intTypePromotion=1

ĐÊ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP THUỘC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA

Chia sẻ: Sao Mai | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:27

0
143
lượt xem
25
download

ĐÊ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP THUỘC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Vì vậy, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của các biến động nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách thực hiện kiềm chế lạm phát.Lạm phát là một vấn đề kinh tế cơ bản và quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Nếu mức độ lạm phát ở mức vừa phải sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỉ lệ ở mức hai con số thường sẽ làm cho...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐÊ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP THUỘC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA

  1. ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP THUỘC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐÃ SỬ DỤNG NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA Lời mở đầu: Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Vì vậy, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của các biến động nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách thực hiện kiềm chế lạm phát.Lạm phát là một vấn đề kinh tế cơ bản và quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Nếu mức độ lạm phát ở mức vừa phải sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỉ lệ ở mức hai con số thường sẽ làm cho nền kinh tế mất cân đối và gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Trong khi đó ngăn chặn vấn đề lạm phát không phải là vấn đề đơn giản mà cần có các giải pháp thống nhất, đồng bộ và khôn ngoan. Gần đây ở Việt nam có dấu hiệu của sự lạm dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Điều này th ể hiện sự y ếu kém trong việc quản lý và sử dụng chính sách tiền tệ của chúng t ới . Vì v ậy đứng trước nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát là vô cùng cần thiết. Do đó đề tài "Sử dụng chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát", chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô c ực kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh h ưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, l ạm phát Để đạt được các mục tiêu của CSTT thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định. Từ khi đổi mới đến nay, các công cụ c ủa CSTT dang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác d ụng đ ối v ới nền kinh tế. Việc lựa chọn các công cụ sao cho phù h ợp và vi ệc s ử d ụng chúng sao cho hiệu quả nhất trong từng giai đoạn kinh t ế luôn là m ột v ấn đ ề mà Nhà nước quan tâm theo dõi và đưa ra các quyết định cụ th ể,có th ể nói, trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách ti ền t ệ (CSTT) của ngân hàng trung ương (NHTW) đóng vai trò rất quan trọng. Do nắm trong tay các công cụ để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà qua đó có thể tác động đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới sự cân bằng ngân sách nhà nước (NSNN), cán cân thanh toán qu ốc t ế và sự ổn định của nền kinh tế quốc gia. Trong nền kinh tế phát triển nhanh của nước ta hiện nay luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, do đó m ột công c ụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như CSTT được tận dụng trước tiên với hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Việc sử dụng CSTT nh ư th ế nào và h ướng mục tiêu của CSTT ra sao là một trong những vấn đề rất quan trọng mà NHTW cần hướng tới. Để đạt được các mục tiêu ổn định giá cả lâu dài, cho đến nay các NHTW đã sử dụng các chính sách tiền tệ khác nhau như: Chính sách tiền tệ dựa vào tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ dựa vào khối l ượng
  2. tiền cung ứng; Chính sách tiền tệ dựa vào GDP danh nghĩa, và hiện nay, chính sách tiền tệ có xu hướng dựa vào lượng hóa mục tiêu lạm phát. Vì vậy, nhóm chúng em “nghiên cứu và phân tích tác động của một s ố biên pháp thuộc chính sách tiền tệ mà chính phủ Việt Nam đã sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua” -Thực trạng chung về lạm phát ở Việt Nam: Nước ta là một nền kinh tế có độ mở lớn lên việc ảnh hưởng bởi biến động của tình hình th ế gi ới là không tránh khỏi.Ngoài ra nước ta thiên tai dịch bệnh diễn ra h ết s ức ph ức tạp trong khi nhu cầu và sức mua của người dân ngày một tăng. H ơn n ữa quy mô kinh tế nước ta nhỏ, trình độ phát triển, chất lượng, hiệu quả của n ền kinh t ế thấp, sức cạnh tranh chưa cao dẫn đến tình trạng trong giai đoạn hi ện nay lạm phát ở nước ta đang tăng