BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Khoa Điều dưỡng

……….…………

Sinh viên thực hiện

: NGUYỄN THỊ THANH KHƯƠNG

Mã sinh viên

:B00080

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG DUNG DỊCH GLUCOSE 30% GIÚP

GIẢM ĐAU CHO TRẺ TRONG KHI LÀM THỦ THUẬT TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ

TỰ NGUYỆN B BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN HỆ

VLVH

Người hướng dẫn

:ThsĐD. Dương Thị Hoà

1

Hà Nội, tháng 2 năm 2012

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và

sâu sắc tới:

- Ban giám hiệu, bộ môn điều dưỡng, các phòng ban Trường Đại học Thăng

Long, Đảng uỷ, Ban giám đốc, các khoa phòng Bệnh viện Nhi Trung Ương đã tạo

điều kiện cho tôi được học tập và hoàn thành luận văn này.

- GS.TS. Phạm Thị Minh Đức, trưởng bộ môn điều dưỡng trường Đại học

Thăng Long, người thầy đã bỏ nhiều công sức đào tạo, hướng dẫn, tận tình dạy

bảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và hoàn thành luận văn này.

- ThS.BS. Bùi Công Thắng, trưởng khoa ĐTTN-B Bệnh viện Nhi Trung

Ương đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

- ThS. ĐD Dương Thị Hoà phó Phòng Điều Dưỡng Bệnh viện Nhi Trung

Ương, người thầy đã giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn động viên tôi trong suốt quá

trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý thầy, cô bộ môn điều dưỡng

trường ĐH Thăng Long, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập trong suốt

thời gian qua.

- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể bác sỹ, điều dưỡng khoa

ĐTTN-B đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập

và hoàn thiện luận văn này.

- Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè,đồng nghiệp,

2

các anh, chị, em lớp KCT2, những người luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tôi

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.

Hà nội, ngày 20 tháng 02 năm 2012

3

Nguyễn Thị Thanh Khương

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau là một biểu hiện rất phổ biến trong cuộc sống đời thường cũng như trong lĩnh vực chăm sóc điều trị bệnh nhi. Đau có thể ảnh hưởng đến tinh thần, sức khoẻ của người bệnh, thậm chí ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Quan tâm đến vấn đề tìm các biện pháp có tác dụng làm giảm đau cho bệnh nhi khi thực hiện các thủ thuật là trách nhiệm của người cán bộ y tế nói chung, đặc biệt là của người Điều dưỡng nhi khoa, vì đây là việc hàng ngày người Điều dưỡng phải thực hiện.

Tuy nhiên những biện pháp can thiệp nhằm giải quyết đau cho bệnh nhi đặc biệt là đau do làm thủ thuật (tiêm, truyền, lấy xét nghiệm…) vẫn còn ít được quan tâm. Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng đường sucrose, fructose, glucose có ảnh hưởng làm giảm đau cho trẻ sơ sinh trong quá trình làm thủ thuật và cũng có sự so sánh về hiệu quả của 3 loại đường trên trong việc giảm đau cho trẻ [6],[7].Ngày nay chỉ định cho trẻ sơ sinh dùng đường glucose giảm đau khi làm thủ thuật đã rất phổ biến và không chỉ có tác dụng giảm đau cho trẻ sơ sinh mà với trẻ nhỏ cũng rất hiệu quả[12], [13]. Điều này được chứng minh bởi 10 bài báo đã được công bố sử dụng phương pháp nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát, qua thử nghiệm đã khẳng định dung dịch glucose 30%(G30%) giúp giảm đau cho trẻ sơ sinh khi làm các thủ thuật như tiêm, truyền, thay băng, lấy máu gót chân, đặt sonde tiểu, lấy máu xét nghiệm rất an toàn và hiệu quả với chỉ 2-3ml dung dịch G30%[12].

Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát được tiến hành tại Khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2006 cũng đã chứng minh hiệu quả của G30% giúp giảm đau cho trẻ sơ sinh khi làm thủ thuật [1] nhưng chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam chứng minh G30% có tác dụng giảm đau với trẻ nhỏ và trẻ lớn. Mặc dù đường Glucose 30% đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhưng chưa được áp dụng tại Việt Nam vì chưa có bằng chứng nào cho thấy liệu trẻ em Việt Nam có thích ứng trong việc sử dụng đường Glucose 30% hay không, hơn nữa cũng chưa có bằng chứng nào khẳng định ngưỡng đau của trẻ em Việt Nam có khác với trẻ em nước ngoài. Trẻ em Việt nam sống trong môi trường khác với trẻ em nước ngoài về điều kiện sống cũng như văn hoá, tập tục…

4

Để tìm hiểu tác dụng giảm đau của G30% cho trẻ em Việt Nam từ 2 đến 12 tháng tuổi, đề tài này được tiến hành nghiên cứu hiệu quả việc sử dụng dung dịch G30% giúp giảm đau cho trẻ khi làm thủ thuật tại khoa Điều Trị Tự Nguyện B Bệnh viện Nhi Trung Ương.

Mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá sự thay đổi đau sau khi dùng G30% cho trẻ từ 2 đến 12

tháng tuổi trong và sau khi làm thủ thuật tiêm, truyền, lấy máu xét nghiệm.

2.Đánh giá tác dụng của G30% lên một số biểu hiện đau trên lâm sàng

CHƯƠNG I:

5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về đau

1.1.1 Khái niệm đau

Theo Hiệp hội nghiên cứu đau Quốc tế đã định nghĩa đau là một cảm giác

khó chịu và là trải nghiệm cảm xúc xuất hiện cùng lúc với những tổn thương thực

thể hay tiềm tàng của các mô tế bào, hoặc được mô tả giống như những tổn thương

này [11].

Đau vừa có tính thực thể, là một cảm giác báo hiệu một tổn thương thực thể

tại chỗ, lại vừa mang tính chủ quan tâm lý, bao gồm cả những chứng đau tưởng

tượng.

1.1.2 Cơ sở giải phẫu sinh lý của cảm giác đau

- Cơ sở sinh học

Cơ sở sinh học của cảm giác đau bao gồm cơ sở giải phẫu, sinh lý, sinh

hoá, nó cho phép giải mã được tính chất, thời gian, cường độ và vị trí của cảm giác

đau. Cảm giác đau xuất hiện tại vị trí tổn thương là một phản xạ tích cực để cơ thể

đáp ứng lại kích thích nhằm loại trừ tác nhân gây đau. Người ta ví cảm giác đau

giống như “tiếng khóc” và mức độ đau cũng đồng thuận với sự di chuyển của cơ

thể, sự chống cự với các tác nhân gây đau đó dường như là một tín hiệu cấp cứu

của một cơ quan hay vị trí bị tổn thương.

- Cơ sở tâm lý

Yếu tố cảm xúc: Cảm xúc có tác động trực tiếp lên cảm giác đau, làm mức

độ đau có thể tăng lên hay giảm đi. Nếu cảm xúc vui vẻ thoải mái, một môi trường

dễ chịu, yên tĩnh có thể làm giảm cảm giác đau nhưng ngược lại nếu cảm xúc khó

chịu, sợ hãi hoặc một môi trường toàn tiếng la hét hoảng hốt sẽ làm tăng cảm giác

đau lên nhiều lần. Thậm trí trong một số trường hợp yếu tố cảm xúc có thể là một

nguyên nhân gây đau, ví dụ một số trường hợp mạch vành nếu bị xúc động mạnh

có thể lên cơn đau thắt ngực cấp tính. Hoặc một môi trường có nhiều trẻ được làm

6

thủ thuật cùng một lúc cảm giác đau có thể bị lan truyền…Ngược lại, đau cũng có

tác động trở lại cảm xúc, nó gây nên trạng thái lo lắng, hoảng hốt, bứt dứt.

Yếu tố nhận thức: Nhận thức đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng liên quan

đến quá trình tiếp nhận cảm giác nói chung và cảm giác đau nói riêng. Từ những

quan sát cổ điển của Beecher, người ta biết ảnh hưởng của sự biểu hiện mức độ

đau tương đương với bệnh lý: Nghiên cứu so sánh hai nhóm người bị thương là

nhóm quân nhân và nhóm dân sự với tổn thương giống nhau, Beecher quan sát

thấy nhóm quân nhân ít kêu đau hơn và đòi hỏi ít thuốc giảm đau hơn. Giải thích

sự khác nhau này giữa hai nhóm là do chấn thương đã mang lại những ý nghĩa

hoàn toàn khác nhau: Biểu hiện tích cực ở nhóm quân nhân (được cứu sống, kết

thúc việc chiến đấu, được xã hội quí trọng…) còn ở nhóm dân sự thì có biểu hiện

tiêu cực (mất việc làm, mất thu nhập, mất đi sự hoà nhập với xã hội…)

Yếu tố hành vi thái độ: Bao gồm toàn bộ những biểu hiện bằng lời nói và

không bằng lời nói có thể quan sát được ở bệnh nhân đau như mức độ khóc to, nhỏ

hoặc dựa vào điệu bộ, mất khả năng duy trì hành vi bình thường…những vấn đề

này chúng tạo nên những dấu hiệu phản ánh tầm quan trọng của vấn đề đau, và

cũng như một hình thức giao tiếp với những người xung quanh. Những biểu hiện

này phụ thuộc vào môi trường gia đình và văn hoá dân tộc, chuẩn mực xã hội, tuổi,

giới và giới của cá thể.Những phản ứng của người xung quanh có thể ảnh hưởng

đến nhân cách ứng xử của bệnh nhân đau và góp phần vào tình trạng duy trì đau

của họ.

