồng.
Bên cạnh phân bón, các loại thuốc trừ sâu, thuốc BVTV thì nước cũng
là một yếu tố quan trọng đối với cây trồng. Cây dùng bộ rễ để hút nước có sẵn
trong đất, nước do con người tưới vào đất để cung cấp cho cây. Chất lượng
nước tưới góp phần quyết định chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Ở nhiều khu
vực, người ta dùng nước thải từ các khu công nghiệp, nước bị ô nhiễm để tưới
cho cây trồng. Như vậy đã vô hình gián tiếp tích lũy trong cây một lượng chất
bẩn, chất độc hại. Chế độ nước tưới còn ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đất.
Có thể nói số lượng và thành phần và thành phần vi sinh vật phản ánh
độ phì nhiêu của đất và có quan hệ mật thiết với sự sinh trưởng, phát triển của
25
cây trồng. Vì vậy, khi đánh giá độ phì nhiêu của đất phải kết hợp đánh giá về
tính chất lý, hóa học và sinh học của đất. Nếu chỉ nhấn mạnh về mặt hàm lượng
các chất dinh dưỡng trong đất thì sẽ khó giải thích tại sao trên các chân đất lầy
thụt, chiêm trũng, giàu chất hữu cơ, tỷ lệ mùn, lân khá cao mà cây trồng vẫn
phát triển kém, năng suất thấp. Ở đây tình trạng kỵ khí đã kìm hãm sự hoạt
động của các vi sinh vật hảo khí, tích lũy nhiều chất có hại cho cây trồng.
Qua các phân tích trên, ta nhận thấy giữa đất, cây trồng và con người có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Con người cải tạo, canh tác và trồng các loại
cây trên đất và chăm sóc chúng đã tác động đến tính chất đất. Và tính chất đất
như nào sẽ quyết định đến chất lượng nông sản.
1.4.1. Lựa chọn nguồn giống
Nguồn giống là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất. Lựa chọn được
giống tốt sẽ hạn chế việc sử dụng các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh.
Khi chọn giốngphải chọn giống tốt, các hạt giống và cây giống con nên
xử lý sạch sâu bệnh trước khi gieo trồng hay xuất ra khỏi vườn ươm.
1.4.2. Sử dụng hóa chất BVTV hợp lý và đúng kỹthuậtđể bảo vệ năng suất –
phẩm chất rau, an toàn cho người và môi trường.
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mọi
người và cũng là loại cây trồng có nhiều sâu bệnh gây hại. Vì vậy một trong
những khâu quyết định quan trọng đến năng suất và phẩm chất rau là phòng
trừ sâu bệnh kịp thời.
Việc phòng trừ sâu bệnh hại trên rau hiện nay phải đạt được 2 yêu cầu
là bảo vệ được năng suất - phẩm chất, đồng thời không độc hại với các loại
sinh vật có ích, an toàn cho con người và môi trường.
Để hạn chế sâu bệnh hại phát triển, trong canh tác rau nông dân thường
kết hợp cùng lúc nhiều biện pháp như: Diệt ổ trứng, sâu non bằng tay, dùng
lưới chắn côn trùng để hạn chế được nhiều sâu hại nhất là thời điểm trái vụ,
dùng màng phủ đất nhằm hạn chế nhiều loại sâu bệnh truyền từ đất, sử dụng
26
các loại bẫy bả như bẫy chua ngọt, bẫy dính, bẫy pheromone để bắt côn trùng
trưởng thành hoặc dùng thiên địch để kìm hãm một số côn trùng có hại,…
Tuy vậy khi môi trường thích hợp sâu bệnh hại sẽ phát triển và lây lan rất
nhanh, khi đó để bảo vệ năng suất và phẩm chất nông sản, biện pháp đơn giản
nhưng tiêu diệt sâu và hạn chế bệnh hại lây lan nhanh nhất là sử dụng hóa
chấtBVTV để phòng trừ.Tuy được phép sử dụng nhưng thuốc BVTV cũng có
nhiều tác động đến cây trồng, hệ sinh thái vàsức khỏe con người.Vì vậy để
việc sử dụng hóa chất đạt được yêu cầu hiệu quả và an toàn tức là vừa giữ
được năng suất chất lượng rau, vừa bảo vệ được sức khỏe của người tiêu dùng
rau và cả người trồng rau, người trồng rau cần phải áp dụng một số nguyên
tắc chính như sau:
1. Không sử dụng thuốc quá độc
Thuốc BVTV nào cũng độc nhưng mức độ độc thay đổi tùy theo loại
thuốc. Để thể hiện mức độ độc của mỗi loại thuốc người ta sử dụng chỉ số gây
độc cấp tính LD 50 hay còn gọi là liều gây chết trung bình căn cứ thử nghiệm
trên thỏ hoặc chuột bạch. Chỉ số LD 50 càng thấp thì thuốc càng độc, và
ngược lại chỉ số LD 50 càng cao thì thuốc càng ít độc. Ví dụ: LD 50 của
Furadan (Carbofuran) bằng 8-14 mg/kg là thuốc rất độc. Chỉ số LD 50 của
Trebon (Ethofenprox) là 21.440 mg/kg nên thuốc ít độc hơn nhiều.
2. Không sử dụng thuốc lâu phân hủy
Trên cây rau cần sử dụng các thuốc nhanh phân hủy như thuốc vi sinh (BT,
NPV,…) thảo mộc (Rotenon, Nicotine, Neem,…), cúc tổng hợp
(Baythroid, Cyperan, ) để hạn chế dư lượng thuốc BVTV còn lại sau thu
hoạch. Không nên dùng các nhóm thuốc thuộc nhóm clo hữu cơ và lân hữu cơ
trên rau.
3.Không sử dụng các loại thuốc có lượng hoạt chất sử dụng quá cao
Khi sử dụng các thuốc có lượng hoạt chất cao cho một đơn vị diện tích
rau thì dư lượng còn lại sau thu hoạch chắc chắn sẽ cao. Thường các thuốc
27
nhóm clo, lân và carbamate có lượng hoạt chất sử dụng trên một đơn vị diện
tích rất cao (khoảng 1.000-2.000 gr cho 1 ha rau). Các thuốc thuộc nhóm cúc
tổng hợp và một số thuốc khác có lượng hoạt chất sử dụng cho 1 ha vào
khoảng 50-100 gr/ha. Có loại chỉ vài chục gr/ha (Vertimec,..). Do vậy mà các
loại thuốc này ít để lại dư lượng cao trên rau.
Trên nông sản, đặc biệt là trên cây rau không nên sử dụng các thuốc
nhóm clo, lân hữu cơ và carbamte để tránh để lại dư lượng cao khi thu hoạch.
4. Không dùng quá liều quy định
Nếu dùng quá liều quy định thì dư lượng để lại sẽ cao hơn bình thường.
Trong trường hợp giữ đúng thời gian cách ly nhưng nếu dùng quá liều quy
định thì khả năng dư lượng còn lại khi thu hoạch vẫn cóthể cao hơn mức an
toàn.Vì vậy, khi một loại thuốc nào đó đã bị sâu hại kháng thì không nên tăng
liều lượng phun mà nên thay đổi loại thuốc khác.
5. Đảm bảo thời gian cách ly
Thời gian cách ly được quy định cho từng loại thuốc. Thông thường tối
thiểu từ 15- 20 ngày đối với thuốc lân hữu cơ và Carbamate; từ 3- 7 ngày đối
với thuốc sinh học và Pyrethroid. Trừ một số thuốc đặc biệt phân hủy chậm
phải được chỉ dẫn cụ thể.
Phần lớn nông dân sau khi sử dụng thuốc BVTV thì bao bì, vỏ chai
thuốc bị vứt trực tiếp tại nơi sử dụng, thường là trên bờ ruộng, kênh, trên
vườn. Một số nông dân khác thì thu gom vỏ chai, bao bì thuốc đem đốt hoặc
chôn lấp không an toàn ngay tại ruộng, vườn. Ngoài ra, một số hộ dân còn tận
dụng các chai, bình thuốc để làm các vật dụng trong gia đình. Việc làm này đã
góp phần không nhỏ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, ảnh
hưởng đến sức khỏe của cộng động.Chính vì vậy mà sau khi sử dụng thuốc
xong, người dân nên thu gom và xử lý chai lọ; vỏ bao bì đựng thuốc một cách
hợp lý để tránh gây ô nhiễm đất và nguồn nước.
28
1.5. Ứng dụng các sản phẩm sinh học trong nông nghiệp
Hiện nay, xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng
cường sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng
đang là xu hướng của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Các chế phẩm sinh học không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe
con người, vật nuôi, cây trồng. Có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm
thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm
ảnh hưởng đến môi trường như các loại thuốc BVTV hóa học khác. Đồng
thời có khả năng phân hủy chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế
thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi
trường. Các chế phẩm sinh học ứng dụng cho cây trồng hiện nay cơ bản
được chia làm 3 nhóm:
1.5.1. Nhóm chế phẩm sinh học ứng dụng cho phòng trừ sâu bệnh
Đây là nhóm sản phẩm được ứng dụng khá rộng rãi và được ứng dụng
sớm nhất trong lĩnh vực cây trồng.
