intTypePromotion=1

Khác biệt giới tính trong các vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở vị thành niên Việt Nam

Chia sẻ: ViAchilles2711 ViAchilles2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
26
lượt xem
1
download

Khác biệt giới tính trong các vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở vị thành niên Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kiến thức về ảnh hưởng của giới đến các vấn đề sức khỏe có thể giúp chọn nhóm đối tượng cụ thể hơn trong các chương trình can thiệp y tế. Nghiên cứu này nhằm so sánh tỉ lệ các rối loạn tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở nam và nữ vị thành niên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khác biệt giới tính trong các vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở vị thành niên Việt Nam

Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016<br /> <br /> <br /> KHÁC BIỆT GIỚI TÍNH TRONG CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE<br /> TÂM THẦN VÀ HÀNH VI NGUY HẠI SỨC KHỎE Ở VỊ THÀNH NIÊN<br /> VIỆT NAM<br /> Thái Thanh Trúc*, Bùi Thị Hy Hân**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Kiến thức về ảnh hưởng của giới đến các vấn đề sức khỏe có thể giúp<br /> chọn nhóm đối tượng cụ thể hơn trong các chương trình can thiệp y tế. Nghiên cứu này nhằm so sánh tỉ lệ các rối<br /> loạn tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở nam và nữ vị thành niên.<br /> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn được tiến hành tại<br /> các trường trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) tại TP.HCM và Long An và Tây Ninh. Các<br /> lớp được chọn ngẫu nhiên từ danh sách lớp của từng khối (khối 8, 9, 10, 11, 12).Sức khỏe tâm thần được đánh giá<br /> bằng thang đo tự điền đã được đánh giá thuộc tính và chuẩn hóa tại Việt Nam. Hành vi nguy hại sức khỏe bao<br /> gồm hút thuốc, uống rượu bia, lái xe không an toàn và giảm cân không an toàn.<br /> Kết quả: Học sinh nữ có nhiều khả năng có rối loạn trầm cảm hơn (OR=1,67, KTC 95% 1,44–1,95); rối loạn<br /> lo âu hơn (OR=3,22, KTC 95% 2,61–3,98); suy nhược tâm thần hơn (OR=1,52, KTC 95% 1,33–1,74) và ít có<br /> được khỏe mạnh về tinh thần (OR=0,60, KTC 95% 0,53–0,67). Học sinh nam có tỉ lệ hút thuốc lá, uống rượu bia<br /> và lái xe không an toàn nhiều hơn với kết quả lần lượt OR=7,41, KTC 95% 4,93–11,14; OR=1,46, KTC 95%<br /> 1,28–1,67; và OR=2,87, 2,40–3,44. Học sinh nữ khi có các rối loạn tâm thần thì sẽ gia tăng khả năng có hành vi<br /> nguy hại sức khỏe cao hơn so với nam giới với cùng rối loạn tâm thần.<br /> Kết luận: Học sinh nữ có nhiều khả năng có các rối loạn tâm thần hơn nhưng ngược lại học sinh nam có<br /> nhiều khả năng có các hành vi nguy hại sức khỏe hơn. Khi xuất hiện các rối loạn tâm thần thì học sinh nữ gia tăng<br /> đáng kể khả năng có hành vi nguy hại sức khỏe so với học sinh nam.