Đối với trẻ em, đau được thể hiện ở đa chiều hướng và tuỳ thuộc vào từng

lứa tuổi, môi trường sống, cá tính ….mức độ đau được thể hiện khác nhau. Một

tiếng động mạnh, một tiếng la hét lớn cũng làm cho trẻ hoảng hốt, giật mình, khóc

dữ dội nhưng với một câu chuyện vui, một trò chơi xúc sắc hoặc cho trẻ nghe nhạc

sẽ làm cho trẻ thư giãn và có tác dụng giảm đau rõ rệt [5].

1.2. Cơ chế kiểm soát đau

1.2.1 Những thụ thể cảm nhận đau:

Sự nhận cảm đau bắt đầu từ những thụ cảm thể phân bố khắp nơi trong cơ

7

thể, có nhiều giả thuyết về vai trò và chức năng của các thụ cảm thể này, trong đó

đáng chú ý nhất là hai thuyết:

Thuyết về cường độ (hay thuyết không đặc hiệu): Do Gold Scheider đề xuất

năm 1894. Theo thuyết này thì các kích thích đau không có tính đặc hiệu mà có

liên quan đến cường độ kích thích: cùng một kích thích ở cường độ thấp thì không

gây đau nhưng ở cường độ cao thì lại gây đau [4].

Thuyết đặc hiệu: Do Muller đề xuất vào cuối thế kỷ 19, theo ông mỗi một

trong 5 giác quan (vị giác, khứu giác, thính giác, thị giác, xúc giác) được nhận cảm

và dẫn truyền theo một đường riêng và có một vùng đặc hiệu trên não cảm nhận và

phân tích[3]. Thuyết này được Feray phát triển, ông đã chứng minh bằng thực

nghiệm các cảm giác xúc giác, nhiệt nóng, nhiệt lạnh và đau có các receptor nhận

cảm khác nhau [2].

Theo thuyết đặc hiệu, thông tin về nhận cảm đau do tổn thương bắt đầu từ

các thụ cảm thể (receptor) nhận cảm đau chuyên biệt, đó là các tận cùng thần kinh

tự do, phân bố ở khắp các tổ chức cơ thể, chủ yếu là các mô da, mô cơ, khớp và

thành các tạng. Các thụ cảm thể này trong điều kiện bình thường thì “im lặng”

không hoạt động, chỉ bị kích thích khi mô bị tổn thương. Bao gồm các loại thụ cảm

thể nhận cảm đau sau:

Các thụ cảm thể nhận kích thích cơ học.

Các thụ cảm nhận kích thích hoá học

Các thụ cảm thể nhận kích thích nhiệt

Các thụ cảm thể nhận kích thích áp lực

Các thụ cảm thể nhận cảm đau có tính không thích nghi: Với đa số các loại

thụ cảm thể, khi bị kích thích tác động liên tục thì có hiện tượng thích nghi với

kích thích đó, khi đó những kích thích sau phải có cường độ lớn hơn trước đó thì

mới có đáp ứng. Ngược lại, nếu kích thích đau tác động liên tục thì các thụ cảm

thể nhận cảm giác đau ngày càng bị hoạt hoá. Do đó, ngưỡng đau càng giảm và

làm tăng cảm giác đau. Vì vậy, trong nghiên cứu chúng tôi chọn bệnh nhân lần đầu

làm thủ thuật để tránh những yếu tố gây nhiễu.

8

Ngưỡng đau là cường độ kích thích nhỏ nhất có thể gây ra được cảm giác

đau.Một cường độ kích thích mạnh sẽ gây cảm giác đau sau một thời gian ngắn

(1giây) nhưng cường độ kích thích nhẹ đòi hỏi thời gian dài hơn (vài giây) mới

9

gây ra cảm giác đau.

1.2.2 Các chất trung gian hoá học

Cơ chế đau còn được giải thích là có thể các tác nhân gây đau đã kích thích

các tế bào tại chỗ làm chúng giải phóng ra các chất trung gian hoá học như các

kinin, một số prostaglandin, chất P …. Và các chất trung gian này sẽ tác động lên

thụ cảm thể nhận cảm đau, làm khử cực các thụ cảm thể này và gây ra cảm giác

đau[14].

1.3. Phân loại đau

1.3.1 Phân loại đau theo cơ chế

-Đau do cảm thụ thần kinh:

Là đau do thái quá về sự kích thích nhận cảm đau tổn thương mà bắt đầu từ

các thụ cảm thể nhận cảm đau tổn thương rồi dẫn truyền hướng tâm về thần kinh

trung ương; là cơ chế thường gặp nhất trong phần lớn các chứng đau cấp tính

(chấn thương, làm thủ thuật, nhiễm trùng, thoái hoá…)

Đau do thụ cảm thần kinh thường nhạy cảm với các thuốc giảm đau ngoại

vi hay trung ương.

-Đau do nguyên nhân tâm lý

Đau do nguyên nhân tâm lý có đặc điểm: là những cảm giác bản thể hay nội

tạng, ám ảnh nhiều hơn là đau thực thụ, với sự mô tả phong phú, không rõ ràng

hoặc luôn thay đổi và thường lan toả, triệu chứng học không điển hình. Đau chỉ

mất khi người bệnh tập trung chú ý đến một vấn đề gì đó, thuốc chống đau không

có tác dụng với loại đau này. Thường gặp tổn thương này trong các bệnh lý tâm

thần, rối loạn cảm xúc…

1.3.2 Phân loại đau theo thời gian và tính chất

-Đau cấp tính

Đau cấp tính là đau mới xuất hiện, có cường độ mạnh mẽ, có thể coi là một

dấu hiệu báo động hữu ích.Đau cấp giúp việc chẩn đoán cần thiết. Đau do tiêm

truyền và làm các thủ thuật là thuộc vào nhóm đau cấp tính.

-Đau mạn tính

10

Đau mạn tính là chứng đau dai dẳng tái đi tái lại nhiều lần.Theo qui ước cổ

11

điển, người ta ấn định giới hạn phân cách đau cấp tính và mạn tính như sau:

Đau cấp tính Đau mạn tính

Cơ chế gây đau Đơn yếu tố Đa yếu tố

Phản ứng của cơ thể Phản ứng lại Phản ứng giảm dần

Yếu tố cảm xúc Lo lắng Trầm

Hành vi thái độ Phản ứng Im lìm

Kiểu mẫu Y học kinh điển Đa chiều thực thể-tâm lý

Mục đích điều trị Chữa khỏi Tái thích ứng

1.4. Các phương pháp lượng giá đau

Đau là một hiện tượng chủ quan, phức tạp, đa yếu tố, đa chiều mà không có

một phương pháp đo lường khách quan nào có thể định lượng được. Nhận biết

được sự hiện diện của chứng đau là rất quan trọng, nhưng lượng giá đau lại còn là

bước chủ yếu và cần thiết để đưa ra các phương thức xử lý giúp giảm đau tối ưu

nhất và hạn chế những tác dụng phụ không mong muốn đem lại cảm giác thoải mái

cho người bệnh đứng trước nguy cơ đau do bất kì nguyên nhân gì. Vì vậy, mỗi một

bệnh nhân là một đối chứng riêng và đó là sự đánh giá so sánh hữu ích.

Tuỳ theo từng đối tượng, thể loại đau, nguyên nhân gây đau, lứa tuổi… có

những phương pháp đánh giá đau khác nhau và được thực hiện trong một phạm vi

rộng để lượng giá qua việc:

Hỏi bệnh nhân (hoặc người nhà bệnh nhân) kết hợp với quan sát

Khám lâm sàng và đặc biệt là khám thần kinh

Các xét nghiệm cận lâm sàng

Đánh giá về hành vi thái độ và sự tự chủ

1.4.1. Nội dung lượng giá:

Tuổi, giới

Vị trí đau, thời gian đau

Các yếu tố ảnh hưởng đến đau

12

Tính chất đau

Kiểu đau

Cường độ đau

Các triệu chứng kèm theo

Tiến triển đau

Hiệu quả giảm đau

Với trẻ nhỏ: dựa vào quan sát nét mặt, sự di chuyển của cơ thể, đáp ứng với

dỗ dành, cử động tay, chân, khóc….

1.4.2 Lượng giá cường độ đau

Dùng thang lượng giá chủ quan (thang tự lượng giá) dùng cho trẻ lớn (>7

tuổi) và người lớn.Dùng thước kéo.

Phương pháp đo lượng chuẩn:

Phải đo lường tốt cái cần đo.

Phương pháp lượng giá trung thành và giống nhau cho các lần đo tiếp theo.

Thang lượng giá đơn giản, dễ thực hiện.

Các thang lượng giá một chiều dùng để lượng giá một cáchchung nhất

cường độ đau hay mức độ giảm đau.

Thang Likert 5 điểm (a five-point Likert scale): là thang thông dụng nhất

được dùng cho những đối tượng là trẻ (>7 tuổi) và người lớn. Thang Likert được

tạo nên bởi 5 loại từ mô tả cường độ đau sắp xếp theo thứ tự:

THANG LIKERT

Lúc này bạn thấy đau ở mức độ nào?

 Đau rất ít

 Đau ít

 Đau vừa

 Đau dữ dội

 Đau nặng

Thang số (NRS: Numerical rating scale) từ 0-10 điểm. Ví dụ điểm 0 là

13

không đau và mức độ đau tăng dần theo số điểm, đau dữ dội nhất là điểm 10

THANG NRS

Bạn hãy cho điểm từ 0-10 để xác định mức độ đau của bạn:

 Điểm 0 tương ứng với không đau.