*Một số sản phẩm tiêu biểu:
- Nguồn gốc thảo mộc: Các sản phẩm chế biến từ cây Neem hiện nay đã
được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong công tác BVTV. VINEEM 1500 EC – đây
là sản phẩm của công ty thuốc sát trùng Miền nam, được chiết xuất từ nhân hạt
Neem (Azadizachta indica A. Juss) có chứa hoạt chất Azadizachtin , có hiệu lực
phòng trừ nhiều loại sâu hại trên cây trồng như lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây
cảnh. Loại thuốc có nguồn gốc thảo mộc này không tạo nên tính kháng của dịch
hại, không ảnh hưởng đến thiên địch và không để lại dư lượng trên cây trồng.
- Nguồn gốc vi sinh: Thuốc trừ sâu vi sinh BT (Bacillus thuringiensis
var.) thuộc nhóm trừ sâu sinh học, có nguồn gốc vi khuẩn, phổ diệt sâu rộng
và hữu hiệu đối với các loại sâu như sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu
khoang, sâu ăn tạp...Sâu khi ăn phải thuốc sẽ ngừng ăn sau vài giờ và chết sau
1-3 ngày. Các loại sản phẩm thương mại có trên thị trường khá nhiều như Vi
29
BT 32000WP, 16000WP; BT Xentary 35WDG, Fribiotox P dạng bột,
Fribiotox C dạng dịch cô đặc..
- Pheromone: Ứng dụng để phòng trừ sâu hại rau như sâu xanh, sâu tơ,
sâu khoang...
Ngoài ra còn có một số loại thuốc có nguồn gốc từ nấm, virus, tuyến
trùng...(Theo Dương Hoa Xô, 2015)
1.5.2. Phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, chất tăng trưởng cây trồng.
Tiếp theo mục trên trong bài viết của tác giả Dương Hoa Xô là ứng
dụng phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, chất tăng trưởng cây trồng. Theo đó
phân hữu cơ sinh học có đầy đủ thành phần là chất hữu cơ, có phối chế thêm
tác nhân sinh học (vi sinh, nấm đối kháng) bổ sung thêm thành phần vô cơ đa
lượng (NPK) và vi lượng. Tùy thuộc vào nhu cầu của sản xuất mà có thể cân
đối phối trộn các loại phân nguyên liệu sao cho cây trồng phát triển tốt nhất
mà không cần phải bón bất kì các loại phân đơn nào. Phân phức hợp hữu cơ
sinh học có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc. Loại phân này có hàm lượng
dinh dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất. Nếu sản xuất phù hợp cho từng
loại cây trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất.
Phân bón hữu cơ sinh học, phân bón hữu cơ vi sinh được sự trợ giúp
của vi sinh vật chuyên biệt có khả năng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hóa
phế thải hữu cơ thành phân bón. Nhóm nấm đối kháng Trichoderma hiện nay
đang được ứng dụng rất rộng rãi trong
30
Phần II
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Đất tầng canh tác 0 – 20cm vùng trồng rau xã
Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu : Trên đất trồng rau xã Hóa Thượng, huyện Đồng
Hỷ, tính Thái Nguyên.
- Nội dung: Hiện trạng môi trường đất trồng rau xã Hóa Thượng, huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Hóa Thượng – Đồng Hỷ - Thái Nguyên
-Thời gian: 1/2 – 1/5 năm 2019
2.3.Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lí, địa hình, khí hậu thủy văn, sông ngòi,
đất đai.
- Điều kiện kinh tế: Tình hình phát triển kinh tế của xã, cơ sở hạ tầng.
- Điều kiện xã hội: Tình hình dân số và lao động của xã.
2.3.2.Tình hình sản xuất rau xã Hóa Thượng
- Về diện tích.
- Về năng suất và sản lượng.
- Đầu tư cho phân bón rau.
- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho rau.
- Các biện pháp chăm sóc rau.
2.3.3.Hiện trạng môi trường đất trồng rau của khu vực nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu phân tích hàm lượng: mùn, Nts, Pts, pH.
- Kết quả phân tích dư lượng hóa chất BVTV trong đất rau.
31
2.3.4.Đề xuất giải pháp
2.4.Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội từ
nguồn UBND xã Hóa Thượng.
- Thu thập số liệu về tình hình sản xuất rau, diện tích, năng suất, sản
lượng từ nguồn UBND xã Hóa Thượng
- Quy trình bón phân cho rau, TCVN 7373:2004, TCVN 7374:2004,
TCVN 7375:2004, TCVN 7376:2004, TCVN 7377:2004, QCVN 03:2008 về
chất lượng môi trường đất. Thu thập các số liệu, tài liệu liên quan từ nguồn
internet, sách, báo.
2.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa rất cần thiết giúp người nghiên cứu có
cái nhìn tổng quát và sơ bộ về khu vực nghiên cứu, đồng thời kiểm tra tính
chính xác của những tài liệu, số liệu đã thu thập được từ đó đưa ra nhận xét
chung về khu vực nghiên cứu.
2.4.3. Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất
rau tới môi trường đất
- Xây dựng bộ câu hỏi điều tra người dân trồng rau: Câu hỏi điều tra
gồm 3 phần chính: phần thông tin chung, phần hiện trạng môi trường đất tại
khu vực trồng rau, phần hiện trạng canh tác chăm sóc rau. Bộ câu hỏi là cơ sở
cho việc phỏng vấn người dân trồng rau.
- Chọn hộ phỏng vấn: chọn 60 hộ gia đình trồng rau trên toàn địa bàn
xã Hóa Thượng để phỏng vấn.
- Tiến hành điều tra: Trong quá trình điều tra sử dụng các kĩ năng
phỏng vấn với các câu hỏi mở rộng để tìm các thông tin đầy đủ hơn, kết hợp
với quan sát thực địa. Thời điểm thực hiện phỏng vần vào thời gian người dân
đang sản xuất rau.
32
2.4.4. Phương pháp lấy mẫu
Đất dùng để nghiên cứu được lấy từ khu vực sản xuất rau trên toàn địa
bàn xã Hóa Thượng.
Bảng2.1.Kí hiệu mẫu đất nghiên cứu
STT Kí hiệu mẫu Tên mẫu đất Địa điểm lấy mẫu
đất
Mẫu 1 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm Tân Thái , Tam 1
Thượng Thái, Ấp Thái
Mẫu 2 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm An Thái, Hưng 2
Thượng Thái
Mẫu 3 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm Đồng Thịnh, 3
Thượng Đồng Thái
Mẫu 4 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm Vải, Luông 4
Thượng
Mẫu 5 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm Sơn Cầu, Sơn 5
Thượng Thái
Mẫu 6 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm Văn Hữu, Tướng 6
Thượng Quân
Mẫu 7 Đất trồng rau xã Hóa Tại xóm Việt Cường, Gò 7
Thượng Cao, Sông Cầu 2
Mẫu đất được lấy theo phương pháp hỗn hợp, tiến hành lấy 7 mẫu tại 7
vị trí khác nhau, mỗi mẫu lấy 200g ở tầng từ 0- 20cm, lấy đủ 7 mẫu, sau đó
tiến hành phơi khô trong bóng mát, loại bỏ xác thực vật, nghiền nhỏ bằng cối
sứ rồi qua rây 0,2mm. Mẫu phân tích được đựng bằng lọ thủy tinh, nút nhám
rộng miệng.
2.4.5. Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm
- Xác định pH bằng máy đo pH
33
- Nts bằng phương pháp Kjeldahl Photpho tổng sốtheo phương pháp so màu
- Mùn theo phương pháp Tiurin
- Xác định dư lượng HCBVTV sử dụng máy đo sắc khí GCM
2.4.6. Phương pháp xử lí, phân tích và tổng hợp số liệu
- Sử dụng các phần mềm Microsoft nhƣ: Word và Excel để tổng hợp và
phân tích các số liệu thu thập được.
- Thống kê, tổng hợp, xử lý số liệu và đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn,
quy chuẩn hiện hành về lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- So sánh, nhận xét, đánh giá để từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp
với điều kiện thực tế của cơ sở.
34
PHẦN 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đăc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Hóa Thượng là xã trung du miền núi, có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp với xã Hóa Trung và xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ.
+ Phía Nam giáp với phường Chùa Hang vàphường Đồng Bẩm - TP
Thái Nguyên.
+ Phía Tây giáp với huyện Phú Lương và xã Cao Ngạn - TP Thái
Nguyên.
+ Phía Đông giáp với xã Linh Sơn và xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ.
Xã Hóa Thượng cách trung tâm huyện Đồng Hỷ 4 km về phía Bắc, có
tuyến đường quốc lộ 1B chạy qua với chiều dài 4,8 km, đây là trục đường
chính để lưu thông và trao đổi hàng hóa trên thị trường, tạo điều kiện thuận
lợi cho nhân dân trong xã phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, văn hóa xã hội với
các vùng lân cận để học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm sản xuất, các hình
thức phát triển sản xuất đa ngành nghề cũng như việc tiêu thụ sản phẩm và
phát triển ngành thương mại, dịch vụ, du lịch.