cao. -Tính cấp thiết của việc kiềm chế lạm phát: Việc nghiên cứu l ạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh t ế đ ặc bi ệt là th ị tr ường còn non nớt như nền kinh tế của nước ta. Để hiểu rõ hơn về tình hình lạm phát ở nước ta hiện nay ta cần hiểu lạm phát là gì? và kiềm ch ế l ạm phát như thế nào? sử dụng biện pháp gì? -Mục tiêu nghiên cứu: tìm cách giảm tình trạng lạm phát, bình ổn giá, gi ảm t ỉ lệ thất nghiệp… -Đối tượng nghiên cứu: . Tình hình lạm phát ở Việt Nam · Đưa ra nhận xét về vấn đề lạm phát ảnh hưởng tới nền kinh tế -Phương pháp nghiên cứu: · phương pháp thống kê dữ liệu · Sử dụng phương pháp phân tích mô tả CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT I. Lý thuyết về lạm phát 1. Khái niệm về lạm phát Lạm phát xảy ra khi mức gía chung thay đổi . Khi mức giá tăng lên được gọi là lạm phát , khi mức giá giảm xuống thì được gọi là giảm phát . Vậy lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian . Cố định lạm phát ở mức giá thấp là môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi để khuyến khích tiết kiệm mở rộng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế . Cả lạm phát quá cao và lạm phát quá thấp đều ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế . 2. Bản chất của lạm phát Là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng lên của giá cả diễn ra trong một thời gian dài . 3. Nguyên nhân lạm phát a.Lạm phát cầu kéo
  3. Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đat hoặc vượt quá tiềm năng.trong thực tế khi xảy ra lạm phát cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa. Hình 1.1: Lạm phát do cầu-kéo P Q’ AS P’ E’ AD’ P E AD b .Lạm phát chi phí đẩy Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường AS dich chuyển lên cao. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả tăng lên và sản lượng giảm xuống. Gía cả sản phẩm trung gian tăng đột biến thường do các nguyên nhân sau: thiên tai, chiến tranh, kinh tế. P Q’ AS' AS
  4. E’ P’ E P AD Hình 1.2: Lạm phát chi phí đẩy c .Lạm phát dự kiến Trong nền kinh tế tiền tệ,trừ siêu lam phát và lạm phát phi mã,lạm phát vừa phải có xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó.giá cả trong trường hợp này tăng đều với một tỉ lệ tương đối ổn định.tỉ lệ lạm phát này gọi là tỉ lệ lạm phát ỳ,và vì mọi người đã có thể dự tính trước mức độ của nó nên còn được gọi là lạm phát dự kiến. d .Lạm phát và tiền tệ Lượng tiền tăng càng nhanh thì lạm phát cang cao và bất kì một chính sách vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến giảm tỉ lệ lạm phát và điều này dặc biệt đúng với thời kì ngắn hạn khi ngân sách thâm hụt lớn, các chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường diễn ra trong thời kì siêu lạm phát. e .Lạm phát và lãi suất Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỉ lệ lạm phát. Khi tỉ lệ lạm phát tăng lên, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát. f. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
  5. Lạm phát và thất nghiệp là hai căn bệnh nặng của nền kinh tế thị trường Đường Philips ban đầu Đường này cho biết mối quan hệ nghịch giữa lạm phát và thất nghiệp. Lý thuyết này gợi ra rằng có thể đánh đổi lạm phát lấy thất nghiệp thấp. Khi thất nghiệp thực tế thấp hơn tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát xảy ra. Đường Philips gợi cho những người làm chính sách lựa chọn các chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và tiền tệ. Đường Philips mở rộng Đường này cho biết khi thất nghiệp bằng tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát bằng tỉ lệ dự kiến. Nếu thất nghiệp thực tế cao hơn tỉ lệ tự nhiên thì lạm phát thấp hơn tỉ lệ tự nhiên. Khi thất nghiệp và lạm phát tăng lên - không có sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát trong ngắn hạn - đó là thời kì đình trệ thất nghiệp. Sự điều tiết bằng chính sách tiền tệ và tài khóa giữ cho nền kinh tế ổn định sản lượng. Đường Philips dài hạn Trong dài hạn tỉ lệ thất nghiệp thực tế có thể bằng tỉ lệ thất nghiệp dự kiến bởi sự tác động của các chính sách tài khóa và tiền tệ. Tỉ lệ thất nghiệp thực tế luôn bằng tỉ lệ tự nhiên dù tỉ lệ lạm phát thay đổi như thế nào. Vậy trong dài hạn lạm phát và thất nghiệp không có mối quan hệ với nhau. 4. Tác động của lạm phát a, Đối với sản lượng và việc làm Cùng với sự tăng mức giá chung, sản lượng của nền kinh tế cũng bị giảm sút, nền kinh tế vừa có lạm phát vừa bị suy thoái. Nếu lạm phát do cầu thì sản lư ợngcó thể tăng lên nhưng thực chất chỉ là sự tăng sản lượng tối ưu mà vẫn tăng lên hay còn gọi là lạm phát thuần. Nếu lạm phát do cả cung lẫn cầu thì tùy theo mức độ dịch chuyển của cung và cầu mà sản lượng có thể tăng hoặc giảm.
