S 07 (2023): 63 70
63
HÁT ĐÚM TRONG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Ở HUYỆN THỦY NGUYÊN, HẢI PHÒNG
Lưu Thị Thanh Hòa1*
1Khoa Văn hóa, Trường Đại học Hạ Long
* Email: luuthanhhoa@daihochalong.edu.vn
Ny nhận bài sa sau phn biện: 23/12/2022
Ny chp nhn đăng: 13/02/2023
TÓM TT
Hát giao duyên mt trong nhng th loại dân ca đặc sắc được hình thành t đời sng
văn hóa của người Việt. Đây là hình thức hát đối đáp nam nữ được phát trin qua quá trình lao
động sn xuất, sau đó gắn vi các l hội. Hát đúm ở Bc B cũng là một loại hình như vậy. Tuy
nhiên, Bc Bộ, nơi mà loại hình ngh thuật này còn được duy trì trên mt din rng và mang
nét độc đáo trong văn hóa địa phương phải k đến vùng ven bin Thy Nguyên, Hải Phòng. Nơi
đây, hát đúm chiếm mt v trí quan trọng trong đời sng tinh thn của người dân lao động.
Thông qua hình thức hát đối đáp giao duyên, người dân lao động đã bộc l nhng tình cm,
nhng khát vng v tình yêu cuc sống, tình yêu đôi lứa. Nhưng qua thời gian, hát đúm ở Thy
Nguyên đã có những biến đổi sâu sc v hình thc, v ni dung, v môi trường hát. Do đó, việc
tìm hiu v nhng s biến đổi này của hát đúm là cn thiết. T đó, bài viết s phân tích v nhng
vấn đề hin nay của hát đúm và đưa ra một s giải pháp để bo tn, phát huy giá tr tốt đẹp ca
loi hình ngh thut dân ca này.
T khóa: bo tn, biến đổi, hát đúm, phát huy.
“ĐÚM” SINGING AT THUY NGUYEN DISTRICT'S FESTIVAL
IN HAI PHONG PROVINCE
ABSTRACT
The love song is one of the unique folk songs formed from the cultural life of the ancient
Vietnamese. It’s a form of male-female reciprocal singing developed through the course of
production and labor, connecting with traditional festivals and “Đúmsinging in the North.
The coastal region of Thuy Nguyen, Hai Phong, however, is where this art is still practiced on
a large scale and has distinctive elements in the local culture. Here, "Đúm" singing plays a
significant role in the working class' spiritual life. Nevertheless, compared to the old traditional
singing, Thuy Nguyen's Đúm singing has undergone a significant transformation over time. As
a result, pressing issues must be brought up in order to safeguard and elevate the value of this
folk art form.
Keywords: change, conserve, Đúm singing, promote.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hát đúm ra đời t môi trường lao đng sn
xut ca ngưi n, nng l hi li môi
trường nuôi dưỡng cho loi hình ngh thut
biu din này phát triển. Môi trường l hi
chính s tổng hòa các điều kin giúp cho
64
S 07 (2023): 63 70
hát đúm trở thành một nét văn hóa đc sc
ca vùng ven bin Thy Nguyên, Hi Phòng.
th thy, ngoài âm nhc, li ca, l li trình
din, yếu t giao duyên mới điều độc đáo
trong diễn xướng hát đúm nơi đây. Yếu t
này độc đáo ch: sau cuc hát, những người
hát s vn gi mi quan h vi nhau th
phát trin mi quan h y để đi đến luyến ái,
hôn nhân. Nhưng thực tế hin nay cho thy,
so với hát đúm truyền thng thì diễn xướng
hát đúm huyn Thy Nguyên, Hi Phòng
nói chung đã những biển đổi trên nhiu
phương diện. Đặc biệt, hát đúm đang thiếu đi
s hp dẫn để thu hút người dân tham gia,
nht tng lp thanh thiếu niên địa
phương. Đây thực s vấn đề cp thiết cn
phi nghiên cu để góp phn bo tn và phát
huy giá tr tốt đẹp ca tục hát đúm trong lễ
hi truyn thng vùng đất ven bin Thy
Nguyên, Hi Phòng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong bài viết này, chúng tôi s dng các
phương pháp nghiên cu sau:
- Phương pháp phân tích, so sánh và tng
hp: Chúng tôi tìm hiu các tài liệu đã công
b liên quan đến hát đúm, sử dụng các liệu
điền để phân tích, x các thông tin thu
thập được t thực địa ri so nh, tng hp
nhận định giúp bài viết đầy đủ c liu
cơ sở khoa hc.