3.1.1.2. Địa hình
Xã Hóa Thượng mang đặc điểm của vùng trung du miền núi, có địa
hình đồi núi kế tiếp nhau, xen kẽ giữa các thung lũng nhỏ là các cánh đồng.
Độ cao trung bình so với mực nước biển là 150 m.
3.1.1.3. Điều kiện thời tiết, khí hậu, thủy văn
* Nhiệt độ
Trung bình hàng năm vào khoảng 24 - 250C, số giờ nắng trung bình
khoảng 1250-1550giờ/năm.Trong năm thường có 8-9 tháng có nhiệt độ trung
35
bình trên 200C (trong đó có 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 270C) và chỉ
có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưói 200C.
Hàng năm có 4 mùa rõ rệt, 2 mùa chính trong năm (mùa hạ, mùa đông)
với các hướng gió thịnh hành: về mùa hạ gió nam, tây nam và đông nam; mùa
đông gió bắc, đông và đông bắc.
Lượng mưa trung bình khoảng 1950mm, năm có lượng mưa cao nhất
tới 3000mm.
Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào có độ ẩm
trung bình dưới 70%.Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng
3 (90%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (75%).
* Khí hậu
Xã Hóa Thượng cách thành phố Thái Nguyên khoảng 6 km do vậy
mang các yếu tố khí hậu đặc trưng của miền núi phía Bắc, đều nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa
mưa nóng ẩm bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, gió mùa chủ yếu là gió Đông
Nam và mùa khô lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chủ yếu là
gió Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình là 220C, độ ẩm tương đối trung bình là 80%, số giờ
nắng trong năm là 1.690 h/năm.
* Thủy văn
Toàn xã có 37,19ha sông suối và 33,11 ha đất mặt nước có khả năng
nuôi trồng thuỷ sản, là nguồn nước mặt tự nhiên quý giá phục vụ cho sản xuất
và sinh hoạt của nhân dân. Đến nay trên địa bàn xã chưa có nghiên cứu cụ thể
về nguồn nước ngầm.
Hệ thống sông: Xã có 02 con sông chạy qua địa bàn xã là Sông Cầu
dài 1 km và sông Linh Nham dài 2 km
36
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch của xã
Hóa Thượng là một xã có diện tích tự nhiên khá lớn khoảng 1345,11ha.
Trong đó, theo số liệu 2016, diện tích nông, lâm nghiệp là 884,65ha chiếm
65,77%, đến năm 2018 diện tích đất nông lâm nghiệp đạt 857,31ha chiến
63,74%. Đối với đất phi nông nghiệp năm 2016 là 404,85ha chiếm 30,1%,
năm 2018 là 439,32ha chiếm 32,66%. Trong đó xu hướng dịch chuyển là
giảm diện tích đất nông, lâm nghiệp và tăng diện tích đất phi nông nghiệp,
một phần là do áp lực tăng dân số, chuyển đổi mục đích sử dụng, một phần do
tác động của hiện tượng thiên tai bất thường do BĐKH gây ra.
Diện tích đất nông, lâm nghiệp giảm dần qua 3 năm trung bình 0,35%.
Trong đó diện tích lúa giảm dần từ 340,51ha năm 2016 xuống con 317,32ha
năm 2018 với tốc độ giảm trung bình là 3,46%, diện tích cây trồng hàng năm
giảm nhẹ bình quân trong 3 năm giảm 0,21%, diện tích đất lâm nghiệp ổn
định qua các năm, còn diện tích nuôi trồng thủy sản giảm với tốc độ 4,09%
năm 2016 đến năm 2018. Điều này cho thấy cơ cấu xu hướng dịch chuyển cơ
cấu cây trồng, vật nuôi trong ngành nông nghiệp của xã. Diện tích trồng lúa,
màu cho năng suất thấp để được chuyển sang các hoạt động sản xuất kinh tế
khác có thu nhập cao hơn.
Xu hướng dịch chuyển như vậy là phù hợp với sự phát triển của địa
phương và sự thay đổi về điều kiện tự nhiên. Đảm bảo thu nhập của các hộ
nông dân trên diệc tích đất canh tác nhà mình. Cũng như khuyến khích dồn
điền, mở rộng mô hình gia trại, trang trại nhằm tăng hiệu quả nền kinh tế
nông nghiệp.
37
Bảng3.2. Hiện trạng sử dụng đất xã Hóa Thượng năm 2016 – 2018
So sánh (%)
Chỉ tiêu
17/16 18/17
BQ
Năm 2016 SL (ha)
CC (%)
Năm 2017 SL (ha)
CC (%)
Năm 2018 SL (ha)
1345,11
100
1345,11
100
1345,11
CC (%) 100
100
100
100
884,65
65,77
869,34
64.63
857,31
63,74 98,27 98,62
98,44
340,51
38,49
329,9
37.95
317,32
37,01 96,88 96,19
96,54
382,4
43,23
378,7
43.56
380,81
44,42 99,03 100,56 99,79
112,74
12,74
112,74
12.97
112,75
13,15 100,00 100,01 100,00
36
4,07
35
4.03
33,11
3,86
97,22 94,60
95,91
13
1,47
13
1.50
13,32
1,55 100,00 102,46 101,23
404,85
30,10
422,77
31.43
439,32
32,66 104,43 103,91 104,17
110,26
27,23
120,20
28.43
123,11
28,02 109,02 102,42 105,72
2,97
0,73
2,97
0,70
2,97
0,68 100,00 100,00 100,00
138,82
34,29
138,82
32.84
138,82
31,60 100,00 100,00 100,00
2,83
0,70
3,30
0.78
3,37
0,77 116,61 102,12 109,36
3,12
0,77
3,60
0.85
3,84
0,87 115,38 106,67 111,03
0.,44
0,11
0,44
0.10
0,44
0,10 100,00 100,00 100,00
9 ,79
2,42
9,79
2.32
9,79
2,23 100,00 100,00 100,00
36,06
8,l91
35,31
8.35
37,19
8,47
97,92 105,32 101,62
100, 56
24,84
108,34
25.63
119,79
27,27 107,74 110,57 109,15
55,61
4,13
53
3.94
48,48
3,60
95,31 91,47
93,39
0,29
0,27
0,22
Diện tích tự nhiên I. Đất nông, lâm nghiệp 1. Đất lúa 2. Đất trồng hàng năm 3. Đất lâm nghiệp 4. Đất nuôi trồng thủy sản 5. Đất nông nghiệp khác II. Đất phi nông nghiệp 1. Đất ở 2. Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp Đất quốc phòng 3. Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh Đất sản xuất vật liệu xây dựng 4. Đất tôn giáo, tín ngưỡng Đất nghĩa trang, nghĩa địa 5. Đất có mặt nước chuyên dùng 6. Đât phát triển hạ tầng III. Đất chưa sử dụng IV. Chỉ tiêu BQ Đât NN/ hộ NN Đất NN/khẩu NN
0,07
0,07
0,06 Nguồn: Thống kê xã Hóa Thượng
38
3.2.2. Thực trạng tổ chức kinh tế và tổ chức sản xuất
3.2.2.1. Về kinh tế
Trong những năm vừa qua xã đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, trong
nông nghiệp mạnh dạn đưa ra các giống cây trồng có năng suất cao vào sản
xuất, lúa chất lượng hang hóa, lúa xuất khẩu,lúa lai nhằm tăng thu nhập trên
một diện tích canh tác chuyển dịch mạnh mẽ vùng đất trũng sang mô hình sản
xuất đa canh.
* Sản xuất nông nghiệp
Trong những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy, HĐND và
UBND xã Hóa Thượng về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn thời kỳ mới và kết quả bước đầu trong chương trình xây
dựng nông thôn mới, ngành nông nghiệp của xã đã phần nào thay đổi diện
mạo. Với hai mũi nhọn chủ đạo là trồng trọt và chăn nuôi, ngành nông nghiệp
thu hút trên 63% lực lượng lao động toàn xã.
Xã Hóa Thượng duy trì diện tích cây trồng hiện có, trong sản xuất nông
nghiệp đã có bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, việc áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được chú trọng, định hướng bố trí các
loại cây trồng được xây dựng phù hợp, đồng bộ hơn, vì thế kết quả đạt được
tăng đáng kể.
+ Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 đạt 2.800 tấn
+ Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy cả năm là 487,9 ha. Năng suất đạt
47,5 tạ/ha, sản lượng đạt: 2.318 tấn.
+ Cây ngô: Tổng diện tích trồng cả năm là 129,3 ha. Năng suất đạt 44
tạ/ha, sản lượng đạt 568,9 tấn.
+ Cây khoai: 14 ha. Năng suất đạt 50 tạ/ha, sản lượng đạt 70 tấn.
+ Cây chè: 71,5 ha. Năng suất 95 tạ/ha, sản lượng 679,25 tấn
+ Diện tích hoa màu khác: 37,2 ha
+ Diện tích cây ăn quả: 137,1 ha.
