BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯNG CAO ĐNG ĐẠI VIỆT SÀI GÒN
GIO TRNH
MÔN HC: SINH LÝ BỆNH
NGÀNH: Y SĨ ĐA KHOA
TRNH Đ!: CAO ĐNG
(Lưu hành nội bộ)
GIỚI THIỆU HC PHẦN
SINH LÝ BỆNH
Đối tượng: Cao đẳng
N!I DUNG HC PHẦN
STT Tên bài Số trang
1 Giới thiệu môn sinh lý bệnh 1
2 Khái niệm về bệnh 6
3 Khái niệm về bệnh nguyên 12
4 Khái niệm về bệnh sinh 16
5 Sinh lý bệnh quá trình viêm 22
6 Sinh lý bệnh điều hòa thân nhiệt – Sốt 32
7Rối loạn chuyển hóa nước, điện giải và rối loạn thăng
bằng kiềm toan 39
8 Sinh lý bệnh tạo máu 50
9 Sinh lý bệnh hô hấp 56
10 Sinh lý bệnh tuần hoàn 65
11 Sinh lý bệnh tiêu hóa 72
12 Sinh lý bệnh gan – mật 79
13 Sinh lý bệnh chức năng thận 84
14 Sinh lý bệnh quá trình lão hóa 90
BÀI 1
GIỚI THIỆU MÔN SINH LÝ BỆNH
MỤC TIÊU HC TẬP:
1. Trình bày được tính chất và vai trò của môn Sinh lý bệnh trong Y học.
2. Trình bày được các bước và tầm quan trọng của phương pháp thực nghiệm
trong y học.
N!I DUNG
1. Đại cương
1.1. Định nghĩa
Sinh lý bệnh là môn học nghiên cứu về những thay đổi chức năng của cơ thể, cơ
quan, mô và tế bào khi chúng bị bệnh.
Từ đó rút ra các quy luật hoạt động của cơ quan, hệ thống cơ quan bị bệnh, các quá
trình bệnh lý điển hình…để hiểu quy luật hoạt động của bệnh nói chung. Một cơ quan có
thể bị nhiều bệnh khác nhau. Ví dụ: Phổi có thể bị các bệnh khác nhau như: viêm phổi,
abces phổi, xơ phổi, tràn dịch màng phổi…. Mỗi một bệnh đó có những đặc điểm lâm
sàng và xét nghiệm đặc trưng, nhưng tất cả các bệnh ấy lại có một dấu hiệu chung thuộc
về chức năng của phổi như: khó thở, tím, ho…đó là sinh lý bệnh cơ quan bộ phận.
Một số bệnh thể xảy ra nhiều quan khác nhau như: viêm, rối loạn vi tuần
hoàn, rối loạn chuyển hóa, phản ứng miễn dịch… Một số bệnh thể do nhiều nguyên
nhân gây ra như: sốt, viêm, mất nước, mất muối… Những quá trình bệnh này rất hay
gặp trong thực tế, đó là sinh lý bệnh đại cương.
Sự tổng quát hóa cao nhất trong nghiên cứu sinh bệnh nhằm trả lời các câu hỏi
như: bệnh gì? Các bệnh diễn ra theo những quy luật nào? Quá trình lành bnh tử
vong diễn ra như thế nào?
1.2. Nội dung môn học
Khi sinh lý bệnh đã phát triển đầy đủ, nó được định nghĩa như trên và bao gồm 2
nội dung lớn là sinh lý bệnh đại cương và sinh lý bệnh các cơ quan hệ thống. * Sinh lý
bệnh đại cương: Có thể chia thành 2 phần nhỏ:
- Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung, nghĩa là các quá trình bệnh có thể gặp ở
nhiều bệnh cụ thể (viêm, sốt, rối loạn chuyển hóa, rối loạn miễn dịch, lão hóa, đói, rối
loạn phát triển mô, sinh lý bệnh mô liên kết…) và:
- Các khái niệm và quy luật chung nhất về bệnh, như:
+ Bệnh là gì (các quan niệm);
+ Nguyên nhân chung của bệnh;
+ Cơ chế phát sinh, diễn biến, kết thúc của bệnh nói chung;
1
+ Tính phản ứng của cơ thể với bệnh.
