BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN THỊ NGỌC DAO MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: A18252 : TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG

GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: TS. NGUYỄN THỊ THÚY : TRẦN THỊ NGỌC DAO : A18252 : TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn Ts. Nguyễn Thị Thúy đã dành nhiều thời

gian, tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo những điểm còn thiếu sót để em có thể sửa chữa kịp

thời và giúp đỡ em hoàn thiện khóa luận này một cách tốt nhất.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo Khoa Kinh tế -

Quản lý Trường Đại học Thăng Long đã tận tình truyền dạy cho em những kiến thức và

kinh nghiệm vô cùng quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện khóa

luận này.

Bên cạnh đó, em xin đặc biệt cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các cô chú, anh chị đang

công tác tại Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Viễn Đông đã nhiệt tình giúp đỡ, bảo

ban em trong quá trình thực tập tại Công ty để em hoàn thành tốt đề tài này.

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã ủng hộ và động

viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.

Sinh Viên

Trần Thị Ngọc Dao

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ

từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép từ các công trình nghiên cứu của người khác.

Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Trần Thị Ngọc Dao

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI

DOANH NGHIỆP .............................................................................................................. 1

1.1. Vốn của doanh nghiệp ................................................................................................. 1 1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp ...................................................................... 1

1.1.2. Vốn trong doanh nghiệp ............................................................................................ 3

1.1.3. Các hình thức huy động vốn ..................................................................................... 8

1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến huy động vốn ............................................................. 16 1.2.1. Nhân tố có thể kiểm soát đƣợc ................................................................................ 16

1.2.2. Nhân tố không thể kiểm soát đƣợc ......................................................................... 17

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM

HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG ............................................ 19

2.1. Khái quát về công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông ... 19

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp ............................................. 19

2.1.2. Hình thức kinh doanh và hoạt động của công ty ................................................... 20

2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong công ty ......... 21

2.2. Kết quả hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn

Đông giai đoạn 2011 đến 2013 ......................................................................................... 23

2.3. Thực trạng công tác huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại

và du lịch Viễn Đông giai đoạn 2011 đến 2013 .............................................................. 34

2.3.1. Cơ cấu nguồn vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn

Đông ................................................................................................................................... 34

2.3.2. Các phƣơng thức huy động vốn của công ty trách nhiệm hƣu hạn thƣơng mại và

du lịch Viễn Đông .............................................................................................................. 36

2.4. Đánh giá thực trạng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông ........................................................................................................ 37 2.4.1. Kết quả đạt đƣợc ...................................................................................................... 37 CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG ............. 40 3.1. Định hƣớng hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông .......................................................................................................................... 40 3.2. Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng

mại và du lịch Viễn Đông ................................................................................................. 40

3.2.1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc nâng cao chất lƣợng

nguồn nhân lực và nâng cấp, mua sắm thiết bị, công nghệ hiện đại. ............................ 41

3.2.2. Tăng cƣờng huy động nguồn vốn nội bộ ............................................................... 42

3.2.3. Huy động vốn từ vay ngắn hạn ngân hàng ............................................................ 42 3.2.4. Bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có ................................................ 42

3.2.5. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn tự có ........................................................................ 43

3.2.6. Giảm vốn bị chiếm dụng ......................................................................................... 44

3.2.7. Thanh lý, bán hàng tồn kho để thu hồi vốn cho công ty ....................................... 44 3.2.8. Thƣờng xuyên đánh giá hiệu quả của các kênh huy động ................................... 44

3.3. Kiến nghị .................................................................................................................... 45

3.3.1. Về phía công ty ........................................................................................................ 45

3.3.2. Kiến nghị với Nhà nƣớc .......................................................................................... 45

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC

Công thức 1.1: hàm sản xuất cơ bản ................................................................................. 8

Công thức 1.2: tính tỷ lệ lợi nhuận để lại ....................................................................... 10

Công thức 1.3: Tính tỷ lệ chi trả cổ tức .......................................................................... 10 Công thức 1.4: Tính tỷ lệ chi phí ..................................................................................... 14

Công thức 1.5: Chi phí nợ vay trƣớc thuế ...................................................................... 15

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Thƣơng mại và du lịch Viễn Đông …...21

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011 đến 2013 ………………….24 Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 đến 2013 ............................................. 28

Bảng 2.3. Khả năng thanh toán của công ty .................................................................. 31

Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn của công ty ......................................................................... 32

Bảng 2.5 Khả năng sinh lời .............................................................................................. 33

Bảng 2.6. Tỷ trọng nguồn vốn của công ty ..................................................................... 35

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Huy động vốn là hoạt động rất quan trọng bổ sung nguồn vốn để doanh nghiệp có

thể hoạt động kinh doanh và mở rộng phát triển. Tuy nhiên, trong tình hình thế giới nói

chung và Việt Nam nói riêng vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 thì việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh đó

thì việc huy động vốn của các doanh nghiệp để tiếp tục sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều

khó khăn. Đặc biệt là khi các ngân hàng hiện nay đang thắt chặt cho vay đối với các

doanh nghiệp càng khiến nguồn vốn huy động gặp hạn chế hơn. Không thể huy động vốn thì các doanh nghiệp không thể tồn tại và tiếp tục sản xuất kinh doanh. Việc này đòi hỏi

các nhà quản trị cần phải tìm cách tăng cường, nâng cao việc huy động vốn để có thể bổ

sung cho việc đầu tư, sản xuất,…

Sau một thời gian học tập trên ghế nhà trường cùng với khoảng thời gian thực tập,

tìm tòi và học hỏi tại công ty TNHH Thương Mại và Du lịch Viễn Đông, em nhận thấy

công ty đã có sự quan tâm đến hoạt động huy động vốn. Tuy nhiên công tác này tại công

ty vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi cần có những

giải pháp đưa ra để tăng cường huy động vốn. Từ những lý do trên, em quyết định lựa

chọn đề tài: “Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn

thƣơng mại và du lịch Viễn Đông” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp chương trình đào

tạo bậc đại học của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận

Đề tài khóa luận tập trung làm rõ ba mục tiêu sau:

Một là: Cơ sở lý luận về huy động vốn của doanh nghiệp.

Hai là: Phân tích tình hình hoạt động và công tác huy động vốn tại công ty TNHH

Thương Mại và Du lịch Viễn Đông, từ đó rút ra những kết quả, hạn chế cũng như nguyên

nhân của hạn chế trong huy động vốn của công ty.

Ba là: Từ những hạn chế và nguyên nhân đó sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm tăng

cường huy động vốn tại công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Viễn Đông.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Huy động vốn của doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu: Tình hình huy động vốn của công ty TNHH Thương Mại và

Du lịch Viễn Đông giai đoạn 2011 đến 2013.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu sử

dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phƣơng pháp thống kê mô tả: thu thập thông tin, số liệu về nguồn vốn tại công ty TNHH Thương Mại và Du lịch Viễn Đông và xem xét sự thay đổi của số liệu qua các

năm cho thấy biến động tăng giảm của chúng để thấy được tình hình huy động vốn.

- Phƣơng pháp so sánh: sử dụng các số liệu về tình hình huy động vốn để so sánh

với nhau nhằm xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Từ đó rút ra các nhận xét tình hình huy động vốn tại công ty TNHH Thương Mại và Du lịch Viễn

Đông.

- Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích: là phương pháp tổng hợp phân tích, đánh giá

các thông tin và số liệu đưa ra, từ đó thấy được ý nghĩa, nguyên nhân của sự biến động

các con số để có sự hiểu biết cụ thể vấn đề, rút ra nhận xét và đưa ra các biện pháp nhằm

khắc phục, tăng cường huy động vốn tại công ty TNHH Thương Mại và Du lịch Viễn

Đông.

5. Kết cấu của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu và đồ thị,

kết cấu của khóa luận bao gồm ba chương với nội dung cơ bản như sau:

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA

DOANH NGHIỆP

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY TRÁCH

NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI DOANH NGHIỆP

1.1. Vốn của doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp

1.1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp

Trên lý thuyết có rất nhiều quan điểm định nghĩa về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa

đều mang có một nội dung nhất định mang ý nghĩa. Một số quan điểm cho rằng:

- Quan điểm pháp lý: Theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày

29/11/2005 của Việt Nam, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục

đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

- Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc

thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.

- Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực

hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ

sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.

Có thể hiểu rằng, doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các

phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung

ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng,

thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục

tiêu xã hội.

1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp

Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu

Tính chất sở hữu của vốn và tài sản được sử dụng để thành lập doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp được nhà nước đầu tư vốn. Nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức đại diện Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh từ khi thành lập đến khi giải thể. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Nhiệm vụ của DNNN là thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường đặt ra nhu cầu khách quan về sự hình thành và tồn tại các DNNN.

Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ doanh

1

nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của doanh nghiệp từ lúc thành

lập đến khi giải thể hoặc tuyên bố phá sản.

Căn cứ theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn: là loại hình doanh nghiệp có không quá 50 thành viên cùng góp vốn. Đây là loại hình công ty mà các thành viên trong công ty chịu trách

nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ

của công ty. Nghĩa là công ty chỉ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ đến đồng vốn

cuối cùng thì phá sản, các khoản nợ còn lại vượt quá giới hạn vốn điều lệ sẽ không được công ty thanh toán. Như vậy, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp là hữu hạn không phải vô

hạn.

Cơ cấu tổ chức của công ty bao TNHH bao gồm Ban giám đốc và các chức danh

quản lý phòng ban.

- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp TNHH được hình thành, tồn tại và phát triển bởi

sự góp vốn của nhiều cổ đông, mà trong đó vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều

phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Công ty cổ phần được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn, cho phép các nhà

đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế được tham gia góp vốn. Cá nhân hay tổ chức sở hữu

cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và

các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc

bầu cử và ứng cử vào các vị trí quản lý trong công ty. Tùy thuộc vào cổ phần mà cổ đông

năm giữ sẽ có quyền, trách nhiệm và mức độ hưởng lợi khác nhau.

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần bao gồm: Đại hội đồng cổ đông,

Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban tổng giám đốc, các giám đốc điều hành và các

chức danh quản lý phòng ban.

- Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp.

Công ty hợp danh bản chất là công ty trách nhiệm vô hạn, chính vì vậy luật pháp

hạn chế loại hình công ty này không được phép huy động vốn dưới hình thức phát hành

các chứng khoán.

2

- Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân

chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: được thành lập theo Luật đầu tư

nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định.

1.1.2. Vốn trong doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp

Bất kì cá nhân hay tổ chức doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất, thương mại đều cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư sản xuất, kinh

doanh. Đứng trên các quan điểm khác nhau có nhiều khái niệm khác nhau về vốn.

Theo nghĩa hẹp: “Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi

quốc gia”.

Theo nghĩa rộng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất

hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật

của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán

bộ điều hành cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh

nghiệp”.

Dưới góc độ các yếu tố sản suất, nhà triết học Karl Marx cho rằng: “Vốn (tư bản) là

giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất”. Định nghĩa của Marx về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Tuy nhiên,

do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế thời bấy giờ nên khái niệm của Karl

Marx về vốn còn bó hẹp trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Đây là một hạn chế trong quan

niệm về vốn của Marx.

David Begg đưa ra định nghĩa trong cuốn “Kinh tế học” rằng: “Vốn hiện vật là giá

trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác. Ngoài ra

còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo”.

Một số nhà kinh tế học khác đưa ra quan điểm: “Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai”. Định nghĩa này phản ánh về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn.

Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất

3

cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng.

Trên cơ sở phân tích các quan điểm ở trên, ta có thể khái quát: “Vốn là phần thu

nhập quốc dân dƣới dạng tài sản vật chất và tài chính cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra

để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích”.

Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới các

hình thức khác nhau. Đó là nguồn nguyên vật liệu, tài sản cố định sản xuất, nhân lực,

thông tin, uy tín của doanh nghiệp, được sử dụng cho mục đích sinh lợ

Vốn khác với tiền và các loại hàng hoá tiêu dùng khác. Tiền tiêu dùng trong lưu thông dưới hình thức mua bán trao đổi, các vật phẩm tiêu dùng nên không được gọi là vốn. Các

hàng hoá được sử dụng cho tiêu dùng cũng không phải là vốn. Nói cách khác, vốn được

biểu hiện bằng tiền nhưng phải là tiền vận động với mục đích sinh lời.

1.1.2.2. Phân loại vốn trong doanh nghiệp

Phân loại vốn giúp doanh nghiệp thấy tỷ trọng cơ cấu từng loại vốn để từ đó xem xét

hình thức huy động, quản lý hợp lý nguồn vốn để đem lại lợi nhuận cao cho doanh

nghiệp. Tùy theo tiêu thức và mục đích cụ thể mà các doanh nghiệp có các cách phân loại

vốn khác nhau.

Phân loại vốn theo nguồn hình thành Nguồn vốn sẽ được phân thành hai loại là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

- Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc về quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp do các chủ sở hữu của doanh nghiệp đóng góp và giữ lại phần lợi nhuận chưa phân phối. Đây là

nguồn vốn có tính an toàn do doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán hay trả lãi.

Vốn chủ sở hữu bao gồm

+ Vốn góp ban đâu: là nguồn vốn hình thành ban đầu do các chủ sở hữu doanh

nghiệp đóng góp tùy vào hình thức doanh nghiệp:

Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước: Vốn đầu tư ban đầu của Nhà nước.

Doanh nghiệp tư nhân: Vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp. Công ty TNHH, liên doanh: Vốn góp do một thành viên (công ty TNHH 1 thành

viên) hoặc nhiều thành viên (công ty TNHH từ hai thành viên trở lên) sáng lập cùng góp.

Công ty Cổ phần: Vốn cổ phần do các cổ đông sáng lập đầu tư. Công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Vốn do chủ đầu tư nước ngoài bỏ ra. + Lợi nhuận để lại: là phần lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã phân bổ hết cho các khoản cần thiết. Điều kiện để có lợi nhuận để lại là doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu

quả và có lợi nhuận.

+ Chênh lệch đánh giá lại tài sản: Là phần chênh lệch giữa giá trị đánh giá lại với 4

giá trị còn lại của tài sản ghi trên sổ sách kế toán. Tài sản được đánh giá lại chủ yếu là tài

sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư dài hạn...

+ Các quỹ của doanh nghiệp: Là các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng

tài chính, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi... Các quỹ được lập phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp do Hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp quyết

định. Nguồn hình thành các quỹ này là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, tỷ lệ trích

lập và sử dụng các quỹ theo quy định của pháp luật đối với từng doanh nghiệp.

