intTypePromotion=1

Hỗ trợ áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

Chia sẻ: Quang Lê | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
8
lượt xem
0
download

Hỗ trợ áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cải tạo tập quán chăn nuôi bò quảng canh, chỉnh trang bố trí lại chuồng trại, phát triển nguồn thức ăn, lai tạo và áp dụng kỹ thuật nuôi thâm canh bò lai hướng thịt trên phạm vi toàn xã, nâng cao chất lượng đàn bò, đem lại thu nhập cho người dân, cải thiện điều kiện sinh hoạt và vệ sinh môi trường, góp phần xây dựng xã đạt tiêu chí nông thôn mới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hỗ trợ áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

  1. KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 HỖ TRỢ ÁP DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ HÀNH DŨNG, HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI Đồng chủ nhiệm dự án: Trương Quang Sinh - Trần Ngọc Vinh Cơ quan chủ trì: Hợp tác xã Nông nghiệp Hành Dũng Năm nghiệm thu: 2017 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi bò ở xã Hành Dũng mang tính phổ biến, nhưng còn nặng hình thức chăn nuôi quảng canh, năng suất và hiệu quả kinh tế chưa được phát huy tối đa. Hỗ trợ người dân áp dụng tiến bộ KH&CN về phát triển chăn nuôi bò và trồng cỏ theo hướng tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế - xã hội cao, bảo đảm môi trường trên cơ sở tự nguyện tham gia và đóng góp trên 60% kinh phí của nông dân tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành là điều kiện cho phát triển bền vững. II. MỤC TIÊU Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cải tạo tập quán chăn nuôi bò quảng canh, chỉnh trang bố trí lại chuồng trại, phát triển nguồn thức ăn, lai tạo và áp dụng kỹ thuật nuôi thâm canh bò lai hướng thịt trên phạm vi toàn xã, nâng cao chất lượng đàn bò, đem lại thu nhập cho người dân, cải thiện điều kiện sinh hoạt và vệ sinh môi trường, góp phần xây dựng xã đạt tiêu chí nông thôn mới. III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN 1. Điều tra, đánh giá thực trạng đàn bò và tình hình chăn nuôi Tiến hành điều tra 400 hộ chăn nuôi được chọn ngẫu nhiên ở 7 thôn, kết quả thu thập thông tin về thực trạng chăn nuôi bò ở xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, cụ thể như sau: 1.1. Về qui mô, cơ cấu đàn bò Qui mô chăn nuôi bò cái sinh sản bình quân 2,2 con/hộ là phổ biến và phù hợp với điều kiện kinh tế của nông hộ. Trong thời gian qua, thu nhập từ chăn nuôi bò của nông hộ là thu nhập phụ nên họ chỉ tận dụng thời gian rãnh để chăm sóc. 1.2. Về tình hình sử dụng thức ăn cho bò Có đến 100% số hộ có dự trữ rơm rạ, 89% hộ trồng cỏ và 97,75% sử dụng thức ăn tinh để nuôi bò. Qua kết quả điều tra về tình hình sử dụng thức ăn cho thấy, người dân đã có ý thức trong việc đầu tư thức ăn trong chăn nuôi bò, song chưa chú trọng đến việc phát triển các giống cỏ mới, diện tích trồng cỏ quá ít so với đàn bò, chưa thâm canh vào việc trồng cỏ nên năng suất và chất lượng cỏ quá thấp, chủ yếu tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên và các phế phẩm của cây trồng; Nguồn dự trữ thức ăn vào mùa mưa quá ít và chủ yếu dựa vào rơm rạ. Nói cách khác, với phương thức chăn nuôi hiện tại thì đa số hộ đều chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho bò nuôi. 1.3. Về sinh sản của bò cái Kết quả thu thập thông tin qua điều tra 657 bò cái đã đẻ ở Hành Dũng cho thấy tình hình LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 35
