
HỘI CHỨNG LIỆT NỬA NGƯỜI
(Hemiplegia)
Theo Dèjerine, liệt nửa người là liệt tay chân cùng một bên của cơ thể do tổn
thương từ các tế bào tháp đến xináp của chúng với tế bào sừng trước tủy sống.
1. Đặc điểm lâm sàng liệt nửa người.
1.1. Khởi phát và tiến triển:
+ Đột ngột: thường do đột qụy não. Cũng có khi liệt được khởi đầu bởi một sự
kiện rất đơn giản (sau khi tắm, nhận được một thông tin buồn phiền...). Mức độ
liệt khi bắt đầu rất khác nhau, có bệnh nhân liệt hoàn toàn ngay từ đầu nhưng cũng
có bệnh nhân chỉ bị liệt nhẹ. Mức độ liệt ban đầu có thể chỉ dừng lại như vậy sau
giảm dần (thường trong chảy máu não, tắc mạch) nhưng cũng có khi tiến triển tuần
tiến nặng dần lên hoặc nặng lên theo từng nấc trong những giờ, những ngày sau
(thường do huyết khối động mạch não).
+ Liệt xuất hiện từ từ và tăng dần một cách chậm chạp thường gặp trong các
trường hợp khối phát triển, liệt xuất hiện từ từ, tiến triển tăng dần theo kiểu bậc
thang thường do các bệnh thoái hoá (xơ cột bên teo cơ...).

1.2. Các thể liệt:
+ Liệt mềm nửa người (tổn thương tháp hủy hoại).
+ Liệt cứng nửa người (tổn thương tháp kích thích) thường kèm theo các
triệu chứng co cứng, tăng phản xạ gân xương, có phản xạ bệnh lý bó tháp, rung
giật bàn chân, rung giật bánh chè.
1.3. Các triệu chứng kèm theo:
Có thể quan sát thấy các dấu hiệu sau:
+ Dấu hiệu quay đầu – mắt phối hợp (déviation conjugee).
+ Phồng má bên liệt khi thở ra do liệt dây VII trung ương (dấu hiệu hút điếu).
+ Những trường hợp nặng nề có thể còn thấy các kiểu rối loạn nhịp thở.
+ Rối loạn phản xạ gân xương và phản xạ da, có thể có phản xạ bệnh lý bó
tháp.
+ Các động tác đồng vận (syncinésie): khi chi bên lành vận động tùy ý thì bên
liệt có động tác vận động không tùy ý theo.
+ Rối loạn cảm giác, giác quan.
+ Rối loạn tâm thần.
+ Rối loạn thực vật.
2. Khám bệnh nhân liệt nửa người.
2.1. Quan sát:

+ Đối với bệnh nhân tỉnh táo: quan sát các vận động chủ động của bệnh nhân,
+ Đối với bệnh nhân hôn mê: quan sát thấy bàn chân bên liệt đổ sát mặt
giường hơn, nửa người bên liệt có rất ít các cử động tự phát, hoặc ít vận động
trong khi vật vã kích thích, quan sát dấu hiệu hút điếu...
2.2. Cách khám bệnh nhân phát hiện liệt nửa người:
+ Khám bệnh nhân tỉnh: thực hiện tuần tự các bước sau:
- Yêu cầu bệnh nhân thực hiện các vận động chủ động các chi như co,
duỗi tay, chân hay nâng tay, chân khỏi mặt giường.
- Kiểm tra các nghiệm pháp khám vận động: Barré (chân và tay),
Mingazzini (chân), Raimiste (tay).
- Những trường hợp liệt nhẹ, sức cơ của bệnh nhân còn tương đối tốt nên
bệnh nhân có thể duy trì tư thế của chi tương đối lâu. Trong trường hợp đó có thể
nhanh chóng xác định liệt nửa người bằng cách yêu cầu bệnh nhân thực hiện các
động tác vận động chủ động chống lại sức cản do thầy thuốc gây ra.
+ Khám triệu chứng liệt nửa người ở bệnh nhân hôn mê: kích thích đau ở từng
chi của bệnh nhân xem mức độ co duỗi các khúc chi nhanh, mạnh, dứt khoát hay
chậm chạp, yếu đuối để đánh giá xem sức cơ bên nào yếu hơn, nghiệm pháp thả
rơi (nâng chi của bệnh nhân lên sau đó thả cho rơi tự do, bên liệt rơi xuống giường
nặng nề như một khúc gỗ), dựng bàn chân hoặc chân bệnh nhân (gấp ở khớp gối)
cho đứng trên giường, bàn chân hoặc chân bên liệt không giữ được tư thế nên sẽ

đổ xuống sát mặt giường.
3. Chẩn đoán.
3.1. Chẩn đoán triệu chứng liệt nửa người:
Căn cứ vào những quan sát và các triệu chứng được xác định qua thăm khám.
3.2. Chẩn đoán định khu liệt nửa người:
Nói chung khi có tổn thương đường tháp một bên (từ vỏ não đến phình tủy
cổ) sẽ gây triệu chứng liệt nửa người trên lâm sàng. Tuy nhiên do đặc điểm giải
phẫu từng vị trí, mật độ các sợi của đường tháp ở mỗi vị trí rất khác nhau, hơn nữa
tại mỗi vị trí ngoài đường tháp còn có các cấu trúc thần kinh khác nên khi tổn
thương ở mỗi vị trí sẽ có những đặc điểm lâm sàng riêng. Sau đây ta xét các vị trí
chính khi tổn thương gây liệt nửa người như tổn thương vỏ não, bao trong, thân
não (gồm có cuống não, cầu não và hành não) và tủy cổ.
+ Liệt nửa người do tổn thương vỏ não:
- Liệt nửa người có tính chất khu trú rõ, có thể không đồng đều (tay liệt nặng
hơn chân hoặc chân nặng hơn tay.
- Các triệu chứng kèm theo:
. Thường có liệt dây VII trung ương cùng bên với liệt.
. Rối loạn cảm giác nửa người.
. Co giật.

. Có thể có bán manh đồng danh bên liệt.
. Tổn thương bán cầu trội có thêm rối loạn vận động ngôn ngữ, trầm cảm và
thất điều.
. Tổn thương bán cầu không trội còn có thêm triệu chứng rối loạn cảm giác
không gian, vô tình cảm (apathia).
+ Liệt nửa người do tổn thương bao trong:
- Liệt nửa người mức độ nặng nề (thường liệt độ IV, V), liệt chân, tay đồng
đều nhau.
- Các triệu chứng kèm theo:
. Liệt mặt: có thể có hoặc không.
. Có thể có giảm cảm giác rõ.
+ Liệt nửa người do tổn thương một bên của thân não:
Khi tổn thương một bên của thân não, trên lâm sàng sẽ thấy bệnh cảnh điển
hình đó là các hội chứng giao bên, cụ thể như sau:
- Bên đối diện với ổ tổn thương có rối loạn vận động nửa người trong đó chân
tay bị nặng nề như nhau (hoặc rối loạn cảm giác nửa người).
- Bên tổn thương có liệt dây thần kinh sọ não kiểu ngoại vi.
- Một số ví dụ hội chứng giao bên:
. Khi tổn thương một bên cuống não có hội chứng Weber (bên tổn thương