<br /> Từ khóa: Khác biệt giới, mối liên quan,sức khỏe tâm thần, hành vi nguy hại, vị thành niên, Việt Nam<br /> ABSTRACT<br /> GENDER DIFFERENCE IN MENTAL HEALTH AND HEALTH RISK BEHAVIOURS AMONG<br /> VIETNAMESE ADOLESCENTS<br /> Thai Thanh Truc Bui Thi Hy Han<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 20 - Supplement of No 1 – 2016: 148 - 154<br /> <br /> Background and objectives: Knowledge about the affect of gender difference to health issues might help<br /> targeting population in health intervention programs. This study was to compare the prevalence of mental health<br /> issues and health risk behaviours among male and female adolescents.<br /> Methods: Multi-stage cluster sampling was conducted at randomly selected secondary schools and high<br /> schools in Ho Chi Minh City, Long An and Tay Ninh province. Classes were randomly selected from lists of<br /> classes for each grade(grade 8, 9, 10, 11, 12). Mental health issues were measured by self-reported scales which<br /> were evaluated and standardized in Vietnam. Risky behaviours included smoking, alcohol use, unsafe driving and<br /> unsafe losing weight.<br /> Results: Compared to males, females were more likely to have depression (OR=1.67, 95% CI 1.44–1.95);<br /> <br /> * ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Viện Y tế Công cộng Tp. Hồ Chí Minh<br /> Địa chỉ liên hệ : Thái Thanh Trúc ĐT: 0908381266 Email: thaithanhtruc@gmail.com<br /> <br /> 148 Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> anxiety (OR=3.22, 95% CI 2.61–3.98); psychological distress (OR=1.52, 95% CI 1.33–1.74) and less likely to<br /> have mental well-being (OR=0.60, 95% CI 0.53–0.67). Males had higher odds of smoking (OR=7.41, 95% CI<br /> 4.93–11.14), alcohol use (OR=1.46, 95% CI 1.28–1.67) and unsafe driving (OR=2.87, 95% CI 2.40–3.44).<br /> However, there was no difference among males and females regarding unsafe losing weight (OR=0.97, 95% CI<br /> 0.75–1.26). Females with the presence of mental health issues had higher odds of having risky behaviours than<br /> males with the same mental health issues.<br /> Conclusion: Females were more likely to have mental health issues but males had higher probability of<br /> having risky behaviours. With the presence of mental health issues, there was an increase in odds of having risky<br /> behaviours among females than males.<br /> Keyword: Gender difference, association, mental health, risky behaviour, adolescent, Vietnam<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ và ảnh hưởng đến cả cuộc sống sau này của<br /> người vị thành niên.<br /> Các bằng chứng khoa học cho thấy không có<br /> khác biệt về các rối loạn tâm thần giữa nam và nữ Ở lứa tuổi vị thành niên, sự khác biệt về<br /> trong giai đoạn tiền dậy thì. Tuy nhiên, bắt đầu từ giai nguy cơ các vấn đề sức khỏe ở nữ (các rối loạn<br /> đoạn dậy thì và kể cả cho đến lúc trưởng thành thì nữ tâm thần) và nam (các hành vi nguy hại sức<br /> giới thường có nhiều khả năng có các rối loạn tâm khỏe) thường được giải thích bởi sự nhạy cảm,<br /> thần hơn nam giới(2,7). Dữ liệu nghiên cứu trên nhiều dễ bị tổn thương khi có các biến cố ở nữ và sự<br /> quốc gia cho thấy nữ vị thành niên và nữ trưởng thành<br /> bốc đồng, “nông nổi” ở nam. Tuy nhiên, rất<br /> đều có nguy cơ xuất hiện rối loạn trầm cảm cao hơn<br /> nhiều nghiên cứu trên thế giới lại cho thấy<br /> gấp hai lần so với nam giới cùng lứa tuổi(7,10,15). Các<br /> nghiên cứu về suy nhược tâm thần, rối loạn lo âu cũng những người vị thành niên có biểu hiện của sức<br /> cho khuynh hướng tương tự(10). Vì vậy, các chiến lược khỏe tâm thần kém, thường có khuynh hướng có<br /> can thiệp hay phòng tránh rối loạn tâm thần sẽ không những hành vi có hại cho sức khỏe của bản thân<br /> hiệu quả nếu bỏ qua yếu tố giới, mà bản thân nó vốn và thậm chí cho những người xung quanh(1).