+ Phát hành cổ phiếu mới (hình thức này chỉ áp dụng với công ty cổ phần): Giá trị nguồn vốn được tính bằng thị giá một cổ phiếu được bán ra lần đầu tiên trên thị trường

nhân với số lượng cổ phiếu phát hành. Phát hành cổ phiếu ở đây có thể chia ra thành phát

hành cổ phiếu thường và phát hành cổ phiếu ưu đãi.

- Nợ phải trả: là phần vốn không thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, được sử

dụng với các điều kiện nhất định (thời hạn, lãi suất,...). Nguồn vốn này là các khoản nợ

phát sinh trong quá trình hoạt động mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ

gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Nợ phải trả bao gồm:

+ Vay ngân hàng: là các khoản vay của doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng, ngân

hàng. Đây là nguồn vốn nợ phổ biến đối với các loại hình doanh nghiệp để bổ sung vốn.

Tuy nhiên trong nhưng năm gần đây khi các ngân hàng siết chặt tín dụng thì việc vay vốn

trở nên khó khăn hơn.

+ Tín dụng thương mại: là nguồn vốn mà trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp

chiếm dụng của người bán hay là khoản tín dụng thương mại người bán cấp cho doanh

nghiệp. Nguồn vốn này được hình thành thông qua nghiệp vụ mua trả chậm, trả góp. Tuy

nhiên phần vốn này thường có giá trị không lớn và chỉ chiếm dụng được trong thời gian

ngắn.

+ Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp

phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu một khoản tiền cụ thể, trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định.

+ Các khoản nợ khác: các khoản nợ tổ chức tín dụng, vay cá nhân hay các khoản

chiếm dụng khác của như phải trả công nhân viên, phải nộp ngân sách,...

Phân loại vốn theo vài trò và tính chất luân chuyển Vốn được chia ra làm hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.

- Vốn cố định:

Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc

điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một

5

vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Hiểu một cách đơn giản, vốn cố

định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định trong doanh nghiệp. Đây là số vốn

đầu tư ứng trước vì nếu được sử dụng hiệu quả, số vốn này sẽ không mất đi mà được thu

hồi sau khi doanh nghiệp hoàn thành tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng đến trình độ trang bị

kĩ thuật công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn cố định tham gia

vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì tài sản cố định của doanh nghiệp có thời gian

luân chuyển dài. Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần từng phần thông qua việc hao mòn giá trị tài sản cố định.

- Vốn lưu động:

Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của

doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động hay nguồn vốn mà doanh nghiệp

dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn,

thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng

dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ... ), sản phẩm đang

trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt...

trong giai đoạn lưu thông. Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu

động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.

Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái

vật chất ban đầu. Vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản

phẩm. Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển

sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất. Kết thúc vòng tuần hoàn, sau

khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát

ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển.

Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng

- Nguồn vốn thường xuyên: là tất cả nguồn vốn có tính chất ổn định, dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Đây là nguồn vốn để đầu tư cho tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu cần cho quá trình kinh doanh. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và vay dài hạn.

- Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn thường dùng cho việc bổ

sung vốn lưu động, mua sắm tài sản lưu động đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời và

6

bất thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn nay bao gồm vay ngắn hạn

ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản vay ngắn hạn khác.

1.1.2.3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp

Một doanh nghiệp trong bất kì lĩnh vực nào muốn được kinh doanh đều cần có vốn. Nó là điều kiện tiên quyết để bước đầu hình thành doanh nghiệp cũng như hoạt động kinh

doanh sau này của doanh nghiệp. Chính vì vậy, vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng đối

với doanh nghiệp.

Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp: Theo quy định, một doanh nghiệp khi muốn đăng kí kinh doanh phải có số vốn ban đầu ít nhất bằng vốn pháp định –

mức vốn tối thiểu mà pháp luật quy định riêng cho từng ngành nghề. Ở nước ta, trong

một số lĩnh vực kinh doanh cần vốn pháp định như kinh doanh về ngân hàng tài chính,

chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh vàng bạc. Ví dụ:

Chứng khoán:

Môi giới chứng khoán : 25 tỷ đồng

Tự doanh : 100 tỷ đồng

Quản lý danh mục đầu tư: 3 tỷ đồng

Bảo lãnh phát hành: 165 tỷ đồng

Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng

Môi giới lao động, việc làm: 50triệu đồng

(Theo Nghị định số 48/NĐ-CP của Chính phủ)

Ngân hàng: Ngân hàng thương mại Nhà nước: 3.000 tỷ đồng

Ngân hàng thương mại cổ phần: 3.000 tỷ đồng

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: 3.000 tỷ đồng

Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD Ngân hàng chính sách: 5.000 tỷ đồng (Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ) Thêm nữa, trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn đảm bảo lượng vốn theo điều kiện pháp luật quy định nếu không sẽ bị thu hồi giấy phép kinh doanh hoặc bị sát nhập. Có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng đảm bảo tư

cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật.

Ngoài việc để đăng kí và duy trì công ty trên hình thức pháp lý, vốn đóng vai trò

7

đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành. Xét hàm sản

xuất cơ bản của doanh nghiệp:

Công thức 1.1: hàm sản xuất cơ bản

Q=f(K,L,T)

Trong đó: Q là sản lượng đầu ra

K là vốn

L là lao động

T là công nghệ

Cùng với lao động, công nghê, vốn là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng của

hoạt động sản xuất. Doanh nghiệp sử dụng vốn để thuê lao động, mua sắm công nghệ và

ba yếu tố đó giúp doanh nghiệp có thể vận hành, sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên

tục và hướng tới mục tiêu đề ra của doanh nghiệp. Ví dụ trong công ty thương mại và du

lịch thì vốn đóng vai trò để thuê lao động, mua sắm các thiết bị, phần mềm công nghệ

phục vụ cho hoạt động kinh doanh du lịch,…

Vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh: Khi

doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp có khả năng chủ động trong hình

thức kinh doanh, thay đổi nâng cấp máy móc, trang thiết bị hiện đại, đầu tư vào các hoạt

động nghiên cứu thị trường, quảng cáo, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh cả về chiều

rộng và chiều sâu. Điều này mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế như: cải tiến mẫu

mã, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao

động… Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp giúp

tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Từ đó có thể thấy, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu xuyên suốt của doanh nghiệp

từ lúc hình thành đến khi hoạt động sản xuất, thậm chí là khi giải thể (sử dụng vốn chủ sở hửu để thanh toán các khoản nợ). Vốn góp phần giúp doanh nghiệp vận hành sản xuất

thường xuyên, liên tục, sử dụng cho các hoạt động thường ngày như mua sắm vật tư, trả lương nhân viên,… Trong hoạt động kinh doanh, có thể doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn hay nói cách khác là vốn không đủ đáp ứng như cầu cấp thiết khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Tình trạng này nếu kéo dài và doanh nghiệp không có vốn bổ sung sẽ làm ngưng trệ sản xuất, không thanh toán được nợ, trả lương nhân viên, gây ra tình trạng hoang mang, mất uy tín, ảnh hưởng nghiêm trọng đến

doanh nghiệp, thậm chí doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản.

1.1.3. Các hình thức huy động vốn

8

Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp. Để có

được vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải thực hiện huy động từ nhiều nguồn khác nhau.

Mặc dù trên thực tế có nhiều cách phân loại nguồn vốn khác nhau nhưng khóa luận này

tập trung vào cách phân loại vốn theo nguồn hình thành để huy động. 1.1.3.1. Huy động từ vốn chủ sở hữu

Huy động từ vốn góp ban đầu

Khi mới bắt đầu hình thành, đăng kí kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có một

số vốn nhất định từ các chủ sở hữu. Tùy theo tính chất sở hữu của loại hình doanh nghiệp mà hình thành vốn góp ban đầu. Đối với doanh nghiệp Nhà nước vốn góp ban đầu chính

là vốn đầu tư của Nhà nước, đồng thời chủ sở hữu của doanh nghiệp Nhà nước chính là

Nhà nước. Trong công ty tư nhân thì vốn góp ban đầu do chính chủ công ty bỏ ra. Đối với

các công ty cổ phần là do cổ đông đóng góp và mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty,

họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Vốn góp ban đầu này

được ghi trong điều lệ công ty do đó còn được gọi là vốn điều lệ. Vốn điều lệ có thể tăng

thêm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn điều lệ không nhất thiết phải góp

đủ khi quyết định thành lập doanh nghiệp mà có thể góp sau một thời gian. Nếu sau thời

gian quy định mà không góp đủ thì phải ghi giảm vốn điều lệ hoặc thay đổi hình thức

doanh nghiệp.

Huy động từ lợi nhuận để lại (RE)

Nguồn vốn góp từ lợi nhuận để lại chính là phần lợi nhuận không chia dùng để tái

đầu tư. Nguồn vốn này chỉ có khi doanh nghiệp làm ăn có lợi nhuận và lợi nhuận được

giữ lại để tiếp tục đầu tư cho doanh nghiệp. Lợi nhuận không chia của các loại hình doanh

nghiệp là khác nhau.

Đối với doanh nghiệp tư nhân: RE = lợi nhuận sau thuế.

Đối với công ty cổ phần: RE = lợi nhuận sau thuế sau khi đã chia cổ tức.

Huy động vốn từ lợi nhuận để lại có lợi ích cho doanh nghiệp khi đây là hình thức không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền sở hữu của các chủ doanh nghiệp và không phải hoàn trả. Hơn nữa, vốn huy động từ lợi nhuận để lại giúp cho doanh nghiệp nâng cao độ tự chủ về nguồn vốn, tăng cường mức độ uy tín với các đối tác khác.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hình thức huy động này cũng có mặt hạn chế. Huy động từ lợi nhuận để lại chỉ khi doanh nghiệp làm ăn có lợi nhuận. Hơn nữa lợi nhuận không chia tỷ lệ nghịch với lợi nhuận chia cho các cổ đông. Khi mà lợi nhuận không chia tăng lên để

bổ sung nguồn vốn cho doanh nghiệp thì lợi ích các cổ đông sẽ bị giảm xuống tùy theo tỷ

lệ chi trả cổ tức. Công thức để tính tỷ lệ lợi nhuận để lại và tỷ lệ chi trả cổ tức được trình

9

bày như dưới đây:

Công thức 1.2: tính tỷ lệ lợi nhuận để lại

Mức thu nhập giữ lại Tỷ lệ lợi nhuận để lại = Thu nhập sau thuế

Công thức 1.3: Tính tỷ lệ chi trả cổ tức

Tổng giá trị cổ tức Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập sau thuế

Như vậy, tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn doanh

nghiệp sẽ chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản.

Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến

thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp bị giảm.

Huy động từ phát hành cổ phiếu mới

Huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu chỉ áp dụng ở công ty cổ phần. Cổ phiếu là

chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích sở hữu hợp pháp của người sở

hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát hành. Người nắm giữ cổ phiếu của doanh

nghiệp gọi là cổ đông, giá trị cổ phiếu người đó nắm giữ gọi là cổ phần và phần thu nhập

công ty trả cho cổ đông vào cuối mỗi năm theo cổ phần được gọi là cổ tức. Tại Việt Nam,

theo luật chứng khoán 2006 và luật sửa đổi bổ sung 2010, doanh nghiệp muốn phát hành

cổ phiếu phải có các điều kiện sau:

- Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng kí phát hành cổ

phiếu tối thiểu 10 tỷ đồng Việt Nam tính trên giá trị ghi trên sổ kế toán;

- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí phải có lãi, đồng thời không

có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán;

- Có phương án phát hành và sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội cổ

đông thông qua.

Một công ty cổ phần có thể phát hành ra công chúng hai loại cổ phiếu, đó là: cổ

phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

Cổ phiếu thƣờng (cổ phiếu phổ thông):Là loại cổ phiếu được phát hành bằng lợi 10

nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác và không có sự ưu tiên đặc

biệt nào trong chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi doanh nghiệp phá sản. Đây là loại cổ

phiếu phổ biến nhất trong các loại cổ phiếu của một công ty cổ phần. Thời hạn của cổ

phiếu là vĩnh viễn, cổ tức không ổn định theo từng năm, phụ thuộc vào lợi nhuận sau thuế và chính sách của công ty. Cổ đông có quyền bỏ phiếu bầu ra người điều hành, được

quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần và là người cuối cùng nhận tài sản khi công

ty phá sản. Tuy nhiên, cổ phiếu phổ thông mang lại cho cổ đông những quyền như sau:

Quyền hưởng cổ tức: Cổ tức là phần lợi nhuận của công ty dành để trả cho những người chủ sở hữu. Cổ tức có thể được trả bằng tiền (dạng phổ biến), cũng có thể trả bằng

cổ phiếu mới. Cổ phiếu phổ thông không uy định mức cổ tức tối thiểu hay tối đa mà cổ

đông nhân được. Việc có trả cổ tức hay không, tỷ lệ trả cổ tức là tùy thuộc vào kết quả

hoạt động và vào chính sách của công ty. Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông phổ

thông là những người cuối cùng nhận được những gì còn lại (nếu có) sau khi công ty

trang trải xong tất cả các nghĩa vụ như: thuế nợ và cổ phiếu ưu đãi.

Quyền mua cổ phiếu mới: Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn,

các cổ đông hiện đang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu

mới, trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định.

Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với lượng cổ phiếu được

phép nắm giữ. Như vậy, quyền này cho phép cổ đông duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong công ty sau khi đã tăng thêm vốn. Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông

mộtquyền mua trước. Số lượng quyền cần có để mua một cổ phiếu mới sẽ được quy định

cụ thể trong từng đợt chào bán, cùng với giá mua, thời hạn của quyền mua và ngày phát

hành cổ phiếu mới. Cổ phiếu bán theo quyền thường có mức giá thấp hơn so với mức giá

thị trường hiện hành. Khi cổ đông thực hiện quyền, công ty sẽ huy động được thêm vốn.

Nếu cổ đông không muốn thực hiện quyền họ có thể bán trên thị trường.

