
89
Chương 4
THỐNG KÊ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
Các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp thường xuyên vận động và
chuyển hóa. Quá trình đó được gọi là quá trình phân bổ vốn kinh doanh. Do
quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại, nên quá
trình phân bổ vốn kinh doanh cũng được tái tiếp diễn liên tục. Quá trình đó
hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp.
4.1. Khái niệm, phân loại và phương pháp tính các chỉ tiêu tài sản
của doanh nghiệp
4.1.1. Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp là hình thái của vốn ứng ra ban đầu và trong
các giai đoạn tiếp theo của quá trình SXKD nhằm mục đích sinh lời và tăng
giá trị tối đa cho các chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Từ khái niệm trên, cần phải nhận thức thống nhất một số điểm sau:
- Tài sản của doanh nghiệp là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và
có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
- Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là khả năng làm tăng
nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp, hoặc làm giảm
bớt nguồn tiền và các khoản tương đương tiền mà doanh nghiệp phải chi ra.
- Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất (tài sản hữu hình) như:
nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc thiết bị,…; hoặc không thể hiện dưới hình
thái vật chất (tài sản vô hình) như: bằng sáng chế phát minh, quyền sử dụng
đất, nhãn hiệu, tên thương mại, vật liệu nhân giống,…
- Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm cả những tài sản không thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu

90
được lợi ích kinh tế trong tương lai (tài sản thuê tài chính); và những tài sản
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương
lai nhưng không kiểm soát được về mặt pháp lý (tài sản cho thuê tài chính).
- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự
kiện đã qua như góp vốn liên doanh bằng tiền và hiện vật, tự mua sắm, tự sản
xuất, được cấp, được biếu tặng,…Các giao dịch đang hoặc dự kiến phát sinh
trong tương lai không làm tăng tài sản của doanh nghiệp.
4.1.2. Nhiệm vụ của thống kê tài sản của doanh nghiệp
Thống kê tài sản của doanh nghiệp có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Xem xét các loại tài sản và nghiên cứu phương pháp tính các chỉ tiêu
thống kê tài sản của doanh nghiệp;
- Phân tích quy mô, cơ cấu và sự biến động tài sản của doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình biến động tài sản của doanh nghiệp theo thời gian;
- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp (sẽ được nghiên
cứu ở chương 9).
4.1.3. Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Tài sản có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, sau đây
là một số tiêu thức phân loại cơ bản.
4.1.3.1. Phân loại theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường của
doanh nghiệp
Người ta chia tài sản của doanh nghiệp thành: tài sản ngắnhạn và tài
sản dài hạn. Cụ thể như sau:
* Đối với các doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong
vòng 12 tháng, thì tài sản được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện
sau:
- Tài sản được thu hồi (được chuyển đổi thành tiền, được bán hay được
sử dụng) trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc năm tài chính, được xếp
vào loại ngắn hạn.

91
- Tài sản được thu hồi từ 12 tháng tới trở lên kể từ ngày kết thúc năm
tài chính, được xếp vào loại dài hạn.
* Đối với các doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn
12 tháng, thì tài sản được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo điều kiện sau:
- Tài sản được thu hồi trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường,
được xếp vào loại ngắn hạn;
- Tài sản được thu hồi trong thời gian dài hơn một chu kỳ kinh doanh
bình thường, được xếp vào loại dài hạn.
* Đối với các doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào
chu kỳ kinh doanh để phân biệt giữa tài sản ngắn hạn và dài hạn, thì có thể
dựa vào tính thanh khoản giảm dần của từng loại tài sản.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thành phần gồm: (1) Tiền và các
khoản tương đương tiền; (2) Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn;
(3) Các khoản phải thu ngắn hạn; (4) Hàng tồn kho; và (5) Tài sản ngắn hạn khác.
Tài sản dài hạn có thành phần gồm: (1) Các khoản phải thu dài hạn; (2)
TSCĐ; (3) Bất động sản đầu tư; (4) Các khoản đầu tư tài chính dài hạn; và (5)
Tài sản dài hạn khác.
Trong mỗi tổ của từng loại tài sản nói trên, để tạo thuận tiện cho công
tác quản lý và theo dõi hạch toán người ta lại tiến hành các phân tổ chi tiết
hơn.
(Xem báo cáo tài chính, mẫu số B01-DN: Bảng cân đối kế toán, phần
tài sản).
4.1.3.2. Phân loại theo chức năng
Tổng tài sản của doanh nghiệp được phân thành: tài sản hoạt động và
tài sản tài chính.
* Tài sản hoạt động là những tài sản được tài trợ bởi nguồn vốn hoạt
động. Tài sản hoạt động được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh chính
của doanh nghiệp (hoạt động sản xuất sản phẩm vật chất, hoạt động thương
mại và hoạt động cung cấp các loại dịch vụ), do đó tài sản hoạt động còn có

