BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA KHOA HỌC SỨC KHOẺ

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

TRIỆU THỊ THUỶ

Mã sinh viên: B00226

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THỰC HÀNH CỦA MẸ BỆNH NHI HEN PHẾ QUẢN TRƯỚC VÀ SAU THAM GIA

CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ HEN

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ VLVH

HÀ NỘI – Tháng 11 năm 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA KHOA HỌC SỨC KHOẺ

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

TRIỆU THỊ THUỶ

Mã sinh viên: B00226

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THỰC HÀNH CỦA MẸ BỆNH NHI HEN PHẾ QUẢN TRƯỚC VÀ SAU THAM GIA

CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ HEN

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ VLVH

Người HDKH: PGS. TS. BS Lê Thị Minh Hương

HÀ NỘI – Tháng 11 năm 2013

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, tôi đã nhận

được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của thầy cô, các anh chị và các bạn.

Với tất cả tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn

sâu sắc tới:

Các thầy cô giáo dạy trường Đại học Thăng long, đặc biệt là những thầy cô đã

tận tình dạy bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.

GS. TS Phạm Thị Minh Đức chủ nhiệm Khoa Điều dưỡng Trường Đại học

Thăng long, Cô đã dạy bảo chỉ dẫn cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành

luận văn này.

PGS. TS. BS Lê Thị Minh Hương – Trưởng khoa Miễn dịch – Dị ứng – Khớp,

bệnh viện Nhi Trung ương đã chỉ bảo, đóng góp cho luận văn với các ý kiến có nội

dung sâu sắc và có giá trị khoa học cao.

Tất cả đồng nghiệp khoa Miễn dịch – Dị ứng – Khớp đã tạo điều kiện giúp đỡ

tôi trong quá trình thu thập số liệu hoàn thành luận văn.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới bạn bè đồng nghiệp người thân trong

gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học

tập và hoàn thành luận văn.

Tôi xin ghi nhận những tình cảm và công lao ấy.

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Học viên

Triệu Thị Thuỷ

DANH MỤC VIẾT TẮT

Bộ Y tế BYT

CBVC Cán bộ viên chức

Global Initiative for Asthin (Chương trình khởi động toàn GINA

cầu phòng chống Hen)

Hen phế quản HPQ

Nghiên cứu NC

Nghiên cứu khoa học NCKH

Nhân viên y tế NVYT

Lưu lượng đỉnh PEF

Tổ chức y tế thế giới WHO

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................... 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN .................................................................... 3

1.1. Lịch sử hen ..................................................................................................... 3

1.2. Định nghĩa ...................................................................................................... 4

1.3. Dịch tễ học ..................................................................................................... 4

1.4. Yếu tố nguy cơ của hen phế quản ................................................................... 5

1.5. Cơ chế bệnh sinh trong hen phế quản. ............................................................ 6

1.6. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng. .......................................................... 9

1.7. Chẩn đoán hen phế quản. .............................................................................. 10

1.8. Điều trị. ......................................................................................................... 12

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 16

2.1. Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................. 16

2.2. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................. 16

2.3. Kiểm soát sai số: ........................................................................................... 17

2.4. Phân tích và xử lý số liệu .............................................................................. 17

2.5. Đạo đức trong nghiên cứu ............................................................................. 18

2.6. Tính khả thi của đề tài ................................................................................... 18

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................. 20

3.1. Thông tin chung của nhóm nghiên cứu ........................................................ 20

3.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tham gia quản lý hen ........................................................................................................... 22

3.3. Tìm hiểu mối liên quan giữa trình độ học vấn của các mẹ bệnh nhi với kiến thức về bệnh hen .................................................................................................. 28

3.4. Đánh giá kỹ năng thực hành của mẹ bệnh nhi trong sử dụng các thuốc điều trị hen trước và sau khi tham gia chương trình quản lý hen ................................ 28

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ..................................................................... 31

4.1. Thông tin chung của nhóm nghiên cứu ........................................................ 31

4.1.1. Thông tin chung của bệnh nhi hen phế quản trong nhóm nghiên cứu ... 31

4.1.2. Thông tin về mẹ bệnh nhi ...................................................................... 31

4.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư vấn ....... 32

4.2.1. Kiến thức chung về bệnh ...................................................................... 32

4.2.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư vấn 32

4.3. Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi với kiến thức về bệnh

hen phế quản ........................................................................................................ 33

4.4. Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều babyhaler ................................... 33

4.5. Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều ................................................... 33

4.6. Thực hành xịt thuốc của mẹ bệnh nhi hen phế quản trước và sau tư vấn .... 33

KẾT LUẬN ............................................................................................. 34

KIẾN NGHỊ ............................................................................................ 35

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản là bệnh mạn tính đường hô hấp phổ biến ở tất cả các lứa tuổi

và có tỷ lệ ngày càng tăng cao, đặc biệt là ở trẻ em. Tỷ lệ mắc hen phế quản đặc biệt

ở trẻ em tại tất cả các quốc gia đang ngày một gia tăng. Theo báo cáo của Tổ chức

Phòng chống hen toàn cầu (Global Intiniative for Asthma – GINA) (2005), hàng

năm thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen và 25 vạn người chết vì hen. Tại

Việt Nam, theo Hiệp hội Hen, Dị ứng và Miễn dịch (2005) có khoảng hơn 5% dân

số bị bệnh. Hen phế quản diễn biến kéo dài gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống

của bệnh nhi, gia đình và xã hội. Cơn hen kịch phát còn có thể gây nguy hiểm đến

tính mạng của người bệnh.

Vài năm trở lại đây đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị và chứng

minh rằng bệnh hen hoàn toàn có thể kiểm soát được. Nhưng thực tế hiện nay vẫn

còn số lượng lớn bệnh nhi hen phải nhập viện, nguyên nhân là do sự hiểu biết của

người bệnh, đặc biệt đối với bệnh nhân nhi thì bố, mẹ bệnh nhi về bệnh hen còn

chưa đúng và chưa đầy đủ. Vì vậy việc cung cấp kiến thức cho bệnh nhi và bố, mẹ

bệnh nhi bị bệnh hen phế quản về cách nhận biết các dấu hiệu lên cơn hen, các yếu

tố gây hen, làm bùng phát cơn hen, sử dụng thuốc cắt cơn, dự phòng hen là rất quan

trọng.

Để cung cấp kiến thức cho bệnh nhi, bố, mẹ người bệnh bị bệnh hen phế

quản trên Thế giới đã triển khai nhiều mô hình truyền thông: Phòng tư vấn hen phế

quản, câu lạc bộ bệnh nhân hen. Tại Việt Nam một số cơ sở y tế cũng đã bắt đầu

tiến hành các trung tâm tư vấn hen, câu lạc bộ hen. Đã có một số nghiên cứu về kiến

thức, thái độ, hành vi của bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen phế quản tại bệnh viện Nhi

Trung ương và bệnh viện Nhi Đồng II. Khoa Miễn dịch dị ứng bệnh viện Nhi trung

ương đã triển khai chương trình quản lý hen từ nhiều năm gần đây bao gồm khám

và tư vấn, tổ chức câu lạc bộ hen. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu đánh giá hiệu

quả hoạt động của chương trình này. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kiến thức, thực hành của mẹ bệnh nhi hen

1

phế quản trước và sau tham gia chương trình quản lý hen” với các mục tiêu

sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

1. Đánh giá sự thay đổi về kiến thức của mẹ bệnh nhi bị bệnh hen về bệnh hen,

cách điều trị, dự phòng hen phế quản trước và sau tham gia chương trình quản

lý hen.

2. Đánh giá sự thay đổi về kỹ năng thực hành sử dụng bình xịt của mẹ bệnh

nhi bị bệnh hen trong điều trị, dự phòng hen phế quản trước và sau tham gia

chương trình quản lý hen.

2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lịch sử hen

Hippocrates (460 – 370) đã đề xuất và giải thích từ “asthma” (thở vội vã theo

tiếng Hy Lạp) để mô tả một cơn khó thở có biểu hiện khò khè[1].

Đến thế kỷ thứ II sau công nguyên, hen phế quản được Aretaeus mô tả chi tiết

hơn. Ông cho rằng hen là bệnh mạn tính có chu kỳ, có ảnh hưởng của thay đổi thời

tiết và làm việc gắng sức[16].

Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ XVII do ảnh hưởng của tôn giáo nên việc

nghiên cứu về hen không được quan tâm, các hiểu biết về hen gần như không có

tiến bộ mới[17].

Năm 1615, Van Helmont thông báo các trường hợp khó thở do phấn hoa

Năm 1698, John Floyer giải thích nguyên nhân gây khó thở là do co thắt phế

quản, ông phân loại ra khó thở chu kỳ và khó thở liên tục nhưng chưa phân biệt

được hen và viêm phế quản mạn tính.[10]

Năm 1803, F.D. Reisseissen nói đến sự co thắt của các cơ trơn đường hô hấp

mà sau này người ta lấy tên của ông đặt cho cơ trơn phế quản là cơ Reisseissen.

Năm 1819, Laennec xác định cơn khó thở là do co thắt cơ Reisseissen. Năm

1860, Samter chứng minh bệnh hen do tiếp xúc với lông mèo. Năm 1873, Blackley

chứng minh phấn hoa và một số loại cỏ có thể là nguyên nhân gây hen.

Năm 1902, việc C.Richer gây được shock phản vệ trên thực nghiệm (giải

thưởng Nobel 1913) đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về hen phế quản và

các bệnh dị ứng.

