Gi ý phân tích tác phm
Mt người Hà Ni (trích)
– Nguyn Khi
Mt người Hà Ni là truyn ngn giàu tính triết lun, được sáng tác trong
bi cnh đổi mi văn hc sau 1986. Triết lun vn là mt nét tri trong
phong cách văn xuôi Nguyn Khi thuc giai đon sáng tác t cui nhng
năm by mươi (ca thế k XX) tr đi, gn lin vi vic soi xét đối tượng
dưới các góc độ văn hoá, lch s và triết hc. Trước đó, sáng tác ca
Nguyn Khi đầy p cm hng chính lun, chuyên đề cp các vn đề thi
s, chính tr ca đất nước và thường ly tiêu chí chính tr, đạo đức cách
mng để bàn lun, đánh giá s kin, con người. Rõ ràng, s chuyn đổi t
cm hng chính lun sang cm hng triết lun đánh du mt bước phát
trin đáng ghi nhn trong tư duy ngh thut ca nhà văn. Hng thú quan
sát, th hin nhng vn đề thế s, đặc bit là vn đề khng định bn lĩnh cá
nhân ca con người gia mt hoàn cnh sng mà cái "tôi" chưa được
nhìn nhn công bng, tho đáng, tt c đều liên quan ti vic chuyn đổi
cm hng nói trên. Các sáng tác lúc này vn không thiếu tính thi s,
nhưng giá tr ca chúng đã vượt ra khi cái khung thi s nht thi để gây
ám nh lâu dài. Vic nhà văn có ý thc tô đậm kinh nghim, th nghim
ca cá nhân mình trong vic trình bày mi vn đề đã làm cho nhng trang
viết ca ông thm đượm tinh thn đối thoi dân ch, thoát li dn kiu áp
đặt chân lí mt chiu trước đây.
Vi mt sáng tác mang tính triết lun, vic xếp đặt các nhân vt được miêu
t trong đó vào các phm trù tt - xu, chính din - phn din quen thuc
mt thi đã tr nên bt cp. S đánh giá v nhân vt có th rt đa chiu.
Li khen hay li chê ca tác gi (th hin qua nhân vt k chuyn xưng
"tôi") lúc này cũng ch có giá tr tham kho thun tuý, không h mang tính
cht "chân lí", không phi là kết lun ti hu. Trong Mt người Hà Ni ",
"tôi" nhìn nhn bà Hin là "mt ht bi vàng", đó là quyn ca "tôi".
Người khác có th cách nhìn nhn khác, tt nhiên, không th không
tham kho cách nhìn có tính cht gi ý mà "tôi" đưa ra. Nếu không hiu
nguyên tc đánh giá này, li ly cách xây dng nhân vt trong truyn ca
Nguyn Khi giai đon sáng tác trước làm h quy chiếu, độc gi rt d
nhng phán quyết vô lí v tác gi trên các vn đề quan đim, lp trường
chính tr, hoc ngược li, ra sc tán dương nhân vt bà Hin, gán cho bà
nhng phm cht tt đẹp (theo mong mun hay tưởng tượng, suy din ca
chính độc gi) mà bn thân nhân vt "tôi" không nói ti trong câu chuyn
ca mình.
Nếu căn c vào nhng gì đã được th hin trong truyn ngn, độc gi
th đặt li tên tác phm Mt người Hà Ni thành Nghĩ v mt người Hà
Ni. Dĩ nhiên, đây là đặt cho mình, nhm mc đích lĩnh hi đúng tinh thn
tác phm, cm nhn đúng ý nghĩa ca "thành phn" suy nghĩ trong kết
cu truyn ngn này. Qu là chuyn k không có gì tht đặc bit, nhưng
suy nghĩ, đánh giá ca nhân vt "tôi" thì li cha đựng nhiu điu thú v.
Đặc trưng truyn ngn Nguyn Khi vn là thế : t trng nhng li phân
tích, bình lun bao gi cũng ln, nhiu khi ln át c s miêu t, trn thut
khách quan v đối tượng.
Viết Mt người Hà Ni, điu cơ bn mà nhà văn hướng đến chưa hn là ca
ngi mt con người, cho dù người đó đáng ca ngi bao nhiêu đi chăng
na. Cm hng chính ca ông là khám phá bn sc văn hoá Hà Ni – cái
quyết định vn mnh và v thế ca Hà Ni trong lch s, cũng là cái làm
nn tng cho bước phát trin mi ca nó trong tương lai. Không phi ngu
nhiên mà khi ngm hình nh bà Hin "lau đánh cái bát bày thu tiên",
ông đã có mt ghi chú tưởng như là bâng quơ : "nếu là mt thiếu n thì
phi hơn"[1], ri cm thán : “thy Tết quá, Hà Ni quá, mun thêm ít
ngày ăn li mt cái Tết Hà Ni". Cũng hoàn toàn hp lô gích vic nhà văn
đã kết li truyn ngn như thế này : "Mt người như cô phi chết đi tht
tiếc, li mt ht bi vàng ca Hà Ni rơi xung chìm sâu vào lp đất c.