92
tên gọi là tài sản sản xuất. Tài sản hoạt động (hay tài sản sản xuất) của doanh
nghiệp có thành phần gồm: tiền và tương đương tiền, khoản phải thu (ngắn
hạn và dài hạn), hàng tồn kho, TSCĐ (ngoại trừ chi phí XDCB dở dang), bất
động sản đầu tư, tài sản (ngắn hạn và dài hạn) khác. Tài sản sản xuất tạo ra
doanh thu hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ; và làm phát sinh các khoản
chi phí: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
* Tài sản tài chính là những tài sản được tài trợ bởi nguồn vốn đầu tư.
Tài sản tài chính của doanh nghiệp có thành phần gồm các khoản đầu tư tài
chính (ngắn hạn và dài hạn). Tài sản tài chính tạo ra doanh thu hoạt động tài
chính và làm phát sinh các khoản chi phí tài chính trên báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh.
Ngoài ra, tùy theo mục đích nghiên cứu mà tài sản sản xuất của doanh
nghiệp còn được phân tổ thành: TSCĐ và TSLĐ; TSCĐ lại có thể được phân
tổ thành: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
4.1.4. Phương pháp tính các chỉ tiêu tài sản của doanh nghiệp
Tương tự như nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp (tính bằng đơn vị
tiềntệ) cũng được thống kê theo hai chỉ tiêu: (1) Tài sản đầu năm và cuối năm
[được phản ánh trên báo cáo tài chính B01-DN]; và (2) Tài sản bình quân
trong năm.
Trong đó, tổng giá trị tài sản (gọi tắt là tổng tài sản) và các bộ phận
củanó có bình quân trong năm được sử dụng phổ biến để tính toán các chỉ tiêu
kinh tế. Tổng tài sản (và các bộ phận của nó) bình quân trong năm được tính
như sau:
4.1.4.1. Trường hợp có số liệu về tổng tài sản (và các bộ phận của nó)
trên một báo cáo tài chính B01-DN, thì tổng tài sản (và các bộ phận của nó)
bình quân trong năm (
𝐴
) được tính bằng bình quân cộng giản đơn tổng tài
sảnđầu năm và cuối năm:

93
𝐴 = 𝐴
Đ𝑁
+𝐴
𝐶𝑁
2
Ví dụ :
Với tài liệu đã cho về tổng tài sản ở Công ty Nhật Nam năm
2016, theo cách tính trên ta xác định được tổng tài sản có bình quân trong năm
2016 của Công ty là 56.830 triệu đồng = (55.700 + 57.960)/2.
4.1.4.2. Trường hợp có tài liệu tổng tài sản (và các bộ phận của nó)
trên một số báo cáo tài chính B01-DN lập ngày 31/12 của một số năm kế tiếp
nhau, thì tổng tài sản (hoặc các bộ phận của nó) bình quân hàng năm trong
khoảng thời gian này được tính theo công thức:
𝐴 = 𝐴
1
2+𝐴
2
+...+𝐴
𝑛−1
+𝐴
𝑛
2
𝑛 −1
Trong đó:
Ai (
𝑖 = 1,𝑛
): Tổng tài sản (hoặc các bộ phận của nó) có ở ngày đầu
năm thứ i;
n: Số thời điểm có tài liệu thống kê về tổng tài sản (hoặc các bộ phận
của nó).
Ví dụ :
Cũng với tài liệu về tổng tài sản ở Công ty Nhật Nam ở ngày
đầu các năm 2015, 2016 và 2017 thứ tự là: 55.700 triệu đồng; 55.700 triệu
đồng và 57.960 triệu đồng.
Thay số vào công thức ta tính được tổng tài sản bình quân hàng năm
(2015 và 2016) củaCông ty là:
𝐴 = 55.700
2+55.700+57.960
2
3−1 =56.265 (𝑡𝑟𝑖ệ𝑢 đồ𝑛𝑔)
4.1.5. Phân tích thống kê quy mô, cơ cấu và sự biến động tài sản của
doanh nghiệp
Sự biến động về quy mô và cơ cấu tài sản ở các khâu, các giai đoạn của
quá trình SXKD đều có ảnh hưởng quyết định (tích cực hoặc tiêu cực) đến kết
quả SXKD và tình hình tài chính của doanh nghiệp.