Năm 1910, Dale phát hiện ra Histamine. Năm 1936, Chakravarty tìm ra

Serotonin. Năm 1940, Ado lưu ý đến vai trò của Acetylcholin.

Sau đó, nhiều tác giả nghiên cứu và tìm ra vai trò của rất nhiều loại chất trung gian hoá học (lymphokin, leucotrien, cytokin), các loại tế bào (tuyến ức, lympho B,

lympho T) và cả kháng thể (IgE) trong cơ chế bệnh sinh của hen.

Từ năm 1985 đến nay nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, viêm đóng vai trò quan trọng trong hen dẫn đến tình trạng co thắt phế quản, tăng tính phản ứng phế

3

quản và từ đó có nhiều bước cải tiến trong việc điều trị và phòng bệnh hen[18].

Năm 1992, Tổ chức Phòng chống hen toàn cầu (Global Initiative for Asthma)

gọi tắt là GINA ra đời nhằm mục đích đề ra chiến lược quản lý khống chế và kiểm

soát bệnh hen.[13]

1.2. Định nghĩa

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về HPQ, tháng 12 năm 2009 Bộ

Y tế đã đưa ra định nghĩa về HPQ: “Hen là tình trạng viêm mạn tính của đường thở,

với sự tham gia của nhiều tế bào và thành phần tế bào, làm tăng tính đáp ứng đường

thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc nghẽn, hạn chế luồng khí đường thở, làm

xuất hiện các dấu hiệu khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn nhiều lần, thường

xảy ra ban đêm và sáng sớm, có thể hồi phục tự nhiên hoặc do dùng thuốc”[12]

1.3. Dịch tễ học

1.3.1. Tỷ lệ mắc hen

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1995 có khoảng 150 triệu người mắc

bệnh HPQ, tỷ lệ hen ở người lớn là 5%, ở trẻ em là 10%, trong 2 – 3 thập kỷ qua độ

lưu hành hen phế quản vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ đang lo ngại .[2],[5]

Theo GINA (2006), HPQ là bệnh mạn tính có tỷ lệ mắc cao nhất, có khoảng

300 triệu người mắc hen trên toàn thế giới, ước tính đến năm 2025 sẽ có khoảng

400 triệu người mắc hen phế quản. Tỷ lệ hen ở trẻ em dao động từ 1 – 30% tuỳ theo

từng vùng, từng nước.

Tỷ lệ mắc hen của các quốc gia trên thế giới khác nhau, các nước phát triển

thường có tỷ lệ mắc hen cao hơn các nước đang phát triển.

Báo cáo của chương trình khảo sát quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ em

(International Study of Asthma and Allergies in Children - ISAAC) cho thấy độ lưu hành của hen đã thay đổi từ 1,6% đến 36,8% [11]

Ở Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc hen trên toàn quốc. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (1995), tỷ lệ hen ở trẻ em trên 7 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh là 3,2%, cũng tại thành phố Hồ Chí Minh theo nghiên cứu của Bệnh viện Nhi Đồng I, tỷ lệ khò khè ở trẻ em 12 – 13 tuổi là 29,1%, theo

nghiên cứu của Sở Y tế Hà Nội, tỷ lệ hen ở trẻ em 10,24%, trong đó nội thành

chiếm 14,56%, ngoại thành chiếm 7,52%.[13]

1.3.2. Tỷ lệ tử vong

4

Mặc dù chương trình kiểm soát hen đã được WHO, GINA và các nước triển

khai rộng khắp nhưng tỷ lệ tử vong do hen vẫn còn là vấn đề cần quan tâm. Hàng

năm trên thế giới vẫn có 250.000 người tử vong do hen.[11]

Tỷ lệ tử vong do hen chiếm 1/250 các ca tử vong trên toàn thế giới. Đáng lưu ý

là 85% các trường hợp tử vong do hen có thể phòng ngừa nếu được sự quan tâm kịp

thời của người bệnh, gia đình và thầy thuốc[6]. Tỷ lệ tử vong do hen ở trẻ em cũng

tăng so với 10 – 20 năm trước đây.[5]

1.3.3 Gánh nặng bệnh tật

Đối với người bệnh: Hen phế quản là một bệnh mạn tính thường gặp ở trẻ em

và là một trong những nguyên nhân buộc trẻ phải nghỉ học nhiều ngày. Có tới 40%

trẻ em phải nghỉ học mỗi khi lên cơn, trung bình trẻ bị hen phải nghỉ học 10 -15

ngày trong năm.[5]

Đối với gia đình: Hen phế quản tác động xấu đến tâm lý gia đình, coi người

bệnh như một gánh nặng.

Đối với xã hội: Thiệt hại do hen gây ra cho xã hội bao gồm các chi phí trực tiếp

(khám bệnh, xét nghiệm, thuốc, viện phí...) và cả các chi phí gián tiếp (ngày nghỉ

việc, nghỉ học, giảm khả năng lao động, chất lượng cuộc sống giảm sút), số ngày

nghỉ làm việc của người lớn trong gia đình tăng lên do phải chăm sóc trẻ, năng suất

lao động giảm sút, thiếu nhiệt tình, giới hạn hoạt động, thiếu hoà nhập xã hội. Theo

WHO (1998) chi phí cho bệnh HPQ của nhân loại lớn hơn hai căn bệnh hiểm nghèo

là HIV và lao cộng lại. Theo GINA chi phí trực tiếp cho phòng chống hen phế quản chiếm 1 – 3% tổng chi phí y tế ở hầu hết các quốc gia[8]. Theo tác giả Nguyễn Thị

Rồi, gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh hen nghiên cứu trên 1.762 trẻ em nhập viện

tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng II từ tháng 7/2006 đến tháng 6/2007: tổng số

ngày nằm viện: 10.545 ngày, tổng số ngày nghỉ học: 864 ngày, chi phí bình quân

cho một đợt điều trị mỗi bệnh nhân là 466.548 nghìn đồng[14]. Những con số thống

kê ở Hà Nội cho thấy, mỗi bệnh nhân hen nếu không được kiểm soát tốt mỗi năm

phải vào viện cấp cứu trung bình 2 – 4 lần, mỗi lần nhập viện chi phí 2 – 3 triệu

đồng, chưa kể các tổn thất gây ra do nghỉ học, nghỉ việc, mất việc và giảm chất

lượng cuộc sống.[13]

1.4. Yếu tố nguy cơ của hen phế quản

1.4.1. Yếu tố chủ thể

Các yếu tố này có thể là điều kiện phát sinh hoặc ngăn cản quá trình

5

phát triển hen phế quản, bao gồm: - Cơ địa dị ứng (atopy).

- Tăng tính phản ứng đường thở. - Béo phì [30].

- Giới tính:

+ Trẻ dưới 5 tuổi: tỷ lệ trẻ nam bị hen phế quản nhiều hơn trẻ nữ.

+ Sau 10 tuổi gần như không có sự khác biệt giữa hai giới.[3],[5]

1.4.2. Yếu tố môi trường

Ảnh hưởng tới tính cảm thụ của cá nhân có nguy cơ phát triển thành hen phế quản,

thúc đẩy làm nặng hen và/ hoặc làm duy trì triệu chứng, bao gồm:

- Các loại dị nguyên:

+ Dị nguyên trong nhà: Bọ nhà, dị nguyên động vật nấm mốc.

+ Dị nguyên ngoài nhà: Phấn hoa và nấm.

- Yếu tố nghề nghiệp: Hen phế quản hay gặp ở các nước công nghiệp,

thường ở công nhân chế biến tôm cua, công nhân dệt, công nhân sản xuất nhựa,...

- Khói thuốc lá.

- Ô nhiễm không khí: Các loại khí thải sinh hoạt và công nghiệp.

- Nhiễm trùng hô hấp bao gồm:

+ Nhiễm trùng do vi khuẩn. + Nhiễm trùng do vi rút.

- Chế độ ăn: Bản thân thức ăn là tác nhân gây hen: Trứng, tôm, cua, cá.

1.4.3. Các yếu tố làm nặng hen phế quản.

- Dị nguyên: Cả dị nguyên trong và ngoài nhà.

- Gắng sức, tăng thông khí.

- Thay đổi thời tiết.

- Khí sulfure dioxide SO2.

- Thực phẩm, thuốc và các chất phụ gia.[6]

1.5. Cơ chế bệnh sinh trong hen phế quản.

Hen là một phức hợp viêm phức tạp tại phổi được đặc trưng bởi: - Viêm mạn tính

đường hô hấp.

- Co thắt phế quản.

- Tăng mẫn cảm đường thở.

6

- Tái tạo lại đường thở.

1.5.1. Viêm là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản

Hiện tượng viêm trong hen phế quản theo cơ chế miễn dịch – dị ứng có sự tham

gia của nhiều yếu tố khác nhau:

- Các tế bào gây viêm như đại thực bào, bạch cầu trung tính, bạch cầu ái kiềm, bạch

cầu ái toan, mastocyte, tế bào T và B.[1]

- Nhiều cytokine gây viêm được giải phóng từ đại thực bào, tế bào B như IL4, IL5,

IL6 GMCSF (Granulocyte Macrophage Colony Stimulating Factor) gây viêm dữ

dội làm co thắt phù nề phế quản và xung huyết.

- Các yếu tố gây viêm, các dị nguyên như là một kháng nguyên vào cơ

thể kết hợp với kháng thể trên bề mặt dưỡng bào làm thoái hoá hạt, giải

phóng nhiều chất trung gian hoá học tiên phát và thứ phát như histamin,

serotonine, bradykinine, prostaglandin, leucotrien.

