
Cờ vây 1
Cờ vây
Cờ vây
Một bàn cờ vây truyền thống bằng gỗ. Các quân cờ được đặt trên những điểm giao nhau của đường kẻ.
Số người chơi 2
Độ tuổi Bất kỳ
Thời gian chuẩn bị Lúc đầu chơi không cần xếp quân
Thời gian chơi 10–180 phút,
tuy nhiên, khi thi đấu có thể kéo dài tới hơn 16 tiếng
May rủi ngẫu nhiên Không
Kỹ năng Phân tích logic và phán đoán bằng trực giác, Chiến thuật, Chiến lược
Cờ vây (Hán-Nôm:Ÿ碁 圍 ), là một trò chơi trên bàn cờ và là môn thể thao trí tuệ dành cho hai người chơi. Ngay từ lúc
đầu, cờ vây được đánh giá rất cao vì chú trọng đến phương pháp luận. Một kỳ thủ là ông Emmanuel Lasker đã nói:
"Cờ vua chỉ hạn chế cho nhân loại sống trên trái đất, trong khi cờ vây vượt khỏi thế giới này. Nếu một hành tinh
nào có những sinh vật biết lý luận thì ở đó họ phải biết đánh cờ vây." Cờ vây chủ yếu thịnh hành ở các quốc gia Á
Đông, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hiện nay nó đã được truyền bá rộng rãi sang phương Tây. Có một
điều đáng nói là người phương Tây biết đến cờ vây chủ yếu qua sự tiếp xúc các kỳ sư và tài liệu Nhật Bản, cho nên ở
phương Tây các thuật ngữ cờ vây phần nhiều được ghi bằng tiếng Nhật.

Cờ vây 2
Bàn cờ vây với chín điểm được đánh dấu
Tranh vẽ Quan Vũ vừa được chữa vết thương ở tay, vừa
chơi cờ vây
Giới thiệu
Mục đích của ván cờ
Cờ vây có mục đích duy nhất là chiếm được nhiều "đất", càng rộng
càng tốt. Chuyện bắt quân cũng cần nhưng được xem là thứ yếu.
Thế trận trên bàn cờ vây có khả năng biến hoá cao với các đám
quân và "vùng đất". Người chơi cờ vây thường tính trước nhiều
nước không chỉ cho một nhóm quân mà có thể cả chục nhóm quân
nằm xen kẽ phức tạp trên bàn cờ. Từ đó, cờ vây còn được nhìn
nhận không phải là một chiến trường đánh phá, tiêu diệt mà là một
dạng kiến thiết, xây dựng, khai phá, mở rộng phạm vi. Cờ vây
khác so với các loại cờ khác là người chơi được phép nhường lượt
đi của mình cho đối phương, nhất là lúc tàn cuộc và nhận ra rằng
nếu mình đi thì chỉ làm cho mình bị thiệt hại, còn khi nào thấy cần
thì đi tiếp. Đến khi cả hai bên đều thấy đi tiếp là vô ích, ván cờ sẽ
được thỏa thuận dừng tại đây, hai bên cùng đếm "đất" để xác định
thắng thua, mỗi điểm trong vùng đất sẽ được tính là một "mục" và
ai nhiều "mục" hơn sẽ thắng. Trước khi đếm "đất" hai bên trao trả
"tù binh" (những quân cờ bị bắt) rồi đặt các "tù binh" vào "đất" của
mình, như vậy số "mục" của mỗi phe sẽ bị giảm nhiều nếu phe đó
có nhiều quân bị bắt làm tù binh. Với bàn cờ chuẩn (19 x 19) thì
sau khi đếm xong, bên Trắng được cộng thêm năm mục rưỡi do
bên Trắng luôn là bên đi sau.
Bàn cờ và quân cờ
Theo bàn cờ nguyên thủy đã tìm thấy vào năm 1977 ở Nội Mông,
trong một ngôi mộ cổ đời nhà Liêu, có một bàn cờ ngang dọc chỉ
có 13x13 tạo thành 169 giao điểm. Năm 1971, bàn cờ đào được ở
Hồ Nam, trong một ngôi mộ đời nhà Đường, có bàn cờ lại chia
lưới 15x15. Năm 1952, ở Vọng Đô, Hà Bắc, Trung Quốc, trong
một ngôi mộ thời Đông Hán có một bàn cờ lại chia lưới
17x17...Tuy những bàn cờ đó khác nhau về số nước đi nhưng tựu
chung lại đều chia lưới theo số lẻ (13, 15, 17...). Bàn cờ 19 đường
phát hiện sớm nhất vào khoảng đời nhà Tùy.