Nhng ht bi vàng lp lánh đâu đó mi góc ph Hà Ni hãy mượn gió
mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng nhng ánh vàng !". Lô gích thì lô
gích nhưng vn l. Ai đã tng quen vi ging văn tinh sc, tnh táo, thm
chí là "lc lõi" ca Nguyn Khi, hn phi ng ngàng trước cái ging
"bc" lên khá đột ngt mà nhà văn biu l đây. Mt chút gin đùa vi
chính văn mình hay nim xúc động tn đáy tâm can c bt ra không nén
được ? Tr li quyết hn theo b nào cũng khó, nhưng điu có th khng
định chc chn là : Nguyn Khi tht s yêu quý Hà Ni, có nhng suy
nghĩ thâm trm v "đất kinh kì" và tha thiết được thy mt Hà Ni hin
đại, đẹp, sang, xng vi b dày văn hoá truyn thng ca nó.
Hình tượng bà Hin được xây dng lên như để chng minh có mt tinh
thn Hà Ni, mt linh hn Hà Ni thc s đã và đang tn ti, để li du n
đậm nét trong nhng người con ca nó. Bà Hin không phi là mt "tm
gương" kiu mu hiu theo nghĩa thông thường để các t chc xã hi nêu
lên cho mi người hc tp, theo cách người ta vn thường làm nhm mc
đích tuyên truyn, vn động. Bà ch là người dân bình thường, dù xut
thân là con nhà "tư sn", dù đã có mt thi "vang bóng" (mà thc ra, "tư
sn" thì cũng có th là người dân bình thường được ch !). Tác gi (và
người k chuyn) hiu vy nên chn cách gii thiu, chuyn trò v bà tht
dung d. Bà là mt người bà con xa, người dì h ca "tôi", thế thôi ! Mi
vic bà làm đều t nhiên, như cuc sng hàng ngày, chng gây chn động
gì ti xung quanh c. y vy, ai dám bo cht Hà Ni bà không đậm đặc
? V li, mun khám phá b sâu văn hoá ca mt vùng đất, tuyt đối không
được b qua nhng điu tưởng là nh nht. Nhiu khi chính chúng li
cung cp c liu thuyết minh v vn đề có sc nng hơn hn nhng
chuyn to tát. Dõi theo mch k ca nhân vt "tôi", người đọc thy qu
không có gì đáng gi là "s kin" vic bà Hin ly chng, qun lí gia đình,
sinh con, dy con, cho con đi b đội, tiếp khách, bài trí nơi , duy trì nếp
sinh hot riêng,...
Mt câu bình phm ca "tôi", rng, vic bà ly ai không ly, li ly mt
ông giáo cp tiu hc hin lành chăm ch làm chng đã "khiến c Hà Ni
phi kinh ngc", phn nhiu ch là mt cách nói ngoa ngôn khá đặc thù
ca văn chương. Nếu qu người ta có kinh ngc, thì đó là s kinh ngc
trước mt chuyn không ng li xy ra bình thường (thm chí là tm
thường) quá như thế. Tuy vy, nếu bình tâm suy xét, ta li thy trong tt c
nhng cái bình thường kia li cha đựng mt triết lí sng đáng v n, va
th hin bn lĩnh cá nhân mt con người, va bc l kiu ng x đặc trưng
ca đất kinh kì. Bà Hin biết rõ mình là ai (câu tuyên b "thng thng"
ca bà đối vi nhân vt "tôi" đã chng thc điu đó : "Mt đời tao chưa
tng b ai cám d, k c chế độ"), và cũng tương t thế, bà hiu sâu xa
mình là người Hà Ni. Sau năm 1954, gia đình bà chng di cư vào Nam vì
"không th ri xa Hà Ni". Đây không đơn gin ch là mt biu hin ca
tình yêu đối vi nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà còn là mt biu
hin ca nim tin vào thế tn ti bn vng ca mnh đất đã tri qua nhiu
thăng trm ca lch s, có văn hoá riêng đã thm vào máu tht cư dân nơi
này.
Bà Hin có th không nghĩ mt cách rành rt như vy, nhưng tác gi
nhân vt "tôi" – mt s hoá thân ca ông – thì ý thc v điu này quá sâu
sc. Nhân vt "tôi" cũng khó lòng quên li bà Hin răn lũ con ca anh :
"Chúng mày là người Hà Ni thì cách đi đứng, nói năng phi có chun,
không đưc sng tu tin, buông tung". Hoá ra vy, làm người Hà Ni
va là mt vinh d, va là mt trách nhim. Bà Hin hn là luôn đau đáu
v vn đề này, chng thế mà dù đã ngoài by mươi, bà vn để l tâm s đó