-Vai trò của các phần tử kết dính (Adhension Molicule - AM): các AM và các

cytokines có mối quan hệ tương hỗ rất gắn bó trong quá trình viêm dị ứng.[5]

1.5.2. Co thắt phế quản

7

Hậu quả của hiện tượng viêm đã gây nên tình trạng co thắt phế quản như cơ chế

đã trình bày. Ngoài ra ở trẻ bị hen phế quản thụ thể β2 bị suy giảm làm cho men

Adenylcyclase kém hoạt hoá, gây nên thiếu hụt AMPc ở cơ trơn phế quản. Tình

trạng này làm cho ion calci xâm nhập vào tế bào, đồng thời dưỡng bào (mastocyte)

bị thoái hoá hạt, giải phóng các chất trung gian hoá học gây co thắt phế quản.

- Yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (Platelet Activating Factor - PAF) gây co thắt, viêm

nhiễm, phù nề phế quản.

Sự rối loạn hệ thần kinh giao cảm làm tăng tiết cholin, kích thích hệ cholinergic

làm giải phóng các chất trung gian hoá học và làm tăng AMPc nội bào gây phản xạ

co thắt phế quản.

Trong các tế bào và các chất hoá học trung gian gây viêm cần lưu ý vai trò của

leucotrien đó là những sản phẩm chuyển hóa của acid arachinodic theo đường 5 –

lipooxygenese hình thành hai type leucotrien: sulfido – peptid và LTB4. Thực chất

các Sulfido – peptid là chất SRS – A (Slow Reacting Substance of Anaphylasic)

chất gây phản ứng quá mẫn chậm có tác dụng co thắt phế quản rất mạnh.

Prostaglandin, đặc biệt là Prostaglandin 2 là do mastocyte tiết ra thúc đẩy sự giải

phóng histamin từ basophil (bạch cầu ưa bazơ) cũng chịu trách nhiệm về sự co thắt

và gia tăng tính phản ứng của phế quản.[5]

1.5.3. Quá trình tăng phản ứng đường thở.

Tăng tính phản ứng phế quản là đặc điểm quan trọng trong bệnh sinh hen phế

quản. Sự biến đổi tính phản ứng phế quản liên quan đến nhịp ngày đêm của sức cản

phế quản.

Tăng tính phản ứng đường thở là đặc điểm quan trọng ở hen nhưng không phải là

duy nhất. Tăng tính phản ứng đường thở còn gặp trong viêm phế quản mạn tính,

viêm mũi dị ứng, nấm phổi, bệnh nhầy quánh niêm dịch (mucovisidose).

Tăng tính phản ứng phế quản làm mất cân bằng giữa hệ Adrenegic và hệ Cholinergic dẫn đến tình trạng ưu thế thụ thể alpha và beta, tăng ưu thế của GMPc nội bào, biến đổi hàm lượng men phosphodiesterase nội bào, rối loạn chuyển hoá prostaglandin.

Sự gia tăng tính phản ứng đường thở giải thích cho cơ chế của hen phế quản do

gắng sức, do khói bụi, do không khí lạnh và do mùi hương.[5],[12]

1.5.4. Tái tạo lại đường thở.

8

Hen là tình trạng viêm mạn tính đường thở, hậu quả là thay đổi cấu trúc và chức

năng đường thở dẫn tới tái tạo lại đường thở.

Sự thay đổi về tế bào học và mô bệnh học cấu trúc đường thở giải thích sự giảm

chức năng hô hấp theo thời gian ở bệnh nhân hen phế quản.

Ở người hen phế quản, sự tái tạo đường thở bao gồm sự tăng sinh tế bào có chân,

xơ hoá dưới biểu mô, tăng kích thước và số lượng vi mạch dưới niêm mạc, tăng

sinh và phì đại cơ trơn đường thở, phì đại các tuyến dưới niêm mạc

1.6. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

1.6.1. Lâm sàng.

* Triệu chứng cơ năng.

- Ho khan, sau có thể ho có nhiều đờm rãi.

- Khò khè.

- Thở nhanh.

- Tức ngực.

Tất cả các triệu chứng trên thường tái đi tái lại dai dẳng và xảy ra

nặng hơn về ban đêm làm trẻ phải thức giấc. [5],[7]

* Triệu chứng thực thể.

- Gõ phổi: Có thể thấy vang hơn bình thường, vùng đục trước tim giảm .

- Nghe phổi có rales rít, rales ngáy, trẻ nhỏ có thể có cả rales ẩm (trong cơn).

- Nếu hen phế quản kéo dài trẻ có biểu hiện lồng ngực hình thùng.[5],[7]

1.6.2. Cận lâm sàng

* Xét nghiệm máu:

+ Bạch cầu ái toan tăng, thường là trên 5%, có trường hợp lên đến 30 - 40% trong thể hen nặng kéo dài, hoặc hen có mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và ký sinh trùng.[5]

+ Định lượng IgE toàn phần tăng so với lứa tuổi.

* Xét nghiệm đờm: Có nhiều bạch cầu ái toan, vòng xoắn Cushman

và tinh thể Charcort – Leyden.

* X quang: Lúc đầu chiếu hoặc chụp phổi có thể bình thường, nhưng

sau đó xuất hiện nhanh chóng hiện tượng khí phế thũng, dần dần lồng ngực như kéo

9

dài theo chiều thẳng đứng, vòm hoành hạ thấp xuống, xương đòn nâng lên, khoảng

lien sườn rộng ra, đường kính ngang của lồng ngực cũng rộng hơn bình thường.

Phổi quá sáng tương phản với hình ảnh rốn phổi mờ đậm.

Khi có biến chứng tắc nghẽn, viêm nhiễm nặng, trên X quang có thể thấy hình ảnh

rối loạn thông khí, có thể xẹp phổi hoặc có biến chứng tràn khí màng phổi.[5]

* Thăm dò chức năng thông khí phổi: Có giá trị trong việc đánh giá mức độ hen,

mức độ rối loạn thông khí trong HPQ và hiệu quả điều trị.

- Đo chức năng hô hấp bằng phế dung kế :

+ Dung tích sống giảm.

+ VMES ( Thể tích khí thở ra trung bình/giây) giảm.

+ Tỷ lệ Tiffeneau giảm.

+ Thể tích khí cặn tăng.

- Đo lưu lượng đỉnh (PEF) bằng dụng cụ lưu lượng đỉnh kế

hoặc bằng phế dung kế: PEF giảm.[14]

1.7. Chẩn đoán hen phế quản.

Chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em gặp rất nhiều khó khăn, nhất là những cơn hen

ban đầu. Thường chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em phải dựa vào các yếu tố sau:

1.7.1. Chẩn đoán hen phế quản trẻ > 5 tuổi

* Triệu chứng lâm sàng(như trên)

Tiền sử: Các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần thường xuất hiện vào ban đêm

hoặc khi thay đổi thời tiết, sau nhiễm khuẩn hô hấp, khi gắng sức, xúc động và nếu

hoặc được dùng thuốc giãn phế quản các biểu hiện trên sẽ giảm đi.[12]

Có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp (bụi, khói, phấn hoa, lông súc

vật....), dị nguyên là thức ăn (tôm, cua, cá, trứng, sữa ....), các hoá chất và thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè.

Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh, chị, em bị hen hoặc dị ứng.

* Đo chức năng hô hấp:

Lưu lượng đỉnh (PEF) tăng lên 15% sau khi cho trẻ hít thuốc giãn phế quản tác

dụng nhanh trong 15 – 20 phút hoặc PEF thay đổi trên 20% đo vào buổi sáng ngay sau khi dùng thuốc giãn phế quản so với 12 giờ sau khi dùng thuốc hoặc PEF giảm

hơn 15% sau 6 phút đi bộ hoặc gắng sức để chẩn đoán hen phế quản, ngoài ra còn

10

phải dựa vào hai tiêu chuẩn quan trọng:

- Test phục hồi phế quản: Đo chức năng thông khí rồi dùng Salbutamol

- Tiền sử bản thân: Cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày

đay.

1.7.2. Chẩn đoán hen phế quản trẻ ≤ 5 tuổi.

Dựa vào lâm sàng là chính, không dựa vào đo chức năng hô hấp.

* Triệu chứng lâm sàng.

- Ho.

- Khò khè.

- Khó thở.

- Nặng ngực (trẻ lớn).

Trong cơn khó thở có thể thấy:

- Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên

sườn giãn rộng.

- Gõ: Có thể thấy vang hơn bình thường.

- Nghe: Phổi có rales rít, rales ngáy (trong cơn hen), rì rào phế nang giảm hoặc

mất hẳn trong trường hợp nặng.

* Tiền sử:

- Các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần thường xuất hiện vào ban đêm hoặc

khi thay đổi thời tiết, sau nhiễm khuẩn hô hấp, khi gắng sức, xúc động, nếu được

dùng thuốc giãn phế quản các biểu hiện trên sẽ giảm hoặc mất đi.

- Tiền sử bản thân : Cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày

đay.

Có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp (bụi, khói, phấn hoa, lông súc

vật....), dị nguyên là thức ăn (tôm, cua, cá,trứng, sữa ....), các hoá chất và thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè.

- Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh chị em bị hen hoặc dị ứng.

* Ở trẻ em triệu chứng thường gặp là khò khè vì vậy khi chẩn đoán cần loại trừ các bệnh khác gây khò khè như:

- Viêm tiểu phế quản.