 Điểm 10 tương ứng với việc đau dữ dội không chịu nổi

Xác định một điểm duy nhất từ 0-10 với chứng đau của bạn

Thang nhìn (VAS: Vidual Analogue Scale) thường được trình bày dưới dạng đường ngang định hướng từ trái sang phải, ví dụ đầu bên trái tương ứng với không đau, đầu bên phải tương ứng với đau giữ dội:

Thang VAS được trình bày dưới dạng đường thẳng

Vạch một gạch trên đường thẳng tương ứng với mức độ đau của bạn: Không đau Đau đến mức độ tối đa ________________________________________________________

Có thể tổng hợp 3 thang lượng giá trên thành một thang thống nhất như sau:

Thang điểm đánh giá đau tổng hợp

Điểm 0-----1-----2-----3-----4-----5-----6-----7-----8-----9-----10 _____________________________________________ Đau rất ít Đau ít Đau vừa Đau nhiều Đau dữ dội

Các thang lượng giá một chiều được áp dụng rất phổ biến vì đơn giản dễ sử dụng, tuy nhiên các thang điểm này lại có nhược điểm là xem chứng đau như một hiện tượng giản đơn, chỉ lượng giá một chiều mà không xét đến tính đa chiều của đau.

14

Lượng giá đau bằng việc sử dụng câu hỏi McGILL PAINM Bảng câu hỏi McGill Pain (MPQ: McGill Pain Questionaire): Do Melzack soạn thảo năm 1975 để hỏi người bệnh về vị trí, tính chất, mức độ của đau. Đây là bảng lượng giá đau tương đối toàn diện lượng giá cả vệ lượng và chất, đặc biệt là các yếu tố cảm giác, cảm xúc đối với chứng đau. Tuy nhiên, độ chính xác của bảng lượng giá cũng phụ thuộc vào trình độ, khả năng diễn đạt bằng lời của bệnh nhân, đối với một số người có trình độ thấp thì bảng lượng giá không

đem lại hiệu quả cao. Đến năm 2009 bộ câu hỏi này được soạn thảo lại đem lại độ chính xác cao khi đánh giá đau [8].

1.4.3 Lượng giá đau ở trẻ em

Đánh giá đau ở trẻ em là một công việc rất khó khăn do trẻ chưa có khả

năng giao tiếp.

- Các phương pháp tự lượng giá

+Phần lớn các phương pháp này có thể dùng với trẻ >7 tuổi dùng những câu

hỏi đơn giản như:

Cháu có đau không?

Cháu đau ở chỗ nào?

Đau nhiều hay đau vừa hay không thể chịu được?

Tuy nhiên không phải lúc nào trẻ cũng cho ta câu hỏi chính xác, mà có

nhiều câu trả lời âm tính giả.

+Thang nhìn VAS: Là phương pháp sử dụng phổ biến hiện nay đối với trẻ

trên 5 tuổi(đã được mô tả ở trên).

+Hình dạng, vẻ mặt (Wrong-Baker FACES Pain Rating Scale) được sử

dụng cho trẻ từ 2-4 tuổi, các tác giả Anh đã đề nghị dùng các thay đổi vẻ mặt thể

hiện các mức độ khác nhau về đau.

Không đau Đau rất ít Đau ít Đau vừa Đau nặng Đau dữ dội

0 1 2 3 4 5

+Sử dụng hình vẽ: Đề nghị đứa trẻ vẽ minh hoạ những vùng đau của nó trên

sơ đồ người được vẽ và yêu cầu đứa trẻ lập một thang lượng giá đau qua việc chọn

15

các màu sắc khác nhau thể hiện đau nhẹ, đau vừa, đau nhiều, đau dữ dội. Với sự

giúp đỡ của 4 màu này, đứa trẻ sẽ vẽ được chứng đau của nó như thế nào, người ta

thường ngạc nhiên về tính chất thông tin mà đứa trẻ đem lại, nó giúp cho xác định

mức độ đau, nguyên nhân gây đau và giảm đau cho trẻ.

- Các phương pháp đánh giá không tự thân

Các phương pháp này thường dùng đối với trẻ nhỏ hay trẻ bị câm bằng cách

thăm khám hoặc quan sát trẻ.

Annie Gauvain đã đưa bảng đánh giá đau ở trẻ em dựa vào hành vi thái độ của trẻ

như sau:

A. Đau (các dấu hiệu trực tiếp)

B. Mất trương lực về tâm thần vận động

C. Lo lắng

- Tư thế giảm đau khi nghỉ ngơi - Bảo vệ tự phát vùng đau - Các than phiền thực thể -Định vị các vùng đau -Tư thế giảm đau khi vận động -Các phản ứng khi khám vùng đau -Sự chịu đựng - Tự thu mình lại -Mất đi sự tế nhị -Giảm sự chú ý tò mò với bên ngoài -Cử động chậm chạp - Tính nóng nảy -Khí chất xấu, dễ bị kích thích -Trẻ tự kiểm soát khi người ta làm nó vận động -Dễ khóc

+Thang điểm FLACC (Face, Legs, Activity, Cry, Consolability) là thang điểm đánh giá đau ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của Bệnh viện Nhi Hoàng gia Melbourne Australia. Dựa vào việc quan sát (nét mặt, cử động của chân, hoạt động của cơ thể, khóc, đáp ứng với dỗ dành) để đánh giá mức độ đau của trẻ. Đây là thang điểm cho kết quả đánh giá đau với độ chính xác cao.

16

Các dấu hiệu 0 1 2 điểm

Nét mặt (Face)

Liên tục nhăn nhó, mím chặt miệng, cằm run rẩy Không có biểu hiện đặc biệt hoặc trẻ cười

Chân (Legs)

Thỉnh thoảng nhăn nhó (biểu hiện sự đau đớn), cau mày (nếp nhăn trên trán) Bứt rứt, luôn động đậy, căng thẳng

Cử động không ngừng, chân đá hoặc co lên Ưỡn người, co cứng, rung giật Hoạt động của cơ thể (Activity)

Quằn quại, di chuyển về phía trước, căng thẳng Tư thế bình thường hoặc thư giãn Nằm yên, tư thế bình thường, cử động dễ dàng

Khóc (Cry) Không khóc

Khóc nhiều, thét từng cơn Không đáp ứng sau 2 phút dỗ dành

Khóc rên rỉ bình thường Yên tĩnh sau 1 phút dỗ dành, vỗ về Đáp ứng với dỗ dành (Consolability) Đáp ứng với dỗ dành, thư giãn yên tĩnh dưới 1 phút

Từ 0-3 điểm: Không đau, đau nhẹ

Từ 4-6 điểm: Đau vừa

Từ 7-10 điểm: Rất đau

1.5.Các biện pháp điều trị giúp giảm đau cho trẻ khi tiến hành các phẫu thuật

và thủ thuật.

1.5.1 Các biện pháp điều trị giảm đau dùng thuốc giảm đau

+ Morphin, paracetamol, Efferalgan… được sử dụng để giảm đau cho bệnh

nhân phải trải qua những phẫu thuật lớn hoặc trong những trường hợp bệnh nhân

ung thư giai đoạn nặng.

1.5.2 Các biện pháp điều trị giảm đau không dùng thuốc

Đối với người Điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân thì việc sử dụng

các biện pháp giảm đau không dùng thuốc là vô cùng quan trọng.

Trong thực tế đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh Succrose, glucose

17

có tác dụng giảm đau trong khi làm thủ thuật và việc sử dụng biện pháp này vô

cùng an toàn, hiệu quả7, 10.

Cũng có nghiên cứu chứng minh tác dụng của Emla là một miếng dán

giảm đau được triết xuất từ thiên nhiên cũng đem lại hiệu quả giảm đau tốt nhưng

cần phải dán miếng dán Emala trước khi làm thủ thuật 30phút mới có tác dụng

giảm đau13.

Chăm sóc tâm lý cũng là phương pháp giảm đau an toàn và hiệu quả. Với

vai trò của người Điều dưỡng phải tiếp xúc chăm sóc bệnh nhân hàng ngày việc

chia sẻ, trò chuyện với người bệnh và đặc biệt với trẻ em người Điều dưỡng nên

nắm bắt được tâm lý của trẻ để giảm bớt lo lắng sợ hãi của trẻ, có đồ chơi cho

trẻ… cũng là một biện pháp giảm đau không dùng thuốc đem lại hiệu quả cao.

Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh nghe nhạc có tác dụng giảm đau vô

cùng hiệu quả, âm nhạc đem đến cho người bệnh cảm giác thư thái, dễ chịu giúp

người bệnh quên đi cảm giác đau thực thể. Tuỳ vào sở thích của người bệnh để lựa

chọn những thể loại nhạc mà người bệnh ưa thích, đặc biệt đối với bệnh nhi ung

18

thư thì âm nhạc có tác dụng giảm đau vô cùng có ý nghĩa5.

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là 96 bệnh nhi tại khoa Điều trị tự nguyện B - Bệnh viện nhi Trung Ương

từ ngày 10/10/2011-28/12/2011. Các bệnh nhi được chia làm 2 nhóm:

Nhóm1: Chọn ngẫu nhiên 48 trẻ có can thiệp sử dụng dung dịch G30%

trước khi tiêm, truyền, lấy máu xét nghiệm một lần duy nhất.