  6. b, Đối với phân phối lại thu nhập: Tác động của lạm phát đối với phân phối lai thu nhập phụ thuộc vào k ết quả dự tính tỷ lệ lạm phát, tính linh hoạt của tiền lương, sự chênh lệch về tố c độ tăng giá giữa các loại hàng hóa dịch vụ. Tuy nhiên khi nền kinh tế có sự biến động lớn thì phân phối thu nhập lại càng trở nên không cân bằng. Lạm phát c ao đặc biệt ảnh hưởng xấu đến những người có thu nhập không tăng kịp m ức tăngcủa giá cả, đặc biệt là những người sống bằng thu nhập cố đị nh như là những người hưởng lương hưu hay công chức. Phúc lợi và mức sống củ a họ sẽ bị giảm đi.Việc phân phối lại thu nhập do lạm phát xảyra theo chiều hướng chuyển bớt thu nhập từ những người nắm các yếu tố có giá tăng chậm sang những người nắm các yếu tố có giá tăng nhanh hơn so với tỷ lệ lạm phát. Mức độ phân phối lại còn phụ thuộc ít nhiều vào: Mức độ chênh lệch về tốc độ tăng của các loại hàng hóa, các yếu tố sản xuất, các loại tài sản.Chênh lệch càng cao thì phân phối lại càng nhiều. Đối với cơ cấu kinh tế: Lạm phát có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế do giá c ác loại hàng hóa không thay đổi theo cùng 1 tỷ lệ. Những ngành có giá tăng nhan h sẽ tăng tỷ trọng trong tăng trưởng: - Do giá tăng nhanh, làm tăng giá trị sản lượng tính theo giá hiện hành - Do giá một số ngành tăng nhanh, nguồn sản xuất sẽ chảy về ngành đó, làm tăng giá trị sản lượng thực của ngành. Đồng thời lúc đó sản lượng của các ng ành khác có thể giảm xuống. Kết quả là tỷ trọng của ngành có giá tăng nhanh hơn sẽ cao hơn, tỷ trọng của ngành khác sẽ thấp hơn, cho dù tính giá hiện hành hay giá cố định. Đối với cơ cấu đầu: Khi giá cả và lạm phát có diễn biến thất thường làm giả m hiệu quả của các khoản đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư dài hạn. Hiện t ượng thoái lui đầu tư diễn ra do các nhà đầu tư không tin tưởng vào hiệu quả của các dự án đó mang lại thay vào đó là xu hướng dự trữ những tài sản hoặc hàng hóa có giá trị hơn là giữ tiền mặt cũng như đầu tư nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với tài sản của họ. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất. Cơ cấu
  7. các nguồn lực được phân bổ lại một cách kém hiệu quả từ đó ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Đối với hiệu quả kinh tế: Lạm phát có thể tạo ra một số tác động làm cho vi ệc sử dụng nguồn lực trở nên kém hiệu quả do: -Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá: giá là tín hiệu quan trọng để giúp cho người mua có được quyết định tối ưu. Trong thời kỳ lạm phát cao, giá thay đ ổi quá nhanh làm cho người tiêu dùng không kịp nhận biết mức giá tương đối gi ữacác loại hàng hóa thay đổi như thế nào. - Lạm phát làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất giá tiền tệ. Khi lạm phát xảy ra, càng giữ nhiều tiền mặt trong tay thì càng trở nên “nghèo” đi, do giá trị đồng tiền bị giảm sút. Tiền mặt không còn được ưa chuộng thay vào đó là xu hướng dự trữ một số mặt hàng có thể dự trữ hoặc dự trữ vàng , ngoại tệ… - Ngoài ra lạm phát còn ảnh hưởng tới nhiều hoạt động kinh tế khác, do cơ c ấu kinh tế biến đổi làm cho các cá nhân mất thêm các khoản chi phí khác để thay đổi, thích ứngvới diễn biến khác nhau của thị trường. II. Lý thuyết về chính sách tiền tệ ́ 1) Khai niêm chinh sach tiên tê. ̣ ́ ́ ̀ ̣ Chinh sach tiên tệ là hệ thông cac giai phap và công cụ quan lý vĩ mô cua nhà ́ ́ ̀ ́ ́ ̉ ́ ̉ ̉ nước về tiên tệ do Ngân hang trung ương khởi thao và thực thi nhăm ôn đinh ̀ ̀ ̉ ̀ ̉ ̣ giá trị đông tiên, hướng nên kinh tế vao san lượng và viêc lam mong muôn. ̀ ̀ ̀ ̀ ̉ ̣ ̀ ́ ̣ 2) Muc tiêu cua chinh sach tiên tê. ̉ ́ ́ ̀ ̣  Tăng trưởng kinh tê. ́  Ôn đinh giá ca, kiêm soat được lam phat. ̉ ̣ ̉ ̀ ́ ̣ ́  Tao ra nhiêu công ăn viêc lam cho người lao đông, hạ thâp tỷ lệ thât nghiêp ̣ ̀ ̣ ̀ ̣ ́ ́ ̣ và duy trì ở mức thât nghiêp tự nhiên. ́ ̣ ̀  Cân băng can cân thanh toan quôc tê. ́ ́ ́ ́ 3) Công cụ cua chinh sach tiên tê. ̉ ́ ́ ̀ ̣ Vì chinh sach tiên tệ chỉ có khả năng tac đông vao thị trường tiên tê, qua đó tac ́ ́ ̀ ́ ̣ ̀ ̀ ̣ ́ đông đên tông câu và san lượng nên viêc kiêm soat cua ngân hang trung ương ̣ ́ ̉ ̀ ̉ ̣ ̉ ́ ̉ ̀ tâp trung vao môt trong hai công cụ chủ yêu là mức cung tiên(MS) hoăc lai ̣ ̀ ̣ ́ ̀ ̣ ̃ ́ suât(i). 4) Cac công cụ quan lý tiên tệ thường dung cua ngân hang trung ương. ́ ̉ ̀ ̀ ̉ ̀ a. Hoat đông thị trường mở ̣ ̣ - Thị trường mở là thị trường tiên tệ cua ngân hang trung ương được sử dung ̀ ̉ ̀ ̣ để mua ban trai phiêu kho bac cua nhà nước. ́ ́ ́ ̣ ̉ - Cơ chế tac đông: ́ ̣