11

- Xơ nang tuỵ.

- Thiếu alpha 1 antitrypsin.

- Dị vật đường thở.

- Hạch lao chèn ép.

- Các khối u trung thất.

* Điều trị thử [12]

1.8. Điều trị.

Để điều trị hen phế quản ở trẻ em có hiệu quả cần phân loại hen theo mức độ

nặng nhẹ theo bậc để điều trị đúng.

1.8.1. Điều trị hen phế quản ở trẻ dưới ≤ 5 tuổi.

Bậc Điều trị dự phòng - Duy trì lâu dài Điều trị cắt cơn

Không cần điều trị

Bậc 1. Nhẹ từng Thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn: cường β2 dạng hít hoặc

cơn ipratropium hoặc thuốc cường β2

dạng viên, xirô tuỳ theo triệu chứng.

Không quá 3 lần/tuần

Bậc 2. Điều trị hàng ngày: Thuốc giãn phế quản đường hít tác

Nhẹ dai dụng ngắn: cường β2 dạng hít hoặc Corticoide dạng hít 200-400µg dẳng ipratropium hoặc thuốc cường β2 hoặc dạng viên, xirô tuỳ theo triệu chứng. Cromoglycate (bình xịt định liều Không quá 3-4 lần/ngày. kết

hợp buồng đệm, mặt nạ khí dung)

Bậc 3. Điều trị hàng ngày: Thuốc giãn phế quản đường hít tác

Corticoide dạng hít Vừa dai dẳng

Dạng hít định liều với buồng đệmvà mặt nạ 400-800µg/ngày dụng ngắn: Cường β2 dạng hít hoặc Ipratropium hoặc thuốc cường β2 dạng viên, xirô tuỳ theo triệu chứng. Không quá 3-4 lần/ ngày.

Hoặc Budesonide ≤1mg

2 lần/ngày

Bậc 4. Điều trị hàng ngày: Thuốc giãn phế quản đường hít tác

12

Nặng dai Corticoide dạng hít. dụng ngắn: Cường β2 dạng hít hoặc

dẳng Ipratropium hoặc thuốc cường β2 Dạng hít định liều với buồng đệm dạng viên, xirô tuỳ theo triệu chứng. và mặt nạ >1mg/ngày Không quá 3-4 lần/ngày. Hoặc khí dung Budesonide >1mg,

2 lần/ngày.

Nếu cần bổ sung thêm Corticoide

đường uống hoặc tiêm với liều

thấp trong giai đoạn cấp.

1.8.2. Điều trị hen phế quản ở trẻ trên 5 tuổi [5],[7]

Điều trị dự phòng - Duy trì lâu dài Điều trị cắt cơn

Bậc 1. Không cần điều trị Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn:

Nhẹ từng Cường β2 dạng hít khi cần nhưng < 1

cơn lần/tuần hoặc Cromoglycate.

Bậc 2. Điều trị hàng ngày: Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn:

Cường β2 dạng hít nếu cần nhưng Nhẹ dai - Corticoide dạng hít 200-500µg Không quá 3 lần/ngày. dẳng hoặc

- Cromoglycate (bình xịt định liều

kết hợp buồng đệm, mặt nạ khí

dung) hoặc nedocromil hoặc

theophylin phòng thích chậm. Có thể dùng Leucotrien

Điều trị hàng ngày:

- Corticoide dạng hít > 500µg. Bậc 3. Vừa dai dẳng Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn: Cường β2 dạng hít nếu cần nhưng không quá 3 lần/ngày.

- Thuốc giãn phế quản tác dụng kéo

dài: Cường β2 dạng hít (có thể

13

phối hợp với Corticoide dạng hít)

và/hoặc Theophylin phóng thích

chậm.

- Có thể sử dụng Leucotrien,

Corticoide dạng uống.

Bậc 4. Điều trị hàng ngày: Thuốc giãn phế quản đường hít tác

dụng ngắn: Cường β2 dạng hít . Nặng dai - Corticoide dạng hít 800 - dẳng 2000µg.

- Thuốc giãn phế quản tác dụng

kéo dài: cường β2 dạng hít tác

dụng kéo dài và/hoặc theophylin

phóng thích chậm và/hoặc cường

β2 dạng uống.

- Corticoide dạng uống hoặc tiêm.

Ghi chú: Cần theo dõi quá trình điều trị để quyết định giảm bậc hoặc nâng bậc.

Giảm bậc nếu khống chế được ổn định trong 3 tháng. Nếu điều trị như trên sau 1

tháng không khống chế được thì phải xem xét nâng bậc.

1.9. Giáo dục sức khoẻ.

Năm 1992, GINA bắt đầu đi vào hoạt động, mục tiêu chính của GINA:

− Nâng cao dân trí, tăng cường bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về phòng chống hen, coi bệnh hen là một vấn đề quan trọng toàn cầu về sức khoẻ cộng đồng.

− Đưa ra những khuyến cáo chủ yếu về chẩn đoán, phát hiện sớm bệnh hen,

quản lý và giám sát bệnh hen có hiệu quả.

− Điều chỉnh các khuyến cáo cho phù hợp với nhu cầu của người bệnh, với các dịch vụ phòng chống hen phù hợp với nguồn lực của địa phương, cộng đồng.

− Đề xuất các lĩnh vực nghiên cứu để nâng cao chất lượng kiểm soát và quản lý

hen trong tương lai tại cộng đồng trên phạm vi toàn cầu.[4]

14

− GINA khẳng định có thể kiểm soát được bệnh hen, muốn như vậy cần phải có

sự hợp tác chặt chẽ giữa người bệnh, gia đình, xã hội và các thầy thuốc.

− Để giảm tỷ lệ cơn hen nặng, duy trì cuộc sống bình thường của trẻ điều quan trọng nhất là nhân viên y tế phải giáo dục cho trẻ và bố mẹ trẻ các vấn đề sau:

+ Hiểu rõ tầm quan trọng của bệnh hen và hợp tác với nhân viên y tế để

điều trị bệnh.

+ Tham gia sinh hoạt hội, câu lạc bộ bệnh nhân hen để nắm được các thông

tin cập nhật.

− Giúp trẻ tránh được các yếu tố nguy cơ gây hen:[5]

+ Loại bỏ các nguyên nhân ở gia đình có thể gây cơn hen (súc vật, khói,

bụi, phấn hoa .....)

+ Sắp xếp phòng ngủ đơn giản sạch sẽ.

+ Biết sử dụng thuốc an toàn hợp lý, đúng liều, đúng cách.

+ Biết cách sử dụng bình xịt định liều có hoặc không có buồng đệm.

+ Biết phát hiện các dấu hiệu nặng của bệnh để có biện pháp xử trí kịp thời

− Cần phải thông báo ngay cho thầy thuốc khi có các biểu hiện sau:[3]

+ Ho, khò khè, tức ngực > 1lần/tuần.

+ Thức dậy lúc nửa đêm vì có khó thở.

+ Trong tuần có nhiều cơn hen.

+ Hàng ngày phải dùng thuốc cắt cơn hen.

− Cần phải đến khám ngay tại cơ sở y tế nếu có một trong các biểu hiện:

+ Thuốc cắt cơn không có tác dụng.

+ Thức dậy lúc nửa đêm vì khó thở.

+ Nói năng khó nhọc.

+ Tím tái: môi, móng tay, đầu ngón tay.

+ Co kéo cơ hô hấp.

+ Nhịp tim nhanh.

+ Đi lại khó khăn.

15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

Mẹ bệnh nhi bị bệnh HPQ đến khám, điều trị và tham gia chương trình quản lý

hen tại Khoa Miễn dịch - Dị ứng bệnh viện Nhi Trung ương

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

− Tất cả các mẹ bệnh nhi được chẩn đoán hen phế quản dưới 10 tuổi.

− Bệnh nhi và mẹ bệnh nhi đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

− Bệnh nhi và mẹ bệnh nhân không hợp tác.

− Bệnh nhi và mẹ bệnh nhi không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

2.1.3. Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 1 đến tháng 9 /2013

2.1.4. Địa điểm nghiên cứu:

Khoa Miễn dịch dị ứng bệnh viện Nhi Trung ương.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau.

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:

2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin gồm:

Công cụ thu thập thông tin:

Bộ câu hỏi được thiết kế bởi thầy hướng dẫn và học viên có sự tham gia góp ý

kiến của các thầy cô trong hội đồng thông qua đề cương, được tiến hành điều tra thử, sửa chữa và hoàn thiện trước khi tiến hành nghiên cứu. Bộ thu thập thông tin gồm có:

− Phiếu phỏng vấn.

− Bảng kiểm đánh giá kỹ năng thực hành.

− Thang điểm đánh giá kiến thức của mẹ bệnh nhi.

2.2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:

16

2

Tiến hành chọn cỡ mẫu theo công thức sau:

n = Z(1−α/2)

p(1− p) d 2

Trong đó:

- n là cỡ mẫu dự kiến - Giá trị ước tính p =0,5 - Sai số biến thiên ước lượng d=0,05 ; - Sau khi thay số, n= 94 người ; - Phòng tránh các trường hợp sai số khi xảy ra nghiên cứu phải loại bỏ, chúng

tôi tiến hành đánh giá thêm 6 người cho mỗi đợt can thiệp.

2.2.5. Phương pháp đánh giá:

Đánh giá kiến thức.