Quyền bỏ phiếu: Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào các chức vụ quản lý trong công ty; có quyền tham gia vào các đại hội cổ đông và bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Nếu không tham dự được, cổ đông có thể ủy quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết theo chỉ định của họ hoặc theo tùy ý người ủy quyền. Tùy theo quy định, mỗi cổ đông có thể được bỏ phiếu tối đa cho mỗi ứng viên bằng số cổ phếu nắm giữ, hoặc được dồn toàn bộ vào số cổ phếu có thể chi phối (bằng tổng số cổ phiếu nhân với số ứng viên) để bầu cử một (hoặc hơn) ứng cử viên. Cách thứ

hai có lợi cho các cổ đông nhỏ, vì tuy có ít phiếu bầu nhưng họ lại có thể tập trung phiếu

để tăng thêm giá trị bỏ phiếu của mình. Ngoài những quyền lợi cơ bản về kinh tế trên đây,

11

cổ phếu phổ thông còn những quyền pháp lý khác nữa như quyền được kiểm tra sổ sách

của công ty khi cần thiết, quyền được yêu cầu triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường

v.v…

Cổ phiếu ƣu đãi: Là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với

cổ đông thường. Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán vừa có những đặc điểm giống

cổ phiếu thường, vừa giống trái phiếu. Cũng giống như cổ phiếu thường, người mua cổ

phiếu ưu đãi được xem là cổ đông trong công ty. Tuy nhiên, khác với cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả một lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ. Giống như trái phiếu,

mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi khác với mệnh giá cổ phiếu thường chỉ có giá trị danh

nghĩa, mệnh giá cổ phiếu ưu đãi rất quan trọng, có ý nghĩa trong việc chia cổ tức cố định

và cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá. Cổ phiếu

ưu đãi có cổ tức xác định trước, tức là dù lợi nhuận sau thuế là bao nhiêu thì cổ đông vẫn

nhận được một khoản cổ tức không đổi.

Cổ phiếu phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phiếu ưu đãi, trong khi cổ phiếu

ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông theo quyết định của Đại hội cổ đông.

Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi. Người sở hữu cổ phiếu này

có quyền thanh toán lãi trước các cổ đông thường. Việc chi trả cho cổ đông thường chỉ

sau khi đã chi trả hết cho cổ đông năm giữ cổ phiếu ưu đãi, vì thế được ưu tiên chia vốn khi công ty phá sản hoặc hết thời gian hoạt động..

Cổ phiếu ưu đãi bao gồm: cổ phiếu ưu đãi cổ tức (cổ phiếu ưu đãi tham dự và không

tham dự chia phần, cổ phiếu ưu đãi tích lũy và không tích lũy, cổ phiếu ưu đãi có thể

chuyển đổi,…), cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi biểu quyết.

Nhìn chung, giống như lợi nhuận để lại, việc doanh nghiệp huy động vốn bằng phát

hành cổ phiếu cũng giúp gia tăng mức độ tự chủ cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hình ảnh

và uy tín của công ty được tăng lên do được quảng bá rộng rãi. Tuy nhiên, do cổ tức chi trả cho cổ đông không nằm trong chi phí để giảm thuế nên nó không tạo ra lá chắn thuế thu nhập cho doanh nghiệp. Đồng thời, khi phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải công khai thông tin và áp dụng chết độ kế toán, kiểm toán và báo cáo theo quy định; quy mô vốn và lượng cổ đông tăng lên làm cho việc quản lý, điều hành phức tạp hơn; cơ cấu quyền sở hữu không ổn định bởi nhu cầu giao dịch cổ phiếu hàng ngày của các cổ động và có nguy cơ bị mất quyền kiểm soát công ty.

1.1.3.2. Huy động vốn nợ

12

Huy động từ vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Các ngân hàng và tổ chức tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn

của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tìm đến ngân hàng để bổ sung nguồn vốn kinh

doanh thiếu hụt theo nguyên tắc hoàn trả.

Đây là hình thức huy động vốn cho cả ngắn hạn (tới 12 tháng), trung hạn (từ 12

tháng tới 60 tháng) và dài hạn (trên 60 tháng). Vay nợ ngân hàng giúp doanh nghiệp huy

động nguồn vốn lớn nhanh chóng, mức độ rủi ro thấp hơn các tổ chức tín dụng khác. Tuy

nhiên hiện nay với cuộc khủng hoảng tài chính cũng như nợ xấu nhiều thì việc vay ngân hàng gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp có thể không đáp ứng đủ yêu cầu từ phía ngân

hàng. Khủng hoảng kinh tế khiến cho việc các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong

buôn bán sản phẩm, dịch vụ. Khách hàng giảm chi tiêu khiến cho doanh nghiệp kinh

doanh không thể buôn bán tốt dẫn tới việc hàng tồn kho nhiều, doanh thu cũng như lợi

nhuận giảm đi. Với việc khó khăn trong kinh doanh khiến cho các nhà đầu tư e rè hơn khi

đầu tư vào các công ty. Thêm vào nữa tình hình nợ xấu của các ngân hàng. Nợ xấu là

những khoản nợ quá hạn mà ngân hàng xếp vào nợ nhóm 3 đến nợ nhóm 5 và có khả

năng không thu hồi được vốn. Nợ xấu năm 2013 của các ngân hàng tuy giảm nhưng mà

dư âm của những năm trước vẫn làm cho các công ty khó tiếp cận vốn vay của ngân hàng.

Khi đi vay ở các ngân hàng, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện: có mục đích sử

dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ đúng hạn, có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có hiệu quả và phù hợp quy định

pháp luật.

Quy mô vốn vay phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn. Quy mô này bị hạn chế do

quy định hạn mức tín dụng của ngân hàng, giá trị tài sản thế chấp, tính hiệu quả và khả thi

của dự án v.v… Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi tài sản thế chấp không đủ có thể nhờ

bên thứ ba bảo lãnh, tham gia vào quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng chịu sự giám sát trên hai phương diện: doanh nghiệp có sử dụng vốn đúng với mục đích ban đầu hay không và doanh nghiệp có trả lãi và gốc đúng kỳ hạn hợp đồng không.

Lãi suất vay phụ thuộc tình hình nền kinh tế (lạm phát), kì hạn khoản vay (thời gian vay càng dài thì lãi suất càng cao), phụ thuộc doanh nghiệp có phải đối tượng ưu đãi hay không… Đây là mức lãi suất cố định vì thế doanh nghiệp phải trả lãi định kỳ cho ngân hàng ngay cả khi làm ăn không có lãi. Lãi suất vay vốn chính là chi phí huy động vốn.

Chẳng hạn doanh nghiệp vay tiền với lãi suất 10% thì chi phí vốn vay trước thuế chính là

10%. Nghĩa là để có được 1 đồng vốn huy động từ khoản vay đó, công ty sẽ mất 0,1 đồng

13

chi phí lãi dù vốn đó có được sử dụng hay không. Nếu lãi suất quá cao thì doanh nghiệp

phải gánh chịu chi phí lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.

Huy động từ tín dụng thƣơng mại

Là hình thức huy động nợ ngắn hạn. Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả

góp hàng hóa.

Chi phí của tín dụng thương mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền

ngay. Thông thường các nhà cung cấp đưa ra điều khoản khuyến khích người mua trả tiền sớm, ví dụ: “2/10 net 40” tức là người mua hàng sẽ được chiết khấu 2% nếu thanh toán

trong vòng 10 ngày, nếu không sẽ phải trả đầy đủ sau 10 ngày và được trả chậm trong

vòng 40 ngày. Khi đó chi phí của tín dụng thương mại là chi phí khi người mua không

thanh toán được trong thời hạn hưởng chiết khấu.

Công thức 1.4: Tính tỷ lệ chi phí

360 x i Tỷ lệ chi phí = (100 - i) x (n-t)

Trong đó: i là tỷ lệ chiết khấu

n là số ngày mua chịu

t là số ngày hưởng chiết khấu

Huy động từ tín dụng thương mại là nguồn huy động dễ dàng, đơn giản và thuận tiện

hơn so với vay từ ngân hàng, đồng thời cũng không phải chịu sự giám sát từ phía ngân

hàng. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế như chi phí khoản vay thường khá cao, thời

gian vay ngắn và quy mô số tiền vay nhỏ.

Phát hành trái phiếu

Đây là hình thức vay nợ trong trung và dài hạn. Trái phiếu là một công cụ nợ quy

định nghĩa vụ chủ thế phát hành (người vay) phải trả cho trái chủ (người cho vay) một

khoản tiền nhất định (lãi vay) trong một thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản vốn ban đầu khi đáo hạn. Doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng trái phiếu nhất định dưới sự cho phép của Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Lãi suất trái phiếu thông thường thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường. Khác với cổ phiếu, người sở hữu trái phiếu (trái chủ) không có quyền tham gia và biểu quyết các vấn đề của doanh nghiệp. Hằng năm, doanh nghiệp thanh toán lãi theo phương thức trả lãi trước hoặc trả sau theo kỳ hạn sáu tháng hoặc một năm và chỉ trả gốc vào cuối kỳ nên nguồn vốn này rất có lợi cho doanh nghiệp. Chi phí nợ vay trước thuế được tính như sau:

14

Công thức 1.5: Chi phí nợ vay trƣớc thuế

D Tỷ lệ chi phí = Po – F

Trong đó D là trái tức trả vào cuối năm

Po là thị giá trái phiếu tại thời điểm phát hành F là chi phí phát hành

- Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu phiếu phổ biến nhất. Để cạnh

tranh với trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của các công ty khác, doanh nghiệp phải đưa

ra một mức lãi suât hấp dẫn. Lãi suất cao sẽ thu hút người đầu tư nhưng chi phí trả lãi lớn. - Trái phiếu lãi suất thả nổi: loại trái phiếu mà doanh nghiệp trả lãi suất thả nổi theo

lãi suất thị trường.

- Trái phiếu có thể thu hồi: loại trái phiếu doanh nghiệp được phép thu hồi sớm hơn

thời hạn.

- Trái phiếu có thể chuyển đổi: chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành. Đây là loại trái phiếu cho phép trái chủ chuyển đổi sang cổ phiếu phổ thông ở một mức giá xác

định trong một thời gian xác định. Việc chuyển từ trái phiếu sang cổ phiếu làm giảm vốn

nợ, tăng vốn chủ sở hữu, có thể khiến doanh nghiệp khó kiểm soát cấu trúc vốn do quyền

lựa chọn chuyển đổi thuộc về trái chủ.

- Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: cho phép trái chủ được mua thêm một số

lượng cổ phiếu thường với mức giá xác định trong thời gian xác định.

- Trái phiếu có tài sản đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng tài sản của doanh

nghiệp hoặc của bên thứ ba. Các tài sản đảm bảo này thường là bất động sản, nhà xưởng,

máy móc… Tổng giá trị trái phiếu phát hành không được vượt quá giá trị tài sản đảm bảo.

- Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: đây là loại trái phiếu doanh nghiệp phát hành

khá phổ biến, có lãi suất huy động cao. Thường chỉ các doanh nghiệp lớn, có uy tín mới phát hành thành công loại trái phiếu này.

Như vậy, trái phiếu, dù không phải vô thời hạn như cổ phiếu nhưng thường có thời

gian đáo hạn dài hơn vay ngân hàng, lãi suất cũng thường được cố định trong suốt quá trình vay. Đây chính là ưu điểm quan trọng cho những doanh nghiệp cần vốn đầu tư vào những dự án dài hạn và có dòng tiền ổn định. Ngoài ra, vì là công cụ nợ nên các chi phí liên quan đến trái phiếu (lãi suất, chi phí phát hành, bảo hiểm) đều được trừ thuế như chi phí vốn vay ngân hàng. Điều này giúp doanh nghiệp có thể giảm bớt gánh nặng về thuế.

15

1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến huy động vốn

1.2.1. Nhân tố có thể kiểm soát đƣợc

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ảnh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, từ đó quyết định khả năng huy

động vốn của doanh nghiệp. Đánh giá tình trạng tài chính doanh nghiệp tại thời điểm cần

huy động bằng việc tính toán các chỉ tiêu căn bản như: khả năng thanh toán, chỉ số nợ, chỉ

số hoạt động, lợi nhuận. Đồng thời tính toán lại các chỉ tiêu theo phương án huy động khác nhau. Trên cơ sở đó lựa chọn mục tiêu, phương án huy động cụ thể. Hiệu quả sản

xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm

chú ý. Trái lại, khi sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu

thông thì doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn vì không tạo được niềm tin về khả

năng thanh toán đối với những người cho vay. Ví dụ một công ty thương mại làm ăn sau

một năm thu được một khoản lợi nhuận sau thuế dương nhưng không cao mà số vốn đầu

tư từ vốn chủ sở hữu vào nhiều thì tỷ lệ khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty

sẽ thấp. Điều này sẽ khiến cho các chủ đầu tư không hài lòng và mất dần niềm tin với

công ty. Thêm vào nữa, các nhà đầu tư ngoài khi xem xét sẽ thấy đây là khoản đầu tư

không hiệu quả khiến công ty đó không thể huy động thêm được vốn từ bên ngoài.

Trình độ quản lý của doanh nghiệp

Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một

doanh nghiệp có trình độ quản lý cao sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp đạt kết quả

cao và ngược lại. Do đó doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản lý đặc biệt là đối với

cán bộ quản lý tài chính về chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm để đảm bảo

an toàn về tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh. Từ đó tạo uy tín trên thị trường

cũng như là nền tảng cho công tác huy động vốn.

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng

Doanh nghiệp có uy tín và mối quan hệ tốt với các ngân hàng và các tổ chức tài chính thì việc vay vốn sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn như được hưởng ưu tiên trong lãi suất, thời hạn cho vay,… Điều này sẽ giúp giảm thiểu các chi phí trong việc huy động vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng tối đa toàn nguồn lực, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để tạo dựng được mối quan hệ tốt với các ngân hàng, doanh nghiệp cần phải thanh

toán đầy đủ các khoản vay ngân hàng, đối tác,… Từ đó nâng cao uy tín cũng như được xếp hạng tín dụng cao trong các ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi khi đi vay vốn những

16

lần tiếp theo. Trước đây, nhiều doanh nghiệp có uy tín cao trên thị trường đã được các

ngân hàng áp dụng cho vay tín chấp. Nghĩa là công ty đó vay vốn ngân hàng mà không

cần có tài sản thế chấp nào, chỉ cần chứng minh năng lực tài chính đảm bảo và có uy tín

với các ngân hàng. Hiện nay tuy nhiều ngân hàng không còn áp dụng cho vay tín chấp vì nó chưa đựng nhiều rủi ro nhưng uy tín của doanh nghiệp vẫn làm một yếu tố quan trọng

để ngân hàng đánh giá chó nên cho công ty đó vay vốn hay không.

1.2.2. Nhân tố không thể kiểm soát đƣợc

Môi trƣờng chính trị - pháp luật

Một môi trường chính trị ổn định sẽ đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững giúp thu

hút các nguồn vốn đầu tư. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp

được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và khả

năng của mình. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh

nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp đã lựa

chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chỉ một

thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt

động của doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn

bản chính sách về thuế... Nói chung, sự thay đổi cơ chế và chính sách của nhà nước sẽ gây

rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp. Song nếu doanh

nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo

trong quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chính sách, bộ luật Nhà nước

ban hành như luật đầu tư, luật xây dựng, luật đất đai, luật thuế, … sẽ là công cụ giúp

khuyến khích, đảm bảo thu hút vốn đầu tư vào các dự án, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.