<br /> là yếu tố nguy cơ chính. Việc hiểu biết và phòng tránh Như vậy, về khía cạnh liên quan giữa sức khỏe<br /> các rối loạn tâm thần ở lứa tuổi vị thành niên trong đó tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe thì nữ<br /> chú trọng đến nhóm có nguy cơ cao hơn cũng góp<br /> giới đáng lẽ sẽ có nhiều nguy cơ hành vi nguy<br /> phần giảm đáng kể các vấn đề sức khỏe liên quan khác<br /> hại sức khỏe hơn nam giới vì là nhóm đối tượng<br /> cũng như giúp gia tăng chất lượng cuộc sống trong<br /> giai đoạn trưởng thành. nhạy cảm hơn với rối loạn tâm thần. Tuy nhiên,<br /> ảnh hưởng của khác biệt giới khi kết hợp với sự<br /> Mặc dù nữ giới có khuynh hướng gặp nhiều<br /> hiện diện của các rối loạn tâm thần lên nguy cơ<br /> các vấn đề sức khỏe tâm thần hơn nam giới<br /> xuất hiện các hành nguy hại sức khỏe vẫn chưa<br /> nhưng ngược lại nam giới lại có nhiều hơn các<br /> được nghiên cứu cụ thể tại Việt Nam.<br /> hành vi nguy hại sức khỏe. Ví dụ, các hành vi<br /> như hút thuốc, uống rượu bia, sử dụng chất gây Bài báo này được phân tích dựa trên một loạt<br /> nghiện đều cao hơn từ 2,5 cho đến 3,5 lần, có ý các nghiên cứu đã thực hiện trước đây về các<br /> nghĩa thống kê ở nam so với nữ và gần như vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nguy hại ở<br /> hằng định trong các nghiên cứu trên thế giới(9,11). người vị thành niên tại một thành phố lớn<br /> Nghiên cứu quốc gia về thanh niên và vị thành (Thành phố Hồ Chí Minh), một tỉnh nông thôn<br /> niên Việt Nam tại 63 tỉnh thành năm 2010 cũng (Long An) và một tỉnh đặc thù vùng biên giới<br /> cho thấy tỉ lệ nam, nữ uống rượu bia là 80% và (Tây Ninh). Việc phân tích tổng hợp các dữ liệu<br /> 36% trong khi tỉ lệ hút thuốc lần lượt là 40% và nhằm so sánh sự khác biệt về tỉ lệ các rối loạn<br /> 0,6%(5). Các hành vi này có thể tiềm ẩn hoặc thể tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở nam<br /> hiện rõ trong một thời gian ngắn, nhưng cũng có giới và nữ giới vị thành niên đồng thời đánh giá<br /> khả năng hiện diện trong một thời gian dài hơn ảnh hưởng của giới tính đến mối liên hệ giữa sức<br /> <br /> <br /> <br /> Y tế Công cộng 149<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016<br /> <br /> khỏe tâm thần đến hành vi nguy hại sức khỏe. Center for Epidemiology Studies – Depression).<br /> Nhóm nghiên cứu mong muốn góp phần vào y Tổng điểm của thang đo CES-D ≥ 16 thể hiện đối<br /> văn và cung cấp thông tin nhằm định hướng can tượng có các dấu hiệu của rối loạn trầm cảm(8).