Cho điểm dựa vào số câu trả lời đúng, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng số

điểm là 15, sau đó chia 4 bậc:

+ Tốt: từ 13 – 15 điểm

+ Khá: từ 9 – 12 điểm

+ Trung bình: từ 6 – 8 điểm

+ Yếu: dưới 6 điểm

Đánh giá kỹ năng thực hành xịt thuốc cắt cơn và dự phòng.

+ Xịt thuốc đúng: Khi thực hiện đầy đủ chính xác cả 6 bước đối với bình xịt

không có bình đệm và có bình đệm.

+ Xịt không đúng: Khi thực hiện thiếu hoặc không chính xác bất kỳ bước nào.

2.3. Kiểm soát sai số:

Bộ câu hỏi được thiết kế cẩn thận như đã trình bày. Tiến hành thu thập thử số liệu 10 trường hợp. Tập huấn trước khi tiến hành thu thập số liệu.

2.4. Phân tích và xử lý số liệu

Số liệu được mã hóa và nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần

mềm SPSS 16.0. Các test thống kê như χ2, test-T được áp dụng và tính toán để mô

17

tả các biến số và đo lường mối liên quan giữa các biến.

2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

− Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo về mục đích nghiên cứu.

− Chỉ phỏng vấn những đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu.

− Số liệu nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, không sao

chép, không để lộ danh tính của đối tượng.

− Trong quá trình phỏng vấn các đối tượng có quyền từ chối bất cứ câu hỏi nào mà họ không muốn trả lời, người nghiên cứu cũng không gây một áp lực nào

đòi hỏi hoặc cố gắng thuyết phục đối tượng để lấy thông tin và họ có thể dừng

cuộc phỏng vấn bất cứ khi nào họ muốn. Các đối tượng cũng có thể từ chối

ghi âm và yêu cầu chỉ cho ghi chép nếu họ muốn.

2.6. Tính khả thi của đề tài

Đề tài thực hiện với sự cho phép của Ban giám đốc, Khoa miễn dịch dị ứng Bệnh

viện Nhi trung ương.

Khoa miễn dịch dị ứng Bệnh viện Nhi trung ương là chuyên khoa đầu ngành về

nhi khoa của Việt Nam, Khoa có phòng đo chức năng hô hấp, có các bác sĩ có kinh

nghiệm trong việc chẩn đoán và điều trị hen, có số lượng bệnh nhân đến khám và

điều trị đông, trung bình một ngày có 10 – 15 bệnh nhân hen đến khám và điều trị.

18

Các bà mẹ có con đến khám được chẩn đoán và điều trị hen tại khoa Miễn dịch - Dị ứng Bệnh viện Nhi trung ương.

Phỏng vấn, quan sát kỹ năng xịt thuốc

- Tư vấn về bệnh hen

- Hướng dẫn xịt thuốc

Đánh giá lại sau khi các bà mẹ bệnh nhân tới khám lại hoặc sau tham dự câu lạc bộ hen

Lưu đồ nghiên cứu

19

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung của nhóm nghiên cứu

3.1.1. Thông tin chung về bệnh nhi bị hen phế quản trong nhóm nghiên cứu

3.1.1.1. Tuổi của nhóm bệnh nhi bị hen phế quản

Bảng 1: Phân bố tuổi của nhóm trẻ bị hen phế quản

Số lượng Tỷ lệ % Tuổi

<= 5 tuổi 53,2 50

> 5 tuổi 46,8 44

Tổng 100,0 94

Nhận xét:

- Có 50 trẻ <= 5 tuổi chiếm 53,2%, 44 trẻ > 5 tuổi chiếm 46,8%

3.1.1.2. Phân bố về giới tính của nhóm trẻ bị hen phế quản

%

Biểu đồ 1: Phân bố giới tính của nhóm trẻ bị hen phế quản

Nhận xét:

- Số lượng trẻ em nam chiếm 61,7% gần gấp đôi số lượng trẻ em nữ (38,3%)

20

Bảng 2: Trình độ, nghề nghiệp mẹ bệnh nhi

Thông tin

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Cấp 1

10

10,6

Cấp 2

12

12,8

Trình độ văn hóa

Cấp 3

45

47,9

Trung cấp trở lên

27

28,7

Làm ruộng

4

4,3

Công nhân

16

17,0

Nghề nghiệp

CBNV

41

43,6

Khác (Lao động tự do)

33

35,1

Nhận xét:

- Bảng trên cho thấy đa số mẹ bệnh nhi có trình độ là cấp 3 trở lên;

- Có 43,6% mẹ bệnh nhi là cán bộ nhân viên và chỉ có 4,3% làm ruộng

Bảng 3: Nguồn cung cấp thông tin về bệnh hen phế quản mà mẹ bệnh nhi đã tiếp

cận được

Thông tin n = 94 %

Thông tin đại chúng (báo đài, tivi…) 30,9 29

86,2 Nhân viên y tế 81

5,3 Bạn bè, người thân 5

1,1 Tài liệu phát tay, tờ rơi 1

2,1 Khác 2

Nhận xét:

- Hầu hết các mẹ bệnh nhi biết các thông tin về bệnh hen phế quản là từ nhân

viên y tế (86,2%);

- Nguồn thông tin đại chúng như báo đài, tivi cũng là nguồn thông tin chủ yếu

để các mẹ bệnh nhân biết về bệnh hen (30,9%).

21

3.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tham

gia quản lý hen

3.2.1. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản

Bảng 4: Kiến thức về bệnh hen và các yếu tố nguy cơ gây bệnh

p Trước tư vấn (n=94) Sau tư vấn (n=94) Kiến thức về bệnh Hen

n % n %

< 0,05 Hen là bệnh

45 60 50 31 47,9 64 53,2 33 75 89 76 33 79,8 94,7 80,9 35,1

44 46,8 29 30,9

> 0,05 38 40,4 39 41,5

Yếu tố nguy cơ gây bệnh hen

33 35,1 62 66

Mãn tính Không lây Kiểm soát được Yếu tố gia đình Nhiễm trùng đường hô hấp tái diễn nhiều lần Môi trường sống Sự kết hợp giữa yếu tố gia đình và môi trường sống

Nhận xét:

- Có sự cải thiện rõ rệt kiến thức về bệnh hen phế quản của mẹ bệnh nhi trước

và sau tư vấn.

22

%

Biểu đồ 2: Nguyên nhân gây khởi phát cơn hen trước và sau tư vấn

Nhận xét:

- Trước khi tư vấn, đa số các kiến thức về nguyên nhân gây khởi phát cơn hen

chỉ ở mức 60% ± 15%;

- Các kiến thức về nguyên nhân gây khởi phát cơn hen tăng cao lên trong

khoảng 10 – 30% sau khi đã được tư vấn.

Bảng 5: Kiến thức về nhận biết được các dấu hiệu báo trước cơn hen cấp

Trước tư vấn Sau tư vấn P Các dấu hiệu báo trước cơn hen

Sốt (%) 12,8 n 6 (%) 6,4 n 12 >0,05 Ho có đờm 55,3 25 26,6 52

Hắt hơi, ngứa mũi, chảy nước mũi 60,6 85 90,4 57

Ngứa mắt, chảy nước mắt 10,6 46 48,9 10 <0,05 Mệt, giảm hoạt động hàng ngày, 25,5 54 57,4 24 ăn kèm

Nhận xét:

- Sau khi tham gia tư vấn, nhận thức về các dấu hiệu đặc trứng của bệnh như

hắt hơi, chảy mũi ngứa mắt và mệt mỏi là dấu hiệu báo trước cơn hen đều

23

tăng lên đáng kể khoảng 20 – 30% so với trước khi tư vấn.

%

Biểu đồ 3: Kiến thức của mẹ bệnh nhi về các biểu hiện hay gặp của trẻ bị hen

phế quản trước và sau tư vấn

Nhận xét:

- Có sự thay đổi lớn giữa trước và sau khi tư vấn về nhận thức các biểu hiện

hay gặp của trẻ bị hen phế quản với tỷ lệ chênh lệch cao nhất là 50%;

- Nhìn vào biểu đồ nhận thấy hầu hết các biểu hiện được nhận thức với số

lượng xấp xỉ nhau và tăng đều sau khi được tư vấn lên tới trên 90%.

Bảng 6: Kiến thức về thuốc để cắt cơn hen trước và sau tư vấn

Trước tư vấn Sau tư vấn Kiến thức đúng P n % n %

Thuốc cắt cơn hen là

18 57 12 82 19.1 60,6 12.8 87,2 10 84 6 90 10.6 89.4 6.4 95,7 > 0,05 = 0,012 > 0,05 = 0,067

16 17,0 47 50,0 = 0,026

Khi nào sử dụng thuốc cắt cơn hen Thuốc kháng sinh Thuốc giãn phế quản Thuốc corticoid Khi ho, khò khè, khó thở Trước khi hoạt động thể lực mạnh Khi chuyển mùa 12 12,8 6 6,4 > 0,05

24

Nhận xét:

- Số lượng nhận thức được loại thuốc giãn phế quản là thuốc cắt cơn hen tăng

lên 28,8% sau khi được tư vấn (60,6 – 89,4%);

Bảng 7: Kiến thức về thuốc dự phòng hen trước và sau tư vấn

Trước tư vấn Kiến thức về thuốc hen P

< 0,05

Thuốc dự phòng hen là > 0,05 Sau tư vấn % n 94,7 89 71,3 67 4,3 4 1,1 1 % 70,2 41,5 20,2 2,1 n 66 39 19 2

9 9,6 > 0,05 28,7 27 Flixotide, Seretide Singulair, Mongtiget Ventolin Bricanyl Khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh hen

< 0,05 Khi nào sử dụng thuốc dự phòng hen Dùng hàng ngày Khi chuyển mùa 85 6 90,4 6,4 64,9 9,6 61 9

Nhận xét:

- Đối với kiến thức về nhận biết thuốc và sử dụng thuốc dự phòng tăng lên

đáng kể sau khi được tư vấn

Bảng 8: Kiến thức về cách sử dụng thuốc xịt dự phòng hen trước và sau tư vấn

Trước tư vấn Sau tư vấn Kiến thức thực hành P

% n % n

70 74,5 85 90,4 < 0,05 Luôn súc miệng hoặc uống nước ngay sau xịt thuốc

Đôi khi không súc miệng 11 11,7 4 4,3 > 0,05

Không súc miệng bao giờ 6 6,4 2 2,1 > 0,05

Có cho trẻ vệ sinh miệng sau khi dùng thuốc dự phòng không 4 4,3 2 2,1 > 0,05 Ăn gì đó ( kẹo cao su, hoa quả, uống sữa....)

