
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG NAM
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ II, NĂM HỌC 2023-2024
Môn: NGỮ VĂN - LỚP 12
TT
Kĩ năng
Nội
dung/đơn
vi1 kiê4n
thư4c
Mức độ
nhận
thức Tổng
Nhâ1n biê4t
(Số câu)
Thông
hiêBu
(Số câu)
Vâ1n du1ng
(Số câu)
Vâ1n du1ng
cao
(Số câu)
1Đọc Thơ trữ
tình 2 1 1 4 câu
Tỉ lệ % 15% 10% 5% 30%
2
Viết
NLXH
(Viết
đoạn văn)
1* 1* 1* 1 câu
Tỉ lệ %
điểm
5% 10% 5% 20%
NLVH
(Viết bài
văn)
1* 1* 1* 1* 1 câu
Tỉ lệ %
điểm
20% 10% 10% 10% 50%
TiB lê1 % điểm các mức độ 70% 30% 100%
Lưu ý:
- Tất cả các câu hỏi trong đề kiểm tra là câu hỏi tự luận.
- Cách cho điểm mỗi câu hỏi được quy định chi tiết trong Đáp án/Hướng dẫn chấm.
BABNG ĐĂ1C TAB ĐÊT KIÊBM TRA CUỐI KÌ II, NĂM HỌC 2023-2024
Môn: NGỮ VĂN - LỚP 12
ThơLi gian laLm baLi: 90 phuOt
TT Kĩ năng Nội
dung/Đơn
vi kiên thưc
Mưc đô
đanh gia
Số câu hỏi theo mức độ
Nhân biêt Thông
hiê&u
Vân
dung
Vân
dung
cao
Tổng
1Đọc Thơ (Ngữ
liệu ngoài
SGK)
Nhận biết:
- Nhận biết được
thể thơ, phương
thức biểu đạt,
phong cách ngôn
ngữ được sử
dụng trong bài
thơ.
- Nhận biết được
những từ ngữ,
hình ảnh, câu thơ
tiêu biểu; các
phép tu từ
- Nhận biết các
thông tin trong bài
2 1 1 4

thơ.
Thông hiểu:
- Hiểu nghĩa của
từ, cụm từ, câu,
văn bản.
- Hiệu quả nghệ
thuật của các
biện pháp tu từ
được sử dụng
trong đoạn trích,
văn bản.
Vận dụng:
- Trình bày được
những cảm nhận
sâu sắc và rút ra
được những bài
học ứng xử cho
bản thân do bài
thơ gợi ra.
- Lí giải ý nghĩa,
thông điệp của
bài thơ.
- Đánh giá được
nét độc đáo của
bài thơ thể hiện
qua cách nhìn
riêng về con
người, cuộc sống;
qua cách sử dụng
từ ngữ, hình ảnh,
giọng điệu
2 Viết đoạn
văn nghị
luận xã hội
(khoảng
200 chữ)
Nghị luận
về một tư
tưởng, đạo
lí/ hiện
tượng đời
sống
Nhận biết:
- Xác định
đượcvấn đề nghị
luận
- Xác định được
cách thức trình
bày đoạn văn.
Thông hiểu:
Diễn giải về nội
dung, ý nghĩa của
vấn đề nghị luận.
Vận dụng:
Vận dụng các kĩ
năng dùng từ, viết
câu, các phép liên
kết, các phương
thức biểu đạt, các
thao tác lập luận
phù hợp để triển
khai lập luận, bày
tỏ quan điểm của
bản thân
Vận dụng cao:
- Huy động được
kiến thức và trải
nghiệm của bản
thân để bàn luận.
- Có sáng tạo
trong diễn đạt, lập
luận làm cho lời
1