39
* Chăn nuôi
Trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh gia súc, gia cầm hiện
nay, tuy không ảnh hưởng nhiều đến địa phương, song tâm lý của các hộ chăn
nuôi chưa thực sự yên tâm tin tưởng để đầu tư lớn và phát triển ngành chăn
nuôi, đồng thời giá cả trên thị trường biến động. UBND xã đã tập trung tuyên
truyền vận động nhân dân đầu tư phát triển và ổn định đàn gia súc, gia cầm và
đã thu được những kết quả nhất định.
Theo số liệu thống kê năm 2018, xã Hoá Thượng đã duy trì và phát
triển chăn nuôi ổn định với tổng số đàn trâu là 518 con; đàn bò: 70 con; đàn
lợn: 4.990 con; đàn gia cầm: 32.225 con.
* Lâm nghiệp
Xã Hóa Thượng có 112,75 ha diện tích đất lâm nghiệp đều là rừng sản
xuất. Trong đó, nhà nước quản lý 30 ha, hợp tác xã quản lý 30 ha, giao cho hộ
gia đình quản lý với tổng diện tích là 52,75 ha. Thực hiện tốt công tác quản lý,
chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng.
* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Hiện nay trên địa bàn xã có trên 20 doanh nghiệp, công ty TNHH, làng
nghề miến Việt Cường chuyên sản xuất miến, 05 hợp tác xã hoạt động trên
các lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng, may mặc, cơ khí, …
nguồn thu nhập đạt 12.430 triệu đồng, chiếm 15,64% tổng giá trị sản xuất
trên địa bàn xã.
* Thương mại và dịch vụ
Xã Hóa Thượng có đường Quốc lộ 1B chạy qua địa bàn nên khá thuận
lợi để phát triển ngành thương mại và dịch vụ vì thế thương mại dịch vụ của
xã tương đối phát triển nhưng chủ yếu dưới dạng buôn bán nhỏ lẻ.Các hộ kinh
doanh thương mại dịch vụ chủ yếu tập trung tập trung ở trục đường quốc lộ
1B. Hệ thống dịch vụ ở xã bao gồm nhiều ngành nghề. Toàn xã có 200 hộ
40
tham gia các dịch vụ kinh doanh buôn bán nhỏ, dịch vụ vận tải, dịch vụ ăn uống và
các dịch vụ khác.
Năm 2018, tổng giá trị mà ngành thương mại và dịch vụ mang lại là
17.000 triệu đồng, chiếm 21,3% trong tổng giá trị sản xuất toàn xã.
* Hình thức tổ chức sản xuất
Hiện xã có 04 hợp tác xã bao gồm: Hợp tác xã sản xuất và chế biến
miến Việt Cường; -Hợp tác xã sản xuất nấm Hoàng Tiến (Xóm Việt Cường);
Hợp tác xã Quần Sơn chuyên về lĩnh vực vận tải, khai thác cát sỏi (Xóm Sơn
Thái) và hợp tác xã môi trường Đồng Tâm (Xóm Đồng Thái). Có 3/4 hợp tác
xã hoạt động có hiệu quả, riêng hợp tác xã sản xuất nấm Hoàng Tiến xóm Việt
Cường mới được thành lập và đi vào hoạt động nên chưa có hiệu quả.
Bảng3.3. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của xã qua năm 2013, 2018
Hạng mục Đơn vị tính Năm 2013 Năm 2018
Tổng GTSX
Số TT 1 1.1 Nông – lâm – thuỷ sản Tr. đồng 41.742 30.266 79.640 50.210
1.2 Tr. đồng 4.476 12.430 Công nghiệp, TTCN và Xây Dựng
1.3 Thương mại, Dịch vụ 2 Cơ cấu GTSX (%) - Nông – lâm – thuỷ sản - Công nghiệp, TTCN và XD - Thương mại, DV Tr. đồng (%) (%) (%) (%) 7.000 100 72,5 10,7 16,8 17.000 100 63,0 15,6 21,3
3 Tấn 2.089 2.800
4 Tr. đồng 8 17,5
5 Kg/người/năm 261 331
6 Tr. đồng 50 70 Tổng sản lượng lương thực quy thóc Thu nhập bình quân/người/năm Bình quân lương thực/người/năm Bình quân giá trị sản xuất/1 ha đất canh tác
8 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 8
% 13 Nguồn: Thống kê xã Hóa Thượng
41
3.2.2.2. Về lao động
Toàn xã có 6.090 lao động. Lao động chủ yếu là trong các ngành sản
xuất Nông lâm nghiệp, với 3.874 lao động (chiếm đến 63,6% lao động toàn
xã). Số lao động qua đào tạo của xã là 843 lao động, chiếm 13,8%.
Bảng3.4. Tình hình lao động của xã Hóa Thượng năm 2018
Lao động
Trong đó
Tổng số lao động
Lao động NLN
Lao động CN, TTCN
Lao động Dịch vụ, Thương Mại
TT Tên xóm
Nam Nữ
Tổng số LĐ tham gia các hoạt động kinh tế
Tổng
Tổng
Tổng
6.090 350 781 200 320 369 351
3.030 3.060 3.874 250 182 168 520 402 379 180 101 99 195 180 140 112 190 179 173 180 171
Lao động qua đào tạo 337 120 60 10 28
1.235 40 102 20 125 85 56
Lao động qua đào tạo 284 40 13 50 10 15
Lao động qua đào tạo 222 30 25 23 24
981 60 159 172 122
7
270 268
538
254
30
104
23
50
180
Tổng số 1 Tam Thái 2 Tân Thái 3 Ấp Thái 4 Hưng Thái 5 An Thái 6 Đồng Thái Đồng Thịnh
188 200 240 234 114 165 106 95 246 343
388 474 279 201 589
122 347 200 137 439
25 32
106 100 79 64 150
36 12 17 36
43
160 27
13
196 186
382
295
55
10
2
32
14
250
120 130
190
20
25
60
8 Vải 9 Luông 10 Sơn Cầu 11 Sơn Thái 12 Văn Hữu Tướng Quân Việt Cường 15 Gò Cao
385
185 200
315
5
70
16
90
60
30
55
5
35
3
17
143
70
73
90
2
44
19
9
Sông Cầu 2 Sông Cầu 3
Nguồn: Phòng thống kê xã Hóa Thượng
42
Lao động là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia cùng như của từng vùng. Theo phòng thống kê của xã năm 2018
tổng số lao động trên địa bàn là 5677 lao động. Dựa vào tình hình phát triển
nguồn lao động, cũng như cơ cấu các ngành mà người ta có thế đánh giá được
trình độ phát triển kinh tế của mỗi vùng hay của mỗi quốc gia. Tình hình biến
động dân số vào lao động của xã Hóa Thượng được thể hiện qua bảng số liệu.
Qua bảng ta thấy, dân số của xã có sự biến động không lớn, bình quân qua 3
năm tăng 5,14%. Nhân khẩu nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhất, năm 2016là
65,6% các năm tiếp theo số khẩu nông nghiệp có sự giảm nhẹ cụ thể năm
2017 là 65,39%, năm 2018 là 65,34% tổng nhâu khẩu trong toàn xã, bình
quân trong 3 năm tăng 4,92%. Nhân khẩu phi nông nghiệp qua các năm nhìn
chung có xu hướng tăng nhẹ qua các năm. Năm 2016, số khẩu phi nông
nghiệp chỉ chiếm 34,40%, nhưng bước sang năm 2017 thì số khẩu phi nông
nghiệp tăng dần lên và đạt 34,61% tồng nhân khẩu toàn xã. Hộ nông nghiệp
chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng số hộ qua các năm đều trên 66.1% năm
2016 và giảm nhẹ năm 2018 là 65,34%, bình quân trong 3 năm có sự biến
động tăng 11,36%. Hộ phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên qua các năm,
tốc độ tăng trung bình là 13,03%.
Lao động có sự gia tăng qua các năm, tốc độ bình quân là 3,59%.
Nhưng trong 3 năm, lao động trong ngành sản xuất nông nghiệp có sự biến
động nhẹ, trung bình 2,59%. Còn số lượng lao động phi nông nghiệp đang có
xu hướng tăng nhanh ở năm 2018, bình quân 3 năm tăng 5,48%.
Nhìn chung, số lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội
trên địa bàn xã chưa hợp lý. Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp do tính
chất thời vụ nên tình trạng thiếu việc làm, năng suất lao động còn thấp còn
khá phổ biến, đây là bài toán, là vấn đề thách thức đối với các cấp, các ngành
của xã.
43
Có thể nói nguồn lao động của xã khá dồi dào song chất lượng nguồn
nhân lực chưa thật cao,lao động phổ thông chiếm tỉ trọng khá lớn còn lao
động qua đào tạo chiếm tỉ trọng nhỏ. Tình trạng thiếu việc làm nhất là đối với
thanh niên tốt nghiệp phổ thông trung học cũng như lực lượng nông nhàn là
vấn đề bức xúc cần giải quyết trong thời gian tới. Hiện nay, Liên Sơn xuất
hiện một thực trạng một lực lượng khá lớn thanh niên ở độ tuổi lao động đổ ra
các thành phố lớn, các vùng kinh tế để làm ăn, chỉ còn lại một số ít thanh niên
trụ lại địa phương để làm trong linh vực thương mại dịch vụ, và buôn
bán…chính vì vậy, vệc giả quyết việc làm ngay tại ở địa phương, thu hút lao
động quay trở lại với nông nghiệp là những bức xúc hiện tại đặt ra cho chính
quyền địa phương.