Quân cờ và bàn cờ vây được sáng tạo trên cơ sở của thuyết Âm Dương và vũ trụ quan của người xưa. Bàn cờ ngày
nay có 19 đường kẻ ngang và 19 đường kẻ dọc tạo thành 361 giao điểm tượng trưng cho 361 ngày âm lịch. Bốn góc
của bàn cờ tượng trưng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Các quân cờ có hình tròn dẹt, giống hình cúc áo, 181 quân
màu đen và 180 quân màu trắng. Quân cờ chỉ được nhấc ra hoặc đặt vào bàn cờ, chứ không dịch chuyển như trong cờ
vua hoặc cờ tướng. Trên bàn cờ thường có 9 chấm đen gọi là các sao nhỏ giúp người chơi dễ nhận định hướng vị trí
vì bàn cờ quá rộng. Điểm ở chính giữa bàn gọi là "thiên nguyên". Tám điểm ở 4 phía xung quanh bàn cờ gọi là "sao
biên" và "sao góc". Vị trí ở gần vùng giữa bàn gọi là "cao" còn vị trí gần biên và góc là "thấp". Trong một ván cờ, số
khả năng biến hóa có thể xảy ra là . Với số giây trong 3 năm là không đến , nếu 10 tỉ người, mỗi người
sắp 1 ván cờ trong 1 giây thì số ván cờ sắp được trong 3 năm cũng chỉ là . Để so sánh thêm, con số đó trong cờ vua là
nằm trong khoảng và ; và những nhà vật lý đã từng ước tính là không có nhiều hơn proton trên thế giới hữu

Cờ vây 3
hình này.
Lịch sử
Cờ vây ở Trung Quốc, thời nhà Minh
Hình ảnh người chơi cờ vây ở Trung Quốc do một họa
sư Nhật Bản vẽ, thế kỷ 16
Cờ vây là loại cờ cổ, được chơi cách đây khoảng hơn 4000 năm.
Khởi thủy của môn cờ bắt đầu từ giấc mơ của vua Nghiêu về việc
xem chơi cờ giữa Hoàng Đế (người mở đầu thời Ngũ Đế) với vị
tiên Dung Thành. Nhà vua đang thấy tiên Dung Thành chơi một
loại cờ gồm một bàn cờ và các quân trắng đen bèn thỉnh cầu tiên
day cờ cho mình. Đang chơi cờ hay bỗng vua Nghiêu tỉnh lại. Nhà
vua ngẫm ra thấy hay quá bèn tìm cách nhớ lại và bổ khuyết thêm
các quy tắc, luật lệ và sáng tạo ra môn cờ vây, vì mục đích của nó
là vây chiếm lãnh thổ, đất đai. Sau đó, cờ vây được thái tử Đan
Chu, con của vua Nghiêu truyền bá khắp thiên hạ. Trong truyện
Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Quan Công đã chơi cờ
vây với thuộc hạ trong khi để cho Hoa Đà nạo xương cánh tay
chữa vết thương. Vi kỳ ngày xưa gọi là "dịch" (弈), được viết với
bộ "củng". Trong những sách cổ của Trung Hoa như Tả Truyện,
Luận Ngữ, Mạnh Tử đã nhắc nhiều đến "dịch" nhưng từ đời nhà
Hán trở đi, thì cái tên vi kỳ ngày càng thông dụng. Hứa Thuận
trong Thuyết Văn Giải Tự có chép "dịch, vi kỳ dã".
Cờ vây hiện nay rất phổ biến ở vùng Đông Á. Nhật Bản hiện nay
là nước có số người chơi cờ rất cao. Cờ vây đã tới Nhật vào thế kỷ
7 và tới đầu thế kỷ 13, nó đã được chơi rộng rãi khắp mọi nơi trên
đất nước này. Sự phát triển của Internet cũng đã làm cho nó phổ
biến hơn trên khắp thế giới và đến nay đã có 36 triệu người yêu
thích môn cờ này (thống kê của Hiệp hội cờ Vây nghiệp dư thế
giới năm 1999).
Môn cờ vây cũng đã được người Việt Nam biết tới từ lâu, nhưng
qua thời gian, chiến tranh nên đã hầu như không còn ai biết cách
chơi. Nó được phổ biến lại tại Việt Nam vào năm 1993 nhân dịp
có một giảng viên không chuyên từ Trung Quốc sang giảng dạy giúp cho ngành Thể dục thể thao Hà Nội.
Cờ vây có từ xa xưa, nhưng luật của nó lại không hề bị biến đổi theo thời gian như những trò chơi cổ khác. Lý do là
luật chơi của cờ vây hết sức đơn giản, người nào cũng có thể chơi được, không cần đến trí thông minh ưu việt. Trong
cờ vây, quân nào cũng như quân nào, giá trị y hệt nhau, không quân nào có tên tuổi, không có vua, có tướng. Tướng,
vua được biết như chính người chơi cờ vậy. Cờ vây, như đã biết, muốn biết chơi thì quá dễ, nhưng để chơi tới được
thành "cao cờ" thì rất khó. Khi chơi cờ vây cũng giống như khi ra trận đánh giặc. Bàn cờ là chiến trường và mục đích
là chiếm lấy lãnh thỗ. Một kỳ thủ cờ vây thực sự biết quý trọng từng quân cờ và luôn đặt hết tâm quyết vào mỗi nước
đi.