  2. KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 sinh sản của bò cái như sau: - Tuổi đẻ lần đầu của bò cái bình quân 29,5 tháng; khoảng cách lứa đẻ bình quân là 15,75 tháng. Như vậy có thể thấy tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách lứa đẻ của bò cái nuôi ở Hành Dũng chậm hơn so bò cái nuôi ở các vùng khác trong tỉnh như Đức Phổ, Sơn Tịnh… Sở dĩ như vậy là do điều kiện nuôi dưỡng kém, bò thường thả rông nên không quản lý phối giống, phát hiện động dục không đúng thời điểm, do kỹ thuật phối giống chưa cao. 1.4. Về công tác phòng bệnh Thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh là giải pháp để hạn chế tối đa rủi ro và nâng cao năng suất chăn nuôi, đặc biệt với con bò là tài sản có giá trị lớn nên cần phải được chú trọng. Tuy nhiên, kết quả điều tra công tác tiêm phòng cho bò ở các nông hộ trên địa bàn Hành Dũng chưa thật sự quan tâm, tỷ lệ tiêm phòng vác xin đầy đủ theo lịch định kỳ của thú y chỉ chiếm tỷ lệ 33%, tẩy giun sán đầy đủ chỉ được một số ít hộ quan tâm (17% số hộ tẩy giun sán). Như vậy việc phòng trừ dịch bệnh cho bò của người chăn nuôi chưa chủ động. 2. Chuyển giao hướng dẫn kỹ thuật, công nghệ Dự án đã chuyển giao và áp dụng 05 hướng dẫn kỹ thuật, bao gồm: Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bò bằng tinh cộng rạ, kỹ thuật xây dựng chuồng trại, kỹ thuật trồng thâm canh và bán thâm canh cỏ, kỹ thuật chăn nuôi và trị bệnh bò cái sinh sản, kỹ thuật chăn nuôi và trị bệnh bê lai hướng thịt đến bà con nông dân trong vùng dự án nhằm giúp họ từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong chăn nuôi bò. Thành công sau 3 năm thực hiện các nội dung của dự án dựa trên các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò đã làm thay đổi tập quán chăn nuôi bò truyền thống trước đây của các nông hộ ở xã Hành Dũng; các hộ chăn nuôi bò đã biết cách xây dựng chuồng trại đúng quy cách có hố chưa phân, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào trồng cỏ các giống mới, nông dân nuôi bò biết phòng trị bệnh cho bò, đem lại nguồn thu nhập cao, ổn định; tạo giống bò có chất lượng cao phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp ở địa phương, góp phần hoàn thành chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới. 3. Đầu tư tinh bò và tổ chức phối giống Công tác cải tạo giống là hoạt động rất cần thiết trong bối cảnh nâng cao tỷ lệ đàn bò lai của Hành Dũng. Sử dụng tinh bò thịt chất lượng cao để phối cho đàn cái sẽ góp phần nâng cao năng suất, tầm vóc và sức sống của thế hệ đời con. Việc đầu tư hỗ trợ tinh giống bò chất lượng còn tạo cơ hội cho nhiều nông hộ hưởng lợi từ đầu tư dự án. 3.1. Đầu tư, hỗ trợ tinh bò giống Theo kế hoạch được phê duyệt, Ban quản lý dự án đã chọn đơn vị cung ứng và ký kết hợp đồng mua 3.200 liều tinh (800 liều tinh Zê bu và 2.400 liều tinh bò chuyên thịt) từ công ty TNHH Khoa học & Công nghệ Nông Tín, vật tư phục vụ cho cho dự án phải đảm bảo chất lượng, số lượng theo đúng yêu cầu của dự án được duyệt. Việc chọn giống bò gì để mua tinh bò giống có sự tư vấn của các kỹ sư chăn nuôi của cơ quan tư vấn chuyển giao công nghệ cùng phối với dẫn tinh viên và có sự tham gia của người dân; Nhờ sự phối hợp đồng bộ từ việc chọn tinh, phối tinh, điều chỉnh kịp thời theo đề xuất của đa số người dân nên việc chọn tinh bò đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của đông đảo người dân, 90% bê sinh ra có ngoại hình đẹp, tầm vóc lớn, thể chất tốt. 3.2. Tổ chức phối giống 36 LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
  3. KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 Từ tháng 3/2014 đến tháng 9/2016 đã thực hiện phối giống cho 3.200 con bò cái sinh sản, tổng số lượt bò cái được phối giống có chửa là 2.160 con vượt chỉ tiêu kế hoạch (2.000 con có chửa), trong đó phối giống bằng tinh bò Brahman 634 lượt bò cái, phối giống bằng tinh các giống bò chuyên thịt (Limousin, Red Angus, Drought matster) 1.526 lượt bò cái; Kết quả đạt được bên cạnh việc thực hiện tốt công tác tổ chức phối giống, còn do nhận thức của người dân về áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như: phát hiện và xác định đúng thời điểm phối giống, ghi chép cụ thể các biểu mẫu phối giống và biểu hiện lên giống của bò; Giải pháp chủ yếu trong tổ chức các điểm phối giống là thường xuyên theo dõi và quản lý bò cái để phát hiện lên giống kịp thời nhất là ở các thôn bò hay thả rông. Kết quả phối giống được DTV cập nhật đầy đủ và kịp thời vào sổ theo dõi do dự án cấp. 3.3. Theo dõi bê sinh ra từ kết quả phối giống của dự án Trọng lượng các bê chuyên thịt có trọng lượng sơ sinh cao hơn so với bê lai Zebu (lai Brahman). Và tăng trọng của các bê ở các thời điểm lúc 6 tháng và 12 tháng tuổi cũng khác nhau. Bê lai sinh ra từ kết quả phối giống tinh bò Limousin và bò cái lai Zebu cho con bê có trọng lượng sơ sinh và tăng trọng cao hơn so với các bê lai khác (Droughtmaster, Red- Angus); Tổng số bê lai sinh ra từ kết quả phối giống dự án tính đến nay 2.050 con, bình quân trọng lượng bê sinh ra 23-24 kg/con, bê lai nuôi đến 12 tháng tuổi đạt 160 - 180 kg/con; Qua đánh giá của cán bộ kỹ thuật và ý kiến người dân cho thấy, một số ít con bê khi mới sinh ra thì chưa thể hiện hết ưu thế lai của con lai. Nhưng con bê càng lớn dần thì càng thấy ngoại hình đẹp, tầm vóc lớn, khung xương to, sức khỏe tốt hơn hẵn các bê địa phương; Như vậy, các chỉ tiêu kỹ thuật đều đạt và vượt so với yêu cầu dự án, bê sinh ra từ tinh bò dự án đầu tư không những có trọng lượng lớn, ngoại hình đẹp hơn, mà sinh trưởng phát triển nhanh hơn, tầm vóc lớn hơn so với bê địa phương. Kết quả này cho thấy, vấn đề được nhiều nông hộ tâm đắc là chỉ cần phối tinh các giống bò chất lượng phù hợp với trọng lượng của bò cái thì hiệu quả thu được từ những con bê lai được nâng lên rõ rệt. 4. Hỗ trợ xây dựng chuồng trại nuôi bò kiên cố Qua 3 năm thực hiện, dự án đã xây dựng xong 250 chuồng bò ở 7 thôn của xã Hành Dũng, việc hỗ trợ chỉnh trang, xây dựng chuồng trại đảm bảo về số lượng và chất lượng, ngoài ra còn thực hiện tốt các chỉ tiêu chất lượng chính theo thiết kế được phê duyệt, cụ thể: - Diện tích nền tối thiểu 12m2/chuồng (nhưng hầu hết người dân điều mở rộng diện tích nền để nuôi được nhiều bò bê hơn; diện tích nền bình quân là 18,32 m2/chuồng), nền bê tông dày 15cm, tráng nhám, độ dốc 2-3%, xung quanh có viền gờ cao hơn nền chuồng; - Mái lợp bằng tôn fibro xi măng, hoặc ngói, mái rộng hơn nền chuồng về mỗi bên tối thiểu 0,4m, kiểu chuồng 2 mái hoặc 4 mái; - Các trụ chính bằng bê tông cốt thép có lổ để bắt bulong với róng, kích thước trụ 12cm x 12cm, phần trụ chôn dưới mặt nền 40-60cm; - Có nơi chứa phân, nước thải được dẫn vào hầm chứa hoặc cho thoát nơi phù hợp. Máng uống được xây bằng xi măng. 5. Phát triển nguồn thức ăn và tăng cường phòng chống dịch bệnh 5.1. Phát triển nguồn thức ăn LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 37
  4. KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 Dự án đã xây dựng 400 mô hình (bình quân 250m2/mô hình) trồng các giống cỏ mới năng suất cao với tổng mô 10ha (6ha cỏ VA06, 2ha cỏ TD58 và 2ha cỏ Mulato). Năng suất bình quân của 3 loại cỏ trên 320 (tấn/ha/năm) đối với trồng thâm canh và 200 (tấn/ha/năm) đối với trồng bán thâm canh. Về chỉ tiêu kinh tế kinh tế kỹ thuật này vượt so với hợp đồng và thuyết minh. Điều đó cho thấy 3 loại cỏ mới này phù hợp với vùng đất Hành Dũng; Đến nay 100% hộ nuôi bò trong dự án ở Hành Dũng đều có trồng cỏ (trước dự án chỉ có 89% số hộ có trồng cỏ), diện tích cỏ phát triển nhân rộng trên 35 ha giống cỏ được trồng phổ biến là cỏ VA06; Bên cạnh phát triển cỏ trồng, việc dự trữ các loại thức ăn cho bò trong mùa mưa lũ cũng đã được nông hộ quan tâm hơn, đã có nhiều hộ biết cách phơi cỏ khô, lá đậu phụng, lá bắp…. để dự trữ vào mùa mưa. Vào mùa nắng nóng cung cấp nước, thức ăn đầy đủ lượng và chất cho bò, đồng thời cắt cỏ phơi khô dự trữ cho mùa mưa bão. 5.2. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh Cùng với các hoạt động khác, thời gian qua công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn bò được chú trọng. Thông qua các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và làm tốt công tác tuyên tuyền, nhận thức của nông hộ đã có những chuyển biến tích cực: chuồng trại được vệ sinh sạch sẽ, tỉ lệ tiêm phòng đạt cao so với trước đây, nhiều hộ đã thực hiện tẩy sán lá gan và giun đũa cho bê. Theo kết quả điều tra dự án năm 2014 (400 hộ) và điều tra bổ sung trong năm 2016 (34 hộ), đến nay công tác phòng bệnh bằng vác xin (bệnh tụ huyết trùng trâu bò) và tẩy sán lá gan/tẩy giun đũa được thực hiện khá tốt và đã có sự chuyển biến rõ nét so với thời điểm bắt đầu dự án. IV.KẾT LUẬN Qua 3 năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới tại xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi ” không những nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành cho người dân, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo tại xã và thúc đẩy chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Ngoài các sản phẩm khoa học, kết quả dự án còn tạo ra các mô hình để nông dân, cán bộ trong và ngoài vùng dự án tiếp cận, học tập để nhân rộng cho những hộ, địa phương có điều kiện tương đồng. Các hoạt động dự án không những nâng cao năng suất chăn nuôi bò, hạn chế dịch bệnh, tăng thu nhập người dân, mà còn góp phần cải thiện môi trường và tác động tích cực cho định hướng phát triển chăn nuôi bò của huyện 38 LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2