Nhóm 2: Chọn ngẫu nhiên 48 trẻ có can thiệp sử dụng nước cất(NC) trước

khi tiêm, truyền, lấy máu xét nghiệm một lần duy nhất

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:.

Cả hai nhóm trẻ đều:

- Có độ tuổi từ 2 tháng đến 12 tháng tuổi.

- Nhập viện chưa làm các thủ thuật

- Không có các bệnh lý đặc biệt gây đau (như bệnh ung thư, có phẫu

thuật…)

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Không thực hiện trên bệnh nhân thở máy, thở oxy, bệnh nhân có hội

chứng thần kinh hoặc những bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc an thần.

2.2 Phương pháp

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu mù đôi có kiểm soát.

2.2.2 phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm 1:

+ Người điều dưỡng có kỹ năng tốt dùng bơm tiêm hút 3-5ml dung dịch

G30% nhỏ vào đầu lưỡi của trẻ trước khi làm thủ thuật 15-30 giây(s)

+ Tiến hành thủ thuật 1 lần duy nhất

+ Đánh giá

19

- Nhóm 2

+ Người điều dưỡng có kỹ năng tốt dùng bơm tiêm hút 3-5ml dung dịch NC

nhỏ vào đầu lưỡi của trẻ trước khi làm thủ thuật 15-30s

+ Tiến hành thủ thuật 1 lần duy nhất

+ Đánh giá

2.3 Tiêu chuẩn đánh giá:

Dùng thang điểm Flacc (face, legs, activity, cry, consolability: Nét mặt, cử

động của chân, hoạt động của cơ thể, khóc, đáp ứng với dỗ dành) của Bệnh viện

Nhi Hoàng gia Melbourne Australia để đánh giá đau cho 2 nhóm tại 3 thời điểm:

+ Trước khi làm thủ thuật 5-10s

+ Trong suốt quá trình làm thủ thuật (từ 0-15s, 15-30s, 30-60s)

+ Ngay sau khi kết thúc thủ thuật 5-10s

- Thang điểm gồm 10 điểm:

+ Từ 0-3 điểm: đau nhẹ hoặc không đau

+ Từ 3-6 điểm: đau vừa

+ Từ 7-10 điểm: rất đau

2.4 Địa điểm:

Khoa điều trị tự nguyện B - Bệnh viện Nhi Trung ương

2.5 Thời gian:

Từ ngày 10/10/2011- 28/12/2011

2.6 Phân tích và xử lý số liệu:

- Kết quả được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm và trung bình ± độ lệch

chuẩn. Các số liệu trung bình thu được của hai nhóm được so sánh bằng kiểm

định t dành cho 2 mẫu độc lập, hai tỷ lệ phần trăm được so sánh bằng kiểm định 2.

Với : P>0.05 là không khác biệt.

P<0.05 là khác biệt có ý nghĩa.

P<0.01 và <0.001 là rất khác biệt có ý nghĩa

- Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê Stata 11.0

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

20

Nghiên cứu được tiến hành trên 96 trẻ.Trước khi tham gia nghiên cứu, cha

mẹ trẻ được giải thích thông báo về nội dung nghiên cứu, cách tiến hành và những

ưu nhược điểm của việc tham gia nghiên cứu. Cha mẹ trẻ được kí vào bản chấp

thuận tham gia nghiên cứu.

Nghiên cứu được sự đồng ý của Giám Đốc Bệnh viện Nhi Trung Ương và

Hội đồng đạo đức của Bệnh viện Nhi Trung Ương.

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Một số đặc điểm chung của hai nhóm nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung

STT Đặc điểm chung của Nhóm dùng Nhóm dùng P

đối tượng nghiên cứu Glucose 30% nước cất

( SD) ( SD)

6.73.0 6.33.1 0.5 Tuổi (tháng) 1

7.22.0 7.31.9 0.8 Cân nặng (kg) 2

0.13 Thời gian làm thủ thuật 0.970.09 0.930.014 3

(phút)

4 Tần số tim trước khi 143.41.76 144.31.8 0.72

làm thủ thuật (l/ph)

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tuổi, cân nặng, thời gian làm thủ

thuật, tần số tim của hai nhóm trước khi làm thủ thuật P>0.05.

3.1.2 Giới

Bảng 3.2 Giới tính

Nhóm nghiên cứu Giới tính Tỷ lệ % (n)

Nam 57 60

Nữ 39 40

21

Tổng 96 100

Biểu đồ 3.1 Giới tính hai nhóm nghiên cứu

Nhận xét: Tỷ lệ nam (60%) nhiều hơn nữ (40%) trong nhóm nghiên cứu.

3.1.3 Chẩn đoán bệnh

Biểu đồ 3.2 Chẩn đoán bệnh cơ bản của 2 nhóm nghiên cứu

Nhận xét: Trẻ mắc bệnh Viêm phế quản phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (49%)

trong nhóm nghiên cứu.

3.1.4 Vị trí lấy ven

22

Bảng 3.3 Vị trí lấy ven

Số lượng Vị trí lấy ven Tỷ lệ (%) (n)

Mắt cá chân 14.5 14

Mu bàn chân 4.25 4

Mu bàn tay 81.25 78

Tổng 100 96

Biểu đồ 3.3 Vị trí lấy ven của hai nhóm Nghiên cứu

Nhận xét: Trẻ được lấy ven chủ yếu ở mu bàn tay chiếm 81.25%

3.1.5 Tổng số thời gian khóc trong khi làm thủ thuật

Bảng 3.4 Tổng số thời gian khóc trong khi làm thủ thuật

Nhóm nghiên cứu Thời gian khóc (giây)

23

(n=96) ( SD)

79.50.7

24

Nhận xét: Thời gian khóc trong suốt quá trình làm thủ thuật là 79.50.7s

3.2. So sánh một số đặc điểm giữa hai nhóm nghiên cứutrước khi làm thủ

thuật

3.2.1 Tuổi so sánh giữa hai nhóm

Bảng 3.5 Tuổi so sánh giữa 2 nhóm

Nhóm dùng Nhóm dùng P

Tuổi (tháng) nước cất G30%

( SD) ( SD)

6.7 3.0 6.3 3.1 0.5

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tuổi giữa hai nhóm nghiên cứu P>

0.05.

3.2.2 Giới so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu

Bảng 3.6 Giới so sánh giữa 2 nhóm

Nhóm dùng Nhóm dùng Giới P G30% nước cất

14(29%) 25(52%) Nữ

0.029 0.029 34(71%) 23(48%) Nam

25

48 (100%) 48(100%) Tổng

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ về giới khác biệt giữa hai nhóm.

Nhận xét: Có sự khác biệt về giới giữa hai nhóm nghiên cứu (P<0.05).

3.2.3 Cân nặng so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu

Bảng 3.7 Cân nặng so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu

Nhóm dùng Nhóm dùng

nước cất G30% P Cân nặng (kg)

( SD) ( SD)

7.2 2.0 7.3 1.9 0.8

Nhận xét: Không có sự khác biệt về cân nặng giữa hai nhóm nghiên cứu

P>0.05.

3.2.4 Thời gian làm thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu

26

Bảng 3.8 Thời gian làm thủ thuật giữa hai nhóm

Nhóm dùng nước Nhóm dùng

cất G30% P Thời gian (phút)

( SD) ( SD)

0.97 0.09 0.93 0.014 0.13

Nhận xét: Không có sự khác biệt về thời gian làm thủ thuật giữa hai nhóm

nghiên cứu P>0.05.

3.2.5 Mức độ đau của trẻ trước khi làm thủ thuật

Bảng 3.9 Mức độ đau của trẻ trước khi làm thủ thuật

Nhóm Nghiên Không đau Tỷ lệ P cứu (n) (%)

Nước cất 48 100% 0.3

Glucose 30% 48 100%

Tổng 96 100%

Nhận xét: Không có bệnh nhân nào có biểu hiện đau trước khi làm thủ

thuật trong 2 nhóm nghiên cứu. Không có sự khác biệt giữa hai nhóm Nghiên cứu

(P>0.05)

3.2.6 Chẩn đoán bệnh giữa hai nhóm nghiên cứu

Bảng 3.10 Chẩn đoán bệnh giữa hai nhóm nghiên cứu

Nhóm dùng Nhóm dùng

Chẩn đoán P nước cất G30%

Viêm phế quản phổi 27(49.3%) 22(45.7%)

27

Iả chẩy cấp 8(17%) 8(17%)

0.68 0.68

Sốt vius 4(8.5%) 2(4.2%)

Viêm họng cấp 1(2.1%) 3(6.2%)

Viêm phế quản + ỉa chảy 0(0%) 3(6.2%)

Viêm tiểu phế quản 1(2.1%) 6(12.7%)

Viêm thanh quản 2(4.2%) 0(0%)

Viêm loét miệng 1(2.1%) 1(2.1%)

Hen phế quản 1(2.1%) 0(0%)

Chân tay miệng 1(2.1%) 0(0%)

Tổng 48(100%) 48(100%)

Nhận xét: Không có sự khác biệt về chẩn đoán bệnh giữa hai nhóm nghiên

cứu.