Cờ vây 4
Nguyên tắc chơi
Các nhóm quân và "khí" của nó
Hình giải thích việc bát quân
Hình giải thích quy tắc KO
Luật chơi cờ vây rất đơn giản, điều chủ chốt chỉ cần nắm vững là
ai chiếm được nhiều đất thì người đó thắng.
Khí: Các giao điểm trống nằm ngay cạnh quân cờ gọi là "khí" của
quân cờ đó. Quân cờ đứng ở giữa bàn có 4 "khí", đứng ở biên có 3
"khí" và đứng ở góc có 2 "khí". Nếu một quân hoặc một nhóm
quân không còn "khí", quân đó hoặc nhóm quân đó sẽ bị bắt và
đưa ra khỏi bàn cờ. Nếu quân đó hoặc nhóm quân đó chỉ còn một
"khí", điều đó có nghĩa là nó đang bị đe dọa, đang bị "đả cật" và sẽ
bị đối phương bắt ngay sau nước đi tiếp theo.
Những chấm trắng và đen ở hình bên là "khí" của quân trắng và
quân đen. "Khí" có thể cùng được chia sẻ giữa hai loại quân. Nếu
quân trắng được đặt vào nơi có "khí" chung của hai nhóm quân,
hai nhóm quân trắng sẽ được nối với nhau thành một. Quân của
đối phương sẽ bị bắt khi nó không còn "khí".
Nếu một người chơi đoạt nốt "khí" cuối cùng của một quân hay
nhóm quân của đối phương, anh ta sẽ nhấc quân đó ra khỏi bàn cờ
và những quân cờ đó dùng để trao đổi tù binh khi tính điểm.
Hình bên chỉ ra một đám quân đen và đám quân trắng. Nếu đang
ở trong tình huống này, mà quân trắng được đặt vào điểm A, toàn
bộ quân đen sẽ bị bắt và bị đưa ra khỏi bàn cờ. Phần đất có được
lúc này thuộc về quân trắng.
Tự tử: Trong luật chơi cũng không cho phép việc chiếm nốt "khí"
cuối cùng của chính quân hay nhóm quân của bạn, trừ phi việc này
dùng để bắt một vài quân bao vây của đối phương. Những quân
chắc chắn đã chết, chạy đến đâu cũng không thoát gọi là quân
"chết kỹ thuật" và được bỏ ra lúc hết ván.
Quy tắc Kiếp: Nếu bạn bắt một quân, sẽ có thể xảy ra một trường
hợp: bên đen có thể chơi ở điểm b và bắt bên trắng điểm a. Tiếp
theo, đến lượt đi của bên trắng. Lúc này, bên trắng lại có thể đặt
quân tại điểm a và bắt bên đen, điều này có thể dẫn đến việc quay
trở lại như tình huống ban đầu. Trường hợp này được gọi là "kiếp"
(劫, コウ, kō). Để tránh việc này xảy ra lặp đi lặp lại, người ta đã
đặt ra một quy tắc là "kiếp". Quy tắc này nói rằng, không được
phép lặp lại một trạng thái(vị trí quân và lượt đi) đã có trước đây ở
bàn cờ, trừ trường hợp 2 người cùng nhường lượt đi. Nếu bên đen bắt bên trắng ở a, bên trắng không được phép bắt
lại bên đen ngay lập tức mà cần phải đặt quân ở nơi nào đó khác. Điều này sẽ dẫn tới khả năng là bên đen sẽ đặt tiếp
quân tại b để tránh bị bên trắng bắt. Nếu bên đen không đi nước nào khác, bên trắng có thể bắt lại quân đen, bởi vì
bây giờ, vị trí trên bàn cờ đã thay đổi, không giống như trước.
Đe dọa kiếp: Đây là một phương thức hay khi bị "kiếp" trong những tình thế quan trọng, liên quan đến sự sống chết
của một đám quân lớn. Nếu bị "kiếp" như vậy, hãy đặt quân của bạn vào những ô có thể "đả cật" (chẹt) các đám
quân lớn quân đối phương mà thực tế quân của bạn sẽ chết. Đối phương sẽ phải chọn 1 trong hai trường hợp: Hoặc
ăn đám lớn của bạn và bạn ăn đám lớn mà bạn vừa chẹt, hoặc ăn quân mà bạn vừa chẹt để cứu đám quân của mình.