<br /> thiệp cho người vị thành niên tại Việt Nam trong Rối loạn lo âu được đánh giá bằng thang đo 13<br /> đó chú trọng sự khác biệt giới tính. câu dạng Likert từ 1 điểm (chưa bao giờ) đến 3<br /> ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU điểm (thường xuyên) của Nguyễn Thanh<br /> Hương, được phát triển trong nghiên cứu tại Đại<br /> Dữ liệu trong báo cáo này được phân tích học Công nghệ Queensland. Thang đo lo âu với<br /> tổng hợp từ một chuỗi các nghiên cứu cắt ngang tổng điểm ≥ 26 thể hiện dấu hiệu của rối loạn lo<br /> mô tả về sức khỏe tâm thần ở vị thành niên được âu(6). Suy nhược tâm thần được đánh giá bằng<br /> tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh (2010), thang đo Kessler gồm 10 (K10) câu dạng Likert<br /> Long An (2011) và Tây Ninh (2014). Phương từ 1 điểm (không lúc nào) đến 5 điểm (hầu hết<br /> pháp tiến hành trong cả ba nghiên cứu là như thời gian). Tổng điểm thang đo K10 ≥ 25 thể hiện<br /> nhau và đã được mô tả trong các bài báo trước các dấu hiệu của suy nhược tinh thần(3). Thang<br /> đây(12,14). Phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đo WHO gồm 5 (WHO-5) câu dạng Likert từ 0<br /> đoạn được tiến hành trên một số trường trung điểm (không lúc nào) đến 5 điểm (mọi lúc) của<br /> học cơ sở và trung học phổ thông được chọn Tổ Chức Y Tế Thế Giới được dùng để đánh giá<br /> ngẫu nhiên tại TP.HCM và Long An. Tại Tây cảm nhận chủ quan về sự khỏe mạnh tinh thần.<br /> Ninh, tất cả các trường trung học phổ thông đều Tổng điểm thang đo WHO-5 ≥ 13 thể hiện đối<br /> được chọn vào nghiên cứu. Tại mỗi trường các tượng có sự khỏe mạnh về tinh thần(4).<br /> lớp được chọn ngẫu nhiên từ danh sách lớp của Các hành vi nguy hại sức khỏe được đánh<br /> từng khối: khối 8, 9 với trường trung học cơ sở<br /> giá bao gồm hút thuốc, uống rượu bia, lái xe<br /> và khối 10, 11, 12 với trường trung học phổ không an toàn và giảm cân không an toàn. Hành<br /> thông. Học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu<br /> vi hút thuốc và uống rượu bia được đo lường<br /> bằng cách ký tên vào bảng đồng ý tham gia sau<br /> bằng số ngày có các hành vi này trong 30 ngày<br /> khi các nghiên cứu viên cung cấp thông tin về qua và sau đó được phân nhóm thành dạng nhị<br /> nghiên cứu tại lớp. Học sinh trả lời bộ câu hỏi tự giá (có/không). Lái xe không an toàn được ghi<br /> điền trong khoảng một tiết học (30 – 45 phút) bao<br /> nhận nếu học sinh trả lời lái xe khi chưa có bằng<br /> gồm các thông tin về đặc điểm dân số xã hội, các lái hoặc lái xe sau khi dùng rượu bia. Giảm cân<br /> vấn đề sức khỏe tâm thần, các vấn đề liên quan<br /> không an toàn là khi học sinh trả lời có hành vi<br /> học tập và hành vi nguy hại sức khỏe. Để đảm nôn ói hoặc dùng các loại thuốc (viên, bột, dung<br /> bảo học sinh trả lời khách quan và không bị ảnh dịch) nhằm giảm cân mà không có tư vấn của<br /> hưởng, giáo viên và học sinh không tham gia bác sĩ.<br /> nghiên cứu được mời ra khỏi lớp. Tỉ lệ phiếu câu<br /> Dữ liệu được tổng hợp và phân tích bằng<br /> hỏi hợp lệ và được dùng trong báo cáo này từ<br /> phần mềm Stata 13. Tần số và tỉ lệ các vấn đề sức<br /> các điểm nghiên cứu là 93,2% (1108/1189) tại<br /> khỏe tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe ở<br /> Long An, 95,4% (1226/1283) tại TP.HCM và<br /> nam và nữ được báo cáo cùng với tỉ số số chênh<br /> 98,0% (1844/1882) tại Tây Ninh.<br /> và khoảng tin cậy 95%.