  8. +) Muôn tăng mức cung tiên, ngân hang trung ương sẽ mua trai phiêu ở thị ́ ̀ ̀ ́ ́ trường mở. Họ đưa thêm vao thị trường môt lượng tiên cơ sở băng cach tăng ̀ ̣ ̀ ̀ ́ dự trữ cua cac ngân hang thương mai, dân đên tăng khả năng cho vay, tăng ̉ ́ ̀ ̣ ̃ ́ mức tiên gửi nhờ số nhân tiên tê. Kêt quả cuôi cung là mức cung tiên đã tăng ̀ ̀ ̣ ́ ́ ̀ ̀ gâp bôi so với số tiên mua tin phiêu cua ngân hang trung ương. ́ ̣ ̀ ́ ́ ̉ ̀ +) Tương tự, muôn giam mức cung tiên, ngân hang trung ương sẽ ban trai ́ ̉ ̀ ̀ ́ ́ ́ phiêu cua Chinh phu. ̉ ́ ̉ b. Quy đinh tỷ lệ dự trữ băt buôc ̣ ́ ̣ - Dự trữ băt buôc là số tiên mà ngân hang thương mai buôc phai duy trì trên tai ́ ̣ ̀ ̀ ̣ ̣ ̉ ̀ khoan tiên gửi không kỳ han tai ngân hang trung ương. Ngân hang trung ương ̉ ̀ ̣ ̣ ̀ ̀ là cơ quan duy nhât được phep ra quyêt đinh về tỷ lệ dự trữ băt buôc đôi với ́ ́ ́ ̣ ́ ̣ ́ cac ngân hang thương mai. ́ ̀ ̣ - Cơ chế tac đông: ́ ̣ Sự tăng lên hay giam xuông cua tỷ lệ dự trữ băt buôc tac đông đên cơ chế tao ̉ ́ ̉ ́ ̣ ́ ̣ ́ ̣ tiên và lai suât cho vay cua cac ngân hang thương mai, qua đó tac đông đên ̀ ̃ ́ ̉ ́ ̀ ̣ ́ ̣ ́ lượng tiên cung ứng trên thị trường. Như vây tỷ lệ dự trữ băt buôc thâp, số ̀ ̣ ́ ̣ ́ nhân tiên tệ sẽ lớn là điêu kiên thuân lợi để mở rông tin dung, tăng nhanh mức ̀ ̀ ̣ ̣ ̣ ́ ̣ cung tiên. ̀ ̃ c. Lai suât chiêt khâu ́ ́ ́ - Lai suât chiêt khâu là lai suât quy đinh cua ngân hang trung ương khi họ cho ̃ ́ ́ ́ ̃ ́ ̣ ̉ ̀ cac ngân hang thương mai vay tiên để đam bao có đây đủ hoăc tăng thêm dự ́ ̀ ̣ ̀ ̉ ̉ ̀ ̣ trữ cua cac ngân hang thương mai. ̉ ́ ̀ ̣ - Cơ chế tac đông: ́ ̣ Khi lai suât chiêt khâu thâp hơn lai suât thị trường và điêu kiên cho vay thuân ̃ ́ ́ ́ ́ ̃ ́ ̀ ̣ ̣ lợi, sẽ là tin hiêu khuyên khich cac ngân hang thương mai vay tiên để tăng dự ́ ̣ ́ ́ ́ ̀ ̣ ̀ trữ và mở rông cho vay,dân đên mức cung tiên sẽ tăng lên. ̣ ̃ ́ ̀ Ngoai 3 công cụ chủ yêu trên đây nhăm điêu tiêt gian tiêp đôi với thị trường ̀ ́ ̀ ̀ ́ ́ ́ ́ tiên tê, ngân hang trung ương con có những công cụ khac như kiêm soat tin ̀ ̣ ̀ ̀ ́ ̉ ́ ́ dung có lựa chon, quy đinh trực tiêp đôi với lai suât… ̣ ̣ ̣ ́ ́ ̃ ́ 5) Cơ chế tac đông cua chinh sach tiên tệ. ́ ̣ ̉ ́ ́ ̀ a. Khi nên kinh tế tăng trưởng nong, lam phat cao. ̀ ́ ̣ ́ +)Muc tiêu đăt ra là giam lam phat. ̣ ̣ ̉ ̣ ́ +)Giai phap: muôn chông lam phat, ngân hang trung ương phai sử dung chinh ̉ ́ ́ ́ ̣ ́ ̀ ̉ ̣ ́ sach tiên tệ chăt (MS, i). ́ ̀ ̣ +)Công cu: ̣ • Ban chứng khoan trên thị trường mở. ́ ́
  9. • Tăng tỷ lệ dự trữ băt buôc. ́ ̣ ̃ ́ ́ ́ • Tăng lai suât chiêt khâu. • NHTW phat hanh tiên để giam lượng tiên cơ sở. ́ ̀ ̀ ̉ ̀ +)Cơ chê: MS  i  I  AD  Y  P ́ +)Kêt luân: Khi nên kinh tế có lam phat cao, chinh phủ sử dung chinh sach tiên ́ ̣ ̀ ̣ ́ ́ ̣ ́ ́ ̀ tệ chăt nhăm giam tông câu và hạ thâp lam phat. ̣ ̀ ̉ ̉ ̀ ́ ̣ ́ b. Khi nên kinh tế suy thoai, thât nghiêp gia tăng. ̀ ́ ́ ̣ ̣ ̉ ́ +)Muc tiêu: giam thât nghiêp, chông suy thoai. ̣ ́ ́ +)Giai phap: muôn chông suy thoai và thât nghiêp, ngân hang trung ương phai ̉ ́ ́ ́ ́ ́ ̣ ̀ ̉ sử dung chinh sach tiên tệ long(MS, i) ̣ ́ ́ ̀ ̉ +)Công cu: ̣ - tăng tiên cơ sở phat hanh trong lưu thông. ̀ ́ ̀ - mua chứng khoan trên thị trường mở. ́ - giam tỉ lệ dự trữ băt buôc, giam lai suât chiêt khâu. ̉ ́ ̣ ̉ ̃ ́ ́ ́ +)Cơ chê: MS  i  I  AD  Y  u. ́ +)Kêt luân: Khi nên kinh tế suy thoai, chinh phủ sử dung chinh sach tiên tệ long ́ ̣ ̀ ́ ́ ̣ ́ ́ ̀ ̉ nhăm tăng san lượng và giam thât nghiêp. ̀ ̉ ̉ ́ ̣ III. Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát I.Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát: 1.Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại NHTƯ. Nó được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó. Mức DTBB được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạt động của NHTM. Cơ chế điều hành: trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ nâng tỷ lệ DTBB, qua đó làm lãi suất các khoản vay của NHTM tăng lên, các doanh nghiệp bị hạn chế về khả năng tiếp cận vốn, khả năng mở rộng sản xuất giảm đi. Từ đó dẫn đến sản lượng hàng hóa cung ứng sụt giảm và làm giảm áp lực cầu tiền. Ưu điểm: công cụ này có thể tác động một cách đầy quyền lực và như nhau đến tất cả các NHTM. Cụ thể là, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của tỷ lệ DTBB thì tác động của nó đến khối lượng tiền tệ là rất lớn. Vì đây là biện pháp mang tính bắt buộc nên lãi suất của các NHTM chắc chắn tăng hoặc giảm. Nhược điểm: công cụ DTBB có thể gây ra các tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