Môi trƣờng kinh tế

Hoạt động huy động và sử dụng vốn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các chỉ tiêu kinh tế

như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm phát… Khi huy động vốn, doanh nghiệp cần phân tích kỹ các chỉ tiêu đó và tính đến các rủi ro liên quan như rủi ro về mệnh giá, tỷ suất, hối đoái… Khi tình hình nền kinh tế ổn định, các nhà đầu tư sẽ mở rộng đầu tư, quan tâm đến nhiều lĩnh vực. Từ đó doanh nghiệp dễ dàng kêu gọi đầu tư, vay vốn của các đối tác. Ngược lại nếu thị trường diễn biến theo chiều hướng xấu, đầu tư cũng bị thu hẹp, các doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc vay vốn bên ngoài, đồng thời

thị trường tiêu thụ hẹp đi cũng làm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm sút đồng nghĩa nguồn vốn nội bộ giảm khiến khả năng huy động vốn bị ảnh hưởng.

17

Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường tài chính và các tổ chức tài chính cũng góp

phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế. Hiện nay, các phương thức huy động vốn

mới từ phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước, phát hành

trái phiếu ra thị trường nước ngoài hay thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài chưa được các doanh nghiệp xem xét sử dụng một cách phù hợp. Do đó, việc huy động vốn dài

hạn cho doanh nghiệp còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn, quy mô vốn chưa đáp ứng

được nhu cầu mở rộng phát triển của doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay thị trường tài

chính chưa phát triển hoàn chỉnh, các chính sách công cụ nợ trung và dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự biến động theo giá thị trường mà chủ yếu là giá áp đặt. Đây là

điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh

doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường hợp có vốn nhàn rỗi.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Chương 1 đã làm nêu ra những vấn đề cơ bản về huy động vốn cũng như chỉ ra vai

trò của hoạt động huy động vốn với doanh nghiệp. Trên cơ sở này, ta đã có cái nhìn tổng

quan và lý thuyết, tạo cơ sở cho khóa luận làm rõ thực trạng huy động vốn tại công ty

TNHH Thương mại và du lịch Viễn Đông tại chương 2.

18

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG

2.1. Khái quát về công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông

Tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và du lịch Viễn Đông

Địa chỉ: số 5 Lý Nam Đế, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Email: dulichviendongkt@gmail.com

Tel: 0439264363

Fax: 0439264364

Website: dulichviendong.com

Mã số thuế: 0103024852

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp

Tiền thân của Hanoiskyteam là công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và du lịch

Viễn Đông được thành lập năm 2008 bởi hai nhà quản lý trẻ và đầy tâm huyết với hai

mảng dịch vụ chính: cho du khách thuộc khối cộng đồng Pháp Ngữ đến Việt Nam, và

người Việt Nam có nhu cầu du lịch trong và ngoài nước. Hơn 7 năm qua, Hanoiskyteam

với tiền thân là Du lịch Viễn Đông đã đứng ra tổ chức nhiều hoạt động Du lịch trong và

ngoài nước. Công ty đã có nhiều cơ hội hợp tác với những đơn vị tập đoàn hàng đầu Việt

Nam như: Tập đoàn Euro Window, Tập đoàn Thiên Phú, Tập đoàn Toyoda Gosei, Tập

đoàn Jtec, Fecon, Ngân hàng VCB, Ngân hàng BIDV, Tập đoàn Tài chính PPF, Tổng Cty

RTD, Getzpharma, AZ Pharma, VTC 16, Tập Đoàn Nielsen, Tập Đoàn VNG .

Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và du lịch Viễn Đông là thành viên thuộc

hiệp hội Lữ hành Việt Nam (là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp lữ hành

và vận chuyển khách du lịch, của các Hướng dẫn viên và Thuyết minh viên du lịch. Hiệp hội Lữ hành Việt Nam là thành viên của Hiệp hội Du lịch Việt ).

Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và du lịch Viễn Đông là doanh nghiệp có chức năng sẵn có: lữ hành nội địa, dịch vụ du lịch, thương mại, vận chuyển khách du lịch, khách sạn, vé máy bay…và chuyên tổ chức các chương trình Teambuilding, Gameshow, Gala và các sự kiện gắn liền: Tết Thiếu Nhi, Tết Trung Thu, Year End Party, Ngày Hội Gia Đình, ... Công ty đã và đang tiếp tục khai thác có hiệu quả, là đơn vị khai thác tốt nguồn khách trong nước và quốc tế tại khu vực miền bắc, hiện nay công ty đã từng bước xây dựng và có đối tác sẵn của một số thị trường khách mục tiêu, đặc biệt là khách Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu…

Hiện nay, Việt Nam được xem là nước có nhiều điểm đến an toàn nhất trọng khu 19

vực, với tiềm năng sẵn có của thiên nhiên, chế độ giá cả hợp lý cùng với xu thế đi lên của

ngành du lịch Việt Nam. Việc tập trung vào khai thác khách quốc tế là việc cần nên làm

với các doanh nghiệp nói chung và công ty trách nhiện hữu hạn thương mại và du lịch

Viễn Đông nói riêng. Với thị trường khách quốc tế, mục tiêu của công ty là sẽ khai thác tốt nguồn khách ,trong quá trình hoạt động sẽ góp một phần không nhỏ cùng các doanh

nghiệp kinh doanh lữ hành khác vào việc phát triển thị trường khách du lịch tại Việt Nam,

quảng bá hình ảnh của quốc gia với bạn bè quốc tế, Bên cạnh đó, khi kinh doanh tốt, công

ty sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động một cách trực tiếp, trong đó góp phần ngân sách quốc gia là một điều không thể thiếu trong hoạt dộng công ty.

2.1.2. Hình thức kinh doanh và hoạt động của công ty

Hoạt động của công ty: Công ty hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Công Sản Việt Nam, sự quản lý thống

nhất của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Thực hiện chế độ quản lý thống nhất trong

sản xuất kinh doanh theo quy định của nhà nước Việt Nam và giấy phép kinh doanh do

trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội cấp.

Công thức hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, giải quyết

đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể cà lợi ích người lao động là động

lực trực tiếp.

Công ty được cấp phép hoạt đông trong lĩnh vực inbound và outbound, công ty có thể nhận và tổ chức những tour du lịch cho cả khách Việt Nam và khách quốc tế tham

quan trong lãnh thổ Việt Nam.

Hiện tại ngoài văn phòng chính tại số 5 Lý Nam Đế, công ty còn có các đại lý bán

tour và tổ chức các tour và các dịch vụ bổ sung trong du lịch như : cho thuê xe, thuê

hướng dẫn viên, thuê tàu, đặt vé tàu, vé máy bay trong nước và quốc tế…

Hình thức kinh doanh của công ty: Với các đại lý chính thức, đại lý gửi khách (đặt ở các khách sạn là chủ yếu). Văn phòng chính có nhiệm vụ bán và tổ chức tour du lịch và các dịch vụ bổ sung. Tất cả các đại lý khi bán, tổ chức tour cho khách hoặc tới đặt tour sẽ gửi về văn phòng chính, văn phòng chính sẽ điều hành và quản lý chung.

20

2.1.3. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong công ty

Sơ đồ 2Error! No text of specified style in document..1: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH

Thƣơng mại và du lịch Viễn Đông

Giám đốc điều hành

Phó giám đốc kinh Phó giám đốc tài

doanh marketing chính – nhân sự

Phòng hành Bộ phận Bộ phận kinh Phòng tài

chính – nhân chính – kế marketing doanh lữ hành

sự toán

Quảng cáo Khách hàng Inbound Outbound Nội địa

Nguồn: Phòng hành chính – nhân sự

Giám đốc: Giám đốc điều hành là người nắm quyền điều hành cao nhất trong công ty, đại diện cho công ty trước pháp luật, là người phụ trách ra những quyết định chiến lược kinh

doanh, chiến lược phát triển cũng như các vấn đề quan trọng của công ty. Người phụ trách đối ngoại, thương thảo và ký kết hợp đồng với các đối tác của công ty như các nhà hàng, khách sạn, các hang hàng không… Và cũng là người phát ngôn chính nhất của công ty.

Phó giám đốc kinh doanh- marketing: Điều hành chỉ đạo các hướng dẫn viên phù hợp với các tour du lịch mà khách hàng yêu cầu. Có sự phân bổ hợp lý công việc với từng phòng ban. Có mối quan hệ tốt với các

nhà cung ứng dịch vụ tại điểm du lịch để phục vụ các đoàn khách.

21

Phó giám đốc tài chính- nhân sự: Giúp việc cho giám đốc và kiểm soát hai bộ phận quan trọng đó là phòng tài chính

kế toán và phòng hành chính nhân sự , để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đảm bảo

phối hợp với các bộ phận khác được ăn khớp và hoạt đông một cách đồng bộ.

Bộ phận marketing: Trong bộ phận marketing của công ty, các nhân viên của phòng nào thì phụ trách

cho phòng đấy, họ cơ cấu cho phòng kinh doanh lữ hành thực hiện hai chức năng chính là

chăn sóc khách hàng và quảng cáo, ngoài ra còn có một số công việc khác như nghiên cứu thị trường, tham gia hội chợ du lịch, đặt quan hệ với công ty gửi khách...

Phòng tài chính – kế toán: Tổng kết doanh thu và chi phí, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và lập hóa đơn

thanh toán, làm tất cả các công việc hạch toán, thu chi và theo dõi hoạt động tài chính của

công ty.

Phòng du lịch quốc tế ( Outbound Department ): Xây dựng và thực hiện các chương trinh cho khách du lịch Việt Nam và người nước

ngoài đang cư trú và làm việc tại Việt Nam đi du lịch nưới ngoài. Tổ chức các hoạt động

hợp tác, liên kết với các nhà cung cấp dịch vụ ở nước ngoài như các hãng lữ hành lớn ở

Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore,...Tư vấn và bán các chương trình du lịch

Outbound và các sản phẩm đơn lẻ như đặt phòng khách sạn, vé máy bay, làm thủ tục visa, giấy thông hành cho khách có nhu cầu đi.Tổ chức và thực hiện các chương trình du lịch

đã bán cho khách hàng.

Phòng du lịch nội địa ( Domestic Department): Tổ chức hoạt động liên kết và hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ du lịch đơn lẻ

như lưu trú, vận chuyển, ăn uống ở các vùng du lịch, điểm đến du lịch trong cả nước. Xây

dựng và marketing các chương trình du lịch tới khách du lịch. Tư vấn và bán sản phẩm du

lịch tới khách du lịch. Tư vấn và bán các sản phẩm du lịch trọn gói hay các dịch vụ du lịch đơn lẻ tới tay khách hàng. Tổ chức thực hiện các chương trình du lịch mà khách hàng đã đăng ký.

Phòng du lịch trong nƣớc (Inbound Department): Tổ chức các hoạt động liên kết hợp tác với các hãng lữ hành nước ngoài, với tư cách là công ty lữ hành nhận khách cung cấp các dịch vụ du lịch trọn gói từ khách hàng của công ty gửi khách. Liên kết với các nhà cung cấp dịch vụ có tiếng trong nước để sẵn sàng

phục vụ nhu cầu du khách. Xây dựng các chương trình du lịch Inbound nhằm nâng cao

tính cạnh tranh với các công ty lữ hành khác trong nước. Dựa vào uy tín và mối quan hệ

22

của công ty tăng cường các hoạt động marketing, quảng cáo thương hiệu và các chính

sách khuyến mại tới các công ty gửi khách nhằm mở rộng mối quan hệ với đối tác, tăng

khả năng cạnh tranh. Tổ chức thực hiện chương trình du lịch đã ký kết với các đối tác.

2.2. Kết quả hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn

Đông giai đoạn 2011 đến 2013

Kể từ khi thành lập, công ty TNHH Thương mại và du lịch Viễn Đông luôn cố gắng phấn đầu là doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có uy tín trên thị trường trong lĩnh vực thương mại và du lịch. Để nắm rõ tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, chúng ta

có thể xem xét một cách tổng quát kết quả kinh doanh thông qua các báo cáo tài chính

hàng năm của công ty trong giai đoạn 2011 đến 2013.

Qua số liệu dưới đây có thể thấy rằng, trong ba năm từ 2011 đến 2013, lợi nhuận sau

thuế của công ty luôn dương chứng tỏ công ty đang làm ăn có lãi. Năm 2013, số lợi nhuận

sau thuế của công ty là 10.989.612 đồng. Tuy nhiên, nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng của

công ty thì thấy giai đoạn 2011 đến 2013 công ty có biến động khi mà năm 2012 có sự

giảm đáng chú ý về mức lợi nhuận sau thuế so với năm 2011, giảm 68,53%. Năm 2013,

lợi nhuận sau thuế của công ty có tăng nhưng mức tăng nhỏ chỉ khoản 555.740 đồng,

tương ứng 5,33%. Con số này là khá nhỏ trong một năm kinh doanh của công ty. Lợi

nhuận sau thuế có sự tăng giảm như vậy có thể được lý giải từ một số các yếu tố dưới đây.