3.2.7 Vị trí lấy ven giữa hai nhóm nghiên cứu

Bảng 3.11. Vị trí lấy ven giữa hai nhóm nghiên cứu

Nhóm dùng Nhóm dùng Vị trí lấy ven P nước cất glucose 30%

Mắt cá chân 8(17.0%) 5(10.4%) 0.1

Mu bàn chân 2(4.3%) 2(4.3%)

Mu bàn tay 37(78.7%) 41(85.3%)

Nhận xét: Ven được lấy ở mu bàn tay là chủ yếu chiếm tỷ lệ 78.7% ở nhóm

bệnh nhân dùng nước cất và 85.3% ở nhóm bệnh nhân dùng G30%. Không có sự

28

khác biệt về vị trí lấy ven giữa hai nhóm nghiên cứu P>0.05

3.2.8 Tần số tim trước khi làm thủ thuật giữa hai nhóm

Bảng 3.12 Tần số tim trước thủ thuật

Nhóm dùng nước Nhóm dùng

glucose 30% P cất Tần số tim (l/ph)

( SD) ( SD)

143.4 1.76 144.3 1.8 0.72

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tần số tim trước thủ thuật giữa hai

nhóm nghiên cứu

3.3 So sánh mức độ đau giữa hai nhóm nghiên cứu trong và sau khi làm thủ

thuật.

3.3.1 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 0-15s

Bảng 3.13 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 0-15s

Không đau, Nhóm nghiên Đau vừa Tổng P đau nhẹ cứu

Nước cất 10 (20.8%) 38 (79.1%) 48 (100%) 0.0001

G30% 42 (87.5%) 6 (12.5%) 48 (100%)

Nhận xét: Tỷ lệ về các mức độ đau của hai nhóm nghiên cứu cho thấy ở

nhóm trẻ dùng nước cất có 79.1% trẻ có biểu hiện đau ở mức độ vừa trong 15s

đầu cao hơn so với nhóm được dùng G30% là 12.5%. Có 87.5% trẻ không có biểu

hiện đau hoặc đau nhẹ trong 15s đầu trong khi làm thủ thuật ở nhóm dùng G30%

so với nhóm bệnh nhân dùng nước cất chỉ có 20.8% trẻ có biểu hiện không đau

hoặc đau nhẹ khi tiến hành thủ thuật. Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (P

<0.001).

3.3.2 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 15-30s

29

Bảng 3.14 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 15-30s

Nhóm nghiên Không đau, Đau vừa Tổng P đau nhẹ cứu

7 (14.5%) 41 (85.5%) 48 (100%) 0.0001 Nước cất

43 (89.6%) 5 (10.4%) 48 (100%) G30%

Nhận xét: Ở nhóm trẻ dùng nước cất có đến 85.5% trẻ có biểu hiện đau ở

mức độ vừa trong 15-30s trong quá trình làm thủ thuật so với nhóm được dùng

G30% chỉ có 10.4% trẻ có biểu hiện đau vừa và có đến 89.6% không có biểu hiện

đau hoặc đau nhẹ trong 15-30s trong khi làm thủ thuật ở nhóm dùng G30% cao

hơn so vói nhóm bệnh nhân dùng nước cất là 14.5% . Sự khác biệt rất có ý nghĩa

thống kê (P<0.001)

3.3.3 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 30-60s

Bảng 3.15 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 30-60s

Nhóm nghiên Không đau, Đau vừa Tổng P đau nhẹ cứu

8 (16.6%) 38 (83.4%) 48 (100%) 0.0001 Nước cất

42 (87.5%) 6 (12.5%) 48 (100%) G30%

Nhận xét: Chỉ có 12.5% trẻ có biểu hiện đau ở mức độ vừa ở nhóm dùng

G30% và có đến 83.4% trẻ có biểu hiện đau vừa ở nhóm dùng nước cất trong khi

làm thủ thuật từ 30-60s. Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (P<0.001)

3.3.4 Mức độ không đau; đau nhẹ của hai nhóm tại 3 thời điểm trong khi làm

thủ thuật

Biểu đồ 3.5 Mức độ không đau, đau nhẹ của hai nhóm tại 3 thời điểm trong

30

khi làm thủ thuật

Biểu đồ 3.6 Mức độ đau vừa của hai nhóm tại 3 thời điểm

trong khi làm thủ thuật

Nhận xét: Ở nhóm trẻ dùng G30% phần lớn trẻ không có biểu đau hoặc

đau ở mức độ nhẹ trong quá trình làm thủ thuật tại 3 thời điểm.

3.3.5 Mức độ đau vừa của hai nhóm nghiên cứu tại 3 thời điểm trong khi làm

thủ thuật

Nhận xét: Tại 3 thời điểm trong quá trình làm thủ thuật ở nhóm dùng

G30% có mức độ đau vừa thấp hơn so với nhóm dùng nước cất.

3.3.6 Mức độ đau của trẻ sau khi làm thủ thuật

Bảng 3.16 Mức độ đau của trẻ sau thủ thuật

Nhóm nghiên Không đau, Đau vừa Rất đau P

cứu đau nhẹ

Nước cất 33 (68.75%) 14 (29.2%) 1(2.1%) 0.0001

31

G30% 45 (93.7%) 3 (6.3%) 0

Biểu đồ 3.7 Mức độ đau của trẻ sau thủ thuật

Nhận xét: Sau khi hoàn thành thủ thuật có 68.75% trẻ có biểu hiện không

đau hoặc đau nhẹ ở nước cất và 93.7% ở nhóm G30%, vẫn còn 29.2% bệnh nhân

có biểu hiện đau vừa ở nhóm nước cất và chỉ có 6.3% trẻ có biểu hiện đau ở mức

độ vừa ở nhóm dùng G30% và đặc biệt có một trường hợp (2.1%) ở nhóm dùng

nước cất có biểu hiện rất đau sau khi kết thúc thủ thuật. Sự khác biệt rất có ý

nghĩa thống kê (P<0.001)

3.4 So sánh điểm đau trung bình của hai nhóm trong và sau khi làm thủ thuật

3.4.1 Tổng số điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật 0-15s

32

Bảng 3.17 Tổng số điểm đau trung bình trong thủ thuật 0-15s

Tổng số điểm đau Nhóm dùng Nhóm dùng P

trung bình (điểm) Nước cất glucose 30%

( SD) ( SD)

7.21.5 3.11.9 0.00001

Nhận xét:Kết quả cho thấy điểm đau trung bình ở nhóm dùng nước cất cao

hơn gấp đôi so với nhóm dùngG30% trong khi làm thủ thuật 0-15s. Sự khác biệt

rất có ý nghĩa thống kê (P<0.001, khoảng tin cậy 95%).

3.4.2 Tổng số điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật 15-30s

Bảng 3.18 Tổng số điểm đau trung bình trongkhi làm thủ thuật 15-30s

P

Tổng số điểm đau trung bình (điểm)

Nhóm dùng nước cất SD) (

81.4 Nhóm dùng G30% SD) ( 3.61.7 0.00001

Nhận xét:Kết quả cho thấy điểm đau trung bình ở nhóm dùng nước cất cao

hơn so với nhóm dùngG30% trong khi làm thủ thuật 15-30s. Sự khác biệt rất có ý

nghĩa thống kê (P<0.001, khoảng tin cậy 95%)

3.4.3 Tổng số điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật 30-60s

Bảng 3.19 Tổng số điểm đau trung bình trong thủ thuật 30-60s

P

Tổng số điểm đau trung bình (điểm)

Nhóm dùng nước cất SD) ( 7.41.9 Nhóm dùng G30% SD) ( 2.62.1 0.00001

Nhận xét:Kết quả cho thấy điểm đau trung bình ở nhóm dùng nước cất cao

hơn so với nhóm dùngG30% trong khi làm thủ thuật 30-60s. Sự khác biệt rất có ý

nghĩa thống kê (P<0.001, khoảng tin cậy 95%)

3.4.4 Tổng số điểm đau trung bình của hai nhóm nghiên cứu tại 3 thời điểm

trong khi làm thủ thuật.

Biểu đồ 3.8 Điểm đau trung bình của 2 nhóm tại 3 thời điểm trong thủ thuật. 33

Nhận xét: Ở nhóm dùng nước cất có điểm đau cao hơn so với nhóm dùng

G30% tại tất cả các thời điểm trong khi làm thủ thuật.

3.4.5 Tổng số điểm đau trung bình của hai nhóm nghiên cứu sau khi làm

thủ thuật

Bảng 3.20 Tổng số điểm đau trung bình sau thủ thuật

Nhóm dùng Nhóm dùng Tổng số điểm đau

nước cất G30% P trung bình (điểm)

( SD) ( SD)

5.80.4 0.80.3 0.00001

Biểu đồ 3.9 Điểm đau trung bình của hai nhóm sau thủ thuật

Nhận xét:Điểm đau trung bình giảm dần sau thủ thuật ở cả hai nhóm

nghiên cứu nhưng kết quả cho thấy điểm đau trung bình ở nhóm dùng nước cất 34

cao hơn so với nhóm dùngG30% sau thủ thuật. Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống

kê (P<0.001, khoảng tin cậy 95%).

3.5 So sánh thời gian khóc và tần số tim giữa hai nhóm nghiên cứu

3.5.1 Tổng số thời gian khóc so sánh giữa hai nhóm

Bảng 3.21 Tổng số thời gian khóc so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu

Nhóm dùng Nhóm dùng

Thời gian khóc P nước cất G30%

( SD) ( SD)

Tổng số thời gian khóc

trung bình trong và sau 112 0.7 47 giây0.3 0.00001

khi làm thủ thuật (giây)

Nhận xét: Thời gian khóc trong và sau khi làm thủ thuật của nhóm

dùngnước cất dài hơn so với nhóm dùng đường. P<0.001 sự khác biệt rất có ý

nghĩa thống kê.