Không thấy khói khi xịt 73 77,7 51 54,3 > 0,05

13 13,8 49 52,1 < 0,05 Thả bình thuốc vào cốc nước kiểm tra Cách nhận biết khi bình thuốc hết Đánh dấu dùng hàng ngày 11 11,7 10 10,6 > 0,05

25

Nhận xét:

- Nhận thức về cách sử dụng thuốc xịt dự phòng đúng tăng lên đáng kể (74,5%

- 90,4%);

- Nhận thức đúng về cách nhận biết bình bình xịt hết thuốc tăng cao so với

trước khi tư vấn (13,8 – 52,1%).

Bảng 9: Kiến thức về các biện pháp kiểm soát hen cho trẻ

Trước tư vấn Sau tư vấn Kiến thức của các bà mẹ về hen P % n % n

72,3 86 91,5 68

50,0 81 86,2 47

< 0,05 Các biện pháp để kiểm soát bệnh hen cho trẻ 46,8 77 81,9 44

16,0 10 10,6 15

Cho trẻ khám định kỳ theo đúng hẹn của bác sĩ Tránh các yếu tố khởi phát cơn hen Dùng thuốc dự phòng hàng ngày Dùng thuốc cắt cơn hàng ngày Đúng kỳ theo hẹn 61,7 84 89,4 58

Khi có thời gian rảnh 7,4 5 7 5,3 < 0,05 Cho trẻ đi khám lại khi nào?

51 54,3 67 71,3 Kho con ho, khò khè, khó thở

Nhận xét:

− Sau khi được tư vấn, số lượng mẹ bệnh nhi nhận thức về cách kiểm soát cơn hen

tăng lên đáng kể khoảng 20 – 30% so với trước khi được tư vấn;

− Đa số mẹ bệnh nhân cho rằng nên đi khám tại bệnh viện theo đúng kỳ hẹn với

61,7% trước khi tư vấn, tăng lên 89,4% sau khi được tư vấn.

3.2.2. Tổng hợp kiến thức của các mẹ bệnh nhi về bệnh hen trước và sau khi

được tư vấn.

26

50

%

44.5

45

40

40

35

29

30

25.5

25.5

25

Trước TV

19

20

Sau TV

15

12

10

4.5

5

0

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

Biểu đồ 4: Phân bố điểm kiến thức của các mẹ bệnh nhi về bệnh hen trước và

sau tư vấn

Nhận xét:

− Điểm kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản sau tư vấn đã tăng lên so

với trước tư vấn.

27

3.3. Tìm hiểu mối liên quan giữa trình độ học vấn của các mẹ bệnh nhi

với kiến thức về bệnh hen

%

Biểu đồ 5: Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi với

kiến thức về dự phòng bệnh Hen sau khi tư vấn

Nhận xét:

− Trình độ học vấn là trung cấp trở lên có kiến thức đúng về dự phòng

bệnh Hen chiếm tỷ lệ cao nhất với 27,1% và giảm dần theo cấp bậc học;

− Kiến thức chưa đúng của mẹ bệnh nhi còn tương đối cao và cao nhất là

cấp 1 với 15,4%.

3.4. Đánh giá kỹ năng thực hành của mẹ bệnh nhi trong sử dụng các

thuốc điều trị hen trước và sau khi tham gia chương trình quản lý hen

3.4.1. Kỹ năng thực hành xịt thuốc của cácmẹ bệnh nhi trước và sau tư vấn

28

Bảng 10: Kỹ năng thực hành với bình xịt định liều của các mẹ bệnh nhi

cho trẻ trên 6 tuổi

Trước tư vấn (n=41) Sau tư vấn (n=41) STT P Các bước thực hiện bình xịt định liều n % n %

1. 28 68 36 88 Giữ bình xịt thẳng đứng (đáy quay lên trên)

2. Lắc mạnh bình 5- 10 lần 30 73 40 98

3. 31 72 95 39

< 0,05 4. 27 66 36 88

5. 29 71 36 88

6. 30 73 36 95 Đặt bình xịt vào miệng, giữa 2 hàm răng, trẻ ngậm kín môi lại. Ấn bình xịt xuống đồng thời trẻ hít vào từ từ Trẻ nín thở trong khoảng 15 giây Nếu phải xịt nhát tiếp theo, tiếp tục làm lại từ bước 1 đến 5

Nhận xét:

− Sau được hướng dẫn các kỹ năng thực hành với bình xịt định liều được các mẹ bệnh nhi đều tăng lên;

Bảng 11: Kỹ năng thực hành sử dụng thuốc điều trị hen với bình xịt qua bình

đệm babyhaler cho trẻ ≤ 5 tuổi

Trước tư vấn (n=53) Sau tư vấn (n=53) P STT

Các bước sử dụng thuốc xịt qua bình đệm babyhaler n % n %

1. Tháo nắp hộp thuốc, lắc hộp 40 75 48 90,9 thuốc 4-5 lần

41 77,4 49 92,5

2. Lắp hộp thuốc vào bình đệm 3. Đặt mask vừa kín miệng và 37 69,8 49 92,5 mũi trẻ < 0,05 41 77,4 50 94

35 67 46 87

36 68 47 88 4. Ấn lọ thuốc xịt một nhát 5. Giữ cho trẻ thở như vậy trong khoảng 20 giây 6. Nếu phải xịt nhát tiếp theo, tiếp tục làm lại từ bước 1 – 5

29

Nhận xét:

− Kỹ năng xịt thuốc của mẹ bệnh nhi cải thiện rõ rệt trước và sau tư vấn

100

3.4.2. Kỹ năng thực hành sử dụng thuốc cắt cơn và thuốc dự phòng của mẹ bệnh nhi hen phế quản trước và sau tư vấn. %

88.5

90

80

65.5

70

60

Trước

50

34.5

Sau

40

30

20

11.5

10

0

Đúng

Chưa đúng

Biểu đồ 6: Thực hành xịt thuốc cắt cơn hoặc thuốc dự phòng của mẹ bệnh nhi

hen phế quản trước và sau tư vấn.

Nhận xét:

− Tỷ lệ xịt thuốc đúng của mẹ bệnh nhi đã tăng rõ rệt sau tư vấn.

30

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thông tin chung của nhóm nghiên cứu

4.1.1. Thông tin chung của bệnh nhi hen phế quản trong nhóm nghiên cứu

Phân bố bệnh nhi theo tuổi:

HPQ là bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, theo WHO (1995) tỉ lệ mắc hen ở người lớn là

5%, trẻ em là 10%. NC của chúng tôi cho thấy trẻ bị hen < 5 tuổi chiếm 53,7 % và trẻ > 5 tuổi chiếm 43,6 %(bảng1). Một NC khác của tác giả Lê Thị Minh Hương

(2008) cho thấy bệnh nhi HPQ < 5 tuổi chiếm đa số, đặc biệt là lứa tuối 1- 3 tuổi

[9]. NC của Nguyễn Thi Thúy (2009) tiến hành tại bệnh viên XanhPon cho thấy tỉ

lệ HPQ ở trẻ < 5 tuổi chiếm 58,7% và > 5 tuổi chiếm 43,6 %[15]

Như vậy kết quả NC của chúng tôi tương tự như kết quả NC của Lê Thị Minh

Hương và Nguyễn Thị Thúy. Điều này cho thấy sự tiến bộ của khoa học đã góp

phần giúp cho trẻ được phát hiện và chẩn đoán hen sớm.