Bảng3.5. Tình hình biến động dân số và lao động của xã năm 2016-2018
So sánh (%)
Chỉ tiêu ĐVT SL SL SL 17/16 18/17 BQ Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 CC (%) CC (%) CC (%)
Khẩu 7280 100 7481 100 8043 100 102,76 107,51 105,14
Khẩu 4776 65,60 4892 65,39 5255 65,34 102,43 107,42 104,92 Khẩu 2504 34,40 2589 34,61 2788 34,66 103,39 107,69 105,54 Hộ 1829 100 1952 100 2285 100 106,72 117,06 111,89 Hộ 1209 66,10 1259 64,50 1493 65,34 104,14 118,59 111,36 620 33,90 693 35,50 792 34,66 111,77 114,29 113,03 Hộ
Lđ 5677 100 5783 100 6090 100 101,87 105,31 103,59
1. Tổng số nhân khẩu Khẩu NN Khẩu phi NN 2. Tổng số hộ Hộ NN Hộ phi NN 3. Tổng số lao động Lao động NN Lđ 3681 64,84 3774 65.26 3874 63.61 102,53 102,65 102,59 Lao động phi NN Lđ 1996 35,16 2009 34,74 2216 36,39 100,65 110,30 105,48 4. Chỉ tiêu bình quân Khẩu/hộ Lao động/ hộ Khẩu/hộ NN Lao động/hộ NN Khẩu 3.98 Lđ 3.10 Khẩu 3.95 Lđ 3.04 3.52 2.67 3.52 2.59 3.83 2.96 3.89 3.00
Nguồn: Thống kê xã Hóa Thượng
44
3.2.2.3. Hạ tầng kinh tế xã hội
* Hệ thống đường giao thông
- Đường quốc lộ:
+ Đường Quốc lộ 1B cũ: Chiều dài là 3 km, là đường thảm bê tông
nhựa, mặt đường rộng 7,5m.
+ Đường Quốc lộ 1B mới: Chiều dài là 1,8 km, là đường thảm bê tông
nhựa, mặt đường rộng 12m; lộ giới 42m.
+ Đường tỉnh lộ 273: Có chiều dài là 2km, là đường thảm bê tông nhựa,
mặt đường rộng 3,5m, nền đường 7,5m, lộ giới 32m.
+ Đường tỉnh lộ 269: Có chiều dài là 1km, là đường thảm bê tông nhựa,
mặt đường rộng 3.5m, nền đường 7,5m, lộ giới 19,5m.
- Đường liên xã: Có 7 tuyến với tổng chiều dài là 8,05 km. đã đổ nhựa là
4,65 km, bê tông 3,4 km; bề rộng mặt đường rộng 3m; nền đường rộng 6m.
- Đường trục xóm, liên xóm: Tổng chiều dài là 56,22 km, trong đó đã
cứnghóa được 39,02 km, Còn lại 17,2 km đường đất. Các tuyến đường có bề
rộng mặt trung bình 3m, bề rộng nền 5m.
- Đường nội xóm: Có tổng chiều dài là 29,37 km, trong đó đã bê tông
hóa được 11,97km; cấp phối 5km và 12,09km đường đất. Các tuyến đường có
bề rộng mặt trung bình 2,5-4m, nền 3-5m.
- Đường nội đồng: Có tổng chiều dài là 6,9 km, trong đó đã bê tông hóa
được 1,45km; cấp phối 0,7km và 4,75km đường đất. Các tuyến đường có bề
rộng mặt trung bình 2,5-3m, nền 3-4m.
* Thuỷ lợi
- Trên địa bàn xã có 5 trạm bơm điện đó là: Trạm bơm Linh Nham 1,
Linh Nham 2 (xóm Tam Thái), trạm bơm Việt Cường xóm Việt Cường, trạm
bơm Hồ Thạt (xóm Gò Cao) và trạm bơm Hồ Nhảnh xóm Luông.
- Hồ chứa nước: Trên địa bàn xã có các hồ chứa nước như: Hồ Na
Long, hồ Nhảnh, hồ Thạt, hồ Đảm Đang, hồ Dọc Dọ…
45
- Tổng chiều dài kênh toàn xã là 37,05 km, trong đó đã kiên cố hoá
23,9 km (chiếm 64,5%); 2,8 km cần làm mới.
* Hiện trạng sử dụng điện
Hệ thống điện đảm bảo chất lượng cung cấp cho nhân dân trong xã và
các cơ sở sản xuất kinh doanh trong xã.
- Hệ thống truyền tải điện năng cấp 0,4KV phân bố khá đều trên địa
bàn xã.
- Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100%. Trong đó: Số hộ sử dụng điện an toàn
đạt 100%
3.2.2.4. Kết quả sản xuất kinh doanh
Trong những năm vừa qua xã đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, trong
nông nghiệp mạnh dạn đưa ra các giống cây trồng có năng suất cao vào sản
xuất, lúa chất lượng hang hóa, lúa xuất khẩu, lúa lai nhằm tăng thu nhập trên
một diện tích canh tác chuyển dịch mạnh mẽ vùng đất trũng sang mô hình sản
xuất đa canh.
46
Bảng3.6. Kết quả sản xuất kinh doanh của xã trong 3 năm 2016 – 2018
Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 So sánh (%)
Chỉ tiêu Số lượng CC Số lượng Số lượng CC CC 17/16 18/17 BQ (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (tr.đ) (%)
Tổng GTSX 100 64075 100 61172 62964 100 104,75 98,266 101,5
1. GTSX ngành NN 26,25 17642 27,53 16057 16824 26,72 109,87 95,363 102,6
Trồng trọt 61,61 10967 62,16 9892 10371 61,64 110,87 94,566 102,7
Chăn nuôi 32,72 5472 31,02 5254 4861 28,89 104,15 88,834 96,49
Đánh bắt,nuôi trồng TS 5,674 1203 6,819 911 1592 9,463 132,05 132,34 132,2
2. Ngành CN-XD 25734 42,07 26451 41,28 26850 42,64 102,79 101,51 102,1
3. Ngành TM-DV 19381 31,68 19982 31,19 19290 30,64 103,1 96,537 99,82
4. Một số chỉ tiểu BQ
GTSX/khẩu 8.57 8.40 7.83
GTSX NN/khẩu NN 3.61 3.36 3.20
Nguồn: Thống kê xã Hoá Thượng
47
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và
Nhà nước, với tinh thần đổi mới, kinh tế xã Hóa Thượng luôn có tốc độ tăng
trưởng khá. Năm 2016 tổng giá trị sản xuất của xã là 61172 triệu đồng, năm
2017 là 64075 triệu đồng tăng 4,75%. Ngành thương mai dịch vụ 3 năm tăng
là 3,1% , bên cạnh đó là ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng 2,1%.
Quan sát trong 3 năm gần đây, ngành nông nghiệp (sản xuất trồng trọt)
có tốc độ tăng trưởng thấp chỉ đạt 2,7%, trong đó ngành chăn nuôi có tốc độ
tăng trưởng thấp hơn so với ngành 2 ngành trồng trọt và nuôi trồng thủy sản.
Ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản trong những năm gân đây cũng có tốc
độ tăng trưởng tương đối ổn định, giá trị sản xuất năm 2014 là 25734 triệu
đồng, năm 2017 là 26850 triệu đồng. Qua 3 năm tốc độ tăng trưởng trung b́ nh
của ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản của xã là 2,1%. Ngành thương
mai dịch vụ của xã trong 3 năm nghiên cứu có sự phát triển chạm nhất, giá trị
sản xuất năm 2016 là 19381 triệu đồng, đến năm 2018 giảm còn 19290 triệu
đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 2016 đến năm 2018 là giảm
0,18%.
3.3. Thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Hóa Thượng
3.3.1. Thực trạng sản xuất ngành trồng trọt
3.3.1.1. Nhóm cây lương thực
3.3.1.1.1. Diện tích cơ cấu các loại cây lương thực
Bảng3.7. Diện tích cơ cấu các loại cây trồng trên địa bàn xã Hóa Thượng
Chỉ tiêu Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Diện tích cây trồng
Lúa Ngô Lạc 589,5 457,6 115,9 16 100 77,63 19,66 2,71 586,7 446 125,1 15,6 100 76,02 21,32 2,66 100 74,17 23,09 2,74
639,41 474,25 147,63 17,53 Nguồn: Thống kê xã Hoá Thượng
48
Xác định hiện trạng và lựa chọn hệ thống cơ cấu cây trồng, công thức
luân canh thích hợp, có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với vùng sinh thái của
huyện Đồng Hỷ, nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần chuyển dịch
kinh tế nông nghiệp, nông thôn có hiệu quả.Năm 2018, cơ cấu cây trồng của
xã là: 77,63% lúa, 19,66% ngô, 2,71% lạc. Đến năm 2018 đã có sự thay đổi
Năm 2018
2,74
23,09
Lúa
Ngô
Lạc
74,17
nhẹ về cơ cấu cây trồng, 74,17% lúa, 23,09% ngô, 2,74% lạc.