23

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2011 đến 2013

Đơn vị tính: Đồng

Chênh lệch 2011 - 2012 Chênh lệch 2012 – 2013

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tƣơng Tƣơng Tuyệt đối Tuyệt đối đối (%) đối (%)

1. Doanh thu bán hàng và 9.326.829.104 10.216.933.257 10.582.375.598 890.104.153 9,54 365.442.341 3,58 cung cấp dịch vụ

2. Các khoản giảm trừ doanh 0 0 - - - - 0 thu

890.104.153 9,54 365.442.341 3,58 3. Doanh thu thuần 9.326.829.104 10.216.933.257 10.582.375.598

4. Giá vốn hàng bán 8.178.955.283 9.171.635.848 9.340.531.146 992.680.565 12,14 168.895.298 1,84

(8,94) 196.547.043 18,80 5. Lợi nhuận gộp 1.147.873.821 1.045.297.409 1.241.844.452 (102.576.412)

3.285.498 3.493.197 207.699 6,32 (3.493.197) (100) 0 6. Doanh thu hoạt động tài chính

7. Chi phí tài chính 0 0 - - - - 0

Trong đó: Chi phí lãi vay 0 0 - - - - 0

1.118.003.309 1.036.143.488 1.215.514.795 (81.859.821) (7,32) 179.371.307 17,31 8. Chi phí quản lý doanh nghiệp

(20.508.892) (61,86) 13.682.539 108,19 9. Lợi nhuận thuần 33.156.010 12.647.118 26.329.657

10. Thu nhập khác 0 0 1.825.110 - - 1.825.110 -

11. Chi phí khác 0 0 10.828.983 - - 10.828.983 -

24

Chênh lệch 2011 - 2012 Chênh lệch 2012 – 2013

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tƣơng Tƣơng Tuyệt đối Tuyệt đối đối (%) đối (%)

12. Lợi nhuận khác 0 0 (9.003.873) - - (9.003.873) -

13. Tổng lợi nhuận kế toán (20.508.892) (61,86) 4.678.666 36,99 33.156.010 12.647.118 17.325.784 trƣớc thuế

14. Chi phí thuế thu nhập 0 2.213.246 6.336.172 2.213.246 - 4.122.926 186,28 doanh nghiệp

(22.722.138) (68,53) 555.740 5,33 15. Lợi nhuận sau thuế 33.156.010 10.433.872 10.989.612

Nguồn: Phòng kế toán

25

Về doanh thu: Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty đều tăng lên qua các năm

và có phần tăng chậm hơn vào năm 2013 3,58% so với năm 2012 9,54%. Trong giai đoạn

kinh tế khó khăn nhưng công ty vẫn luôn dùy trì tốt việc bán hàng và cung cấp các dịch vụ du lịch, thương mại cho khách hàng. Điều này giúp cho doanh thu của công ty vẫn

tăng qua các năm. Thêm vào nữa là chính sách phát triển du lịch Việt Nam được Nhà

nước ngày càng chú trọng. Công ty có hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch được

nhà nước quan tâm, phát triển mở rộng nên tạo điều kiện thuận lợi, giúp cho các doanh nghiệp làm ăn tốt hơn, dẫn đến công ty có tăng doanh thu trong việc cung cấp dịch vụ du

lịch. Nhưng đến năm 2013, khi các doanh nghiệp trong lĩnh vực cạnh tranh ngày càng

khốc liệt, nhiều công ty du lịch mới mở ra và các doanh nghiệp ngành khác lấn sân sang

kinh doanh du lịch làm cho doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng

chậm lại. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình hoạt động kinh doanh của công ty.

Đòi hỏi công ty cần có những chiến lược để giữ vững tốc độ tăng trưởng và thị phần của

mình trên thị trường. Ngoài ra, công ty cũng có khoản doanh thu từ hoạt động tài chính.

Doanh thu tài chính của công ty chủ yếu từ việc thu lãi tiền vay, tiền gửi, chưa có những

khoản thu từ đâu tư tài chính hay đầu tư cổ phiếu trái, phiếu. Công ty không chú trọng vào

hoạt động này nên doanh thu từ hoạt động tài chính chiếm tỷ lệ nhỏ, không đáng kể và

năm 2013 không có khoản thu nào về từ hoạt động này.

Về chi phí: Một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng lớn nhất quyết định đến tổng chi phí là giá vốn

hàng bán. Tương ứng với sự thay đổi của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, giá

vốn bán hàng của công ty cũng luôn tăng qua các năm nhưng không đều. Năm 2012, giá

vốn hàng bán tăng 12,14% nhưng đến năm 2013 chỉ tăng 1,84%. Điều này do doanh thu

năm 2013 tăng không lớn so với năm 2012 nên chi phí giá vốn cũng tăng lên không

nhiều. Giá vốn hàng bán cũng bị ảnh hưởng do sự tăng giá của một số sản phẩm đầu vào ví dụ như giá vé tour du lịch, giá vé máy bay, ô tô,… làm cho giá vốn bán hàng qua các năm tăng lên.

Ngoài ra, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn của công ty. Chi phí quản lý doanh nghiệp có sự biến động qua các năm. Năm 2012, chi phí này giảm đi 7,32% so với năm 2011 nhưng đến năm 2013 lại tăng mạnh 17,31%. Điều nay một phần là do công ty đang muốn mở rộng kinh doanh, có thêm các tour du lịch

mới, mở rộng kết hợp thêm với các đối tác,.. Năm 2012, công ty có sự cơ cấu lại đội ngũ

nhân viên trong khối văn phòng, sa thải nhiêu nhân viên kém chất lượng, không đem lại

26

hiệu quả nên chi phí có giảm đi. Sang năm 2013 với những cải tổ trong bộ máy vận hành,

công ty tuyển dụng thêm nhiều nhân viên có chất lượng, hiệu quả cao, việc trả lương cao

để thu hút nhân tài khiến cho chi phí tăng lên nhiều. Thêm vào nữa, các khoản chi phí

dịch vụ mua ngoài cũng tăng lên đáng kể do sự tăng giá trong nước đặc biệt là sự tăng giá các nhu yếu phẩm như xăng dầu, điện, nước,… Vì công ty không đầu tư tài chính, cổ

phiếu, trái phiếu nên không phát sinh ra các khoản chi phí đầu tư tài chính. Công ty không

chú trọng đầu tư vào lĩnh vực này.

Về lợi nhuận: Lợi nhuận gộp của công ty trong giai đoạn này có sự biến động tăng giảm không

đều. Năm 2012 lợi nhuận gộp của công ty giảm đi so với năm 2011 vì dù doanh thu từ

bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng lên 9,54% nhưng giá vốn hàng bán lại tăng mạnh hơn

tới 12,14% khiến cho lợi nhuận gộp của công ty giảm, mức giảm so với năm 2011 là

8,94%. Sang năm 2013, lợi nhuận gộp của công ty đã tăng 18,80% so với năm 2012. Điều

này do công ty đã nỗ lực cố gắng kiểm soát chi phí giá vốn tốt hơn để kinh doanh có hiệu

quả. Tuy nhiên việc kiểm soát giá vốn cũng cần nên xem xét kĩ lương khi mà doanh thu từ

bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng chậm đi khá nhiều so với năm trước.

Lợi nhuận thuần của công ty cũng biến động theo xu hướng của lợi nhuận gộp và

các chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2012 lợi nhuận thuần của công ty giảm

20.508.892 đồng tương ứng giảm 61,86% so với năm 2011. Năm 2013 tăng 13.682.539 đồng, tương ứng 108,19% lên 26.329.657 đồng. Những sự thay đổi của lợi nhuận thuần

này đều là kết quả của việc tăng giảm của lợi nhuận gộp và các chi phí phát sinh trong

kinh doanh của công ty.

Ngoài những báo cáo kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2011 đến 2013, ta có thể

xem xét hoạt động kinh doanh của công ty qua các bảng cân đối kế toán của công ty.

27

Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 đến 2013

Đơn vị tính: Đồng

Chênh lệch 2011 – 2012 Chênh lệch 2012 - 2013

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tƣơng Tƣơng Tuyệt đối Tuyệt đối đối (%) đối (%)

TỔNG TÀI SẢN 1.644.137.037 2.341.877.702 6.109.391.769 697.740.665 42,44 3.767.514.067 160,88

A, TÀI SẢN NGẮN HẠN 279.787.057 1.466.420.531 1.245.905.110 1.186.633.474 424,12 (220.515.421) (15,04)

I, Tiền và các khoản tương 147.653.030 672.520.390 606.565.297 524.867.360 355,47 (65.955.093) (9,81) đương tiền

III, Các khoản phải thu 0 32.288.000 172.749.800 32.288.000 - 140.461.800 435,03 ngắn hạn

IV, Hàng tồn kho 89.818.454 760.064.203 852.052.203 670.245.749 746,22 91.988.000 12,10

V, Tài sản ngắn hạn khác (25001,6 42.315.573 1.547.938 (385.462.190) (40.767.635) (96,34) (387.010.128) 6)

B, TÀI SẢN DÀI HẠN 1.364.349.980 875.457.171 4.863.486.659 (488.892.809) (35,83) 3.988.029.488 455,54

I, Tài sản cố định 0 47.149.241 0 47.149.241 - (47.149.241) -

IV, Tài sản dài hạn khác 1.364.349.980 828.307.930 4.863.486.659 (536.042.050) (39,29) 4.035.178.729 487,16

TỔNG NGUỒN VỐN 1.644.137.037 2.341.877.702 6.109.391.769 697.740.665 42,44 3.767.514.067 160,88

A, NỢ PHẢI TRẢ 622.896.391 1.310.203.184 1.266.727.639 687.306.793 110,34 (43.475.545) (3,32)

I, Nợ ngắn hạn 622.896.391 1.310.203.184 1.266.727.639 687.306.793 110,34 (43.475.545) (3,32)

B, VỐN CHỦ SỞ HỮU 1.021.240.646 1.031.674.518 4.842.664.130 10.433.872 1,02 3.810.989.612 369,40

I, Vốn chủ sở hữu 1.021.240.646 1.031.674.518 4.842.664.130 10.433.872 1,02 3.810.989.612 369,40

Nguồn: Phòng kế toán

28

Qua bảng cân đối kế toán của công ty trong giai đoạn 2011 đến 2013 ta thấy, tổng

tài sản – nguồn vốn của công ty tăng mạnh qua ba năm từ 1.644.137.037 đồng lên

6.109.391.769 đồng, tăng khoảng 4 lần.

Tài sản ngắn hạn của công ty bao gồm: tiền mặt, các khoản tương đương tiền, các

khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và các tài sản khác.

Trong năm 2012, tiền mặt của công ty có sự tăng lên đáng kể 524.867.360 đồng,

tương ứng 355,47%. Điều nay là do ban lãnh đạo công ty nhận thấy năm 2011, lượng tiền

mặt và các tài sản tương đương tiền mặt trong quỹ khá thấp trong tổng tài sản của công ty. Năm 2011, lượng tiền mặt của công ty là 147.653.030 đồng trên 1.644.137.037 đồng tổng

tài sản, chỉ chiếm 8,98%. Tỷ lệ tiền mặt so với tổng tài sản của công ty là khá thấp gây

cho công ty nhiều hạn chế trong việc chi trả những chi phí hàng ngày trong kinh doanh,

cũng như có thể gặp những rủi ro trong việc thanh toán. Thế nên sang năm 2012 công ty

đã quyết định tăng cường khả năng năng thanh toán bằng cách giữ thêm tiền mặt. Sang

năm 2013 mặc dù tổng tài sản của công ty tăng lên rất nhiều nhưng lượng mặt của công ty

không tăng mà còn có xu hướng giảm đi. Công ty không dự trữ quá nhiều tiền để tránh

tình trạng ứ đọng vốn và mất cơ hội đầu tư vào các tài sản sinh lời khác mà chỉ giữ đủ số

tiền mặt để thanh toán hàng ngày.

Khác với tiền mặt, các khoản phải thu ngắn hạn của công ty lại có xu hướng tăng

liên tục. Năm 2011 công ty không có một khoản phải thu nào nhưng đến năm 2013 thì con số này đã tăng lên 172.749.800 đồng, tăng 435,03% so với năm 2012. Công ty đang

có xu hướng mở rộng kinh doanh, thu hút thêm khách hàng thế nên đã cấp tín dụng cho

khách hàng làm tăng thêm các khoản phải thu khách hàng của công ty. Đồng thời, công ty

cũng muốn tạo dựng uy tín, mối quan hệ tốt với các đối tác mới nên đã thanh toán trước

số tiền hợp đồng mua bán làm tăng có tiền trả trước cho nhà cung cấp. Tuy nhiên điều này

cũng đem lại nhiều rủi ro cho công ty cũng như việc mất đi những cơ hội đầu tư khác khi

mà công ty thanh toán trước các hợp đồng mua bán với đối tác.

Hàng tồn kho của công ty cũng chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu tài sản của công ty. Hàng tồn kho của công ty có xu hướng tăng qua các năm và đặc biệt tăng mạnh vào năm 2012 tăng 670.245.749 đồng, tương ứng 746,22%. Công ty đang kiểm soát không tốt hoạt động bán hàng trong lĩnh vực thương mại của mình khi để lượng hàng tồn kho tăng lên quá lớn. Điều này cũng một phần do đội ngũ nhân viên bán hàng của công ty kém chất lượng khiến việc kinh doanh bán hàng bị trì trệ. Sang năm 2013 với nhiều cải

cách trong bộ máy nhân sự thì lượng hàng tồn kho tuy vẫn tăng nhưng tỷ lệ tăng thấp.

Tuy nhiên có thể giá trị hàng tồn kho của công ty vẫn còn rất cao.

29

Viễn Đông là công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại và du lịch, không phải là

doanh nghiệp sản xuất vì vậy trong tài sản dài hạn, tài sản cố định chiếm tỷ trọng không

lớn, thậm chí năm 2011 và 2013, tài sản cố định của công ty là 0 đồng. Trong năm 2013,

công ty đang có xu hướng muốn mở rộng phát triển nên có sự biến động lớn về tài sản dài hạn khác. Tài sản dài hạn khác của công ty đã tăng 487,16% vào năm 2013 so với năm

2012. Đây là những bước đầu tư của công ty nhằm tiếp tục mở rộng, phát triển hơn nhằm

mục đích đảm bảo lợi nhuận lâu dài.

Nguồn vốn của công ty chỉ hình thành từ nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu. Nợ ngắn hạn của công ty gồm những khoản phải trả người bán cũ và những khoản

người mua đã ứng trước. Năm 2012, nợ ngắn hạn của công ty tăng mạnh lên hơn gấp đôi.

Điều này là do công ty mở rộng hoạt động kinh doanh, mua sắm nhiều hơn làm tăng số

tiền phải trả người bán. Đồng thời bên cạnh đó là việc các khách hàng của công ty ứng

trước số tiền mua hàng, cung ứng dịch vụ,… làm cho số tiền người mua trả trước tăng lên.

Từ hai việc đó đã làm cho nợ phải trả của công ty tăng mạnh. Sang năm 2013, công ty

muốn tiếp tục mở rộng kinh doanh và tạo dựng uy tín trên thị trường nên đã chủ động

thanh toán bớt các khoản nợ. Tuy nhiên do đang trong quá trình mở rộng kinh doanh,

công ty đang cần nhiều vốn nên việc trả nợ cần phải có tính toán kĩ lưỡng để vừa đảm bảo

có đủ vốn hoạt động, vừa trả nợ đúng hạn để không làm mất uy tín của công ty. Vậy nên

nợ phải trả của công ty năm 2013 chỉ giảm 3,32% so với năm 2012.