Phân bố về giới tính của nhóm trẻ bị hen:

Giới tính được cho là 1 nguy cơ của bệnh HPQ nhiều NC cho thấy HPQ gặp

nhiều ở trẻ nam hơn trẻ nữ. Kết quả NC của chúng tôi cho thấy tỉ lệ trẻ nam : nữ là

1,6:1(biểu đồ 2) Kết quả này đồng thuận với NC của tác giả Lê Thị Minh Hương

( 2008) NC trên 382 trẻ bị HPQ thì tỉ lệ nam : nữ là 1,8 : 1 [9]. Điều này cho thấy rõ

HPQ gặp ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ

4.1.2. Thông tin về mẹ bệnh nhi

Trình độ học vấn:

Trong số 94 mẹ bệnh nhi tham gia NC thì có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên là

66,6 %. Một số NC can thiệp về tư vấn giáo dục cho thấy những đối tượng có trình

độ hóc vấn càng cao thì hiệu quả đạt sau tư vấn cao hơn so với nhóm có trình độ học vấn thấp. Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực tới quá trình tư vấn cho mẹ bệnh nhân

Phân bố nghề nghiệp:

Chỉ có 4,3% mẹ bệnh nhi làm ruộng có thể vì NC của chúng tôi tiến hành ở

thành phố

Nguồn cung cấp thông tin:

Khi trẻ bị bệnh thì mẹ trẻ thường cố gắng tìm hiểu các thông tin về bệnh qua NVYT, các phương tiện thông tin, bạn bè và người thân. Trong NC của chúng tôi

31

nguồn cung cấp thông tin về bệnh HPQ cao nhất là từ NVYT chiếm 85,6% và các

phương tiện đại chúng là 30,9%. Điều này cho thấy việc truyền thông giáo dục về

bệnh HPQ qua các phương tiện thông tin đại chúng đã được nhân dân chú ý

4.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư

vấn

4.2.1. Kiến thức chung về bệnh

Quan niệm đúng về bệnh HPQ giúp cho mẹ bệnh nhi hiểu rõ phải mất một thời

gian dài điều trị bệnh cho con. Hầu hết mẹ bệnh nhi sau khi được tư vấn đã hiểu

rằng bệnh HPQ là bệnh mạn tính và có thể kiểm soát được tỉ lệ này là 79,8 %và

80,9 % so với trước khi được tư vấn tỉ lệ này chỉ là 49,9 và 53,2, sự khác biêt này

có ý nghĩa thống kê với p < 0.05 .

Để kiểm soát hen được tốt thì mẹ bệnh nhi cần phải giúp trẻ tránh các yếu tố

gây khởi phát cơn hen. Khi phỏng vấn chúng tôi nhận thấy hầu hết mẹ bệnh nhi đều

biết 1 đến vài yếu tố nguy cơ nhưng chỉ có một số ít(34%) biết rằng những strees

tâm lý cũng là một nguyên nhân gây khởi phát cơ hen nhưng sau khi được tư vấn thì

tỉ lệ này đã tăng lên là 80,9%

4.2.2. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản trước và sau tư vấn

Trong nội dung thứ nhất của chiến lược quốc tế kiểm soát hen thì việc giáo dục

cho bệnh nhân có kiến thức về những biểu hiện của hen đặt lên hàng đầu. Tại biểu

đồ 3 cho thấy tỉ lệ mẹ bệnh nhi biết về 4 biểu hiện của hen là ho, khò khè, khó thở

và nặng ngực trước và sau tư vấn có tỉ lệ chênh lệch cao.

Trong NC của Nguyễn Thị Thúy (2009) tỉ lệ biết các triệu chứng của hen trước

tư vấn là 59,8%, sau tư vấn là 85,9 %.[15] Điều này cho thấy vai trò của tư vấn giúp

tăng kiến thức của mẹ bệnh nhi trong viêc nhận thức các dấu hiệu của hen trong 2

NC là gần tương đương nhau.

Theo hướng dẫn của GINA thuốc cần cần được dùng để cắt cơn hen là thuốc giãn phế quản. Trong NC này của chúng tôi thì phần lớn mẹ đã nhận thức được thuốc nào là thuốc cắt cơn và được dùng khi nào. Khi theo dõi và điều trị hen việc nhận biết và sử dụng thuốc đúng là một khâu quan trọng. Mẹ bệnh nhi cần phải dùng thuốc đúng và dùng khi nào. Trong NC của chúng tôi (bảng 6) trước tư vấn có

41,5% biết thuốc dự phòng hen và tỉ lệ này tăng 71,3% sau tư vấn. Trong 3 biện pháp phòng hen cho trẻ là: tránh các yếu tố nguy cơ, dùng thuốc dự phòng hàng ngày và khám bệnh định kỳ theo hẹn phần lớn bệnh nhân đều hiểu cần phải khám

32

bệnh theo hẹn nhưng tỉ lệ dùng thuốc dự phòng hàng ngày và tránh các yếu tố nguy

cơ chưa cao. Điều này cho thấy mẹ bệnh nhân nhận thức chưa đúng về vấn đề này,

để việc điều trị hen có hiệu quả thì cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa NVYT và gia

đình người bệnh.

4.3. Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi với kiến thức

về bệnh hen phế quản

Khi xem xét liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ bệnh nhi trước và sau tư

vấn chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt giữa nhóm có trình độ học vấn thấp với

nhóm có trình độ học vấn cao. Nhóm có trình độ học vấn cao có kiến thức đúng về

bệnh tăng cao hơn nhóm có trình độ học vấn thấp. Do đó nhóm có học vấn thấp đòi

hỏi phải có sự quan tâm , hướng dẫn kỹ hơn của NVYT.

4.4. Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều babyhaler

Qua quan sát mẹ bệnh nhi sử dụng bình xịt chúng tôi nhận thấy lỗi thường gặp

là không chờ đủ 20 giây và không lặp lại các bước cho nhát xịt sau , trước tư vấn có

33% không thực hiện đúng bước này và sau tư vấn còn 12 %.

4.5. Kỹ năng xịt thuốc bằng bình xịt định liều

Qua quan sát mẹ bệnh nhi thực hành xịt thuốc cho bệnh nhân chúng tối nhận

thấy lỗi thường gặp là quên không lắc bình xịt trước khi sử dụng chiếm 32%. Một

lỗi cùng thường gặp nữa là trong khi ấn bình xịt đồng thời trẻ hít vào từ từ, trong

NC này của chúng tôi thì tỉ lệ không thực hiện động tác này là 34% trước tư vấn và

còn lại là 12% sau tư vấn. Để nâng cao tỉ lệ sử dụng bình xịt đúng cách cần có sự

kiểm tra, hướng dẫn của NVYT sau mỗi lần khám lại

4.6. Thực hành xịt thuốc của mẹ bệnh nhi hen phế quản trước và sau tư

vấn

Xịt thuốc đúng cách là 1 khâu quan trọng trong điều trị và dự phòng hen . Trong NC của chúng tôi thì khi được hướng dẫn thì việc xịt thuốc đã cải thiện rõ rệt, tỷ lệ xịt thuốc đúng cách trước tư vấn là 66,4% sau tư vấn tăng lên 90%, tỉ lệ xịt thuốc chưa đúng giảm từ 33% xuống còn 12%. NC của chúng tôi tương tự như NC của Nguyễn Thị Thúy (2009) tỉ lệ xịt thuốc đúng là 62,5 %.[15] Như vậy việc tư vấn hướng dẫn có tác động lớn tới mẹ bệnh nhi sử dụng bình xịt đúng cách.

33

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu can thiệp 94 mẹ bệnh nhi đến khám, điều trị và được quản lý

hen tại khoa Miễn Dịch - Dị ứng – Khớp bệnh viện Nhi TW từ tháng 1 đến tháng 9

năm 2013 chúng tôi rút ra kết luận sau :

1. Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản:

Tỷ lệ mẹ bệnh nhi HPQ biết bệnh HPQ là bệnh mạn tính đường thở trước tư

vấn là 49,9%, sau tư vấn là 79,8%. Trước tư vấn chỉ có 53,2% mẹ bệnh nhi nhận

thức bệnh HPQ có thể kiểm soát được và tăng lên 80,9 % sau tư vấn. Tỷ lệ mẹ bệnh

nhi biết bệnh hen không lây trước tư vấn là 64%, tỷ lệ này tăng lên sau tư vấn là

94,7%.

Trước khi tư vấn đa số kiến thức về nguyên nhân gây khởi phát cơn hen ở mức

40-60%, sau tư vấn những kiến thức này tăng lên 30%. Sau khi tham gia chương

trình quản lý hen mẹ bệnh nhi nhận thức về các biểu hiện hay gặp ở bệnh nhi tăng

lên đáng kể tới 90%

Kiến thức của mẹ bệnh nhi về bệnh HPQ, cách điều trị và phòng bệnh:

• Trước tư vấn: Tốt: 4,5%, Khá: 25,5%, TB: 25,5%, Yếu: 44,5% • Sau tư vấn : Tốt : 40,0%, Khá: 29,0%, TB: 19,0%, Yếu: 12,0%

2. Thực hành trong điều trị và dự phòng hen:

Trước tư vấn mẹ bệnh nhi xịt thuốc đúng là 65,5%, chưa đúng là 34,5%. Sau tư

vấn tỉ lệ xịt thuốc đúng tăng lên 88,5%.

34

KIẾN NGHỊ

HPQ là một bệnh mãn tính, độ lưu hành ngày càng tăng đặc biệt là ở trẻ em

nhưng kiến thức về bệnh, cách điều trị và dự phòng hen cũng như kỹ năng sử dụng

thuốc của bố, mẹ bệnh nhi còn thấp điều này ảnh hưởng không tốt tới việc điều trị

bệnh cho trẻ, tuy nhiên sau khi được hướng dẫn và tư vấn thì kiến thức và kỹ năng

sử dụng thuốc đã tăng lên rõ rệt. Vì vậy chúng tôi kiến nghị:

+ Đẩy mạnh công tác tư vấn, giáo dục về bệnh cách điều trị và sự cần thiết phải

dự phòng Hen cho bố, mẹ bệnh nhi HPQ

+ Hướng dẫn bố, mẹ bệnh nhi sử dụng đúng thuốc, đúng cách trong điều trị HPQ

35

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Năng An (1997), “ Hen phế quản”, chuyên đề dị ứng học, Hà Nội, tr. 50

– 67.

2. Nguyễn Năng An (2001), ““Đại hội hen toàn cầu: những vấn đề thời sự”, tr. 15 –

30.