3.5.2 So sánh tần số tim trong khi làm thủ thuật giữa hai nhóm

Bảng 3.22 Tần số tim trong khi làm thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu

Tần số tim trong Nhóm dùng Nhóm dùng P

thủ thuật (l/ph) nước cất G30%

( SD) ( SD)

198.815 182.511 0.00001

Nhận xét: Tần số tim trong khi làm thủ thuật ở nhóm dùng nước cất cao

hơn so với tần số tim của nhóm dùng đường. P<0.001 sự khác biệt rất có ý nghĩa

thống kê. Khoảng tin cậy 95% của sự khác biệt giữa hai nhóm.

3.5.3 So sánh tần số tim sau khi làm thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu

35

Bảng 3.23 Tần số tim sau thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu

Nhóm dùng Nhóm dùng Tần số tim sau

nước cất G30% P thủ thuật (l/ph)

( SD) ( SD)

168.011 149.012 0.00001

Nhận xét: Tần số tim giảm dần sau thủ thuật ở cả hai nhóm nhưng giảm

nhanh hơn ở nhóm dùng đường so với nhóm dùng nước cất. P<0.001 sự khác biệt

rất có ý nghĩa thống kê. Khoảng tin cậy là 95%.

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN

4.1 Một số đặc điểm của hai nhóm trước khi làm thủ thuật

Nghiên cứu này xác định hiệu quả của dung dịch G30% giúp giảm đau cho

trẻ khi làm thủ thuật.

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về tuổi, chẩn đoán

bệnh, cân nặng, thời gian làm thủ thuật, vị trí lấy ven giữa hai nhóm nghiên cứu.

Điều này sẽ ít ảnh hưởng đến kết quả khi so sánh về mức độ đau giữa nhóm dùng

nước cất và nhóm dùng G30%. Tuy nhiên, có một yếu tố về giới cho kết quả P

<0.05 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Ở nhóm dùng nước cất tỷ lệ

nam giới là 48% và tỷ lệ nữ giới là 42% nhưng ở nhóm dùng G30% thì tỷ lệ nam

giới là 71% cao hơn nhiều so với tỷ lệ nữ giới là 29%. Yếu tố giới là yếu tố gây

nhiễu tiềm tàng nhưng theo các nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu về vấn

đề này thì giới không làm ảnh hưởng đến kết quả so sánh, vẫn có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về điểm đau giữa hai nhóm sử dụng G30% và nước cất1, 12.

Để loại trừ thêm những yếu tố gây nhiễu, hai nhóm nghiên cứu đã được

đánh giá đau trước khi can thiệp và kết quả cho thấy không có bệnh nhân nào có

biểu hiện đau trước khi làm thủ thuật. Bệnh nhân được làm thủ thuật trong môi

trường yên tĩnh, đảm bảo an toàn, đủ ánh sáng và lần đầu làm thủ thuật. Hai nhóm

36

nghiên cứu cũng được đánh giá về tần số tim và tần số tim trong giới hạn bình

thường ở nhóm dùng nước cất là 143l1.76l/ph và nhóm dùng G30% là 1441.8l/ph,

không có sự khác biệt về tần số tim giữa hai nhóm nghiên cứu.

4.2 Mức độ đau của hai nhóm trong và sau khi làm thủ thuật

Tại cả 3 thời điểm trong khi làm thủ thuật từ 0-60s trẻ được dùng G30%

hầu như không có biểu hiện đau hoặc chỉ có biểu hiện đau nhẹ. Tại thời điểm từ 0-

15s có 87.5% trẻ có biểu hiện không đau hoặc đau nhẹ cao hơn so với nhóm dùng

nước cất là 20.8% nhưng ở nhóm dùng nước cấtchiếm tỷ lệ đau vừa cao hơn là

79.1% so với nhóm dùng G30% là 12.5%. Theo nghiên cứu của các tác giả tại

Bệnh viện Nhi Trung Ương tiến hành trên nhóm trẻ sơ sinh cho thấy trong khi làm

thủ thuật từ 0-15s ở nhóm dùng G30% có biểu hiện không đau hoặc đau nhẹ là

45.2%, trong khi đó ở nhóm không dùng G30% chỉ có 9.7% trẻ.

Tại thời điểm từ 15-30s tỷ lệ trẻ có biểu hiện không đau hoặc đau nhẹ ở

nhóm dùng G30% vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn là 89.6% so với nhóm dùng nước cất là

14.5%. Mức độ đau vừa ở nhóm dùng nước cất là 85.5% và nhóm dùng G30% chỉ

có 10.4% trẻ có biểu hiện đau vừa trong khi làm thủ thuật. Kết quả này cũng tương

ứng với nghiên cứu trên nhóm trẻ sơ sinh về tác dụng của G30% giảm đau trong

khi làm thủ thuật ở nhóm trẻ sơ sinh từ 15-30s có 77.4% trẻ dùng G30% không có

biểu hiện đau hoặc đau nhẹ trong khi làm thủ thuật so với nhóm không dùng

G30% là 22.6%, mức độ đau vừa trên nhóm trẻ này khi dùng G30% chỉ có 16.1%

1.

Tại thời điểm từ 30-60s mức độ đau vừa của nhóm dùng nước cất là 83.4%

cao hơn so với nhóm dùng G30% là 12.5%.Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê

giữa hai nhóm (P<0.001).So sánh với kết quả nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ trẻ

dùng G30% có tỷ lệ đau vừa là 19.4%1.

Trong nghiên cứu này không có trẻ nào ở độ tuổi từ 2-12tháng có biểu hiện

rất đau trong khi làm thủ thuật ở cả hai nhóm nhưng theo nghiên cứu của các tác

giả năm 2006 ở trẻ sơ sinh có biểu hiện rất đau ở nhóm dùng G30% là 3.2% và có

đến 58.1% trẻ có biểu hiện rất đau ở nhóm không dùng G30%.Nhưng ngay sau khi

37

kết thúc thủ thuật ở nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 2.1% trẻ có biểu hiện rất

đau ở nhóm dùng nước cất.

Mức độ đau giảm dần sau khi thủ thuật kết thúc. Ở nhóm dùng G30% hầu

như trẻ không có biểu hiện đau, hoặc đau nhẹ chiếm tỷ lệ cao 93.7% so với nhóm

dùng nước cất là 68.75% và mức độ đau vừa ở nhóm dùng G30% chỉ còn 6.3% so

với nhóm dùng nước cất là 29.2% so với nghiên cứu trên nhóm trẻ sơ sinh thì

100% trẻ dùng G30% không có biểu hiện đau sau khi làm thủ thuật so với nhóm

không dùng G30% là 87%1.

4.3 Điểm đau trung bình của hai nhóm nghiên cứu trong và sau khi làm thủ

thuật

Qua thống kê số liệu cho thấy điểm đau trung bình tại cả 3 thời điểm đánh

giá ở nhóm dùng G30% thấp hơn so với nhóm dùng nước cất.Điểm đánh giá càng

cao sẽ cho chỉ số đau càng lớn.

Tại thời điểm đánh giá đau từ 0-15s trong khi làm thủ thuật ở nhóm dùng

G30% cho kết quả điểm đau trung bình thấp hơn là 3.1 điểm so với nhóm dùng

nước cất điểm đau trung bình là 7.2 điểm (P<0.001).

Tại thời điểm đánh giá đau từ 15-30s và thời điểm đánh giá đau từ 30-60s

điểm đau trung bình của nhóm dùng G30% tương ứng là 3.6 điểm và 2.6 điểm thấp

hơn so với nhóm dùng nước cất tương ứng là 8.0 điểm và 7.4 điểm. Điều này

chứng tỏ mức độ đau của nhóm dùng G30% thấp hơn so với nhóm dùng nước cất.

Nghiên cứu được tiến hành trên trẻ sơ sinh trong khi làm thủ thuật ở nhóm

dùng G30% là 3.09 điểm so với nhóm không dùng G30% là 6.5điểm.

Điểm đau trung bình giảm dần ở cả hai nhóm sau khi thủ thuật kết thúc

nhưng ở nhóm dùng G30% cho kết quả giảm nhanh hơn so với nhóm dùng nước

cất tương ứng là 0.8 điểm và 5.8 điểm.Nghiên cứu ở nhóm trẻ sơ sinh cho kết quả

tương tự là 1.09 điểm ở nhóm trẻ dùng G30% và 5.7điểm ở nhóm không dùng

G30% 1.

Nghiên cứu của Muller đã chứng minh ở độ tuổi sơ sinh và nhũ nhi (0-3

tuổi) trẻ chủ yếu phát triển cảm giác vị giác [3] và việc dùng G30% bằng đường

38

miệng như một phương thức giúp trẻ xao nhãng với các tác nhân xung quanh

(tiêm, truyền, tiếng ồn…), trẻ không tập trung vào đau của thủ thuật mà tập trung

vào vị ngọt của đường, và cảm nhận của đường miệng điều này giải thích cho việc

giảm đau của G30% trong khi làm thủ thuật thông thường (tiêm, truyền, lấy máu

xét nghiệm của trẻ…)

4.4 Một số yếu tố liên quan đến đau:

Thời gian khóc ngắn hơn là 47giây ở nhóm dùng G30% so với nhóm dùng

nước cất thời gian khóc trong quá trình làm thủ thuật là 112giây (P<0.001). Kết

quả này so với nghiên cứu của Blass EM, 1992 cho thấy ở nhóm bệnh nhân dùng

G30% thời gian khóc là 43giây so với nhóm không dùng G30% là 105giây (P

<0.001)[7] và trên một kết quả nghiên cứu thử nghiệm khác trong 3 phút đầu với

nhóm trẻ dùng G30% tổng thời gian khóc là 1s so với nhóm dùng Emla giảm đau

là 18s [9].