Vốn chủ sở hữu của công ty là nguồn vốn chính để hoạt động kinh doanh, chiếm tỷ

trọng lớn trong công ty. Tuy nhiên năm 2012, Vốn chủ sở hữu của công ty giảm nhẹ

1,02% so với năm 2011 nhưng bên cạnh đó nợ phải trả lại tăng lên 110,34% trong cùng

kì. Nhìn vào số liệu vốn chủ sở hữu năm 2012 có thể thấy nợ phải trả của công ty còn

chiếm tỷ trọng cao hơn vốn chủ sở hữu. Điều này dẫn đến công ty có thể gặp nhiều rủi ro

trong kinh doanh và các nhà đầu tư cũng như đối tác sẽ không đánh giá cao công ty khi có

tỷ trọng nợ quá lớn. Đây cũng là lý do khiến ban lãnh đạo quyết định tăng thêm vốn chủ sở hữu của công ty vào năm 2013 lên 4.842.664.130 đồng, tăng 369,40% so với năm 2012 và gấp 4 lần so với nợ phải trả trong năm 2013 của công ty. Công ty có quyết định như vậy để có thể giảm thiểu rủi ro cũng như gây dựng uy tín để có thể huy động vốn sau này dễ dàng hơn.

Qua hai bảng báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán giai đoạn 2011 đến 2013 của công ty TNHH Thương mại và du lịch Viễn Đông ta thấy công ty đang cố

gắng chủ động làm chủ nguồn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu, làm ăn có hiệu quả tạo

niềm tin cho nhà đầu tư để có thể tiếp tục huy động vốn và mở rộng phát triển. Tuy nhiên

30

công ty vẫn có những hạn chế cần khắc phục như việc phải kiểm soát tốt hơn những chi

phí của công ty để làm ăn có hiệu quả hơn. Lợi nhuận sau thuế của công ty tuy là con số

dương nhưng xét trên phương diện tài chính thì số tiền lợi nhuận sau thuế này là quá thấp

so với tổng tài sản và nguốn vốn của công ty.

Bảng 2.3. Khả năng thanh toán của công ty

Đơn vị tính: lần

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng TSNH 0,45 1,12 0,98 1. Khả năng thanh toán ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

Tổng TSNH – Kho 0,30 0,54 0,31 2. Khả năng thanh toán nhanh Tổng nợ ngắn hạn

Tiền và các khoản

tương đương tiền 0,24 0,51 0,48 3. Khả năng thanh toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn

Nguồn: tác giả tự tính

Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao

nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Năm 2012 khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty là 1,12

nghĩa là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn của công ty sẽ được đảm bảo bởi 1,12 đồng tài sản ngắn

hạn. Điều này là tín hiệu tốt cho công ty khi mà chỉ số này lớn hơn 1, cho thấy công ty

đảm bảo được việc thanh toán nợ ngắn hạn bằng những tài sản ngắn hạn của mình. Tuy

nhiên sang năm 2013 thì chỉ tiêu này giảm đi còn 0,98 nghĩa là chưa đủ để đảm bảo thanh

toán nợ ngắn hạn. Công ty cần có những biện pháp khắc phục để chỉ số này phải luôn lớn hơn 1 thậm chí cao hơn để nhà đầu tư tin tưởng hơn khi công ty có nhu cầu huy động vốn.

Khả năng thanh toán nhanh nếu lớn hơn hoặc bằng 1 có nghĩa là doanh nghiệp không có nguy cơ vỡ nợ và các chủ nợ ngắn hạn sẽ ưa thích hơn. Tuy nhiên có thể thấy do lượng tồn kho của công ty chiếm tỷ trọng quá lớn khiến cho khả năng thanh toán của công ty không được đảm bảo. Con số này năm 2012 có khởi sắc hơn do công ty đã tìm cách tăng giá trị tài sản ngắn hạn lên làm cho khả năng thanh toán nhanh cao hơn. Tuy nhiên việc tồn kho đã làm cho những nỗ lực này không hiệu quả và chỉ mang tính nhất thời. Sang năm 2013, khả năng thanh toán nhanh của công ty còn 0,31 do lượng tài sản ngắn hạn công ty bị giảm xuống trong khi hàng tồn kho vẫn chưa được giải quyết triệt để.

31

Khả năng thanh toán tức thời cho biết khả năng sử dụng tiền mặt và các khoản

tương đương tiền để thanh toán nợ ngắn hạn. Từ bảng cân đối kế toán ở trên và bảng số

liệu 2.3 có thể thấy, trong năm 2011, khả năng thanh toán tức thời của công ty rất thấp,

chỉ là 0,24. Nhận thấy những rủi ro thanh toán này nên công ty đã dự trữ thêm tiền mặt để có thể tăng khả năng thanh toán cho mình. Năm 2012 con số này đã tăng lên cao hơn là

0,51 và giảm nhẹ vào năm 2013 còn 0,48. Tuy nhiên những con số này không thể làm hài

lòng những nhà đầu tư khi khả năng thanh toán nợ tức thời của công ty chưa được đảm

bảo. Điều này dẫn đến sự khó khăn khi huy động vốn ngắn hạn của công ty.

Tóm lại, khả năng thanh toán của công ty hiện đang rất kém, nếu gặp rủi ro công ty

có thể sẽ không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi đến hạn. Đây là sẽ là khó

khăn cho công ty khi muốn huy động nguồn vốn từ bên ngoài bởi sự thiếu tin tưởng của

các chủ nợ về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn của công ty

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tổng nợ 1. Hệ số mắc nợ chung 37,89 55,95 20,73 Tổng nguồn vốn

Tổng vốn CSH 2. Hệ số tự chủ tài chính 62,11 44,05 79,27 Tổng nguồn vốn

Nguồn: tác giả tự tính

Hệ số mắc nợ chung càng cao thì chủ nợ sẽ càng chặt chẽ khi quyết định cho vay

thêm. Mặt khác về phía công ty, nếu vay nợ quá nhiều sẽ mất quyền kiểm soát đồng thời

phải chi trả quá nhiều cho các khoản nợ. Trên số liệu tính toán có thể thấy năm 2012 công

ty đã tăng sử dụng nợ nhiều hơn năm 2011 nhưng năm 2013 lại sử dụng nợ ít đi, làm cho

thu nhập trước thuế (EBT) của doanh nghiệp tăng lên. Việc sử dụng nợ ít đi giúp giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp nhưng nhược điểm lại không tận dụng được đòn bẩy tài chính và lá chắn thuế từ chi phí lãi vay.

Hệ số tự chủ tài chính càng lớn có nghĩa là công ty sử dụng vốn chủ nhiều hơn. Năm 2013, song song với việc giảm tỷ trọng nợ là sự tăng lên trong huy động vốn chủ sở hữu. Cụ thể là để huy động 100 đồng tài sản, công ty cần 79,27 đồng vốn chủ sở hữu, tăng so với năm 2011 do sự bổ sung vốn đầu tư của chủ sở hữu. Ngược lại với việc tăng tỷ trọng nợ thì tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu giúp nâng cao năng lực tự chủ của công ty trong

việc đầu tư và giảm chi phí lãi vay.

32

Tóm lại, công ty có chủ trương sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn để đảm bảo tự

chủ tài chính. Năm 2012 do những phát sinh ngoài ý muốn nên những chỉ tiêu này có sự

thay đổi làm cho công ty có phần mất kiểm soát. Rất may là năm 2013 tình hình đã tốt lên

và công ty đã tự chủ lại tài chính của bản thân. Tuy nhiên việc huy động vốn quá nhiều từ vốn chủ sở hữu cũng làm hạn chế đà phát triển của công ty. Công ty cần có những biện

pháp huy động vốn tối ưu hơn và cân bằng hơn giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Để công ty có thể huy động vốn được từ các chủ sở hữu cũng như các nhà đầu tư

cho vay nợ thì công ty phải làm ăn có lãi có khả năng sinh lời khi đầu tư.

Bảng 2.5 Khả năng sinh lời

Đơn vị tính %

Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Lợi nhuận ròng*100 0,36 0,10 0,10 1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Doanh thu thuần

Lợi nhuận ròng*100 2,01 0,45 0,18 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tổng tài sản

Lợi nhuận ròng*100 3,25 1,01 0,23 3. Tỷ suất sinh lời trên vốn CSH Vốn CSH

Nguồn: tác giả tự tính

Toàn bộ nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời của công ty đều dương tuy nhiên lại có

sự giảm mạnh trong các năm gần đây.

Tỷ suất sinh lời trên tổng doanh thu (ROS) cho biết 1 đồng doanh thu thuần tạo ra

bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012 chỉ tiêu này giảm chỉ còn 0,10% và năm 2013 giữ nguyên so với năm 2012. Điều này là do trong năm 2012 lợi nhuận ròng của

công ty giảm mạnh cộng với việc doanh thu thuần của công ty tăng lên không nhiều. Năm 2013 công ty đã có những chính sách kiểm soát chi phí để cố gắng tăng lợi nhuận sau thuế nhưng chưa thực sự hiệu quả. Nếu tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty không được cải thiện thì khó có thể huy động được vốn từ các nhà đầu tư.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho biết 1 đồng đầu tư cho tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Nhìn vào bảng số liệu 2.5 có thể thấy chỉ số này giảm mạnh qua các năm từ 2,01 vào năm 2011 còn 0,18 vào năm 2013. Tuy nhiên đây không hoàn toàn là dấu hiệu xấu vì đây là do công ty chủ động tăng cường mua thêm tài sản

33

bằng vốn chủ sở hữu của mình.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết 1 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư

tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Cũng giống như chỉ số ROA, chỉ tiêu này cũng

giảm mạnh trong giai đoạn 2011 đến 2013. Điều này chủ yếu là do công ty huy động quá nhiều từ vốn chủ sở hữu. Việc huy động thêm quá nhiều từ vốn chủ sở hữu đã làm cho tỷ

suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu giảm. Điều này nếu vẫn tiếp diễn mà lợi nhuận sau thuế

của công ty không tăng sẽ làm mất niềm tin của các nhà đâu tư khi mà lợi ích của họ

không xứng đáng với số tiền họ đầu tư. Công ty nên xem xét việc huy động vốn từ bên ngoài để cân bằng hơn với vốn chủ sở hữu.

Toàn bộ nhóm chỉ tiêu tài chính của công ty đều cho thấy khả năng sinh lời kém

hiệu quả. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng huy động vốn của công ty khi

những chỉ số đều không đem lại niềm tin cho nhà đầu tư. Thêm vào nữa, công ty cũng cần

phải xem xét lại việc huy động vốn của mình, tránh việc huy động quá nhiều từ vốn chủ

sở hữu mà bỏ qua huy động vốn từ bên ngoài.

2.3. Thực trạng công tác huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông giai đoạn 2011 đến 2013

2.3.1. Cơ cấu nguồn vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn

Đông

Sự biến động về tình hình tài chính của công ty một mặt do sự biến động về tài sản,

mặt khác còn do sự biến động về nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản đó. Cơ cấu vốn

của doanh nghiệp thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà

doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Cơ cấu vốn cho phép đánh

giá các mối quan hệ kinh tế của công ty. Chính vì vậy phân tích cơ cấu nguồn vốn của

công ty sẽ cho thấy việc huy động vốn của công ty như thế nào.

34

Bảng 2.6. Tỷ trọng nguồn vốn của công ty

Đơn vị tính: Đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tỷ Nguồn vốn Số tiền Tỷ trọng Tỷ trọng Số tiền (đồng) trọng Số tiền (đồng) (đồng) (%) (%) (%)

A, Nợ phải trả 622.896.391 37,89 1.310.203.184 55,95 1.266.727.639 20,73

2, Phải trả cho người bán 512.413.191 31,17 1.098.368.962 46,90 826.462.987 13,53

3, Người mua trả tiền trước 108.314.000 6,59 211.834.222 9,05 413.490.577 6,77

4, Thuế và các khoản phải nộp 2.169.200 0,13 28.421.200 0,47

7, Các khoản phải trả ngắn hạn khác (1.647.125) (0,04)

B, Vốn chủ sở hữu 1.021.240.646 62,11 1.031.674.518 44,05 4.842.664.130 79,27

1, Vốn đầu tư của chủ sở hữu 1.000.000.000 60,82 1.000.000.000 42,70 4.800.000.000 78,57

7, Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 21.240.646 1,29 31.674.518 1,35 42.664.130 0,7

Tổng nguồn vốn 1.644.137.037 100 2.341.877.702 100 6.109.391.769 100

Nguồn: phòng kế toán

35

Qua bảng chi tiết tỷ trọng nguồn vốn của công ty TNHH thương mại và du lịch Viễn

Đông, có thể thấy chính sách của công ty là chú trọng vào vốn chủ sở hữu hơn là vốn huy

động từ nợ phải trả. Tuy năm 2012 nợ phải trả của công ty có cao hơn nhưng như đã phân

tích ở trên đây không phải là chủ trương của công ty. Vì thế nên sang năm 2013, công ty đã huy động nhiều hơn từ vốn chủ sở hữu để mang lại sự tự chủ về nguồn vốn. Tuy nhiên

năm 2013 công ty đã huy động quá nhiều từ vốn đầu tư của chủ sở hữu khi tăng lên

4.800.000.000 đồng, chiếm tới 78,57% tổng nguồn vốn của công ty. Điều này đồng nghĩa

với việc công ty không huy động được nhiều từ vốn bên ngoài, không tận dụng được hiệu quả đòn bẩy tài chính. Hơn nữa việc huy động nhiều từ vốn chủ sở hữu tuy không phải trả

chi phí nhưng làm cho chủ đầu tư không hài lòng khi đồng tiền của họ đầu tư không hiệu

quả. Bên cạnh đó, công ty không thể dựa hoàn toàn và lâu dài từ nguồn vốn của chủ sở

hữu mà phải có sự huy động vốn từ bên ngoài để mở rộng phát triển.

Nhìn vào bảng số liệu cùng với bảng cân đối kế toán ta cũng có thể thấy được, nợ

phải trả của công ty không có nợ dài hạn, hay nói cách khác 100% nợ của công ty là nợ

ngắn hạn. Do đặc điểm của công ty thương mại và du lịch không đầu tư nhiều vào tài sản

dài hạn mà chỉ tập trung đầu tư vào tài sản ngắn hạn nên công ty không phát sinh các

khoản nợ dài hạn. Đây là phương thức đầu tư đảm bảo nguyên tắc tương thích trong tài

trợ, lấy nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư cho tài sản ngắn hạn. Điều này sẽ đem lại ít rủi ro

và bất lợi tài chính cho công ty. Thế nên trong thời gian tiếp theo, công ty vẫn nên huy động vốn từ nợ ngắn hạn để kinh doanh và mở rộng phát triển. Trong nợ ngắn hạn, công

ty không có những khoản vay ngắn hạn từ các ngân hàng hay tổ chức tín dụng. Đa phần

nợ của công ty đều là các khoản chiếm dụng từ khách hàng và người bán. Tuy đây cũng là

một hình thức huy động vốn hiệu quả nhưng công ty cũng cần phải cẩn thận đề phòng

tránh trường hợp nợ quá hạn không thanh toán làm mất uy tín của công ty.