3. Nguyễn Năng An (2008), “Chẩn đoán và điều trị hen ở trẻ em theo GINA 2006”,

Hội thảo chuyên đề hướng tới quản lý hen tối ưu trong cộng đồng.

4. Nguyễn Năng An, Trần Mạnh Hùng, (2007), “Giáo dục bệnh nhân hen phế

quản là một trong những khâu quan trọng nhất để kiểm soát hen triệt để tại cộng

đồng”, Khoá luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa

chuyên ngành: Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng.

5. Bài giảng nhi khoa tập 1, “Hen phế quản ở trẻ em” (2009), Nhà

xuất bản Y học, tr. 403 - 415.

6. Bộ Y tế, Bệnh viện Bạch Mai, Dự án phòng chống hen phế

quản (2007), “Hen phế quản và dự phòng hen phế quản”, Nhà xuất bản Y học.

7. Nguyễn Tiến Dũng (2008) “Chẩn đoán và xử lý hen ở trẻ em”, Dịch tễ học,

chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh hen, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 225 – 243.

8. Phan Quang Đoàn (2008), “Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây hen phế

quản”, Dịch tễ học, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh hen, Nhà xuất bản Y học, Hà

Nội, tr. 68 – 77.

9. Lê Thị Minh Hương (2008), “Đánh giá bước đầu về tình hình quản lý hen

trẻ em tại Viện Nhi trung ương”, Hội thảo chuyên đề hướng tới quản lý hen tối ưu

trong cộng đồng.

10. Trần Quỵ (1999), “Dịch tễ học hen phế quản”, Tài liệu Hội hen Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bộ Y tế, tập 1, tr. 5 -7.

11. Trần Quỵ (2008), “Những hiểu biết cơ bản về hen trẻ em”, Y học lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, số 26 tháng 3/2008, tr. 6 – 17.

12. Quyết định số 4776/QĐ–BYT ngày 04 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế, “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị hen phế quản ở trẻ em”.

13. Sở Y tế Hà Nội, chương trình hen phế quản 2002, “Sổ tay hướng dẫn quản lý và

kiểm soát hen phế quản”, Nhà xuất bản Giao thông vận tải.

14. Nguyễn Thị Rồi (2007), “Gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh suyễn ở trẻ em

nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 2”, Hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Nhi

Đồng 2, tr. 12 -17.

15. Nguyễn Thị Thuý (2009), “Đánh giá kiến thức, thực hành của bố, mẹ bệnh nhi hen phế quản trong điều trị dự phòng hen phế quản ở trẻ em”.

Tài liệu tiếng Anh: 16. Raoul L.Wolf (2004), “Asthma”, Essential pediatrict Allergy, Asthma and

Immunology, chapter 59,pp. 59 -81.

17. www.gina.org (2006) “GINA Burden Report”.

18. www.gina.org (2009) “Global Strategy for the Diagnosis and Management of

Asthma in Children 5 Years and Younger”.

PHỤ LỤC

BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG Số phiếu:

Khoa Miễn Dịch – Dị ứng – Khớp

PHIẾU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC – CÁCH SỬ DỤNG THUỐC

ĐIỀU TRỊ BỆNH HEN PHẾ QUẢN Ở TRẺ EM

Họ tên con:…………………………................................... Tuổi: ......... Giới:

Nam/Nữ

Người trả lời phiếu: □ Bố □ Mẹ □Khác (nêu rõ)……………………..

Tuổi (bố, mẹ):

Địa chỉ:…………………………………………………Số điện

thoại:…………………….

Nghề nghiệp: 1. Làm ruộng 2. Công nhân 3. CBNV 4. Khác

Trình độ văn hóa: 1. Cấp 1 2. Cấp 2 3. Cấp 3 4. Trung cấp, cao đẳng, đại học

và sau đại học.

Anh chị biết về bệnh hen phế quản từ đâu:

1. Thông tin đại chúng ( báo đài, internet, tivi, sách báo) 2. Nhân viên y tế 3.

Từ bạn bè, người thân 4. Tài liệu phát tay, tờ rơi 5. Khác

Anh chị và con đã tham gia câu lạc bộ hen tại bệnh viện Nhi TƯ:

3. Chưa bao giờ 2. 1 lần 3. 2 lần 4. 3 lần

5. 4 lần trở lên

Kiến thức: Anh (chị) hãy khoanh tròn những câu trả lời mà anh (chị) thấy đúng (có thể chọn một hoặc nhiều đáp án đúng) hoặc ghi những ý kiến khác vào những nơi có dấu(…..)

1. Theo anh (chị), hen là bệnh:

a) Mãn tính

b) Cấp tính

a) Theo anh (chị), bệnh hen là bệnh có thể:

1. Kiểm soát được

2. Không kiểm soát được

3. Theo anh (chị), bệnh hen là bệnh:

a) Lây

b) Không lây

a) Khác......

4. Theo anh (chị) các yếu tố nguy cơ gây bệnh hen là:

15. Yếu tố gia đình

16. Nhiễm trùng đường hô hấp tái diễn nhiều lần ( viêm phế quản, viêm mũi

họng…)

17. Môi trường sống ( ô nhiễm, thuốc lá, khói bụi ….)

18. Sự phối hợp giữa yếu tố gia đình và các yếu tố khác.

19. Khác ...............

5. Theo anh chị những yếu tố nào sau đây gây khởi phát cơn hen:

9. Tiếp xúc với các yếu tố gây dị ứng

10. Cảm cúm, nhiễm khuẩn đường hô hấp

11. Thay đổi thời tiết

12. Chạy nhảy, hoạt động gắng sức

13. Stress tâm lí ( vui quá, buồn quá

14. Khác ............

6. Theo anh (chị), các dấu hiệu báo trước cơn hen là:

a) Sốt

b) Ho có đờm

c) Hắt hơi, ngứa mũi, chảy nước mũi

d) Ngứa mắt chảy nước mắt

e) Mệt, giảm hoạt động hàng ngày, ăn kém

f) Khác ...........

7. Theo anh (chị), biểu hiện hay gặp của trẻ bị hen phế quản là:

a) Ho

b) Khò khè

c) Khó thở

d) Nặng ngực

e) Sốt

a) Theo anh (chị) thuốc để cắt cơn hen là:

a) Thuốc kháng sinh

b) Thuốc giãn phế quản ( Ventoline, Brycanyl...)

c) Thuốc corticoit

d) Khác

a) Theo anh (chị) thuốc cắt cơn hen được dùng khi nào:

a) Khi ho, khò khè, khó thở

b) Trước khi hoạt động thể lực mạnh

c) Chuyển mùa

d) Khác ........

10. Theo anh (chị), thuốc nào dưới đây là thuốc dự phòng:

12. Flixotide (màu da cam), Seretide (màu tím)

13. Singulair, Mongtiget

14. Ventolin (màu xanh)

15. Bricanyl

16. Khác ..........

11. Theo anh (chị), thuốc dự phòng hen được dùng khi nào:

a) Khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh hen.

b) Dùng hàng ngày

c) Chuyển mùa

d) Khác ...........

a) Sau khi xịt thuốc dự phòng cho con, anh (chị) nên làm gì:

a) Luôn súc miệng hoặc uống nước ngay

b) Đôi khi không súc miệng

c) Không súc miệng (hoặc uống nước) bao giờ

d) Ăn gì đó ( kẹo cao su, hoa quả, uống sữa....)

e) Khác .....

13. Theo anh (chị), cách nhận biết bình xịt đã hết thuốc:

a) Khi không thấy khói khi xịt

b) Thả bình thuốc vào cốc nước kiểm tra

c) Đánh dấu dùng hàng ngày

d) Khác .........

14. Theo anh (chị), để kiểm soát cơn hen cần làm gì:

9. Khám định kì theo hẹn

10. Tránh các yếu tố gây khởi phát cơn hen

11. Dùng thuốc dự phòng ( Flixotide, Seretide, Singulair, Mongtiget.....)

12. Dùng thuốc cắt cơn hàng ngày (Ventoline, Brycanyl ....)

13. Khác……………………….

a) Anh (chị) cho con đi khám hen phế quản tại bệnh viện khi nào:

8. Định kỳ theo hẹn (kể cả khi không có triệu chứng gì)

9. Đến khám khi có thời gian rảnh

10. Khi con ho, khò khè, khó thở

11. Khác.................

Thực hành: quan sát bệnh nhi hoặc cha mẹ bệnh nhi sử dụng thuốc điều trị và dự

phòng hen (thực hiện theo thứ tự các bước).

Đối với bình xịt định liều Có Không

7. Giữ bình xịt thẳng đứng (đáy quay lên trên)

8. Lắc mạnh bình 5- 10 lần

9. Đặt bình xịt vào miệng, giữa 2 hàm răng, trẻ ngậm

kín môi lại.

10. Ấn bình xịt xuống đồng thời trẻ hít vào từ từ

11. Trẻ nín thở trong khoảng 15 giây

12. Nếu phải xịt nhát tiếp theo, tiếp tục làm lại từ bước 1

đến bước 5

Đối với trẻ xịt thuốc qua bình đệm babyhaler Có Không

1. Tháo nắp hộp thuốc, lắc hộp thuốc 4-5 lần

2. Lắp hộp thuốc vào bình đệm

3. Đặt mask vừa kín miệng và mũi trẻ

4. Ấn lọ thuốc xịt một nhát

5. Giữ cho trẻ thở như vậy trong khoảng 20 giây

6. Nếu phải xịt nhát tiếp theo, tiếp tục làm lại từ bước 1

đến bước 5