* Sinh lý bệnh cơ quan: Nghiên cứu sự thay đổi hoạt động tạo huyết, hô hấp, tuần hoàn,
tiêu hóa, chức năng gan, bài tiết, nội tiết, thần kinh… khi các cơ quan này bị bệnh.
2. Tính chất, vai trò của môn sinh lý bệnh
2.1. Tính chất tổng hợp:
- Môn sinh lý bệnh đi từ các hiện tượng bệnh lý cụ thể tìm cách khái quát hóa
thành những quy luật hoạt động của cơ thể bị bệnh.
- Sinh lý bnh vận dụng nhiều thành quả khoa học của các môn khoa học khác, sử
dụng các phương pháp của chuyên ngành khác để nghiên cứu và giải thích cơ chế các biểu
hiện lâm sàng cơ chế thay đổi các xét nghiệm.
2.3. Tính lý luận:
- Sinh bệnh học cho phép giải thích chế của bệnh các hiện tượng bệnh
nói chung, đồng thời làm sáng tỏ các quy luật chi phối sự hoạt động của thể, quan,
tổ chức và tế bào khi bị bệnh. Do đó, trong đào tạo ngoài nhiệm vụ trang bị kiến thức môn
học nó còn có nhiệm vụ trang bị phương pháp lý luận và cách ứng dụng các lý luận đó khi
học các môn lâm sàng và nghiệp vụ khác.
- Có lý luận và biết vận dụng trong thực tế sẽ giúp người cán bộ y tế làm tốt công
tác phòng bệnh, chữa bệnh và có các quyết định xử lý đúng đắn.
2.3. Cơ sở của y học hiện đại:
- Y học hiện đại là thời kỳ tiếp theo của y học cổ truyền, nó kế thừa những tinh hoa
của y học cổ truyền để phát triển và thay thế hẳn y học cổ truyền. - Ở Việt Nam, thời điểm
xâm nhập y học hiện đại là năm 1902, năm thành lập trường đại học y khoa Đông Dương.
Do vậy phương châm ra là “Khoa học hóa Đông y” và sau đó thay bằng “Kết hợp Đông -
Tây y”.
- Giải phẫu học và Sinh lý học là hai môn học quan trọng cung cấp những hiểu biết
về cấu trúc và hoạt động của cơ thể con người bình thường. Trên cơ sở hai môn học trên, y
học hiện đại nghiên cứu trên người bệnh để hình thành môn bệnh học Sinh bệnh
môn học cơ sở. Hiện nay trong ng tác đào tạo, Sinh lý bệnh được xếp o môn học tiền
lâm sàng, tạo cơ sở về kiến thức và phương pháp để sinh viên học tốt các môn lâm sàng.
3. Phương pháp nghiên cứu trong sinh lý bệnh
3.1. Khái niệm
GS. Thomas “Thực nghiệm trên súc vật và quan sát trên người bệnh phương
pháp bản của sinh bệnh”. Phương pháp thực nghiệm trong Y học được Claude
Bernard phát triển tổng kết từ gn 200 năm trước đây, đã giúp cho các nhà Y học nói
chung và Sinh lý bệnh nói riêng có một vũ khí quan trọng trong nghiên cứu. Mục đích của
y học thực nghiệm là phát hiện được những quy luật hoạt động của cơ thể bị bệnh qua các
mô hình thực nghiệm trên súc vật.
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu xuất phát từ sự quan sát
khách quan từ các hiện tượng tự nhiên (hiện tượng bệnh lý xảy ra), sau đó dùng các kiến
2
thức hiểu biết từ trước tìm cách cắt nghĩa chúng (gọi là đề ra giả thuyết); sau đó dùng một
hay nhiều thực nghiệm để chứng minh giả thuyết đúng hay sai (có thể thực nghiệm trên
mô hình súc vật).
3.2. Các bước trong một nghiên cứu thực nghiệm
3.2.1. Bước 1: Quan sát và đề xuất vấn đề
- Trước một hiện tượng bệnh lý, nhà y học cổ truyền hay y học hiện đại,
người ta đều quan sát nhận xét hiện tượng bệnh lý. Từ mấy ngàn năm trước,
Hyppocrate đã nhn thấy dịch mũi trong suốt, máu tim thì đỏ nóng, máu lách thì
sẫm hơn, quánh hơn. Điều này đến nay vẫn đúng. Bước một làm tốt sẽ tạo cho bước sau
thuận lợi hơn trên con đường tìm đến chân lý.