Hình 3.1. Biểu đồ cơ cấu các loại cây trong nông nghiệp năm 2018
Trong ngành trồng trọt một số xóm đã và đang khuyến khích nông dân
chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một số vùng trồng lúa kém hiệu quả.Thực tế,
có nhiều mô hình mang lại hiệu quả cao gấp nhiều lần so với trồng lúa.
Ở xã Hóa Thượng diện tích đất nông nghiệp có biểu hiện ngày càng
mất đi, gọi là sự mất đất nông nghiệp, một phần do thiên nhiên và một phần
do con người. Hiện tượng ngập úng vẫn xảy ra, đặc biệt vào mùa mưa bão và
gió to, lớn kết hợp với. Một phần do con người sử dụng đất nông nghiệp làm
đất thổ cư, kinh doanh dịch vụ…điều này đang ảnh hưởng trực tiếp đến diện
tích đất canh tác của toàn xã.
49
3.3.2.1.2. Năng suất các loại cây trồng
Năng suất cây trồng là số lượng sản phẩm chính thu được tính trên một
đơn vị diện tích gieo trồng hoặc diện tích thu hoạch của từng loại cây trồng
trong một vụ sản xuất hoặc cả năm của một đơn vị sản xuất nông nghiệp.
Hiện ngành Nông nghiệp ở xã đang tích cực áp dụng khoa học công nghệ vào
sản xuất nông nghiệp, tiến hành CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn kết hợp
với quy hoạch tổng thể vùng sản xuất cũng những giải pháp nhằm phát triển
bền vững cho nền nông nghiệp và nâng cao sản lượng cây trồng. Tuy nhiên
trong những năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu tác động lớn đến sản
lượng các loại cây trồng.
Lúa là loại cây trông chủ yếu ở đây, mỗi năm thường 2 vụ, ngoài ra
người dân còng trồng vào vụ đông với diện tích nhỏ các loại trồng như khô,
khoai, đậu, rau… Năng suất cây trồng ở đây, đặc biệt là lúa chịu ảnh hưởng
rất lớn bởi biến đổi khí hậu. Nhiều hộ thuộc các xóm điều tra qua phỏng vấn
cho biết một số sào ruộng mỗi năm có thu nhập chỉ được từ 130-150kg
thóc/sào. Sản lượng cây trồng của xã được thể hiện qua bảng sau:
Bảng3.8. Sản lượng một số loại cây trồng chính trên địa bàn xã Hóa
Thượng
Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Chỉ NS SL NS SL NS SL tiêu (tạ/ha) (tấn) (tạ/ha) (tấn) (tạ/ha) (tấn)
Lúa 49,4 2375,3 54,6 2407 55,5 2632
Ngô 45 528,9 47,3 604 45,7 675
Lạc 15,6 22,5 17,5 29,71 16,25 28,49
Nguồn: Thống kê xã Hoá Thượng
Bảng số liệu thể hiện năng suất và sản lượng cây trồng qua 3 năm của
xã Hóa Thượng ta thấy năng suất cây trồng có nhiều biến đổi.Lúa nước được
trồng chủ yếu ở đây nhưng sản lượng đạt được không cao năm 2018đạt 49,4
50
tạ/ha. Theo như đánh giá của người dân nơi đây, trong thời gian gần đây tình
trạng hạn hán thường xuyên xảy ra vào mùa nắng nóng gây nên hiện tượng
thiếu nước tưới tiêu cục bộ, có khi nước sinh hoạt hằng ngày cũng khan hiếm
và thiếu trầm trọng ở một số nơi trên địa bàn xã. Gió tây khô nóng xuất hiện
vào tháng 4, tháng 5, tháng 6 hằng năm gây nên từng đợt và kéo dài trong
nhiều ngày.Nhiệt độ trong những ngày gió tây thường rất cao cố khi lên tới
410C, độ ẩm không khí xuống tới 30%. Gió tây khô nóng ảnh hưởng lớn đến
nông nghiệp đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt, trong trường hợp lúa đang trổ
bông mà gặp phải gió này thì lượng hạt thóc lép là rất cao, ảnh hưởng lớn đến
năng suất và làm tăng tốc độ bốc hơi nước làm cây lúa nhanh chết.
Năng suất lúa giảm đi, nhiều diện tích bị mắt trắng, tại địa phương đã
tìm cách khắc phục bằng cách tăng cường trồng các loại cây trồng khác nhau
để nâng cao đời sống của người dân.Năm 2018, năng suất cây ngô bình quân
là 47 tạ/ha.Sản lượng chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi.Ngoài ra các sản lượng
khác cũng đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây.
3.3.1.2. Nhóm cây ăn quả
Bảng 3.9. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây ăn quả chính
trên địa bàn xã Hóa Thượng năm 2016 - 2018
Cây nhãn Cây ổi Cây bưởi
Năm DT NS SL DT NS SL DT NS SL
(ha) (tạ/ha) (tấn) (ha) (tạ/ha) (tấn) (ha) (tạ/ha) (tấn)
2016 18 130 234 9 50 45 5 150 75
2017 20 132 264 11 53 58,3 6 153 91,8
2018 22 140 308 11 60 66 6,8 153 104,04
(Nguồn: Thống kê xã Hóa Thượng)
Qua bảng số liệu ta thấy, diện tích cây ăn qủa đang có xu hướng tăng
dần qua các năm.
51
Đối với cây nhãn, diện tích cây nhãn có xu hướng phát triển mạnh
nhất.Cây nhãn chỉ được trồng chủ yếu tại xóm Việt Cường với diện tích 20ha.
Xóm chuyên trồng nhãn phục vụ cho người tiêu dùng. Năm 2018, diện tích
nhãn toàn xã là 22ha, với năng suất 140 tạ/ha, thu được sản lượng đạt 308
tấn/ha. Nhãn là cây trồng phụ thuộc vào thời tiết mới thu lại được hiệu quả
cao nhất. Nhãn thường ra hoa tháng 2, tháng 3, đây là thời điểm thời tiết
thường mưa nên rất khó thụ phấn. Khi quả nhãn đã phát triển và sắp cho thu
hoạch thì hay mưa to và nắng gắt nên vỏ và cùi phát triển không đồng nhất ,
dẫn đến quả hay bị nứt, làm giảm năng suất.
Đối với cây ổi, diện tích cây ổi tăng nhẹ qua các năm. Hiện nay, người
dân đã và đang dần chuyển đổi các cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp sang
cây trồng có hiệu quả kinh tế cao. Ổi là một trong số loại cây trồng đó, Năng
suất ổi tại xã Hóa Thượng tương đối cao, tăng dần qua các năm, từ 50 tạ/ha
năm 2016 đến 60 tạ/ha năm 2018. Tình hình tăng mạnh đó là do
người dân đã biết áp dụng khoa học tiên tiến, cây trông chống chịu sâu bệnh
và những biến đổi khí hậu. Năng suất tăng dần kéo theo sản lượng cũng tăng
qua các năm, năm 2016 bằng 45 tấn/ha, đến năm 2018 đạt 66 tấn/ha.
Đối với cây bưởi, ở đây nông dân thường trồng bưởi diễn.Bưởi diễn
cho năng suất cao, và có giá trị kinh tế cao. Sản lượng bưởi diễn hàng năm
tăng rất nhanh từ 75 tấn năm 2016 đến 104.04 tấn năm 2018. Điều đó khẳng
định rằng khoa học bới, kỹ thuật mới đã mang lại cho người dân những kết
quả nhất định.
3.4.Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng rau xã Hóa Thượng,
Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Đất là yếu tố rất quan trọng quyết định năng suất và chất lượng cây
trồng, đồng thời môi trường đất cũng nơi chịu tác động trực tiếp các hoạt
động trực tiếp các hoạt động sản xuất của con người. Chính vì vậy để thấy
được hiện trạng môi trường đất trồng rau chúng tôi tiến hành lấy mẫu đất
52
trồng rau để phân tích các chỉ tiêu: pH, mùn, Nts, Lân tổng số và dư lượng
hóachất BVTV.
Chỉ tiêu pH
Sau khi thực hiện phân tích tại phòng thí nghiệm ta có bảng kết quả
phân tích sau:
Bảng3.10.Đánh giá nồng độ pH đất tại xã Hóa Thượng
Tiêu chuẩn so sánh theo Mẫu đất pH Đánh giá TCVN 7377:2014
Mẫu 1 7,5 Đạt
Mẫu 2 6,9 Đạt
Mẫu 3 6.9 Đạt
Mẫu 4 6,0 3,8 đến 8,12 Đạt
Mẫu 5 7,1 Đạt
Mẫu 6 5,9 Đạt
Mẫu 7 6.4 Đạt
Nguồn: Ban nông nghiệp xã Hóa Thượng
- pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng, vì nó thường ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc phản ứng hóa
học và sinh hóa trong đất. Độ hữu dụng của chất dinh dưỡng chất trong đất,
hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất.
