BÀI 12
KẾ HOẠCH NAVA VÀ SỰ THẤT BẠI HOÀN TOÀN CỦA THỰC DÂN
PHÁP (1953 - 1954)
1. Kế hoạch Nava và âm mưu mới của Pháp – Mĩ
1.1. Bối cảnh
Sau 8 m xâm ợc Việt Nam, thực n Pháp bị suy yếu rõ rệt: Thiệt hại
gần 390.000 quân, tiêu tốn 2000 tỉ Phờ - răng, liên tục bị ta đẩy vào thế bị động
chiến lược.
Trước sự sa lầy của Pháp, can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh
Đông Dương, thúc ép Pháp phải kéo dài và mở rộng chiến tranh.
Để tìm lối thoát, thực dân Pháp đã tranh thviện trợ của để đẩy mạnh
chiến tranh cố tìm một thắng lợi quân sự để "rút lui trong danh dự”.
Ngày 07/5/1953, với sự thỏa thuận của Mĩ, Chính phủ Pháp cử Tướng Nava
sang m Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp Đông Dương thông qua Kế
hoạch Nava với hy vọng sẽ “chuyển bại thành thắng” trong vòng 18 tháng.
1.2. Nội dung của kế hoạch Nava
Bước 1: trong thu đông 1953 xuân 1954, giữ thế phòng ngchiến lược
trên chiến trường miền Bắc, tránh giao chiến với quân chủ lực của ta. Thực hiện
tiến công chiến lược, bình định miền Trung và miền Nam Đông Dương, phát triển
ngụy quân, xây dựng lực lượng cơ động mạnh.
Bước 2: tthu đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường miền Bắc để
đẩy mạnh tiến ng chiến lược và cgiành thắng lợi quyết định, buộc ta phải đàm
phán theo điều kiện có lợi cho chúng.
Để triển khai kế hoạch, Nava đã huy động một lực lượng động n đến 84
tiểu đoàn trên toàn chiến trường Đông Dương, trong đó đồng bằng Bắc bộ 44
tiểu đoàn. tiến hành những cuộc càn quét, bình định và mnhững cuộc tiến công
lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa…
2. Từng bước đánh bại kế hoạch Nava
2.1. Ch trương chiến lược của ta
Phương hướng chiến lược:
Giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính.
Tập trung lực lượng, mở những cuộc tấn công vào các hướng địch tương đối
yếu nhằm tiêu diệt một phần sinh lực, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó
với ta.
Phương châm chiến lược: “Tích cực, chủ động, động, linh hoạt, đánh ăn
chắc và tiến ăn chắc”.
Với phương hướng phương châm chiến lược đó, ta đã từng bước đánh bại
kế hoạch Nava.
2.2. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 1954 ca ta đã bước
đầu làm phá sản kế hoạch Nava
Giữa tháng 11/1953, ta tiến quân theo hướng Tây Bắc và Trung Lào. Thực
dân Pháp phát hiện; Ngày 20/11/1953, Nava đã cho 6 tiểu đoàn động nhảy dù
xuống Điện Biên Phủ nhằm bảo vệ Tây Bắc Thượng Lào.
Ngày 10/12/1953, quân ta tn công và giải phóng thị xã Lai Châu, bao vây
Điện Biên Phủ. Nava buộc phải điều thêm 6 tiểu đoàn đồng bằng Bắc bộ lên
tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến đây thành i tập trung quân th hai của
Pháp.
Đầu tháng 12/1953, quân ta phối hợp với bộ đội Pha-thét Lào mchiến dịch
Trung Lào, uy hiếp mạnh Sênô, buộc Nava phải điều thêm lực lượng lên Sê-nô,
biến đây thành nơi tập trung quân lớn thba của Pháp.
Cuối tháng 01/1954, ta tiến quân sang thượng Lào, phối hợp với Pha-thét
Lào tấn công và uy hiếp Luông-pha-băng, Na-va phải tăng quân cho Luông -pha-
băng, biến căn cứ này trthành nơi tập trung quân lớn thứ tư của Pháp.