  10. Khi các NHTƯ muốn thay đổi cung tiền tệ ở biên độ nhỏ thì khó có thể thực hiện được nếu sử dụng công cụ này. Bên cạnh đó, việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM có mức dự trữ vượt quá ở mức thấp, nền kinh tế rơi vào tình trạng thiếu vốn và rơi từ khó khăn này đến khó khăn khác. Hơn nữa nếuthường xuyên thay đổi tỷ lệ DTBB cũng gây ra tình trạng không ổn định cho các NHTM và làm cho việc quản lí khả năng thanh toán của các ngân hàng này gặp khó khan. Công cụ này còn có độ trễ về mặt thời gian nên một sự gia tăng hay giảm tỉ lệ DTBB đòi hỏi THTƯ phải nghiên cứu sự chịu đựng của các NHTM, cũng cần phải để thời gian cho các NHTM đủ để tăng khoản dự trữ lên mức bắt buộc mới 2. Tái chiết khấu : Công cụ chiết khấu là công cụ của NHTƯ trong việc thực thi CSTT, bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh. Khi NHTƯ cho các ngân hàng vay để kinh doanh làm tăng thêm tiền dự trữ cho hệ thống ngân hàng, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung ứng. NHTƯ kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cả khoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu). Cơ chế điều hành: trong nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ nâng lãi suất tái chiết khấu khiến khả năng cho vay của các NHTM bị hạn chế, dẫn tới các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận các khoản vay để duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả là lượng hàng hóa cung ứng giảm đi làm giảm áp lực cầu tiền giúp giảm áp lực của lạm phát. Ưu và nhược điểm: công cụ này được thực hiện nhanh chóng nhưng khối lượng tiền tệ cung ứng trong nền kinh tế có thể tăng hoặc có thể giảm, phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của khách hàng là có muốn vay hay không muốn vay. Hơn nữa, nếu dòng vốn là tự do linh hoạt giữa các quốc gia, khi nâng lãi suất ở các nước có lạm phát, làm cho dòng vốn nước ngoài đổ vào các quốc gia này sẽ tăng lên, nhưng một khi kinh tế ổn định thì một khối lượng dòng vốn khổng lồ sẽ chảy ra khỏi nước gây ra những bất ổn về kinh tế và chính trị. Bên cạnh đó, chính sách này cần có thời gian mới có hiệu quả, nên nó có độ trễ về thời gian. 3. Hoạt động thị trường mở : Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) phản ánh việc NHTƯ mua hoặc bán các giấy tờ có giá trên thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt được mục tiêu điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông. Các giấy tờ có giá đó là: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, thương phiếu, v.v... Trong đó, tín phiếu kho bạc được tham gia rộng rãi nhất. Các thành viên tham gia thị trường mở là các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các doanh nghiệp. Thành viên tham gia phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn để được cấp giấy phép tham gia thị trường mở.
  11. Cơ chế điều hành: Khi nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ bán các giấy tờ có giá trên thị trường mở, qua đó làm cho lượng tiền cung ứng cho vay của các NHTM giảm, các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay dẫn tới sự khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh khi chi phí đầu vào sản xuất tăng lên. Lượng hàng hóa cung ứng giảm khiến cho áp lực về cầu tiền đối với các hoạt động thanh toán giảm và kết quả cuối cùng là giảà giảm áp lực về lạm phát. Ưu điểm: công cụ này có thể điều tiết lượng tiền cung ứng chính xác nhất, cao nhất, hiệu quả nhất so với các công cụ khác của CSTT vì NHTƯ có thể chủ động tiến hành mà không phải lệ thuộc vào nhu cầu của các NHTM. Bên cạnh đó, công cụ DTBB và lãi suất chiết khấu không thể thay đổi theo ngày nhưng NVTTM hoàn toàn có thể thay đổi theo ngày, theo các phiên giao dịch. Công cụ này tương đối linh hoạt và chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ mức độ nào. Nếu mong muốn của NHTƯ là thay đổi dự trữ của các NHTM ở biên độ lớn, nó có thể mua hoặc bán các giấy tờ có giá với khối lượng lớn, và ngược lại, nếu mong muốn NHTƯ thay đổi dự trữ của NHTM ở biên độ nhỏ, NHTƯ sẽ thực hiện việc mua và bán ra ít chứng khoán hơn. Nhược điểm: để công cụ này hoạt động có hiệu quả đòi hỏi hầu hết tiền trong lưu thông phải nằm trong tài khoản của các ngân hàng, phải có sự phát triển cao của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt. Bên cạnh đó, công cụ này cần một thị trường tài chính phát triển cao, mà điều này chỉ có ở các nước có nền kinh tế - công nghiệp ngân hàng phát triển. 4. Lãi suất : Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định. Cơ chế điều hành: Gián tiếp: NHTM công bố mức lãi suất áp dụng với các khoản cho vay chiết khấu, cầm cố chứng từ có giá. Trực tiếp: Quy định mức lãi suất tối đa hoặc tiền gửi tối thiểu đối với các tổ chức tín dụng. Các mức lãi suất thường công bố: - Lãi suất chiết khấu. - Lãi suất NHTƯ đối với nền kinh tế mang tính quản lý: khung lãi suất, trần lãi suất… - Lãi suất mang tính tham lãi: lãi suất liên NH thị trường Singapore, London… - Lãi suất công bố theo năm, kỳ, tháng, ngày.
  12. Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo. Ưu điểm: Giúp cho NHTƯ thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp khác. Nhược điểm: Nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Mặt khác việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình. 5. Hạn mức tín dụng: NHTƯ quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình. Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng, lạm phát…) sau đó NHTƯ sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTƯ quy định. Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM. Ưu điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế. Nhược điểm: Triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTƯ và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên. 6. Công cụ tỷ giá hối đoái : Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa,tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều
  13. nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ. Cơ chế điều hành: NHTƯ trực tiếp mua bán ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái. CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CSTT CỦA CHÍNH PHỦ ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA I. Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong mấy năm gần đây Tình hình hiện tại: lạm phát cao, tăng trưởng thấp Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của mọi quốc gia (tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư). Tình hình lạm phát hiện nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính phủ: làm suy vong nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó là sự tác động mạnh tới đời sống của người dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục. Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ chính thành công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình. Việt Nam cần có một cách tiếp cận mới, linh hoạt hơn, thích ứng với biến động thị trường để cuối 2008 lạm phát có thể trở về một con số. Cách đây vài năm, năm 2004, Việt Nam cũng đặt trong chỉ số lạm phát của Việt Nam ở mức 9,4%. Tuy nhiên, so với thời điểm đó, tình hình lạm phát năm nay có nhiều điểm khác. Một là, đồng USD bị mất giá trên toàn cầu, đòi hỏi có những tính toán, cân nhắc về việc có nên tiếp tục cố định tỷ giá tiền đồng so với tiền USD không. Hai là dòng vốn từ nước ngoài đổ vào Việt Nam nhiều hơn rất nhiều so với trước. Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò điều tiết buộc phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông. Tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, đặc biệt mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của Việt Nam dãn rộng trong 3 năm qua. Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù tốc độ tăng trưởng của Việt Nam năm 2007 cao nhất trong 10 năm qua. Mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2008 do Quốc hội đề ra từ kỳ họp cuối năm trước là 8,5- 9%, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý 1/2008 đã chậm lại so với tốc độ của quý 1/2007. . Lạm phát Việt Nam lên tới cao điểm là 23% hồi tháng 8/2011, khiến cho nước này bị liệt vào hàng những nước có lạm phát cao nhất thế giới. Việt Nam đã tái tập trung nỗ lực từ việc tăng trưởng kinh tế sang việc bình ổn để đối phó với nạn giá cả tăng và những thách thức khác, kể cả việc giảm bớt dự trữ ngoại tệ, thâm thủng thương mại và áp lực đối với đồng bạc Việt Nam.
  14. Trong năm 2011, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam do chính phủ đặt ra cho năm 2011 là 6% nhưng nó đã giảm xuống ở mức 5,9%. Nội cho biết chỉ tiêu tăng trưởng GDP trong năm 2012 là ở mức từ 6 tới 6,5% Khẳng định rằng, nền kinh tế đang bắt đầu có hướng đi đúng, nhưng các chuyên gia vẫn lo ngại về khả năng lạm phát ở Việt Nam. Chỉ số lạm phát chính thức mới nhất của tháng Giêng đã phản ánh xu hướng này. Lạm phát toàn phần tháng Giêng tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước trong khi tháng 12.2012 chỉ là 6,9%. Về mặt liên tục, lạm phát tăng 1,3% so với tháng trước (không tính yếu tố điều chỉnh theo mùa) từ mức 0,3% của tháng 12.2012. Tính cả yếu tố mùa vụ và theo tháng (lưu ý Rx12 theo phương pháp mùa vụ có thể không ảnh hưởng khi loại bỏ sự thay đổi thời gian diễn ra Tết Nguyên Đán), lạm phát toàn phần tháng 1 tăng lên tới 0,6% từ mức 0,4% của tháng 12. Lạm phát thực phẩm tăng từ 1% trong tháng 12 so với cùng kỳ năm trướcđến 1,3% trong tháng Giêng. Trên cơ sở không điều chỉnh theo mùa và tính theo tháng, chỉ số lạm phát thực phẩm tháng Giêng tăng 1,3% trong khi chỉ số của tháng 12 là 0,3%. Lạm phát cơ bản vẫn còn cao ở 12,6% so với cùng kỳ năm trước trong tháng Giêng, tăng từ mức 12,2% trong tháng 12. Lạm phát cơ bản cao hơn đáng kể, cùng với giá dầu tăng cao, có nghĩa là lạm phát toàn phần có thể tăng nhanh nếu lạm phát thực phẩm cũng tăng. Theo dự báo trong vài năm tới lạm phát của Việt Nam sẽ dừng lại ở một con số, dự kiến lạm phát trung bình năm 2013 khoảng 7,5% trước khi tăng lên khoảng 8,2% trong năm 2014. Thặng dư thương mại dự kiến sẽ đạt mức kỷ lục 12,5 tỉ USD trong năm 2013. II. Những biện pháp cụ thể để kiềm chế lạm phát 1. Các biện pháp để chiến thắng lạm phát giai đoạn 2007-2009 Nguồn: tổng cục thống kê Từ bảng số liệu trên ta áp dụng công thức tính được tỉ lệ lạm phát qua các năm là: (đơn vị %) Năm 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 201 2011 0 Gp -1,6 3,2 7,7 8,3 7,5 8,3 23,0 6,9 9,2 18,6 Từ bảng số liệu ta thấy Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động của ngành Ngân hàng. Có thể nói đây là những khó khăn, thử thách lớn nhất, gay go nhất tính từ sau thời kỳ đổi mới của ngành Ngân hàng. Sau một thời gian
  15. dài lạm phát được giữ ở mức một con số thì đến năm 2004 lạm phát lại bùng nổ ở mức cao (7,7%) và đến những tháng cuối của năm 2007, lạm phát đã tăng lên 2 con số và đạt mức 12,63% vào tháng 12/2007(xem bảng). Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước Tháng 12 năm 2007 Chỉ số giá tháng 12 Chỉ số giá bình quân năm 2007 so năm 2006 năm 2007 so với Kỳ gốc Tháng 12 Tháng 11 năm 2005 năm 2006 năm 2007 CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 121,83 112,63 102,91 108,30 I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 130,29 118,92 104,24 111,16 Trong đó: 1- Lương thực 133,41 115,40 102,98 115,02 2- Thực phẩm 129,50 121,16 104,69 110,06 II. Đồ uống và thuốc lá 115,26 106,78 101,33 106,02 III. May mặc, mũ nón, giầy dép 113,74 106,70 101,16 106,15 IV. Nhà ở và vật liệu xây dựng (*) 127,10 117,12 103,28 111,01 V. Thiết bị và đồ dùng gia đình 113,19 105,15 100,46 106,15 VI. Dược phẩm, y tế 113,11 107,05 100,61 105,12 VII. Phương tiện đi lại, bưu điện 115,79 107,27 104,38 103,60 Trong đó: Bưu chính viễn thông 92,34 96,45 99,23 97,19 VIII. Giáo dục 107,94 101,97 100,08 103,30 IX. Văn hoá, thể thao, giải trí 105,90 101,69 100,29 103,18 X. Đồ dùng và dịch vụ khác 118,49 109,02 101,61 107,72 CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 183,73 127,35 102,13 113,62 CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,46 99,97 99,81 100,62 Những tháng tiếp theo của năm 2008, lạm phát tiếp tục tăng cao, chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI đã tăng là 9,1% (đây là quý có mức tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại đây) và đã vượt xa chỉ tiêu của Chính phủ đặt ra cho cả năm 2008 là: GDP tăng từ 6,7 – 7% và giữ CPI thấp hơn mức này. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước Tháng 12 năm 2008
  16. Đơn vị tính: % CHỈ SỐ GIÁ THÁNG 12 NĂM 2008 SO Chỉ số giá bình quân năm 2008 so với năm 2007 VỚI Kỳ gốc năm Tháng 12 năm Tháng 11 năm 2005 2007 2008 CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 146,07 119,89 99,32 122,97 I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 171,79 131,86 99,87 136,57 1- Lương thực 191,11 143,25 97,64 149,16 2- Thực phẩm 163,86 126,53 100,76 132,36 3- Ăn uống ngoài gia đình 172,77 133,62 100,37 132,64 II. Đồ uống và thuốc lá 130,36 113,10 100,68 110,75 III. May mặc, mũ nón, giầy dép 128,42 112,90 101,01 110,33 IV. Nhà ở và vật liệu xây dựng (*) 137,86 108,46 97,64 120,51 V. Thiết bị và đồ dùng gia đình 127,54 112,68 100,60 109,06 VI. Dược phẩm, y tế 123,78 109,43 100,35 108,87 VII. Phương tiện đi lại, bưu điện 123,39 106,56 93,23 116,00 Trong đó: Bưu chính viễn thông 78,43 84,93 94,02 88,24 VIII. Giáo dục 115,35 106,87 100,17 104,16 IX. Văn hoá, thể thao, giải trí 116,83 110,33 100,66 105,87 X. Đồ dùng và dịch vụ khác 133,86 112,97 100,75 113,17 CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 196,29 106,83 100,78 131,93 CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 107,86 106,31 101,14 102,35 Đứng trước tình hình này, Chính phủ đã xác định chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu. Chính vì thế, ngay từ những tháng đầu của năm 2008, Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản (i) số 75/TTg-KTTH ngày 15/01/2008 về biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá năm 2008; (ii) số 319/TTg- KTTH ngày 03/3/2008 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008 và đặc biệt là (iii) Nghị quyết 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 về 8 giải pháp đồng bộ để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó nhấn mạnh các định hướng chủ đạo trong hoạt động kiềm chế lạm phát là “… Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) một cách chặt chẽ, thận trọng và chủ động; sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ CSTT theo nguyên tắc thị trường để kiểm soát quy mô, tốc độ tăng tín dụng và tăng tổng phương tiện thanh toán một cách
  17. hợp lý nhằm đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, góp phần thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhưng đồng thời đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng kinh tế… và điều tiết có hiệu quả vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) và kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm”. Điều hành chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát năm 2008 Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào tình hình thực tế, ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành CSTT theo hướng thắt chặt để kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30%. Để thực hiện mục tiêu này, NHNN đề ra những giải pháp và biện pháp cụ thể: 1. Chỉ đạo các TCTD kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc: - Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD. - Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay. - Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của TCTD theo hướng chặt chẽ hơn nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại tệ. 2. Sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc (DTBB), thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) và từ đó tác động lên khả năng cung vốn ngân hàng ra thị trường theo mục đích đặt ra và thu hút mạnh tiền từ lưu thông về, cụ thể: - Tăng tỷ lệ DTBB (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn). - Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương). - 6 tháng đầu năm 2008, NHNN đã 2 lần thay đổi các lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu theo hướng tăng lên. Điều này được thực hiện nhằm tạo hành lang lãi suất phù hợp với định hướng kiểm soát tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng và từng bước đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền, cụ thể : + Tăng lần 1: lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm, lãi suất chiết khấu lên 11%/năm. + Tăng lần 2: Lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất chiết khấu lên 13%/năm. - Đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản
  18. từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm, 10%/năm và 8,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm; lãi suất chiết khấu từ 13%/năm xuồng 12%/năm và 11%/năm, 9%/năm và 7,5%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng thương mại từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm, 11%/năm và 9,5%/năm. - Đã tăng lãi suất tiền gửi DTBB bằng đồng Việt Nam đối với các TCTD từ 5%/năm lên 10%/năm và giảm 1% tỷ lệ DTBB đối với tiền nội tệ và 2% tỷ lệ DTBB tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các TCTD. Tiếp đến tháng 11 giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc xuống 7 % và hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống còn mức 5% đối với Việt Nam đồng. Việc áp dụng đồng bộ, linh hoạt các giải pháp trên đã góp phần đưa các chỉ tiêu tiền tệ biến động theo định hướng đề ra: (i) Tổng phương tiện thanh toán được kiểm soát ở mức thấp; (ii) Tốc độ tăng trưởng đầu tư cho nền kinh tế chậm dần từ đó tác động kiềm chế mức tăng tổng cầu và giá tiêu dùng. (iii) ổn định nền kinh tế, giảm tỉ lệ lạm phát Những thành tựu đạt được Mặc dù trong giai đoạn vừa qua (2007 – 2009) nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động thăng trầm, phải đối phó với lạm phát ở mức cao, ph ải chống chọi lại cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008), sang năm 2009 nền kinh tế lại có dấu hiệu giảm phát tuy nhiên với vi ệc th ực thi CSTT linh hoạt, hiệu quả của NHTƯ đã từng bước đưa nền kinh t ế thoát khỏi khủng hoảng và dần dần đang trên đà hồi phục. Cụ thể: Năm 2007, với việc thực thi CSTT như trên về cơ bản đạt được mục tiêu đ ề ra là ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và h ỗ trợ vốn tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế Chính sách tiền tệ thắt chặt với hàng loạt các động thái quy ết li ệt trên đã tạo ra một lực hút mạnh thu hút tiền từ lưu thông đ ồng th ời làm gi ảm mạnh cấp tín dụng từ các NHTM ra thị trường. Và kết quả là l ạm phát đã bị chặn đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm). Tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89% Những mặt hạn chế Có thể nói, điều hành CSTT năm 2007 về cơ bản, đạt được mục tiêu đặt ra, tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO nên việc điều hành CSTT đã phải đối mặt với nhiều thách thức làm cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu còn có hạn chế nhất định.
  19. Thách thức lớn nhất mà điều hành CSTT năm 2007 phải đối mặt, đó là dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều. (Theo số liệu thống kê đến tháng 10/2007, doanh số phát sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú tại các NHTM thì có khoảng 13 tỷ USD của người không cư trú được chuyển cho người cư trú cho mục đích đầu tư vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào bất động sản và chi tiêu các nhu cầu tiêu dùng khác trong nước). Tình hình này đã có tác động làm tăng tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế (tăng M2); làm tăng cung ngoại tệ, gây sức ép làm VND lên giá; dự trữ vượt của hệ thống ngân hàng tăng mạnh - là một nhân tố thúc đẩy tín dụng tăng nhanh; dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) có tác động thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển mạnh hơn, và một lượng vốn nhất định của dân cư cũng như từ hệ thống ngân hàng được đầu tư trên thị trường chứng khoán, qua đó đã làm tăng dư nợ cho vay nền kinh tế. Cùng với việc gia tăng mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài là sự tăng giá khó lường mang tính toàn cầu của một một số mặt hàng, như giá dầu thô, giá lương thực, bên cạnh đó là hạn hán lũ lụt, dịch bệnh gia cầm trong nước đã có tác động mạnh đến mức mức giá tiêu dùng nói chung. Trong bối cảnh trên, CSTT phải cùng một lúc đạt hai mục tiêu là vừa phải hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%, vừa phải kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng là cực kỳ khó khăn. Giải pháp ổn định lãi suất hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tiền tệ không để xảy ra sự dịch chuyển dòng vốn, nhưng lại rất khó khăn để kiểm soát khối lượng tiền trong nền kinh tế và kiềm chế lạm phát. Năm 2007 dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào ào ạt, việc hạn chế dòng vốn này vào Việt Nam là vấn đề không đơn giản khi Việt Nam đã gia nhập WTO, thị trường tài chính từng bước tự do hóa. Vì vậy, việc hạn chế sự gia tăng nguồn vốn nước ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của NHTƯ, mà đòi hỏi phải có chính sách vĩ mô đồng bộ để đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả, giám sát chặt chẽ luồng vốn đầu tư gián tiếp, hạn chế tình trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán, … nhằm hạn chế những tác động bất lợi của dòng vốn này.
  20. Năm 2008, NHTƯ đã thực hiện một loạt các biện pháp mạnh nhằm trị bằng được “cơn ho” lạm phát. Việc thắt chặt tiền tệ với các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu… là phù hợp với xu thế tự do hóa và thông lệ quốc tế, ở đó, NHTƯ cần thực thi chính sách tiền tệ của mình thông qua các công cụ gián tiếp. Thế nhưng, các liệu pháp trên vẫn chưa đủ liều và hình như chưa đủ răn đe. Chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua việc phát hành tín phiếu trên thị trường mở thì không có gì lạ, song điều mà nhiều người dễ nhận thấy là tần suất thực hiện các liệu pháp tiền tệ là quá dày và mang tính mệnh lệnh hành chính không phù hợp với xu thế thị trường. 2. Giai đoạn 2010-2011 Năm 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 201 2011 0 Gp -1,6 3,2 7,7 8,3 7,5 8,3 23,0 6,9 9,2 18,6 Bằng những giải pháp kiềm chế lạm phát năm 2008, vì vậy đến năm 2009 t ỉ lệ lạm phát của nước ta đã giảm xuống một con số là 6,9% nh ưng đến năm 2010 tỉ lệ lạm phát lại đạt đến ngưỡng gần hai con số là 9,2% và đặc bi ệt là đến năm 2011 tỉ lệ lạm phát tang cao lên đến 18,6%. Đ ể ki ềm ch ế l ạm phát, chính phủ đã sử dụng những biện pháp thuộc chính sách tiền tệ, cụ th ể là: Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính ph ủ đã ban hành Ngh ị quy ết số 02/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2011 về những giải pháp ch ủ y ếu ch ỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới hi ện đang di ễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật li ệu c ơ b ản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế gi ới ti ếp tục xu hướng tăng cao. Trong nước, thiên tai, thời tiết tác động bất lợi đến s ản
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2