Theo kết quả nghiên cứu đánh giá độ pH của bảng 3.10 giá trị pH từ 5,9
– 7,5 nằm trong khoảng 3,8 – 8,12 của tiêu chuẩn môi trường về đất trồng
trọt. Đây là nồng độ pH hoàn toàn phù hợp cho canh tác rau. Cây rau sinh
trưởng và phát triển tốt là trong khoảng pH từ 5,0 – 7.
Chỉ tiêu Nito tổng số
Ta có bảng kết quả phân tích chỉ tiêu Nito tổng số sau:
53
Bảng 3.11. Đánh giá hàm lượng Nts trong đất tại xãHóa Thượng theo
TCVN 7373: 2004
Mẫu đất Nts(%) Theo TCVN 7373:2004 Đánh Giá
0,065 đến 0,53
Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 Mẫu 5 Mẫu 6 Mẫu 7 0,35 0,46 0,23 0,27 0,44 0,42 0,3 Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
Nguồn: Ban nông nghiệp xã Hóa Thượng
Theo TCVN 7373 : 2004 về chất lượng môi trường đất. Giá trị cho
phép của Nts trong đất là nằm trong khoảng 0,065 đến 0,53 %. Theo bảng
3.11 ta thấy các mẫu đều nằm trong TCMT đất. Giá trị trung bình của các
mẫu chỉ điều này cho thấy việc canh tác cây rau, không làm ảnh hưởng nhiều
tới hàm
lượng Nts trong đất. Xét về mặt dinh dưỡng trong đất các mẫu đất trên
có hàm lượng N mức trung bình.Vậy người dân cần có biện pháp nâng cao
chất lượng đất, đảm bảo cây rau có thể phát triển tốt và đạt năng xuất cao.
Chỉ tiêu Lân tổng số
Ta có bảng kết quả phân tích Lân tổng số sau:
Bảng 3.12.Đánh giá hàm lượng Pts trong đất xã Hóa Thượng theo TCVN
7374:2004
Theo TCVN 7373 : 2004 Đánh Giá Mẫu Đất Pts
0,03 đến 0,06
Mẫu 1 Mẫu 2 0,039 0,041 Đạt Đạt
Mẫu 3 Mấu 4 Mẫu 5 Mẫu 6 Mẫu 7 0,05 0,048 0,052 0,05 0,065 Đạt Đạt Đạt Đạt Không Đạt
54
Nguồn: Ban nông nghiệp xã Hóa Thượng
Theo tiêu chuẩn TCVN 7374 : 2004 về chất lượng đất. Giá trị cho phép
Pts trong đất là từ 0,03 – 0,06 %, mẫu đất 1 đến mẫu 6 đều năm trong tiêu
chuẩn cho phép. Mẫu 7 là mẫu đất duy nhất vượt tiêu chuẩn môi trường.
Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó là do người dân đã bón phân hóa học với
liều lượng cao và sai quy trình kỹ thuật. Photpho là một trong những nguyên
tố không thề thiếu trong đất cung cấp cho cây trồng nguồn dinh dưỡng.
Chỉ tiêu Mùn
Bảng 3.13.Kết quả phân tích lượng mùn trong đất trồng rau
xã Hóa Thượng
Đánh giá
Mẫu Đất Mùn tổng số (%)
Mẫu 1 0,66
Mẫu 2 0,58
Mùn tổng số (%) Phương pháp so sánh Đánh giáMùn tổng số (%) Phương pháp so sánh Đánh giá Dưới 1% đất rất nghèo mùn Từ 1-2% đất hơi nghèo mùn Từ 2-4% đất có mùn trung bình Từ 4-8% đất giàu mùn Trên 8% đất rất giàu mùn Mẫu 3 0,79
Mẫu 4 0,5
Mẫu 5 0,32
Mẫu 6 0,28
Mẫu 7 0,7
Đất rất nghèo mùn Đất rất nghèo mùn Đất rất nghèo mùn Đất rất nghèo mùn Đất rất nghèo mùn Đất rất nghèo mùn Đất rất nghèo mùn
Nguồn: Ban nông nghiệp xã Hóa Thượng
Mùn là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, mùn ảnh
hưởng đến tính chất lí học, hóa học, sinh học của đất. Hàm lượng mùn trong
đất nhiều sẽ là điều kiện tốt để cây trồng sinh trưởng tốt đồng thời làm cho hệ
thực vật có lợi trong đất tăng cao, tạo cho đất một kết cấu tơi xốp.
Theo kết quả bảng 3.13 cho thấy tất cả các mẫu đất đều đang trong
55
tình trạng nghèo mùn. Đây là kết quảcủa hàng chục năm người dân thực hiện
canh tác rau một cách không hợp lí. Người dân thực hiện bón quá nhiều các
phân bón hóa học, thiếu các biện pháp làm tơi xốp đất. Để khắc phục hậu
quả trên người dân phải có nhiều biện pháp cải tạo đất một cách hợp lí
để làm tăng lượng mùn cũng như các chất dinh dưỡng trong đất. Tăng cường
sử dụng phân hữu cơ bòn cho đất làm tăng độ xốp cho đất và làm % mùn
trong đất tăng lên.
Hóa chất Bảo vệ thực vật
Ta có kết quả phân tích dư lượng Hóa chất bảo vệ thực vật trong đất tại
bảng sau:
Bảng3.14.Đánh giá tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất
Chỉ tiêu Kết quả phân tích
Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật Không phát hiện
Qua bảng 3.14 kết quả phân tích các mẫu đất tại xã Hóa Thượng về tồn
dư thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường đất ta thấy hàm lượng tồn dư
không có. Với kết quả thực hiện điều tra tại xã với 30 phiếu thì 30/30 phiếu số
người được hỏi có sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật cho cây rau của gia đình
mình( thường xuyên sử dụng sử dụng và chỉ sử dụng khi cần thiết). Đây là
một sự đáng mừng cho người dân tại xã Hóa Thượng. Để bảo vệ môi trường
và sản xuất sạch hơn thì người dân cần phải thay đổi tập quán canh tác, ít xử
dụng các loại chất bảo vệ thực vật hơn, xử dụng các biện pháp sinh học trừ
sâu bệnh hại và các chế phẩm trừ dâu sinh học.
3.5.Đề xuất một số giải pháp canh tác rau an toàn trên địa bàn xã
Hóa Thượng
Dựa trên tình hình sản xuất rau của xã Hóa Thượng tôi xin đưa ra
một số giải pháp canh tác rau nhằm giảm thiểu độc hại, đảm bảo chất lượng
56
nông sản như sau:
3.5.1. Sử dụng phân bón và thuốc BVTV hợp lý, hiệu quả
Hằng năm nông dân vẫn sử dụng một lượng phân bón hóa học và thuốc
BVTV để khá lớn để bổ sung chất dinh dưỡng và phòng trừ bệnh hại cho cây
trồng. Tâm lý chung của một bộ phận người dân là bón phân và dùng thuốc
nặng tay để tăng năng suất cho cây trồng. Lượng hóa chất này không được
cây trồng hấp thụ hết sẽ tồn dư trong đất, gây ảnh hưởng đến chất lượng đất
và nông sản. Để có sản phẩm nông nghiệp an toàn tới người tiêu dùng,
khuyến cáo người dân nên sử dụng phân bón và thuốc BVTV theo đúng liều
lượng hướng dẫn trên bào bì. Đồng thời tăng cường sử dụng các sản phẩm
sinh học. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào lợi ích kinh tế và nhận thức
của người dân.
Mặt khác nông dân sau khi sử dụng thuốc BVTV thì bao bì, vỏ chai thuốc
bị vứt trực tiếp tại nơi sử dụng, thường là trên bờ ruộng, mương ...Chính vì vậy
mà sau khi sử dụng thuốc xong, người dân nên thu gom và xử lý chai lọ; vỏ bao
bì đựng thuốc một cách hợp lý để tránh gây ô nhiễm đất và nguồn nước.
3.5.2. Sử dụng các loại bẫy để bắt côn trùng
Sử dụng các loại bẫy bả như bẫy chua ngọt, bẫy dính, bẫy pheromone để
bắt côn trùng trưởng thành hoặc dùng thiên địch để kìm hãm một số côn trùng
có hại,…để giảm lượng thuốc BVTV sử dụng. Sử dụng màng phủ nông
nghiệp để phòng trừ cỏ dại, rệp và giữ ẩm cho đất.
3.5.3. Đảm bảo chất lượng nguồn nước tưới
Phần lớn diện tích trồng rau của xãchủ yếu lấy nước từ sông Linh
Nham để phục vụ cho sản xuất . Mặc dù có nước sạch nhưng nguồn nước
tưới được sử dụng chính vẫn là nước sông do chi phí cao. Chất lượng nước
tưới chưa thực sự đảm bảo, vẫn chứa các KLN.Do vậy để đảm bảo chất lượng
rau trồng thực sự an toàn, chính quyền địa phương nên sử dụng nguồn nước
sạch để cung cấp cho tưới tiêu.