- Ngày nay, ngoài quan sát bằng giác quan, người ta còn sử dụng nhiều dụng cụ,
máy móc, thiết bị để quan sát như: dụng cụ đo huyết áp, máy đo đường máu, siêu âm,
cộng hưởng từ hạt nhân…Nhờ vy thể thu được tối đa số lượng thông tim về hiện
tượng bệnh lý mà ta quan sát.
3.2.2. Bước 2: Đề giả thuyết
Sau khi quan sát (chủ quan hay khách quan), người ta tìm cách cắt nghĩa giải
thích những điều quan sát được. Những người quan sát thể đồng thời pt hiện giống
nhau nhưng cũng thể khác nhau; cũng thể giải thích khác nhau về cùng một hiện
tượng họ cùng quan sát; tuy nhiên những giải thích trên mang tính chủ quan của con
người, tuỳ thuộc vào quan điểm triết học của người quan sát nội dung giải thích cũng
khác nhau (duy tâm, duy vật, biện chứng hay siêu hình). Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ phát
triển của y học mà ý nghĩa cũng thay đổi.
Từ quan sát, Hypocrate (500 năm BC) đã cho rằng: dịch mũi trong do não tiết ra;
thể hiện tình trạng cơ thể bị lạnh; máu đỏ do tim tiết ra, thể hiện tình trạng nóng; còn máu
đen do lách tiết ra, thể hiện tình trạng ẩm; mật vàng do gan tiết ra, thể hiện tình trạng
khô. Mọi bệnh lý xảy ra do sự mất cân bằng của 4 chất dịch trên.
Phương pháp thực nghiệm do Claude Bernarde đã yêu cầu nhà khoa học: - Quan sát
thật tỉ mỉ, khách quan. Càng nhiều thông tin trung thực thì giả thuyết càng dễ gần chân lý.
- Khi giải thích, càng vận dụng những kết quả luận đãcàng làm cho việc đặt
giả thuyết càng có nhiều cơ hội tiếp cận chân lý. Ngày nay, cần lưu ý đến những thành tựu
của nhiều ngành khoa học khác nhau, và tuỳ theo điều kiện cụ thể mà vận dụng cho thích
hợp.
Người bệnh đến với thầy thuốc với những triệu chứng cần được phát hiện bằng mọi
cách một cách khách quan. Trước tiên người thầy thuốc phải dùng ngũ quan của mình để
quan sát; sau đó kết hợp với những phương tiện kỹ thuật cận lâm sàng để tăng cường phát
hiện những hiện tượng mà khả năng quan sát con người không làm được. Các xét nghiệm
cận lâm sàng và thăm dò chức năng cho những kết quả khách quan, chính xác và nhạy hơn
những điều bản thân thầy thuốc thu nhận được bằng ngũ quan của mình, song những
kỹ thuật ấy cũng do con người làm ra nên chúng phải
3
được tuân thủ những quy tắc điều kiện thực hiện thì mới đủ sức tin cậy. Khả năng
quan sát của người thầy thuốc chỉ thể phát triển khi được tiếp c với người bệnh
thường xuyên.
Sau khi có đầy đủ các dữ kiện ở người bệnh, người thy thuốc hình thành trong trí
óc của mình một hình bệnh nhất định. Đồng thời so sánh hình này với các
hình khác (có được qua học tập, kinh nghiệm) để xem nó giống mô hình nào nhất định
hướng chẩn đoán phù hợp nhất. Nhưvậy chẩn đoán chỉ một giả thuyết người thầy
thuốc đặt ra dựa trên những quan sát khách quan thu được.
3.2.3. Chứng minh giả thuyết bằng các thực nghiệm
Đây bước bắt buộc, nhưng Y học cổ truyền đã không điều kiện thực hiện
chỉ dừng lại bước 1, tức quan sát; rồi giải thích sau khi thử áp dụng "Y lý" của mình
trong thực tiễn.
Các thực nghiệm khoa học thường xây dựng c mô hình thực nghiệm trên súc vật
từ những quan sát lâm sàng để chứng minh cho các giả thuyết đề ra. Các thực nghiệm này
được tiến hành chủ động cấp diễn hoặc trường diễn, cho các hình ảnh bệnh sinh động
theo thời gian thực nghiệm. Thực nghiệm có thể tiến hành trên từng tổ chức, từng cơ quan