Vốn chủ sở hữu của công ty chỉ bao gồm hai bộ phận là vốn đầu tư của chủ sở hữu

và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Chiếm tỉ trọng chủ yếu là vốn đầu tư của chủ sở hữu còn lợi nhuận không chia chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ vì lợi nhuận ròng của công ty trong giai đoạn này không cao. Như đã phân tích ở trên, đây là nguồn vốn an toàn khi không phải trả lãi hay phát sinh nhiều chi phí. Tuy nhiên việc huy động quá nhiều từ vốn chủ sở hữu cũng không nên khi hiệu quả hoạt động không cao và làm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời thấp đi.

2.3.2. Các phƣơng thức huy động vốn của công ty trách nhiệm hƣu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông

36

2.3.2.1. Các phương thức huy động vốn chủ sở hữu

Huy động từ vốn góp ban đầu Đây là số vốn ban đầu bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp. Số vốn này đã được dùng

cho xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị ban đầu, trang trải cho hoạt động thành lập công ty. Năm 2011 và 2012 vốn đầu tư của chủ sở hữu là 1.000.000.000 đồng và được bổ

sung lên thành 4.800.000.000 đồng trong năm 2013.

Huy động từ lợi nhuận không chia Phần lợi nhuận sau thuế được giữ lại dùng để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn vốn an toàn với chi phí huy động thấp, không bị phụ thuộc bên

ngoài. Tuy nhiên trên thực tế trong ba năm 2010, 2011 và 2012 lợi nhuận trước thuế của

công ty đều rất nhỏ do đó phần lợi nhuận giữ lại này lại này đóng góp không đáng kể vào

vốn chủ sở hữu.

2.3.2.2. Các phương thức huy động nợ

Hiện nay, công ty chỉ có 3 hình thức huy động nợ là phải trả người bán, người mua

trả tiền trước và chiếm dụng vốn từ thuế và các khoản phải nộp. Đây đều là các khoản nợ

ngắn hạn. Trong đó việc chiếm dụng vốn từ thuế và các khoản phải nộp không được coi là

việc huy động vốn của công ty mà chỉ là công ty chưa thanh toán hết các khoản thuế và

phải nộp. Hơn nữa tỷ trọng của khoản này không đáng kể và không thể đóng góp vào hoạt

động của công ty.

Nhìn vào bảng cân đối kế toán ta thấy số tiền người mua ứng trước cho công ty ngày

càng tăng trong khi phải trả người bán có sự tăng giảm không ổn định. Công ty hoạt động

trong lĩnh vực thương mại và du lịch vậy nên việc khách hàng ứng trước một phần tiền

của hợp động ví du như các hợp đồng du lịch là điều tất yếu. Công ty nên sử dụng hình

thức huy động vốn này nhưng cũng nên xem xét cân đối tránh tình trạng làm mất lòng

khách hàng khi chiếm dụng quá nhiều. Số tiền phải trả người bán tăng giảm không ổn

định nhưng vẫn duy trì quanh một mức. Đây là hình thức huy động vốn ngăn hạn phải trả lãi nên công ty không nên quá lạm dụng tăng cao để tránh các rủi ro.

2.4. Đánh giá thực trạng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông

2.4.1. Kết quả đạt đƣợc

Số vốn huy động được trong ba năm từ 2011 đến 2013 tăng lên. Việc huy động vốn hiện nay là vô cùng khó khăn trong tình hình kinh tế vẫn chưa thể khôi phục, thêm vào đó

là việc các ngân hàng ngày càng siết chặt việc cho vay kinh doanh. Tuy nhiên có thể thấy

37

công ty vẫn có đủ số vốn cần thiết để mở rộng, phát triển.

Tự chủ về vốn kinh doanh. Vốn của công ty chủ yếu là vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở

hữu của công ty luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu vốn của công ty. Năm 2012 tuy tỷ

trọng vốn chủ sở hữu giảm nhưng sang năm 2013 công ty đã ngay lập tức huy động điều chỉnh con số này lên hơn 70% tỷ trọng nguồn vốn. Với số vốn huy động được từ chủ sở

hữu đã giúp công ty có thể tự chủ về mặt tài chính hơn nữa lại giảm thiểu chi phí chi trả

cho nguồn vốn huy động được đó.

Đem lại niềm tin về khả năng tự chủ về vốn cho nhà đầu tư. Đồng thời với việc tăng số vốn chủ sở hữu, tỷ trọng vốn chủ sở hữu cũng chiếm chủ yếu vốn của công ty. Điều

này khiến cho các nhà đầu tư cảm thấy yên tâm hơn về khả năng chi trả cũng như tránh

được các rủi ro của công ty.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được từ những phương thức huy động vốn hiện tại,

công ty cũng có những hạn chế cần phải khắc phục.

Công ty chưa tận dụng được đòn bẩy tài chính. Công ty không có một khoản vay

nào đối với các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là nguồn huy động vốn lớn đối với

các doanh nghiệp và có tác dụng giúp cho doanh nghiệp có thể bổ sung vốn hiệu quả. Tuy

nhiên trong ba năm 2011 đến 2013 công ty lại không có một hoạt động huy động vốn nào

từ nguồn này. Điều này đã làm mất đi cơ hội phát triển của công ty.

Cơ cấu vốn tuy phù hợp với tình hình chung của ngành nhưng xét về lâu dài thì

không hợp lý. Công ty sẽ chịu rủi ro khi vốn chủ sở hữu đang tăng tỷ trọng cao và nợ phải

trả chiếm tỷ trọng thấp như hiện nay. Chủ sở hữu có thể mất toàn bộ nếu công ty làm ăn

không có lãi hoặc phá sản. Như vậy, chủ động tăng cường vốn chủ sở hữu chưa hẳn đã là

phương thức huy động an toàn. Thêm vào nữa, hiệu quả đầu tư thấp từ việc lợi nhuận

ròng ba năm gần đây không cao có thể gây mất niềm tin với chủ sở hữu. Về lâu dài các

chủ sở hữu sẽ cảm thấy chán nản và ngừng đầu tư.

Như đã nói, công ty mới chỉ tập trung huy động vốn nợ ngắn hạn mà chưa quan tâm đến các khoản vay dài hạn. Việc không áp dụng nhiều hình thức huy động dài hạn khiến công ty chưa san sẻ được rủi ro của mình sang các chủ nợ. Dù đây là nguồn vốn có chi phí cao nhưng trong tài chính doanh nghiệp đã kết luận rằng “Việc sử dụng nợ ở một mức độ cao sẽ có tác động khuếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu” bởi vốn vay với chi phí lãi

vay được khấu trừ thuế làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Tất nhiên cũng phải chú ý rằng giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng đến một ngưỡng nhất định, rồi giảm dần do rủi ro tài

38

chính tăng dần. Tuy nhiên cũng phải xem xét cân đối với tình hình thực tế của công ty để

áp dụng phương thức phù hợp.

Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời giảm. Việc huy động vốn qua nhiều từ vốn chủ sở

hữu khiến cho các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của công ty như ROA, ROE giảm mạnh. Lợi nhuận ròng của công ty có phần chững lại nhưng số vốn huy động từ chủ sở hữu quá

cao khiến cho tỷ lệ khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu giảm mạnh. Đây là những con

số làm cho chủ sở hữu không thể hài lòng và về lâu dài đây cũng không thể là nguồn bổ

sung vốn liên tục.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Trong thời gian qua, công ty TNHH thương mại và du lịch Viễn Đông đã nỗ lực để

kinh doanh có hiệu quả trong tình hình kinh tế khó khăn. Trong giai đoạn 2011 – 2013,

công ty đang có xu hướng muốn mở rộng kinh doanh trong lĩnh vực đang hoạt động.

Muốn làm được như vậy thì công ty cần phải có hoạt động huy động vốn hiệu quả hơn.

Chương 2 khóa luận đã nghiên cứu, phân tích thực trạng huy động vốn của công ty. Từ đó

rút ra các hạn chế cũng như nguyên ngân của hạn chế để làm cơ sở thực tiễn đưa ra các

giải pháp huy động vốn ở chương 3.

39

CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH VIỄN ĐÔNG

3.1. Định hƣớng hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch

Viễn Đông

Những năm gần đây, ngành thương mại và du lịch đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do chịu ảnh hưởng chung của nền kinh tế gặp khủng hoảng trong nước

cũng như trên thế giới, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại, thị trường kinh doanh

du lịch trầm lắng. Chính sách tín dụng thắt chặt khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó

khăn trong việc huy động vốn cho kinh doanh phát triển trong đó có việc cắt giảm đầu tư

cũng đe dọa tới các doanh nghiệp thương mại và du lịch. Tuy nhiên, với vị thế là một

nước đang phát triển, Việt Nam đang trong trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ sở

vật chất, các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng như cầu nghỉ ngơi, thăm quan của du khách

trong nước cũng như du khách quốc tế. Chính vì vậy, du lịch vẫn sẽ là ngành dịch vụ

quan trọng của đất nước. Trong những năm tới, thị trường dịch vụ du lịch được dự báo sẽ

sôi động trở lại, đồng nghĩa với sự phục hồi và tăng trưởng của ngành. Cùng với đà phát

triển của nền kinh tế, công ty TNHH Thương mại và du lịch Viễn Đông đã đưa ra một kế

hoạch kinh doanh cụ thể để phấn đấu nâng cao năng lực kinh doanh đạt kết quả cao nhất,

đảm bảo cho sự phát triển lâu dài. Trong những năm tới, công ty đặt ra một số định hướng

chính như sau:

Đưa các chỉ số sinh lời lên con số dương, thoát khỏi thua lỗ trong lợi nhuận.

Thực hiện tốt công tác quản lý chi phí đầu vào, tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm

lượng hàng tồn kho, giảm giá thành sản phẩm.

Tiếp tục đổi mới theo hướng hoàn thiện công tác quản lý và cơ chế điều hành theo

hướng tiên tiến, hiện đại.

Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kinh doanh có đủ năng lực, đội ngũ công

nhân sản xuất có tay nghề cao đáp ứng yêu cầu phát triển thời kỳ mới.

Thường xuyên đảm bảo ổn định, cải thiện đời sống và việc làm của cán bộ công nhân viên. Nâng cao mức thu nhập bình quân tương ứng với tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Mở rộng thị trường địa bàn hoạt động trong nước và khu vực.

3.2. Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và du lịch Viễn Đông

40

3.2.1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc nâng cao chất lƣợng

nguồn nhân lực và nâng cấp, mua sắm thiết bị, công nghệ hiện đại.

Trình độ chuyên môn chưa cao của các cán bộ quản lý trong công ty là một trong

những nguyên nhân dẫn dến việc quản lý, sử dụng và huy động vốn không hiệu quả. Chính vì vậy, để tăng cường công tác huy động vốn, trước tiên cần nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ quản lý. Công ty cần xem xét, bố trí lại lao động quản lý sao cho phù hợp

với năng lực và phát huy được thế mạnh của từng người. Qua việc nắm rõ năng lực của

từng cán bộ sẽ phát hiện người có khả năng, tố chất, tạo điều kiện cho họ học tập nâng cao trình độ, giúp công ty có những cán bộ tài chính giỏi, nhanh nhạy trong công tác quản

lý và huy động vốn.

Bên cạnh đó, công ty cũng cần nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên kinh doanh vì

đây là nhân tố quyết định hiệu quả kinh doanh của công ty. Để làm được điều này, công

ty nên có cơ cấu lao động hợp lý, đảm bảo đúng người đúng việc; có công tác kiểm tra

năng lực định kỳ; trả lương, thưởng xứng đáng, thưởng phạt phân minh để khuyến khích

nhân viên gắn bó và có trách nhiệm với công việc.

Phần mềm quản lý, công nghệ hiện đại là một trong những yếu tố quyết định chất lượng

và hiệu quả kinh doanh sản xuất. Do đó, một trong những lý do khiến hiệu quả kinh tế

thấp ở các doanh nghiệp là việc thiếu máy móc kỹ thuật, dây chuyền công nghệ tiên tiến

hiện đại, áp dụng những khoa học kĩ thuật máy tính, phần mềm tiên tiến vào hoạt động kinh doanh. Trong những năm gần đây, tài sản cố định của công ty thấp, hầu như không

có khoản đầu tư nào vào tài sản dài hạn nói chung và công nghệ kĩ thuật nói riêng. Tuy

nhiên khi đầu tư, cần lựa chọn, mua sắm thiết bị công nghệ hợp lý và lập kế hoạch,

phương pháp để quản trị nó. Để thực hiện tốt điều này lại cần đến một đội ngũ cán bộ

quản trị có năng lực trong việc lập kế hoạch dài hạn tính toán chi phí, phương pháp khấu

hao hợp lý,… Các thiết bị mua sắm phải là thiết bị có tính chất quan trọng, quyết định

phần lớn giá trị kinh doanh. Còn nếu công ty chưa đủ điều kiện để mua mới có thể tìm nguồn cho thuê, đặc biệt là hiện nay khi sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính, các công ty thuê mua, công ty tài chính hay nghiệp vụ thuê tài chính ở các ngân hàng ngày càng phổ biến. Công ty có thể áp dụng hình thức thuê vận hành đối với những loại máy không thông dụng, chỉ sử dụng cho số ít trong hoạt động kinh doanh trong thời gian ngắn để tránh đầu tư lãng phí. Đối với các tài sản cố định thông dụng đắt tiền, thuê tài chính giúp công ty đổi mới công nghệ và sử dụng vốn đúng mục đích. Thay vì thanh toán ngay một số tiền lớn để mua máy móc, công nghệ, công ty đi thuê tài chính chỉ cần

chi trả một khoản tiền nhỏ hơn nhiều để thuê hàng tháng. Như vậy khi chưa có đủ tiền

41

công ty vẫn có thể sử dụng máy móc hiện đại đảm bảo tiến độ cho hoạt động sản xuất

kinh doanh. Nhà quản lý cần tính toán, cân nhắc thời điểm nào nên mua, thuê hay cải tiến

trang thiết bị vẫn còn giá trị sử dụng để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.2.2. Tăng cƣờng huy động nguồn vốn nội bộ

Huy động vốn nội bộ từ các chủ sở hữu và các cán bộ nhân viên trong công ty là

một hình thức vay linh hoạt, dễ dàng, có chi phí huy động thấp và ổn định. Huy động

nguồn vốn nội bộ một mặt có ý nghĩa kinh tế đối với doanh nghiệp, giúp công ty có thêm

vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác mang lại sự gắn bó giữa công ty với cán bộ công nhân viên khi đặt lợi ích của họ trong lợi ích của công ty, khuyến

khích tinh thần lao động của các cán bộ nhân viên. Tuy nhiên đây là hình thức vay không

kỳ hạn do đó có một số hạn chế như: không sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn thường

xuyên vì người gửi có thể rút bất kỳ lúc nào, điều này đồng thời có thể gây rủi ro áp lực

thanh toán. Công ty cần có biện pháp thu hút nguồn vốn như: tính thuận tiện trong thanh

toán, lãi suất hấp dẫn nhưng phải hợp lý, theo nguyên tắc lãi suất vốn vay cán bộ nhân

viên phải lớn hơn lãi suất tiết kiệm nhưng nhỏ hơn lãi suất vay ngân hàng.