- Phương pháp điền học văn a:
Chúng tôi quan sát, tham d vào các cuc hát
đúm địa phương trong dịp l hi truyn
thống đầu năm; sưu tm thu thp tài liu
để các thông tin chính xác phc v cho
vic hoàn thin bài viết.
3. NI DUNG NGHIÊN CU
3.1. Biến đi ca t đúm trong l hi truyn
thng huyn Thy Nguyên, Hi Phòng
Theo người dân vùng ven bin Thy
Nguyên mt s nhà nghiên cứu văn hóa,
hát đúm xuất hin vào khong thế k XIII.
Loại hình dân ca này được hình thành trong
quá trình lao động của người dân, có th trên
đồng ruộng, trên đường đi hoặc ngoài bãi cá,
bến tàu… Thậm chí, ban ngày lao đng cc
nhc, vt v là thế nhưng tối đến trai gái vn
túm năm tụm ba thành các nhóm để hát giao
duyên. Nhưng sau này, các hoạt động hát
đúm dần ít đi nên hát đúm chỉ còn din ra vào
các dp l hi quan trng ca làng.
Đến thế k XIV, sau khi chùa Kiến Linh
(chùa Phc L) huyn Thủy Nguyên được
hoàn thành, người dân trong vùng đã đưa hát
đúm vào lễ hi chùa. Thi gian này, môi
trưng diễn xướng đã được hình thành rõ rt
hơn trong sinh hoạt của hát đúm. Người tham
gia hát đã có không gian và có mục đích của
bn thân. Chínhvy, hát đúm hội tr thành
mộtt văn hóa đặc sc, mt nhu cầu trao đổi
tình cm nam n không th thiếu trong đời
sng tinh thn của cư dân nơi đây. Trong hội,
trai gái gp nhau qua nhng li t chào, t
mng, hát hỏi. Sau khi đôi bên đã ưng thuận
thì h đi vào cuc t chính rt hn nhiên,
thoi mái mà không cn s giao đãi đưa đón,
không cn nhng lời văn hoa khách sáo. Trai
gái hoàn toàn bình đẳng t nguyện đến hát
với nhau. Để ri sau mi cuc hát, các chàng
trai, gái y s hội kết duyên v chng.
Sang thế k XX, trong bi cnh chiến
tranh, những điều kin v kinh tế, xã hi ca
đất nước không còn phù hợp để th duy trì
các hoạt động l hội, văn nghệ dân gian, đặc
bit duy trì nhng hình thc sinh hot mang
tính cht “đàn đúm”, tập trung đông người
nên đã bị chính quyn xã, huyn cm đoán,
không được t chc. Chính vy, loi hình
ngh thut biu din dân gian này b chìm vào
quên lãng.
Đến na cui thế k XX, khi chiến tranh đã
i xa đất ớc c vào công cuộc đổi mi,
đời sng kinh tế bớt khó khăn thì đi sống văn
a xã hi đưc quan tâm hơn. Đc bit c
ng như Phc L, Ph L, Lp L ca huyn
Thủy Ngun đã có những c phát trin v
kinh tế, hội, đi sng dân đưc ci thin.
Cùng với đó, c phong tc tp qn l tết, các
loi hình sinh hoạtn hóa truyền thng trong
đó hát đúm cũng được khôi phc nhanh
chóng. Tuy nhiên, diễn ớng t đúm đã bị
quênng trong sut mt thi gian dài cho nên
khi đưc khôi phc li thì đã có nhiều biến đổi.
S 07 (2023): 63 70
65
KHOA HC NHÂN VĂN
3.1.1. Biến đổi v ni dung
Âm nhạc, âm điệu, giai điệu và nhịp điệu
của hát đúm không s biến đổi quá ln.
Âm điệu trong hát đúm vẫn phát trin trên
quãng 4 đúng và 3 thang âm chính là La
Mi. Còn giai điệu và nhịp điệu của hát đúm
vn tuân th theo nhịp tlục bát song tht
lc bát cổ. Tuy nhiên, hát đúm đã sử dng
thêm làn điệu ca các loi hình dân ca khác
thay vì hát làn điệu gc. Theo Nguyn Ngc
Hi Nguyễn Đỗ Hip (2006), vic s dng
thêm làn điệu như vậy được gi là hình thc
hát tr làn. Hình thức này được hình thành do
nhu cu b sung làn điệu để đáp ứng tốt hơn
cho vic ph lời thơ mới, to nên s phong
phú, hp dn cho th loi. Người hát s chn
các làn điu quen thuc gần gũi với hát
đúm như: lả, Trống quân, v.v. để đưa vào
cuc hát.