Trong nhóm nghiên cứu, nhịp tim tăng lên trong quá trình làm thủ thuật và

giảm dần về trạng thái ban đầu sau khi làm thủ thuật. Trong khi làm thủ thuật nhịp

tim ở nhóm dùng G30% (182l/ph) thấp hơn so với nhóm dùng nước cất (198l/ph)

và sau thủ thuật ở nhóm dùng G30% là 149l/ph và ở nhóm dùng nước cất là

168l/ph. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu. Như vậy

mức độ đau cũng làm ảnh hưởng đến tần số tim ở nhóm trẻ 2-12tháng. Tuy nhiên,

so sánh kết quả này với một số kết quả nghiên cứu hiệu quả G30% trên trẻ sơ sinh

thì không có sự khác biệt về tần số tim giữa nhóm dùng G30% và nhóm không

dùng G30% [1, 9].

Việc sử dụng dung dịch G 30% rất đơn giản, chỉ cần 3-5ml bằng đường

miệng đã cho thấy hiệu quả giảm đau.

Trong nghiên cứu chưa thấy có biểu hiện tác dụng phụ khi dùng 3-5ml dung

dịch G30% cho trẻ khi làm thủ thuật. Kết quả này cũng trùng với kết quả của

nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này 1], [6, 13.

Nghiên cứu đã sử dụng thang điểm FLACC của Úc là một thang điểm dễ sử

dụng, cho kết quả nhanh và có độ chính xác cao.

39

Hạn chế của đề tài:

Không làm trên bệnh nhân thở máy, thở oxy, bệnh nhân có hội chứng thần

kinh, bệnh nhân nặng, bệnh nhân có dùng thuốc an thần và những bệnh nhân đã

thực hiện thủ thuật trước đó.

Việc đánh giá đau đối với trẻ là không dễ dàng, đôi khi có những yếu tố

ngoại cảnh tác động làm ảnh hưởng đến kết quả đánh giá, đồng thời hệ thần kinh

với trẻ ở lứa tuổi từ 2-12tháng chưa được hoàn thiện nên cũng đem lại những

khó khăn.

Để có nhiều kết luận chính xác chúng tôi sẽ nghiên cứu với số lượng bệnh

nhân lớn hơn và kiểm soát được những yếu tố gây nhiễu.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 96 bệnh nhi được dùng G30% và dùng nước cất trong khi

làm thủ thuật chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

1. Tỷ lệ % các mức độ đau của trẻ từ 2-12 tháng được dùng dung dịch

G30% trong và sau khi làm thủ thuật:

1.1 Trong khi làm thủ thuật:

- Tại 3 thời điểm trong khi làm thủ thuật trẻ dùng G30% hầu như không có

biểu hiện đau hoặc chỉ đau ở mức độ nhẹ từ 0-15s là 87.5%, từ 15-30s là 89.6% và

từ 30-60s là 87.5% cao hơn so với nhóm dùng nước cất tương ứng là 20.8%,

14.5% và 16.6%.

40

- Mức độ đau vừa ở nhóm dùng G30% thấp hơn tại các thời điểm từ 0-15s

là 12.5%, từ 15-30s là 10.4% và từ 30-60s là 12.5% so với nhóm dùng nước cất từ

0-15s là 79.1%, từ 15-30s là 85.5% và từ 30-60s là 83.4%.

- Điểm đau trung bình của nhóm dùng G30% thấp hơn từ 0-15s là 3.1 điểm,

từ 15-30s là 3.6 điểm và từ 30-60s là 2.6 điểm so với nhóm dùng nước cất tương

ứng là 7.2 điểm, 8.0 điểm và 7.4 điểm.

1.2 Sau khi kết thúc thủ thuật:

- Mức độ đau giảm dần tại thời điểm sau khi thủ thuật hoàn thành. Tỷ lệ trẻ

có biểu hiện không đau hoặc đau nhẹ ở nhóm dùng G30% tăng cao chiếm tỷ lệ

93.7% so với nhóm dùng nước cất là 68.75%.Mức độ đau vừa ở nhóm G30% là

6.3% so với nhóm dùng nước cất là 29.2%.

- Điểm đau trung bình ở cả hai nhóm cũng giảm rõ rệt sau khi thủ thuật kết

thúc ở nhóm dùng G30% giảm nhanh hơn là 0.8 điểm so với nhóm dùng nước cất

là 5.8 điểm.

2. Các yếu tố liên quan đến đau của trẻ trong và sau khi làm thủ thuật

- Trẻ đau sẽ dẫn đến thời gian khóc dài hơn biểu hiện ở nhóm trẻ dùng

G30% có mức độ đau nhẹ hơn nên tổng số thời gian khóc trung bình trong quá

trình làm thủ thuật là 47s ngắn hơn so với nhóm dùng nước cất là 112s.

- Tần số tim tăng lên trong quá trình làm thủ thuật ở nhóm dùng G30% là

182l/ph và ở nhóm dùng nước cất là 198l/ph và giảm dần khi thủ thuật kết thúc

tương ứng là 149l/ph với nhóm dùng G30% và 168l/ph với nhóm dùng nước cất. Như

vậy, đau cũng làm ảnh hưởng đến tần số tim. Đau tăng sẽ làm tần số tim tăng lên.

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định dung dịch G30% có hiệu quả giảm đau

41

cho trẻ từ 2-12 tháng tuổi khi làm thủ thuật đơn thuần.

KIẾN NGHỊ

-Glucose 30% có tác dụng giảm đau cho trẻ từ 2-12 tháng tuổi khi thực hiện

các thủ thuật cơ bản như tiêm phòng, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch,

tiêm dưới da, tiêm trong da, lấy máu xét nghiệm.

- Glucose 30% được khuyến cáo dùng bằng đường uống trước khi làm thủ

thuật 15-30s.

42

- G30% có giá thành rẻ và dễ sử dụng vì vậy cần được phổ biến và sử dụng

rộng rãi cho các bệnh nhân nội trú và ngoại trú khi tiến hành các thủ thuật thông

thường.

-Cần tiến hành các nghiên cứu thêm trên số lượng bệnh nhi nhiều hơn với

các lứa tuổi lớn hơn để đánh giá sâu hơn về hiệu quả giảm đau của G30%.

PHỤ LỤC 1

BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU

Mã số nghiên cứu:

Nhóm nghiên cứu:

Họ và tên:

Giới:

Ngày sinh:

Ngày vào viện:

Chẩn đoán:

Cân nặng:

Thời gian làm thủ thuật:

Vị trí lấy ven:

43

Tổng số thời gian khóc trong khi làm thủ thuật:

Tần số tim (lần/phút)

 Trước khi làm thủ thuật: ……..l/ph

 Trong khi làm thủ thuật:……...1/ph

 Sau khi làm thủ thuật:………...l/ph

THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ ĐAU

(FLACC: Face, legs, activity, cry, consolability)

Các dấu hiệu

Trong khi làm thủ thuật Sau khi kết thúc thủ thuật Trước khi làm TT

0-15 giây 15- 30 giây 30- 60 giây

.

Nét mặt (Face): Không có biểu hiện đặc biệt hoặc trẻ cười (0đ) Thỉnh thoảng nhăn nhó (biểu hiện sự đau đớn), cau mày (nếp nhăn trên trán) (1đ) Liên tục nhăn nhó, mím chặt miệng, cằm run rẩy (2đ) Chân (legs) Tư thế bình thường hoặc thư giãn (0đ) Bứt rứt, luôn động đậy, căng thẳng (1đ) Cử động không ngừng, chân đá hoặc co lên (2đ) Hoạt động cơ thể (activity) Nằm yên, tư thế bình thường, cử động dễ dàng (0đ)

44

Quằn quại, di chuyển về phía trước, căng thẳng (1đ) Ưỡn người, co cứng, rung giật (2đ) Khóc (cry) Không khóc (0đ)

Khóc rên rỉ bình thường (1đ) Khóc nhiều, thét từng cơn (2đ) Đáp ứng với dỗ dành (consolability) Đáp ứng với dỗ dành, thư giãn yên tĩnh dưới 1 phút (0đ) Yên tĩnh sau 1 phút dỗ dành, vỗ về (1đ) Không đáp ứng sau 2 phút dỗ dành (2đ)

Tổng số 10 điểm, trong đó:

 Không đau, đau ít: 1-3 điểm.