Đầu tháng 02/1954, ta mở chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum
uy hiếp Plây cu. Na-va phải điều lực lượng Nam bộ và Bình TrThiên lên tăng
cường cho Tây Nguyên, biến An Khê Plây-cu thành i tập trung quân lớn th
năm của Pháp.
vùng sau lưng địch, phong trào chiến tranh du kích cũng phát triển mạnh
hỗ trợ cho mặt trận chính.
Như vậy, đến đầu m 1954, lực lượng của Pháp bị phân tán trên khắp chiến
trường Đông Dương để đối phó với ta làm cho kế họach Na-va bước đầu bị phá
sản.
3. Chiến dịch Điện Biên Phủ và sự thất bại hoàn toàn của kế hoạch Nava
3.1. Sự điều chỉnh kế hoạch ca Nava và chủ trương đối phó ca ta
Sau khi đưa quân lên Điện Biên Ph để bảo vệ Tây Bắc Thượng Lào
không thành công, ngày 5 tháng 3 năm 1954, Na-va quyết định xây dựng Điện
Biên Ph thành một tập đoàn c điểm mạnh, chấp nhận một cuộc quyết chiến
chiến lược tại đây và sẵn sàng “nghiền nát” bộ đội chủ lực của ta.
Như vậy, từ chkhông trong kế hoạch, Điện Biên Phđã trthành
trung tâm của kế hoạch Na-va.
Đến tháng 3 m 1954, Điện Biên Phtrở thành căn cứ quân sự lớn nhất
Đông Dương với lực lượng lúc cao nhất lên đến 16200 tên, được bố trí thành một
hthống phòng thchặt chẽ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu với các loại
vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại.
Đầu tháng 12/1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã quyết định mchiến
dịch Điện Biên Phđể tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng vùng Tây Bắc.
Toàn dân, toàn quân ta với tinh thần “tất ccho tiền tuyến, tất cả để chiến
thắng”, đã huy động 261.464 dân công với 10.301.570 ngày công hàng vạn
thanh niên xung phong tham gia vận chuyển lương thực, đạn dược, mở đường…
phục vụ cho chiến dịch.
3.2. Diễn biến của chiến dịch
Ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta bắt đầu nổ súng tấn công tập đoàn c
điểm Điện Biên Phủ; chiến dịch diễn ra 3 đợt:
Đợt 1 (Từ 13 đến 17/3/1954): quân ta tiêu diệt cứ điểm Him Lam và toàn b
phân khu Bắc (Độc Lập, Bản Kéo), loại khỏi vòng chiến đấu 2000 tên địch.
Đợt 2 (Từ 30/3/1954 đến 26/4/1954): quân ta tấn công cứ điểm phía Đông
phân khu trung m Mường Thanh, từng bước khép chặt vòng vây tiến sát
sân bay Mường Thanh, cắt đứt con đường tiếp viện duy nhất của địch.
Sau đợt này, Mĩ viện trợ khẩn cấp cho Pháp và đe dọa ném bom nguyên t
Điện Biên Phủ.
Đợt 3 (Từ 01/5/1954 đến 07/5/1954): ta tiêu diệt khu trung tâm Mường
Thanh và phân khu Nam - Hồng Cúm; quân Pháp định tháo chạy sang Lào.
Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng tấn công vào s chỉ huy; tướng
Đờ - cát - ri đầu hàng, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.
3.3. Kết quả và ý nghĩa
3.3.1. Kết qu
Ta tiêu diệt và bắt sống 16200 tên, h 62 máy bay, thu toàn b vũ khí,
phương tiện chiến tranh.
3.3.2. Ý nghĩa
Đây là một thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam.
Đánh bại hoàn toàn kế họach Na-va của Pháp - Mĩ, tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động đấu tranh ngoại giao Giơ-ne-để đi đến kết thúc cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.
Cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Chứng minh chân của thời đại: dù một dân tộc đất không rộng, dân
không đông nhưng nếu quyết tâm, biết đoàn kết chiến đấu với đường lối cách
mạng đúng đắn, được sự ủng hộ của quốc tế thì hoàn toàn khả năng chiến thắng
bất cứ kẻ thù nào.
4. Hiệp định Giơ-ne-năm 1954 về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương