
HOA KỲ - PHÊ CHUẨN VÀ TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN
Ngày 17/9/1787, sau 16 tuần cân nhắc cẩn thận, bản hiến pháp hoàn thiện đã được
39 trong số 42 đại biểu có mặt ký kết. Franklin chỉ vào hình nửa mặt trời vẽ bằng
mầu vàng chói ở sau chiếc ghế tựa của Washington và nói:
Suốt những ngày diễn ra Hội nghị, tôi đã thường xuyên... nhìn vào chiếc ghế (kia)
phía sau lưng tổng thống mà không thể phân định được đó là mặt trời đang mọc
hay đang lặn; nhưng giờ đây cuối cùng thì tôi thực sự hạnh phúc biết rằng đó là
vầng mặt trời lúc bình minh chứ không phải lúc hoàng hôn.
Hội nghị đã kết thúc, các thành viên tản ra quán rượu thành phố, cùng ăn và chia
tay nhau thật chân thành, ấm áp. Tuy nhiên, một nội dung quan trọng trong đấu
tranh xây dựng một liên minh hoàn hảo hơn vẫn đặt ra phía trước. Vẫn cần phải có
sự chấp thuận của các hội đồng lập pháp dân bầu ở các tiểu bang trước khi văn
kiện hiến pháp có thể có hiệu lực.
Hội nghị đã quyết định rằng hiến pháp sẽ có hiệu lực ngay sau khi hội đồng lập
pháp của 9 trong tổng số 13 bang phê chuẩn. Đến tháng 6/1788, đã có chín bang
theo yêu cầu phê chuẩn hiến pháp, nhưng các bang lớn như Virginia và New York
thì chưa. Hầu hết mọi người đều thấy nếu không có sự ủng hộ của họ thì hiến pháp
sẽ không bao giờ được tôn kính. Đối với nhiều người, bản hiến pháp dường như

còn ẩn chứa vô số những mối nguy: liệu chính phủ trung ương hùng mạnh đã tạo
nên hiến pháp đó có áp bức và hành hạ họ bằng các khoản thuế khóa nặng nề và
lôi họ vào cuộc chiến tranh hay không?
Những quan điểm khác biệt về các vấn đề này đã dẫn tới sự tồn tại của hai phe
nhóm - những người ủng hộ chế độ liên bang và một chính quyền trung ương
mạnh mẽ, và những người phản đối chế độ liên bang muốn có một liên minh lỏng
lẻo của từng bang riêng rẽ. Những lập luận của cả hai phe được chuyển tải qua báo
chí, các cơ quan lập pháp và các hội nghị bang.
Ở Virginia, những người chống chủ nghĩa liên bang đã tấn công chính phủ mới
được đề xuất bằng cách phản bác đoạn mở đầu của Hiến pháp: “Chúng tôi, những
người dân của Hợp chủng quốc. Bằng việc không sử dụng các tên riêng của các
bang trong Hiến pháp, các đại biểu lập luận các bang sẽ không duy trì được quyền
hay quyền lực riêng rẽ của mình. Phái chống chủ nghĩa liên bang ở Virginia thì do
Patrick Henry lãnh đạo. Ông đã trở thành người phát ngôn chính cho những người
nông dân ở vùng sâu, vùng xa vốn rất lo sợ trước những quyền lực của Chính phủ
Liên bang mới. Các đại biểu còn do dự đã bị thuyết phục bởi đề nghị của hội nghị
bang Virginia đưa ra Tuyên ngôn Nhân quyền, còn phái chống chủ nghĩa liên bang
đã liên minh với những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang để phê chuẩn Hiến pháp
ngày 25/6.