văn có giọng
điệu, hình ảnh,
đoạn văn giàu
sức thuyết phục.
3 Viết bài
nghị luận
văn học
Nghị luận
về một tác
phẩm, một
đoạn trích
văn xuôi:
- Chiếc
thuyền
ngoài xa
- Hồn
Trương Ba
da hang
thịt
Nhận biết:
- Xác định kiểu
bài nghị luận, vấn
đề cần nghị luận.
- Giới thiệu tác
giả, tác phẩm.
- Nêu được nội
dung , hình tượng
nhân vật trữ tình,
đặc điểm nghệ
thuật của đoạn
trích ...
Thông hiểu:
Diễn giải về giá
trị nội dung, giá trị
nghệ thuật của
đoạn trích/tác
phẩm văn xuôi
Vận dụng:
- Vận dụng các kĩ
năng dùng từ, đặt
câu, các phép liên
kết, các thao tác
lập luận phù hợp
để phân tích, cảm
nhận về nội dung,
nghệ thuật của
đoạn trích văn
xuôi.
- Nhận xét về nội
dung và nghệ
thuật của văn
bản/đoạn trích; vị
trí và đóng góp
của tác giả.
Vận dụng cao:
- So sánh với các
tác phẩm khác,
liên hệ với thực
tiễn; vận dụng
kiến thức lí luận
văn học để đánh
giá, làm nổi bật
vấn đề nghị luận
- Có sáng tạo
trong diễn đạt, lập
luận làm cho lời
văn có giọng
điệu, hình ảnh;
bài văn giàu sức
thuyết phục.
1 *
Tổng 5
Tỉ lệ % 40% 30% 20% 10% 100%
Tỉ lệ chung 70% 30% 100%

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG NAM ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ II, NĂM HỌC 2023-2024
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN Môn: NGỮ VĂN - LỚP 12
Thời gian: 90 phút
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Biển trời soi mắt nhau
Cho sao về với sóng
Biển có trời thêm rộng
Trời xanh cho biển xanh
Mặt trời lên đến đâu
Cũng lên từ phía biển
Nơi ánh sáng bắt đầu
Tỏa triệu vòng yêu mến
Biển ơi! Biển thẳm sâu
Dạt dào mà không nói
Biển ơi cho ta hỏi
Biển mặn từ bao giờ
Nhặt chi con ốc vàng
Sóng xô vào tận bãi
Những cái gì dễ dãi
Có bao giờ bền lâu..
Biển chìm trong đêm thâu
Ðể chân trời lại rạng
Khát khao điều mới lạ
Ta đẩy thuyền ra khơi
Dù bão giông vất vả
Không quản gì biển ơi!

(Biển - Lâm Thị Mỹ Dạ)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ miêu tả tính chất của biển ở khổ thơ 1 và khổ thơ 3.
Câu 3. Nêu nội dung của những dòng thơ sau:
Khát khao điều mới lạ
Ta đẩy thuyền ra khơi
Dù bão giông vất vả
Không quản gì biển ơi!
Câu 4. Từ suy ngẫm của tác giả trong hai câu thơ “Những cái gì dễ dãi/ Có bao giờ bền lâu" ở văn
bản trên, anh/chị hãy rút ra bài học về lẽ sống cho bản thân.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
Anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc
đánh thức ước mơ của con người trong cuộc sống.
Câu 2 (5 điểm)
(1) ….Hồn Trương Ba: (sau một lát) Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh
hàng thịt được nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là
tôi toàn vẹn.
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây.
Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa,
chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên
trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan
rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng
này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống,
nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
(2) ….Hồn Trương Ba (sau một hồi lâu): Tôi đã nghĩ kĩ… (nói chậm và khẽ) Tôi không nhập
vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!
Đế Thích: Không thể được! Việc ông phải chết chỉ là một lầm lẫn của quan thiên đình. Cái
sai ấy đã được sữa bằng cách làm cho hồn ông được sống.
Hồn Trương Ba: Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai
thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác. Việc đúng
còn làm kịp bây giờ là làm cu Tị sống lại. Còn tôi, cứ để tôi chết hẳn…
Đế Thích: Không! Ông phải sống, dù với bất cứ giá nào…
Hồn Trương Ba: Không thể sống với bất cứ giá nào được, ông Đế thích ạ! Có những cái giá
đắt quá, không thể trả được… Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng
cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa…
Đế Thích: Ông có biết ông quyết định điều gì không? Ông sẽ không còn lại một chút gì nữa,
không được tham dự vào bất cứ nỗi vui buồn gì! Rồi đây, ngay cả sự ân hận về quyết định này,
ông cũng không có được nữa.
Hồn Trương Ba: Tôi hiểu. Ông tưởng tôi không ham sống hay sao? Nhưng sống thế này,
còn khổ hơn là cái chết. Mà không phải chỉ một mình tôi khổ! Những người thân của tôi sẽ còn
phải khổ vì tôi! Còn lấy lí lẽ gì khuyên thằng con tôi đi vào con đường ngay thẳng được?
(Trích Hồn Trương ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ –
SGK Ngữ văn 12, tập 2 , trang 149, 151-152)
Anh/chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, nhận xét giá trị nhân văn cao cả được tác giả
gửi gắm qua vở kịch.
--------------------------------HẾT------------------------------