 Đau vừa: 4-6 điểm

45

 Rất đau: 7-10 điểm

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 0

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đại cương về đau 3

1.1.1 Khái niệm đau 3

1.1.2 Cơ sở giải phẫu sinh lý của cảm giác đau 3

1.2. Cơ chế kiểm soát đau 4

1.2.1 Những thụ thể cảm nhận đau: 4

1.2.2 Các chất trung gian hoá học 6

1.3. Phân loại đau 6

1.3.1 Phân loại đau theo cơ chế 6

1.3.2 Phân loại đau theo thời gian và tính chất 6

1.4. Các phương pháp lượng giá đau 7

1.4.1. Nội dung lượng giá: 7

1.4.2 Lượng giá cường độ đau 8

1.4.3 Lượng giá đau ở trẻ em 10

1.5.Các biện pháp điều trị giúp giảm đau cho trẻ khi tiến hành các phẫu

thuật và thủ thuật. 12

1.5.1 Các biện pháp điều trị giảm đau dùng thuốc giảm đau 12

1.5.2 Các biện pháp điều trị giảm đau không dùng thuốc 12

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:. 14

46

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: 14

2.2 Phương pháp 14

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 14

2.2.2 phương pháp nghiên cứu: 14

2.3 Tiêu chuẩn đánh giá: 15

2.4 Địa điểm: 15

2.5 Thời gian: 15

2.6 Phân tích và xử lý số liệu: 15

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 15

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 16

3.1.1 Một số đặc điểm chung của hai nhóm nghiên cứu 16

3.1.2 Giới 16

3.1.3 Chẩn đoán bệnh 17

3.1.4 Vị trí lấy ven 18

3.1.5 Tổng số thời gian khóc trong khi làm thủ thuật 18

3.2. So sánh một số đặc điểm giữa hai nhóm nghiên cứutrước khi làm thủ

thuật 19

3.2.1 Tuổi so sánh giữa hai nhóm 19

3.2.2 Giới so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu 19

3.2.3 Cân nặng so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu 20

3.2.4 Thời gian làm thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu 20

3.2.5 Mức độ đau của trẻ trước khi làm thủ thuật 20

3.2.6 Chẩn đoán bệnh giữa hai nhóm nghiên cứu 21

3.2.7 Vị trí lấy ven giữa hai nhóm nghiên cứu 21

3.2.8 Tần số tim trước khi làm thủ thuật giữa hai nhóm 22

3.3 So sánh mức độ đau giữa hai nhóm nghiên cứu trong và sau khi làm thủ

thuật. 22

47

3.3.1 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 0-15s 22

3.3.2 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 15-30s 22

3.3.3 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 30-60s 23

3.3.4 Mức độ không đau; đau nhẹ của hai nhóm tại 3 thời điểm trong khi làm

thủ thuật 23

3.3.5 Mức độ đau vừa của hai nhóm nghiên cứu tại 3 thời điểm trong khi làm

thủ thuật 24

3.3.6 Mức độ đau của trẻ sau khi làm thủ thuật 24

3.4 So sánh điểm đau trung bình của hai nhóm trong và sau khi làm thủ

thuật 25

3.4.1 Tổng số điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật 0-15s 25

3.4.2 Tổng số điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật 15-30s 26

3.4.3 Tổng số điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật 30-60s 26

3.4.4 Tổng số điểm đau trung bình của hai nhóm nghiên cứu tại 3 thời điểm

trong khi làm thủ thuật. 26

3.4.5 Tổng số điểm đau trung bình của hai nhóm nghiên cứu sau khi làm thủ

thuật 27

3.5 So sánh thời gian khóc và tần số tim giữa hai nhóm nghiên cứu 27

3.5.1 Tổng số thời gian khóc so sánh giữa hai nhóm 27

3.5.2 So sánh tần số tim trong khi làm thủ thuật giữa hai nhóm 28

3.5.3 So sánh tần số tim sau khi làm thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu

28

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 29

4.1 Một số đặc điểm của hai nhóm trước khi làm thủ thuật 29

4.2 Mức độ đau của hai nhóm trong và sau khi làm thủ thuật 29

4.3 Điểm đau trung bình của hai nhóm nghiên cứu trong và sau khi làm thủ

thuật 30

4.4 Một số yếu tố liên quan đến đau: 31

KẾT LUẬN 33

48

KIẾN NGHỊ35

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

G30% : Glucose 30%

ICC : Ỉa chảy cấp

l/ph : lần/phút

NC : Nước cất

S : Second (giây)

TT : Thủ thuật

VFQF : Viêm phế quản phổi

VTPQ : Viêm tiểu phế quản

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm chung 16

Bảng 3.2 Giới tính 16

Bảng 3.3 Vị trí lấy ven 18

Bảng 3.4 Tổng số thời gian khóc trong khi làm thủ thuật 18

Bảng 3.5 Tuổi so sánh giữa 2 nhóm 19

49

Bảng 3.6 Giới so sánh giữa 2 nhóm 19

Bảng 3.7 Cân nặng so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu 20

Bảng 3.8 Thời gian làm thủ thuật giữa hai nhóm 20

Bảng 3.9 Mức độ đau của trẻ trước khi làm thủ thuật 20

Bảng 3.10 Chẩn đoán bệnh giữa hai nhóm nghiên cứu 21

Bảng 3.11. Vị trí lấy ven giữa hai nhóm nghiên cứu 21

Bảng 3.12 Tần số tim trước thủ thuật 22

Bảng 3.13 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 0-15s 22

Bảng 3.14 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 15-30s 22

Bảng 3.15 Mức độ đau của trẻ trong khi làm thủ thuật từ 30-60s 23

Bảng 3.16 Mức độ đau của trẻ sau thủ thuật 24

Bảng 3.17 Tổng số điểm đau trung bình trong thủ thuật 0-15s 25

Bảng 3.18 Tổng số điểm đau trung bình trongkhi làm thủ thuật 15-30s 26

Bảng 3.19 Tổng số điểm đau trung bình trong thủ thuật 30-60s 26

Bảng 3.20 Tổng số điểm đau trung bình sau thủ thuật 27

Bảng 3.21 Tổng số thời gian khóc so sánh giữa hai nhóm nghiên cứu 28

Bảng 3.22 Tần số tim trong khi làm thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu 28

Bảng 3.23 Tần số tim sau thủ thuật giữa hai nhóm nghiên cứu 28

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Giới tính hai nhóm nghiên cứu 17

Biểu đồ 3.2 Chẩn đoán bệnh cơ bản của 2 nhóm nghiên cứu 17

Biểu đồ 3.3 Vị trí lấy ven của hai nhóm Nghiên cứu 18

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ về giới khác biệt giữa hai nhóm. 19

Biểu đồ 3.5 Mức độ không đau, đau nhẹ của hai nhóm tại 3 thời điểm trong khi

50

làm thủ thuật 23

Biểu đồ 3.6 Mức độ đau vừa của hai nhóm tại 3 thời điểm trong khi làm thủ thuật

24

Biểu đồ 3.7 Mức độ đau của trẻ sau thủ thuật 25

Biểu đồ 3.8 Điểm đau trung bình của 2 nhóm tại 3 thời điểm trong thủ thuật.

26

51

Biểu đồ 3.9 Điểm đau trung bình của hai nhóm sau thủ thuật 27

Tài Liệu Tham Khảo

1.Lê Thị Hòa Bình, Đào Thị Hồng Kiên (2006), “Nghiên cứu hiệu quả của

dung dịch glucose 30% giúp giảm đau cho bệnh nhi khi làm thủ thuật tại khoa

Sơ sinh – Bệnh viện Nhi Trung TW”, Hội nghị khoa học điều dưỡng Nhi

Khoa toàn quốc, trg 43 – 48.

2. Feray (Thế kỷ 19), “Thuyết đặc hiệu” (Tài liệu dịch)

3. Muller (Thế kỷ 19), “Thuyết đặc hiệu” (Tài liệu dịch).

4. Scheider, G. (1894), “Thuyết về cường độ (thuyết không đặc hiệu)” (Tài

liệu dịch).

5. Bauer BA, C.S, Anderson PG, Prinsen SK, Wentworth LJ, Olney TJ,

Messner PK, Brekk KM, Li Z, Sundt TM 3rd, Kelly RF, Bauer BA (2011),

“Effect of the combination of music and nature sounds on pain and anxiety in

cardiac surgical patients: a randomized study”, Altern Ther Health Med, pg.

16 – 23.

6. Bauer K, K.J, Hellwig M, Laurenz M, Versmold H (2004), “Oral glucose

before venipuncture relieves neonates of pain, but stress is still evidenced by

increase in oxygen consumption, energy expenditure, and heart rate”, Pediatr

Res, pg. 695 – 700.

7. Blass EM, S.D. (1994 ), “Some comparisons among the calming and pain

– relieving effects of sucrose, glucose, fructose, and lactose in infant rats”,

Chem Senses, pg. 239 – 249.

8. Dworkin RH, T.D., Revicki DA, Harding G, Coyne KS, Peirce – Sandner

S, Bhagwat D, Everton D, Burke LB, Cowan P, Farrar JT, Hertz S, Max MB,

52

Rappaport BA, Melzack R (2009 ), “Development and initial validation of an

expanded and revised version of the Short – form McGill Pain Questionnaire

(SF – MPQ – 2).Pain, pg. 35 – 42.

9. Gradin M, E.M., Holmqvist G, Holstein A, Schollin J. (2002 ), “Pain

reduction at venipuncture in newborns: oral glucose compared with local

anesthetic cream”, Pediatrics, pg.1053 – 6.

10. Gradin M, F.O., Schollin J (2004 ), “Feeding and oral glucose – additive

effects on pain reduction in newborns”, Early Hum Dev, pg. 57 – 65.

11. H, B. (2002 ), “International Association for the Study of Pain: update on

WHO – IASP activities”, J Pain Symptom Manage, pg.97 – 101.

12. Harrison D, S.B., Bueno M, Yamada J, Adams – Webber T, Beyene J,

Ohlsson A. (2010 ), “Efficacy of sweet solutions for analgesia in infants

between 1 and 12 months of age: a systematic review”, Arch Dis Child, pg.

406 – 413.

13. Harrison D, Y.J., Adams – Webber T, Ohlsson A, Beyene J, Stevens B

(2011 ), “Sweet tasting solutions for reduction of needle – related procedural

pain in children aged one to 16 years”, Cochrane Database Syst Rev, pg.

CD008408.

14. US, V.E., (1983), “History and development of prostaglandins”, Gen

Pharmacol, pg. 3 – 6.

53