Li ca trong t đúm cũng có sự đổi mi
v ni dung, tuy nhiên vn gi nguyên được
kết cu ba phần: câu đệm m/li ca chính/câu
đệm kết. Câu đệm m câu đệm kết
những câu hát đặc trưng không thể thiếu
trong hát đúm: “Rng duyên kết bn mình
ơi”, “Rằng người thương ơi”, “Rng duyên
kết bạn người thương ơi” hay “Duyên kết bn
tình ơi” v.v. (Đinh Tiếp, 1987). Hát đúm
loi hình dân ca giao duyên nên ni dung li
ca ch yếu vn là phn ánh nhng khía cnh,
nhng sắc thái phong phú, đa dạng ca tình
yêu đôi lứa. Tình yêu đôi lứa luôn đề tài
ch đạo tính xuyên sut t đầu đến cui
cuc hát. Cho nên, việc đổi mi đây phải
chăng chỉs m rng ra các ni dung khác
như về đất nước, đời sống gia đình và xã hi.
Ngoài ra, ca t trong hát đúm cũng thêm
c nhng t ng trong đời sống đương đại.
Chng hn, nếu khi xưa nam nữ s dng ch
xưng hô “chàng thiếp” hoặc “chàng – em”,
“anh nàng” thì nay ngôi nhân xưng đã đi
thành “anh – em”…
1Hình thức “tạo đúm”: Các đúm hát đưc to ra bi một nhóm các chàng trai ăn mặc chnh tề, thưng là mc áo dài
đội khăn xếp đứng ngoài cng chùa hoặc trên đường đi để ch các cô gái làng. Nếu đám trai làng cảm thấy ưng ý
nhóm gái làng nào đó thì sẽ c đại din ra mi vào hát.
3.1.2. Biến đổi v hình thc
Hát đúm trong lễ hi truyn thng Thy
Nguyên cũng mang đặc tính chung như các
th loi dân ca giao duyên khác của người
Việt. Đó lối diễn xướng đối đáp giao duyên
gia nam n. Môi trường diễn xướng hát
đúm trong lễ hi truyn thng phải được to
ra t đám ngưi tham gia hi, ch không hn
là vic nam n c gp nhau hoc hn nhau ra
hi chùa hát. Vào dịp đầu năm, khi hội được
m thì các chàng trai ăn mặc chnh tề, thường
mặc áo dài, đội khăn xếp đứng ngoài cng
chùa hoặc trên đường đi để ch các i
làng. Sau đó, nếu đám trai làng cảm thy ưng
ý nhóm gái làng nào thì s c một đi din ra
cm tay mi o t. Mc , theo tc l,
nhng cô gái Thủy Nguyên xưa đều bịt khăn
che kín mặt khi ra ngoài đường nhưng các
chàng trai vn có th nhn ra một gái đẹp
qua dáng người ca gái ấy. Chàng trai được
c ra mi phải là người hát gii nht nhóm vì
khi đó chàng trai sẽ phit my câu th hin
để thuyết phc bạn tình tham gia vào đúm hát.
Tuy nhiên, lối “tạo đúm”1 này có s biến đổi
khi nước ta chuyn t chế độ phong kiến sang
chế độ na phong kiến. Những đối tượng có
chc sắc như chánh tổng, trưởng đã bóp
méo hình thức này để mua vui cho các thy
cai, thy quyn ca thc dân Pháp.
Trong cuộc hát đúm hin nay, không
s tham gia ca các chàng trai chưa vợ
các gái chưa chồng. Thay vào đó, đối
ng hát chính gi đây lại những ngưi
ln tui nhng người đã kinh
nghim hát hi t nhiều năm trước. Điều đó
nghĩa đối tượng hát đúm đã biến đổi.
Mt trong nhng nguyên nhân dn tới điu
này là do đất nước đang trong quá trình ng
nghip hóa hiện đại hóa nên đã tạo ra
nhng biến đổi mnh m trong đời sng
nhn thc của người dân vùng nông thôn.
Nhp sng công nghip hi hả, sôi động cùng
nhiều phương tiện hiện đại như tivi, máy
tính, điện thoi, internet, truyn hình cáp, trò
chơi điện tử… cũng tác động ảnh hưởng
66
S 07 (2023): 63 70
không nh ti li sng, th hiếu, thẩm của
tng lp thanh thiếu niên.