57
58
3.5.4. Công tác quản lý
- Mở thêm các lớp tập huấn để hướng dẫn cho người dân về kỹ thuật
trồng rau an toàn, kiến thức về các loại sâu bênh, sử dụng phân bón và thuốc
BVTV.
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về hậu quả của ô
nhiễm môi trường, để người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường hơn.
59
PHẦN 4
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận
Theo kết quả nghiên cứu, bước đầu rút ra một số kết luận như sau:
1. Hoạt động trồng rau tại xã Hóa Thượng không ngừng được quan tâm
và phát triển về diện tích, năng suất và chất lượng. Hiện nay diện tích trồng
rau xanh toàn xã đạt 639,41 ha, sản lượng đạt 3326,49 tấn.
2. Môi trường đất trồng rau đang có biểu hiện bị thiếu chất dinh dưỡng:
- Theo kết quả nghiên cứu đánh giá độ pH, giá trị pH từ 5,9- 7,5 nằm
trong khoảng 3,8 – 8,12 của tiêu chuẩn môi trường về đất trồng trọt. Đây là
nồng độ pH hoàn toàn phù hợp cho trồng rau.
- Theo TCVN 7373 : 2004 về chất lượng môi trường đất. Giá trị cho
phép của Nts trong đất là nằm trong khoảng 0,065 đến 0,53 %. Qua phân tích
ta có thể thấy các mẫu đều nằm trong TCMT đất.Giá trị trung bình của các
mẫu chỉ điều này cho thấy việc trồng rau xanh không làm ảnh hưởng nhiều tới
hàm lượng Nts trong đất.Xét về mặt dinh dưỡng trong đất các mẫu đất trên có
hàm lượng N mức trung bình.
- Theo tiêu chuẩn TCVN 7374 : 2004 về chất lượng đất. Giá trị cho
phép Pts trong đất là từ 0,03 – 0,06 %, mẫu đất 1 đến mẫu 7 đều năm trong
tiêu chuẩn cho phép. Mẫu 7 là mẫu đất duy nhất vượt tiêu chuẩn môi trường.
Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó là do người dân đã bón phân hóa học với
liều lượng cao và sai quy trình kỹ thuật.
- Theo kết quả bảng phân tích cho thấy tất cả các mẫu đất đều đang
trong tình
trạng nghèo mùn. Đây là kết quả của hàng chục năm người dân thực
hiện canh tác trồng rau một cách không hợp lí.Người dân thực hiện bón quá
nhiều các phân bón hóa học, thiếu các biện pháp làm tơi xốp đất.
- Qua bảng 3.14 kết quả phân tích các mẫu đất tại xã Hóa Thượng về tồn dư
60
thuốc HCBVTV trong môi trường đất ta thấy hàm lượng tồn dư thuốc
là không có. Đây là một điều đáng mừng cho người dân xã Hóa Thượng. Để
bảo vệ môi trường và sản xuất sạch hơn thì người dân cần phải thay đổi tập
quán canh tác, ít xử dụng các loại HCBVTV hơn, xử dụng các biện pháp sinh
học trong phòng trừ sâu bệnh hại và các chế phẩm trừ sâu sinh học.
4.2. Kiến nghị
- Đối với nông dân trong xã cần tích cực tham khảo kiến của các cán
bộ có chuyên môn kỹ thuật, áp dụng các chƣơng trình sản xuất sạch hơn, sử
dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng.
- Người dân cần phải hiểu rõ hơn về cách sử dụng thuốc trừ sâu, sử
dụng đúng mục đích, liều lượng, nồng độ, phù hợp với từng loại rau.
- Cần có những nghiên cứu cụ thể về hiện trạng sản xuất chè trên địa
bàn qua đó xác định hướng đi mang tính bền vững.
- Tuyên truyền giáo dục người dân về việc bảo vệ môi trường và sức
khỏe cộng đồng để mọi người có nhận thức đầy đủ về quá trình trồng và khai
thác rau xanh.
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Bộ môn Công nghệ môi trường (2018),Bài giảng Ô nhiễm môi trường ,
NXB Đại học Nông nghiệp.
2. Dương Hoa Xô (2018), Ứng dụng chế phẩm sinh học trong nông
nghiệp,Trung tâm CNSH Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Dương Kim Hà (2018), Giải pháp giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật độc hại
trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
Trung tâm CNSH Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Dương Thanh Nghị, Trần Đức Thạnh, Trần Văn Quy, Đỗ Quang
Huy(2009), Đánh giá khả năng tích tụ sinh học chất ô nhiễm hữu cơ
bền PCBsvà PAHs vùng vịnh Hạ Long, Đai học KHTN - ĐHQGHN
5. Hồ Thanh Thúy(2013). Tìm hiểu tình hình ô nhiễm đất và thiết kế bài trắc
nghiệm đánh giá mức độ hiểu biết về môi trường của sinh viên khoa
hóa , trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
6.Lê Quốc Phong (2018), Sản xuất và tiêu thụ phân bón trên thế giới, Hiệp
hội phân bón Việt Nam.
7. Lê Văn Khoa (2016), Sinh thái và môi trường đất, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Hồng Ngọc(2018), Giáo trình tài nguyên thiên nhiên, Phần tài
nguyên đất, NXB Đại học Nông nghiệp.
9. Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, Dương Thị Bích Huệ (2007), Hiện trạng ô nhiễm
kim loại nặng trọng rau xanh ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh. Tạp
chí Phát triển KH&CN tập 10, số 1/2007
10. Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Đường – Hoàng Hải - Vũ Thị Hoàn (2007),
Giáo trình Sinh học đất, NXB Giáo dục.
11. Phan Tuấn Triều (2009), Giáo trình tài nguyên đất và môi trường, Đại học
Bình Dương.
62
12. Phòng Quản lý an toàn thực phẩm - Chi cục BVTV TP Hồ Chí
Minh(2016), Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật hợp lý và đúng kỹ thuật
để bảo vệ năng suất rau – an toàn cho con người và môi trường.
13. QCVN03:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho
phép của kim loại nặng trong đất.
14. QCVN8 -2:2011/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô
nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm.
15. TCVN 7377: 2004 chất lượng đất – giá trị chỉ thị pH trong đất Việt Nam
16. TCVN 7376: 2004 chất lượng đất – giá trị chỉ thị hàm lượng cacbon hữu
cơ tổng số.
17. TCVN 7373: 2004 chất lượng đất – giá trị chỉ thị hàm lượng Nitơ tổng số
trong đất Việt Nam.
18. Tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường”, số 3/2003, tr. 29-30,47
19. Trần Văn Chính (2006), Giáo trình Thổ nhưỡng học, NXB Nông nghiệp.
II. Tài liệu tiếng anh
20. Abdul H.Bu – Olayan and Bivin V. Thomas (2009), Tranlocations
andBioaccumulation of Trace Metals in Desert plant of Kawait
Governorates, Kuwait University.
21. Cornelis A.M. Van Gestel, Josse E. Koolhas, Timo Hamers, Maarter Van
Hoppe, Martijin van Rovert, Cora Korsman, Sophie A. Reineck ,
Neutral Red Retention Time method (NRRT)
22. Ho Thi Lam Tra, Kazuhiko Egashira (1999), Heavy Metal
Characterization of River Sediment in Ha Noi, Viet Nam. Commun.
Soil Sci. Plant Anal. United States, 31 (17 & 18), pp 2901 – 2916.
23. Magnus Berge (2012), Global Fertilizer Supply/Demand Five-Year
Market Outlook (2012-2017). 2º Congreso Brasileiro de Fertilizantes
São Paulo.
24. S. Singh, M. Zacharias, S. Kalpana and S. Mishra (2011), Heavymetals
63
accumulation and distribution pattern in different vegetable crops,
Division of Environmental Sciences, Indian Agricultural Research
Institute, New Delhi, India..
25. Tom W. Bruulsema, Patrick Heffer, Ross M. Welch, Ismail Cakmak and
Kevin Moran (2012), Fertilizing Crops to Improve Human Health: A
Scientific Review. First edition, IPNI, Norcross, GA, USA; IFA, Paris,
France.
III. Tài liệu từ mạng Internet
26. Đặng Thanh Hà, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phân bón đến năm
2020http://www.cuctrongtrot.gov.vn/ctt/chuyentrang/default.aspx?type
=ti&id=88
27. Hải Yến, Thực trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam,
http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1101/39819/thuc-trang-
o-nhiem-do-hoa-chat-thuoc-bvtv-tai-viet-nam.
28.Khuyết danh, Ô nhiễm đất kỳ 1 – Sống chung với độc
hạihttp://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20141013/song-chung-voi-doc
hai/657556.html
29. Khuyết danh, Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông
dân đối với rau sach, http://rausachvuonnha365.com.vn/thuc-trang-su-
dung-thuoc-bao-ve-thuc-vat-cua-nguoi-nong-dan-doi-voi-rau-
sach/a1134473.html
30 . Khuyết danh, Ô nhiễm
http://www.slideshare.net/DuongTran31/nhimmitrng
31. Khuyết danh, Land Pollution Facts And Statistics http://www.all-
recycling-facts.com/land-pollution-facts.htm