Tại New York, Alexander Hamilton, John Jay và James Madison đã kêu gọi phê
chuẩn Hiến pháp qua một loạt các bài luận nổi tiếng mang tựa đề Bút ký của
những người ủng hộ liên bang. Những bài luận đăng tải trong các tờ báo ở New
York đã trở thành lập luận cổ điển ủng hộ chính quyền liên bang trung ương theo
mô hình tam quyền phân lập - hành pháp, lập pháp và tư pháp kiểm soát và cân
bằng lẫn nhau. Do những bài Bút ký có ảnh hưởng lớn tới đại biểu New York nên
Hiến pháp đã được phê chuẩn ngày 26/7.
Mối ác cảm với một chính quyền trung ương mạnh chỉ là một mối lo lắng duy nhất
trong số những mối lo của những người phản đối Hiến pháp; một mối lo ngại
tương đương đối với nhiều người là nỗi lo sợ rằng Hiến pháp không bảo vệ quyền
con người và các quyền tự do cá nhân một cách có hiệu quả. George Mason, người
Virginia, tác giả bản Tuyên ngôn Nhân quyền của bang Virginia năm 1776, là một
trong ba đại biểu tham dự Hội nghị Lập hiến đã từ chối ký văn kiện cuối cùng vì
nó không liệt kê ra những quyền cá nhân. Cùng với Patrick Henry, ông đã ra sức
chống lại bang Virginia phê chuẩn Hiến pháp. Đương nhiên, năm bang bao gồm cả
Massachusetts đã phê chuẩn Hiến pháp với điều kiện rằng những Điều bổ sung sửa
đổi hiến pháp cần phải được bổ sung lập tức.
Khi phiên họp Quốc hội đầu tiên diễn ra ở thành phố New York tháng 9/1789,
những lời kêu gọi có các Điều bổ sung sửa đổi để bảo vệ các quyền cá nhân đã
thực sự giành được sự nhất trí rất cao. Quốc hội đã nhanh chóng thông qua 12

Điều bổ sung sửa đổi như vậy; đến tháng 12/1791, đã có đủ số bang đã phê chuẩn
10 Điều bổ sung sửa đổi để đưa chúng vào thành một phần của Hiến pháp và gọi
chung là Tuyên ngôn Nhân quyền. Trong số các quy định của các Điều bổ sung
sửa đổi có: quyền tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo và quyền hội họp một cách
hòa bình, quyền phản đối và yêu cầu các thay đổi (Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất);
Bảo vệ chống lại những cuộc khám xét, tịch thu không hợp lệ tài sản và bắt giam
(Điều bổ sung sửa đổi thứ tư); thủ tục tố tụng công bằng ở tất cả các vụ án hình sự
(Điều bổ sung sửa đổi thứ năm); Quyền được xử án công bằng và nhanh chóng
(Điều bổ sung sửa đổi thứ sáu); Bảo vệ chống lại hình phạt dã man và bất thường
(Điều bổ sung sửa đổi thứ tám); và điều khoản cho rằng mọi người được sử dụng
những quyền bổ sung mà không được ghi trong Hiến pháp (Điều bổ sung sửa đổi
thứ chín).
Từ khi thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền chỉ có 16 Điều bổ sung sửa đổi được
bổ sung vào Hiến pháp. Tuy một số Điều bổ sung sửa đổi tiếp theo đã điều chỉnh
cấu trúc và hoạt động của Chính phủ Liên bang, nhưng phần lớn các điều khoản
này vẫn tuân theo những tiền lệ do Tuyên ngôn Nhân quyền đã xác lập và mở rộng
các quyền cá nhân và các quyền tự do.
TỔNG THỐNG WASHINGTON

Một trong những công việc cuối cùng của Quốc hội liên bang là tổ chức cuộc bầu
cử tổng thống đầu tiên tiến hành, lấy ngày 4/3/1789 là ngày khai sinh chính phủ
mới. Một cái tên được tất thảy mọi người nhắc tới cương vị người lãnh đạo quốc
gia là George Washington và ông đã được tín nhiệm bầu làm tổng thống và tuyên
thệ nhậm chức ngày 30/4/1789. Bằng những lời tuyên thệ mà sau này bất kỳ tổng
thống nào cũng sử dụng, Washington đã cam kết thực thi những bổn phận của
chức vụ tổng thống một cách trung thành, và cố gắng hết sức mình nhằm bảo toàn,
bảo vệ và che chở Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Khi Washington nhậm chức tổng thống thì Hiến pháp mới chưa hề quan tâm tới
tập quán lẫn ủng hộ hoàn toàn quan điểm của dư luận có định hướng. Chính phủ
mới đã phải xây dựng bộ máy riêng và điều tiết một hệ thống thuế để đảm bảo sự
hoạt động của chính mình. Các bộ luật vẫn chưa được thực thi chừng nào cơ quan
tư pháp vẫn chưa được thành lập. Quân đội thì nhỏ bé. Lực lượng hải quân tạm
thời không còn tồn tại nữa.
Quốc hội mau chóng thành lập Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính với Thomas
Jefferson và Alexander Hamilton giữ chức bộ trưởng tương ứng. Bộ Chiến tranh
và Bộ Tư pháp cũng đã được thành lập. Do Washington chỉ muốn đưa ra các quyết
định sau khi tham vấn ý kiến những người có trí tuệ được ông đánh giá cao, nên
Nội các của Tổng thống Mỹ đã được thành lập, bao gồm Bộ trưởng của tất cả các
bộ mà Quốc hội có thể lập ra.