Trang phc nam n mc trong hi hát
đúm truyền thống cũng đã biến đổi, phong
phú hơn v cht liu, màu sắc đa dng v
kiu dáng (Bng 1). Trước kia, nếu người hát
mc nhng trang phc tông màu âm tính
là ch đạo thì nay h li s dng nhng màu
sc sc s hơn. Kiểu dáng cũng đưc thiết kế
cu hiện đại hơn trước (Giang Thu
cs, 2003). Ngoài ra, nhng trang phc gn
gàng, tin lợi cũng sự la chn của người
hát khi đến hội hát đúm: nam gii mặc áo -
mi hay comple, qun âu, n gii chuyn sang
mc áo dài hay áo cánh cùng quần đen.
vy, bóng dáng nhng b trang phục xưa
trong hội hát đúm nay chỉ còn được thy qua
các tranh nh, sách báo.
Ngoài ra, mt vấn đề đáng quan tâm nhất
hin nay chính s biến đổi ca hình thc
“tạo đúm”– mt nét riêng độc đáo của hát
đúm. Đây chính biểu hin cho s gn kết
cộng đồng, tinh thn cng cm trong mt tp
th. Nguyên nhân mt phần cũng do hát
đúm không còn nhận được s quan tâm ca
mi tng lp nhân dân, cho nên s ng
người tham gia rt hn chế để th to thành
mt vòng tròn. Ngày nay, với phương tiện k
thut hiện đại, người hát th s dng micro
để khuếch đại ging hát ca mình qua h
thống loa đài.
3.1.3. Biến đổi v môi trường hát đúm
Vn một vùng đất giàu truyn thng
văn hóa văn nghệ nên hát đúm huyn Thy
Nguyên, Hải Phòng đã được phc hi mt
cách nhanh chóng. Tuy nhiên, môi trường
chính của hát đúm xưa là trong lễ hi thì nay
xut hin những môi trường din xướng mi.
Đầu tiên, đó sự ra đời ca các câu lc b
hát đúm, nơi những người hát gii, hát hay
ti các làng, xã có th đến tham gia sinh hot.
Câu lc b t đúm được thành lập đầu tiên
ti ba xã Phc L, Ph L, Lp L vào nhng
năm 1996, 1997. Đến năm 2010, các câu lạc
b hát đúm phát triển khá mnh b sung
câu lc b hai Tam Hưng, Ngũ Lão. Khi
đến vi các câu lc bộ, người tham gia s
được tiếp xúc thường xuyên vi hát đúm như
hc hát, sáng tác hoc nghiên cu. Tuy môi
trường hát đúm hiện nay không còn phong
phú như xưa nhưng nhờ có nhng hoạt động
t chc chuyên nghiệp mà người hát có được
hội khẳng định bn thân trong loi hình
ngh thut ca hát này.
Bng 1. Trang phc hát đúm trong lễ hi xưa và nay
Xưa
Nay
Cht liu
- Vi dt bng tay, vải the…
- Vi dt bng máy, vi công nghip,
vi la...
Kiu dáng
- Đơn giản, mộc mạc: Nữ mặc áo tứ
thân, yếm đào, dây lưng khăn mỏ
quạ; nam mặc áo dài the, quần ống
sớ, guốc mộc, khăn xếp
- sự tương đồng với trang phục
hát quan họ, hát xoan…
- Cầu kì, hiện đại và đa dạng: Nữ mặc
áo tứ thân, áo bà ba, áo nâu sòng hoặc
trang phục hàng ngày, đi giày cao
gót…; nam mặc áo dài hai lớp hoặc áo
comple, áo -mi, quần âu, đi giày Âu,
thắt ca-vát…
- Áo nữ chít eo, cổ áo khoét sâu (cổ
tròn, cổ cánh sen)…
Màu sc
- Ch yếu tông màu âm tính như
màu nâu, đen, gụ…
- Phong phú, đa dạng vi các tông
màu sc s, ni bt.
S 07 (2023): 63 70
67
KHOA HC NHÂN VĂN
T năm 2011, hát đúm ở Thủy Nguyên đã
được đưa lên sân khấu thay din ra trên sân
chùa, đình, miếu nhng không gian gn
gũi với thiên nhiên khác. Trên sân khu,
người hát s chia ra thành hai bên nam n
tách riêng ri lần lượt tng cp (mt nam,
mt nữ) bước ra hát đối đáp nhau, hết cp này
đến cp khác (Giang Thu cs, 2003). Tiếng
hát ca h s đưc truyn qua h thng âm
thanh như micro và loa máy. Lúc này, người
hát s tr thành nhng ngh sĩ trình diễn hát
đúm trong những chương trình nghệ thut ln
nh khác nhau, trong các hi thi ca múa nhc
chuyên và không chuyên.