Cờ vây 5
Tạo mắt: Khi một đám quân trong vùng của đối phương và không có đường thoát, để có thể sống, đám quân đó cần
tạo ít nhất hai mắt nhỏ. Một mắt nhỏ là có 1 đến 2 khí trống. Một mắt lớn là có nhiều hơn 2 khí và có thể coi là 1
vùng đất. Thông thường, muốn chỉ cần tạo 1 mắt lớn cần tạo trên 5 khí ở góc và biên và trên 6 khí ở trung tâm thì sẽ
có nhiêu khả năng sống vì khi bị xâm nhập sẽ dễ dàng tạo mắt nhỏ.
Chấp quân: Các đấu thủ chơi cờ vây có thể đa dạng về trình độ. Người chơi giỏi hơn có thể chơi handicap (chấp
quân) với người chơi kém hơn, từ đó có thể khiến cuộc chơi thú vị hơn cho cả hai người chơi, người chơi kém hơn sẽ
học được rất nhiều từ cách đi của người chơi giỏi hơn và sẽ giúp họ nâng cao trình độ chơi cờ của mình. Thông
thường, số quân chấp nhiều nhất là 9 quân và người chơi kém hơn sẽ chơi quân màu đen. Những quân được chấp
thường có một số vị trí xác định trên bàn cờ. Sau khi những quân cờ này được đặt lên bàn cờ, quân trắng bắt đầu
nước đi đầu tiên.
Phân hạng người chơi
Đẳng cấp của cờ vây phân biệt trên 2 hệ thống riêng biệt. Đó là hệ thống đẳng cấp nghiệp dư và đẳng cấp chuyên
nghiệp:
Nghiệp dư
•Cấp (級): Từ người mới bắt đầu chơi đến người chơi trung bình được chia thành nhiều cấp. Cấp mạnh nhất
thường là cấp 1, càng yếu, số cấp càng cao. Chữ "cấp" thường được viết tắt là k
Ví dụ: Nếu thang nghiệp dư có 30 cấp từ 1 đến 30 thì cấp yếu nhất là 30k, cấp mạnh nhất là 1k.
•Đẳng (段): Kí hiệu là d; chỉ những người có sức cờ mạnh, phát triển các kĩ năng ở mức độ cao, sử dụng các thao
tác nhuần nhuyễn. Trái với kyu, khi càng mạnh số đẳng càng cao. Ví dụ: 2d thì mạnh hơn 1d và 4d mạnh hơn 2d.
Để phân biệt với đẳng chuyên nghiệp, ta gọi đây là đẳng nghiệp dư.
Thực chất sự ra đời của dan không chuyên nhằm phân hóa rõ ràng hơn khoảng cách chênh lệch giữa các trình độ.
Không phải nước nào cũng công nhận kì thủ cờ vây chuyên nghiệp nên việc ra đời hệ thống không chuyên trên đáp
ứng thực tế là có những kì thủ không chuyên rất mạnh thắng được những tay chuyên nghiệp.
Chênh lệch trình độ của mỗi bậc trong đẳng cấp nghiệp dư là 1 quân chấp. Khi chỉ chênh lệch một bậc, người ta
thường hay chấp komi. Trong cờ vây người cầm quân đen được đánh trước vì vậy để công bằng người cầm quân
trắng được cộng tầm 5,5 đến 6,5 điểm tùy theo cách tính theo luật Trung Quốc hay Nhật Bản. Điểm cộng đó gọi là
komi.
Chuyên nghiệp
• Cấp: có lẽ chỉ có từ 5k đến 1k (1 là cao nhất). Hệ thống cấp của chuyên nghiệp nhằm chỉ đến những người sắp sửa
bước vào thế giới chuyên nghiệp của cờ vây, có thể họ đang rèn luỵện, học tập trong các trường dạy cờ nổi tiếng.
• Đẳng: Để phân biệt với đẳng không chuyên, người ta thường kí hiệu là p. Kì thủ được gọi là chuyên nghiệp khi
được hiệp hội cờ vây của nước sở tại cấp chứng chỉ khẳng định trình độ chuyên môn. Một vài giải lớn thực dit
So sánh
Ở trình độ không chuyên, sức cờ thể hiện rõ ràng qua con số. Đối với chuyên nghiệp, thứ hạng lại không thể hiện
điều đó. Tuy nhiên không có nghĩa là tay cờ vây không chuyên hạng 30k không thể thắng các tay cờ vây 5p. Các kì
thủ không chuyên giỏi nhất có thể thắng các kì thủ chuyên nghiệp có cấp hạng cao. Điều này là bình thường, đơn
giản: cờ vây cũng là một môn thể thao. Và trong thể thao, không thể nói trước điều gì.