3.2.3. Huy động vốn từ vay ngắn hạn ngân hàng

Bên cạnh việc huy động nguồn vốn nội bộ, công ty cũng nên có những khoản huy

động vốn từ vay ngân hàng. Tuy huy động vốn nội bộ có nhiều lợi ích về chi phí cũng

như mức độ an toàn nhưng nguồn vốn này không thể duy trì liên tục vì vốn của chủ sở hữu cũng có hạn và không thể huy động số với lớn thường xuyên. Hơn nữa trong tình

hình hiện nay của công ty, số vốn huy động từ chủ sỡ hữu cũng chiếm tỷ trọng lớn, với số

vốn khá cao. Vì thế công ty cũng nên huy động thêm từ bên ngoài để các chỉ số sinh lời

trên vốn chủ sở hữu được cân bằng hơn. Công ty hiện nay chưa có khoản vay ngắn hạn

nào đối với ngân hàng. Tuy nhiên vay ngăn hạn ngân hàng cũng là một nguồn huy động

vốn có hiệu quả với các doanh nghiệp. Vay ngắn hạn ngân hàng giúp công ty có thể bổ sung nguồn vốn lớn trong thời gian ngắn mà chi phí thấp hơn so với các khoản vay nóng từ các tổ chức tín dụng khác. Hiện nay nhiều ngân hàng đang có những chính sách ưu đãi cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp đáp ứng đủ yêu cầu từ phía ngân hàng như lãi suất ưu đãi, thời gian trả lãi linh hoạt 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, một năm,…

3.2.4. Bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có

Kết hợp huy động vốn với bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có là một

vấn đề quan trọng của doanh nghiệp. Việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ

giúp doanh nghiệp tiết kiệm được lượng vốn đáng kể, giúp giảm chi phí, tăng cường hiệu

42

quả kinh doanh, là nền tảng cho công ty thuận lợi trong việc huy động vốn. Bảo toàn vốn

là bảo đảm giá trị thực tế của vốn tại các thời điểm khác nhau dù có trượt giá trên thị

trường. Bảo toàn được sử dụng trong quá trình sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh hay

sản xuất, đảm bảo khi trượt giá thì số vốn ban đầu cũng phải tăng theo để duy trì năng lực kinh doanh. Ngoài trách nhiệm bảo toàn vốn, công ty phải có nhiệm vụ phát triển vốn để

tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường.

Công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại du lịch nên phần lớn vốn của

công ty là vốn lưu động. Bảo toàn vốn lưu động là bảo đảm số vốn lưu động thu hồi sau mỗi chu kỳ kinh doanh đủ để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất kinh doanh trong kỳ tiếp theo

đồng thời có thể bổ sung thêm cho nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc đầu tư thêm các

trang thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh. Đặc trưng cơ bản của vốn lưu động

đó là luân chuyển liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị và

sản phẩm trong chu kỳ kinh doanh do đó nếu vốn lưu động của doanh nghiệp không bảo

toàn được mà bị giảm dần do thua lỗ thì mục tiêu tái đầu tư vốn sẽ khó thực hiện. Để bảo

toàn và phát triển vốn lưu động, thời điểm kết thúc vòng quay của vốn nên tiến hành vào

cuối kỳ kế toán (quý, năm) vì vòng quay vốn lưu động trùng với chu kỳ kinh doanh.

Ngoài ra, nên tiết kiệm vốn lưu động bằng cách tăng tốc độ luân chuyển vì nếu sử dụng

tiết kiệm vốn lưu động công ty sẽ không phải mất thêm một khoản chi sử dụng mới nào

mà độ an toàn tài chính sẽ tăng cao do không phải tìm nguồn tài trợ bằng vay nợ và cuối cùng là hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng. Để áp dụng thành công những vấn đề này

đòi hỏi công ty phải có nỗ lực lớn trong việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn lưu động

trong suốt chu kỳ kinh doanh, sẽ giúp công ty tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và

giảm bớt được nhu cầu vốn lưu động cần tài trợ.

3.2.5. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn tự có

Sử dụng vốn có hiệu quả là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện huy động vốn. Về mặt

kinh tế, sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đảm bảo khả năng trang trải cho những nguồn vốn đã huy động, tạo uy tín của công ty đối với các ngân hàng, chủ nợ, đối tác. Như vậy, huy động vốn là tiền đề để có thể sử dụng vốn có hiệu quả và ngược lại, sử dụng vốn có hiệu quả làm tăng khả năng huy động vốn. Để tránh tình trạng thất thoát, lãng phí, sử dụng vốn không đúng mục đích, trước hết cần giảm chi phí tới mức thấp nhất các loại chi phí vốn như chi phí lãi vay, chi phí bão lãnh thế chấp, các chi phí khác liên quan đến quá trình

đàm phán huy động vốn đồng thời tổ chức tốt việc lựa chọn đối tác cung ứng vốn. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chính là khả năng mang lại lợi ích từ các dự án huy động vốn.

43

Đây là một quá trình tổng hợp của các hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lí của

doanh nghiệp, từ xem xét nguồn vốn huy động, tính toán chi phí, thời gian xây lắp, công

tác quyết toán, thanh toán công trình đến chất lượng nguồn nhân lực. Điều này cần một kế

hoạch rõ ràng và cụ thể từ nhà quản lý và sự phối hợp của tất cả cán bộ nhân viên trong công ty.

3.2.6. Giảm vốn bị chiếm dụng

Nguồn vốn bị chiếm dụng của công ty trong những năm gần đây có xu hướng tăng

nhanh. Để giải tỏa nguồn vốn bị chiếm dụng này, công ty cần xem xét chính sách tín dụng thương mại của mình để tăng khả năng thu hồi vốn và giảm các khoản phải thu khó đòi.

Công ty nên thiết lập một tiêu chuẩn cho đối tác trước khi ký kết hợp đồng để giảm rủi ro

cho các khoản phải thu. Đồng thời công ty cần tích cực có biện pháp thu hồi nợ như tăng

tỷ lệ chiết khấu, giảm thời gian cho nợ để đồng vốn tiếp tục quay vòng vào quá trình sản

xuất kinh doanh.

3.2.7. Thanh lý, bán hàng tồn kho để thu hồi vốn cho công ty

Ta có thể thanh lý bằng các biện pháp cụ thể sau:

Chủ động giảm giá hàng hóa các hình thức khuyến mại nhân dịp các ngày lễ trong

năm hoặc xây dựng một chương trình khuyến mại nhân dịp kỉ niệm thành lập công ty.

Khuyến khích nhân viên trong phòng kinh doanh khi bán được hàng hóa tồn kho

bằng các hình thức thưởng cao.

Đưa các sản phảm này về các tỉnh có trình độ chưa cao.

Ngoài ra công ty nên tổ chức thanh lý nhượng bán tài sản cố định không cần dùng.

Đây là những tài sản không những không góp phần vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà

còn làm phát sinh những chi phí thiệt hại khác, do vậy công ty cần nhanh chóng giải quyết

để thu hồi vốn cố định, tạo nguồn vốn mới tài sản cố định.

3.2.8. Thƣờng xuyên đánh giá hiệu quả của các kênh huy động

Cùng với sự tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường, nhà quản trị doanh nghiệp cần linh hoạt trong quá trình vận dụng và phối hợp các biện pháp huy động vốn với nhau tuỳ theo sự biến động của hoàn cảnh chung và điều kiện cụ thể tại Công ty. Hơn nữa các biện pháp sử dụng thường có mối liên hệ với nhau, thực hiện tốt biện pháp này sẽ tạo điều kiện và cơ sở thành công của biện pháp khác. Vì thế các giải pháp đề ra thường đòi hỏi phải được thực hiện một cách

đồng bộ, nhịp nhàng.

44

Ngoài ra Công ty cần tranh thủ tối đa ưu thế sẵn có và sự giúp đỡ từ bên ngoài

về không chỉ về mặt kinh tế mà còn nhiều lĩnh vực khác như phản ánh những vướng

mắc, kiến nghị của Công ty tới các cơ quan chức năng của nhà nước hay cung cấp

thông tin cần thiết về vấn đề mà công ty đang quan tâm.

Sự hỗ trợ của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp bao giờ cũng có vai trò to

lớn. Sự giúp đỡ này trước tiên thể hiện qua việc Nhà nước nhanh chóng hoàn thiện hệ

thống văn bản pháp luật và các chính sách kinh tế. Ngoài ra, yêu cầu đối với Nhà

nước về việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi và tự chủ hơn cho các doanh nghiệp Nhà nước trong hoạt động kinh doanh cũng là mong muốn của Công ty nói riêng và

các doanh nghiệp khác nói chung tại thời điểm hiện nay.

3.3. Kiến nghị

3.3.1. Về phía công ty

Việc sử dụng tốt các nguồn vốn huy động tại công ty là công việc đòi hỏi sự sáng

suốt của lãnh đạo công ty và sự hoạt động đồng bộ của các bộ phận trong Công ty. Việc

xem xét đánh giá cũng cần phải tiến hành trên nhiều các hoạt động kinh tế của công ty.

Giữ vững cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng vốn chủ sở hữu của công ty ở mức an toàn đồng thời

cân bằng với nguồn vốn huy động từ bên ngoài.

Công ty cần thu hút nguồn đầu tư các nhà đầu tư bằng các chính sách ưu đãi.

Công ty cần có chính sách tín dụng thương mại một cách có hiệu quả vừa thúc đẩy kinh

doanh tăng quan hệ thân thiết với khách hàng vua đảm bảo nguồn vốn của công ty.

Định hướng và lập kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn phát triển và mục tiêu của

từng giai đoạn nhằm giúp công ty cũng như các đơn vị trực thuộc dựa vào đó để có kế

hoạch phát triển cụ thể của riêng mình, góp phần quan trọng vào công tác kế hoạch hóa

nguồn vốn và phương thức huy động vốn của công ty.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát tiến độ , cũng như chất lượng kinh doanh Hỗ trợ cho công ty về kỹ thuật, trang thiết bị máy móc và đào tạo cán bộ để theo kịp sự phát triển nhanh chóng của bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin.

Nâng cao hơn nữa khả năng đáp ứng vốn, cũng như các dịch vụ khác của Công ty .

3.3.2. Kiến nghị với Nhà nƣớc

Về phía Nhà nước phải thực hiện tốt mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nước. Với ngành dịch vụ, thương mại và du lịch gặp không ít khó khăn như về thị trường tiêu thụ, vốn, công nghệ... vì vậy để thích ứng được với cơ chế mới, các Công ty không chỉ là

45

ngành dịch vụ mà tất cả các ngành nghề khác phải có thay đổi căn bản về công nghệ áp

dụng trong kinh doanh. Thế nhưng thách thức với ngành thương mại và du lịch Việt Nam

khi bước vào WTO là không nhỏ, hiện tại năng lực sản xuất kinh doanh của ngành còn

nhỏ bé so với các nước trong khu vực về quy mô, năng suất, chất lượng. Hơn nữa Việt Nam gia nhập hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN, tham gia khu vực mậu dịch tự

do AFTA, tham gia diễn đàn Châu Á, Thái Bình Dương APEC và gia nhập tổ chức

thương mại thế giới WTO, là những cơ hội thách thức to lớn đối với ngành khi phải cạnh

tranh với các đối thủ nước ngoài có vốn lớn mạnh.

Để tạo điều kiện cho ngành thương mại du lịch phát triển, Nhà nước cần có sự quan

tâm bằng cách:

Ngành dịch vụ thương mại du lịch phải được ưu tiên phát triển, phải được coi là một

trong những ngành kinh tế trọng điểm trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất

nước.

Phát triển theo hướng hiện đại hoá, đa dạng hoá về sản phẩm và hội nhập với các

nước trong khu vực.

Phát triển theo hình thức sở hữu và tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa

vào nhỏ, tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.

Phát triển ngành du lịch phải gắn bó với sự phát triển ngành công nghiệp và các

ngành khác có liên quan.

Nhà nước cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với thị trường

nước ngoài, để nắm bắt được thị hiếu, cũng như học tập kinh nghiệm sản xuất của các

nước tiên tiến.

Sớm hoàn thiện các khung khổ pháp lý trên cơ sở ban hành mới hoặc bổ sung sửa

đổi luật Sử dụng vốn và kinh doanh, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn sự khác biệt về điều kiện

kinh doanh với các loại hình doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Tiến hành các biện pháp kiểm tra kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải minh bạch hóa tình hình tài chính để tăng cường nguồn vốn và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.

Nắm bắt kịp thời các bức xúc cũng như nguyện vọng của các doanh nghiệp trong

hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng để ngày càng nâng cao hơn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

46

Trên đây là những giải pháp đưa ra khi nghiên cứu hoạt động huy động vốn tại

công ty TNHH thương mại và du lịch Viễn Đông cũng như những kiến nghị với cơ quan

quản lý trực tiếp và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt động huy động

vốn tại công ty trong thời gian tới.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

Hiện nay, tăng cường huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối

với các doanh nghiệp nói chung cũng như công ty TNHH thương mại và du lịch Viễn Đông nói riêng. Đặc biệt, công tác này tại công ty cần phải có những biện pháp hiệu quả

hơn để tạo đà phát triển cho công ty. Chính vì thế, chương 3 đã đề xuất một số giải pháp

cho công ty và đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước cũng như phía công ty nhằm nâng

cao hoạt động huy động vốn, tạo cơ sở phát triển bền vững cũng như chiếm được ưu thế

cạnh tranh trong tương lai.

47