Ngoài s ra đời ca câu lc b hát đúm,
hội thi hát đúm giữa các trên đa bàn
huyn Thủy Nguyên cũng là môi trường din
xướng mi. Hi thi cấp làng, được t chc
t ngày mùng 1 tháng Giêng âm lịch để la
chn tìm kiếm những người hát hay, hát
gii tham gia thi chung kết toàn huyn vào
ngày mùng 5 tháng Giêng âm lch. S kin
này đã đạt được mt s thành công nhất định
trong công tác bo tn, duy trì qung
loại hình dân ca giao duyên đặc sc ca vùng
ven bin Thy Nguyên.
Do hát đúm được đưa lên n khấu trình
din nên ni dung li ca so vi truyn thng
cũng thay đổi nhiu. Nhng li ca mới được
sáng tác phù hp vi bui trình din trên sân
khu và bi cnh thc tại. Ngoài ra, hát đúm
trong các chương trình văn ngh hay trong
các hội thi còn được hát theo yêu cu,
nghĩa người hát chu s phân công, sp xếp
ca ban t chức mà không được tùy hng hát
nhng li ca th hin tâm tình ca mình.
3.2. Mt s vấn đề hin nay của hát đúm
trong l hi truyn thng huyn Thy
Nguyên, Hi Phòng
3.2.1. Sân khấu hóa hát đúm
Vi việc đầu khuyến khích các câu
lc b hát đúm phát trin và sân khu hóa hát
đúm vào lễ hội đầu xuân, loi nh dân ca hát
đúm đã được trình din trên sân khu. Tuy
nhiên, hoạt động này còn gp nhiu khó
khăn. Trên thực tế, hi thi hát đúm năm 2012
ca huyn ch 5 xã trên tng 37, th trn
tham gia thi. Tuy nhiên, hot động này ch
được đánh giá hoạt động b ni không
thu hút được s tham gia, yêu thích ca phn
đông thanh thiếu niên địa phương. Những
người tham gia thi vn ch những gương
mt quen thuc của các năm họ đều
những ngưi trong độ tui t 40 45 tui tr
lên. Hu hết h đã hết tuổi lao động, đã lên
chc ông bà và là thành viên ca các câu lc
b hát đúm tại địa bàn sinh sng. mt mt
nào đó, các hoạt động này đã h tr tích cc
cho công tác bo tồn và duy trì hát đúm trong
l hi truyn thng Thy Nguyên, Hi
Phòng. Tuy nhiên, nhng hoạt động này li
làm mất đi những giá tr tốt đẹp ca loi hình
dân ca hát đúm làm cho hát đúm dn xa
ri vi không gian l hội xưa.
3.2.2. Thương mại hóa hát đúm
Xut phát t nhu cầu thưởng thức văn hóa
văn ngh truyn thng của nhân dân địa
phương huyện Thy Nguyên, loi hình dân
ca hát đúm đã hi sinh. Cùng vi s biến đổi
t hình thc trình diễn, làn điệu cho đến ni
dung lời ca để phù hợp hơn với hi hin
đại, loại hình dân ca hát đúm không chỉ được
phc hi mt cách nhanh chóng còn mang
li nhng giá tr v c tinh thn vt cht
cho ngưi hát. Người biết hát đúm không chỉ
hát để tha mãn niềm đam với diễn xướng
hát đúm thông qua đó, họ còn ngun
thu chính đáng t chính ging hát ca mình.
Qua mi chặng hát, người hát nhng vế
đối/vế đáp hay, đc sắc cũng như sáng tạo
khiến cho người nghe tha mãn ts được
thưởng tin mt.
Khi hát đúm trong lễ hi truyn thống đã
s biến đổi sâu sc, yếu t thương mi hóa
cũng đã len lỏi vào các hoạt động văn hóa dân
gian nơi đây. Những người đã tham gia hát
đúm nhiều năm kinh nghiệm “chạy sô” hát
hi. H không phải là người ca làng y,
y ch được thuê đến để hát mua vui trong
khong thi gian din ra hội làng. Các đôi
nam n đến hát theo gi, mỗi đôi chỉ hát t