<br /> Các vấn đề sức khỏe tâm thần được đánh giá<br /> bằng thang đo tự điền mà hầu hết đã được đánh KẾT QUẢ<br /> giá thuộc tính và chuẩn hóa tại Việt Nam. Rối Trong tổng số 4178 dữ liệu đưa vào phân tích<br /> loạn trầm cảm được đánh giá bằng thang đo thì tỉ lệ mẫu tại các điểm nghiên cứu TP.HCM,<br /> trầm cảm 20 câu dạng Likert từ 0 điểm (hiếm Long An và Tây Ninh lần lượt là 29,3%, 26,5% và<br /> khi) đến 3 điểm (hầu hết thời gian) của Trung 44,1%. Mặc dù tỉ lệ nữ trong nghiên cứu cao hơn<br /> tâm các nghiên cứu dịch tễ học Hoa Kỳ (CES-D #<br /> <br /> <br /> 150 Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> nam nhưng không có khác biệt đáng kể, trong sinh nam thì học sinh nữ có rối loạn trầm cảm<br /> đó kết quả phân tích chung gồm 55,6% là nữ và cao hơn 1,67 lần, KTC 95% 1,44 – 1,95; rối loạn lo<br /> 44,4% là nam (Bảng 1). Tỉ lệ các khối lớp gần như âu hơn 3,22 lần, KTC 95% 2,61 – 3,98; suy nhược<br /> tương đồng nhau do sử dụng phương pháp tâm thần hơn 1,52 lần, KTC 95% 1,33 – 1,74. Học<br /> chọn mẫu cụm nhiều bậc trong đó có chọn ngẫu sinh nữ cũng ít có sự khỏe mạnh về tinh thần<br /> nhiên trường và ngẫu nhiên lớp trong mỗi khối. hơn học sinh nam với OR = 0,60, KTC 95% 0,53 –<br /> Độ tuổi học sinh tham gia vào nghiên cứu dao 0,67. Tuy nhiên, kết quả phân tích phân tầng<br /> động từ 13 đến 19 tuổi. từng địa điểm nghiên cứu cho thấy tại thành phố<br /> Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu lớn (TP.HCM) sự khác biệt về giới trong các vấn<br /> TP.HCM Long An Tây Ninh CHUNG đề sức khỏe tâm thần thể hiện rõ rệt hơn với các<br /> Đặc điểm N=1226 N=1108 N=1844 N=4178 ước lượng là cao nhất trong các địa điểm nghiên<br /> n (%) n (%) n (%) n (%)<br /> Giới<br /> cứu. Ví dụ rối loạn trầm cảm ở học sinh nữ tại<br /> Nam 554 (45,2) 455 (41,1) 848 (46,0) 1857 (44,4) TP.HCM cao hơn 1,86 lần so với học sinh nam<br /> Nữ 672 (54,8) 653 (58,9) 996 (54,0) 2321 (55,6) trong khi con số này tại vùng nông thôn (Long<br /> Khối lớp An) chỉ là 1,48. Tương tự, rối loạn lo âu, suy<br /> 8 198 (16,2) 205 (18,5) - 403 (9,6) nhược tâm thần cũng có chênh lệnh giữa nữ so<br /> 9 241 (19,7) 203 (18,3) - 444 (10,6)<br /> với nam lần lượt là 3,72 lần và 1,80 lần trong khi<br /> 10 264 (21,5) 232 (20,9) 601 (32,6) 1097 (26,3)<br /> 11 264 (21,5) 235 (21,2) 632 (34,3) 1131 (27,1) nữ giới cũng ít hơn hẳn về khỏe mạnh tinh thần<br /> 12 259 (21,1) 233 (21) 611 (33,1) 1103 (26,4) so với nam giới (OR = 0,53, KTC 95% 0,42 – 0,67).<br /> Kết quả bảng 2 cho thấy tỉ lệ các vấn đề sức<br /> khỏe tâm thần ở học sinh khá cao. So với học<br /> Bảng 2: Khác biệt giới tính trong các vấn đề sức khỏe ở vị thành niên<br /> TP.HCM (N=1226) Long An (N=1108) Tây Ninh (N=1844) CHUNG (N=4178)<br /> Đặc<br /> Nam Nữ ORNữ/Nam Nam Nữ ORNữ/Nam Nam Nữ ORNữ/Nam Nam Nữ ORNữ/Nam<br /> điểm<br /> n (%) n (%) (KTC 95%) n (%) n (%) (KTC 95%) n (%) n (%) (KTC 95%) n (%) n (%) (KTC 95%)<br /> SỨC KHỎE TÂM THẦN<br /> Rối loạn trầm cảm<br /> Có 110 212 1,86 79 (17,4) 155 1,48 135 239 1,67 324 606 1,67<br /> (19,9) (31,5) (1,43-2,42) (23,7) (1,09 – 2,00) (15,9) (24,0) (1,32-2,11) (17,4) (26,1) (1,44-1,95)<br /> Không 444 460 376 498 713 757 1533 1715<br /> (80,1) (68,5) (82,6) (76,3) (84,1) (76,0) (82,6) (73,9)<br /> Rối loạn lo âu*<br /> Có 42 157 3,72 25 (5,5) 104 3,26 57 175 2,94 124 436 3,22<br /> (7,6) (23,4) (2,59-5,34) (15,9) (2,07-5,13) (6,8) (17,7) (2,15-4,02) (6,7) (18,8) (2,61-3,98)<br /> Không 512 515 430 549 780 815 1722 1879<br /> (92,4) (76,6) (94,5) (84,1) (93,2) (82,3) (93,3) (81,2)<br /> Suy nhược tâm thần<br /> Có 159 282 1,80 117 225 1,52 198 288 1,34 474 795 1,52<br /> (28,7) (42,0) (1,41-2,28) (25,7) (34,5) (1,17-1,98) (23,3) (28,9) (1,08-1,65) (25,5) (34,3) (1,33-1,74)<br /> Không 395 390 338 428 650 708 1383 1526<br /> (71,3) (58,0) (74,3) (65,5) (76,7) (71,1) (74,5) (65,7)<br /> Khỏe mạnh về tâm thần<br /> Có 379 360 0,53 255 294 0,64 519 492 0,62 1153 1146 0,60<br /> (68,4) (53,6) (0,42-0,67) (56,0) (45,0) (0,50-0,82) (61,2) (49,4) (0,51-0,75) (62,1) (49,4) (0,53-0,67)<br /> Không 175 312 200 359 329 504 704 1175<br /> (31,6) (46,4) (44,0) (55,0) (38,8) (50,6) (37,9) (50,6)<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Y tế Công cộng 151<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016<br /> <br /> <br /> TP.HCM (N=1226) Long An (N=1108) Tây Ninh (N=1844) CHUNG (N=4178)<br /> Đặc<br /> Nam Nữ ORNam/Nữ Nam Nữ ORNam/Nữ Nam Nữ ORNam/Nữ Nam Nữ ORNam/Nữ<br /> điểm<br /> n (%) n (%) (KTC 95%) n (%) n (%) (KTC 95%) n (%) n (%) (KTC 95%) n (%) n (%) (KTC 95%)<br /> HÀNH VI NGUY HẠI SỨC KHỎE<br /> Hút thuốc*<br /> Có 31 2,78 102 154<br /> 14 (2,1) 21 (4,6) 3 (0,5) 11 (1,1) 28 (1,2)<br /> (5,7) (1,47-5,29) 10,48 (12,1) 12,26 (8,4) 7,41<br /> Không 517 650 434 650 (3,11–35,36) 739 977 (6,53-23,00) 1690 2277 (4,93–11,14)<br /> (94,3) (97,9) (95,4) (99,5) (87,9) (98,9) (91,6) (98,8)<br /> Uống rượu bia*<br /> Có 168 209 103 118 384 302 655 629<br /> (30,6) (31,4) 0,96 (22,6) (18,1) 1,33 (45,3) (30,4) 1,90 (35,4) (27,2) 1,46<br /> Không 381 456 (0,75-1,23) 352 535 (0,99 – 1,78) 463 691 (1,57 – 2,30) 1196 1682 (1,28 – 1,67)<br /> (69,4) (68,6) (77,4) (81,9) (54,7) (69,6) (64,6) (72,8)<br /> Lái xe không an toàn*<br /> Có 70 291 152 407<br /> 32 (4,8) 46 (10,2) 23 (3,5) 207 (8,9)<br /> (12,6) 2,89 3,10 (34,3) (15,3) 2,90 (21,9) 2,87<br /> Không 484 640 (1,87-4,47) 407 630 (1,85 – 5,19) 557 844 (2,32 – 3,63) 1448 2114 (2,40 – 3,44)<br /> (87,4) (95,2) (89,8) (96,5) (65,7) (84,7) (78,1) (91,1)<br /> Giảm cân không an toàn*<br /> Có 27 46 106<br /> 55 (8,2) 33 (7,3) 30 (4,6) 51 (5,1) 136 (5,9)<br /> (4,9) 0,57 1,63 (5,4) 1,06 (5,7) 0,97<br /> Không 527 617 (0,36-0,92) 420 622 (0,98 – 2,71) 802 945 (0,71 – 1,60) 1749 2184 (0,75 – 1,26)<br /> (95,1) (91,8) (92,7) (95,4) (94,6) (94,9) (94,3) (94,1)<br /> <br /> * Một số ít bộ câu hỏi không trả lời đầy đủ nên không tính<br /> <br /> <br /> 4<br /> Giaûm caân khoâng an toaøn 3<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4<br /> Laùi xe khoâng an toaøn 3<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4<br /> Uoáng röôïu bia 3<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> <br /> <br /> 4<br /> Huùt thuoác 3<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> <br /> 0 1 2 4 6 8<br /> 4 Khoâng khoûe maïnh veà tinh thaàn OR (KTC 95%)<br /> 3 Suy nhöôïc taâm thaàn<br /> 2 Roái loaïn lo aâu Nam Nöõ<br /> 1 Roái loaïn traàm caûm<br /> <br /> <br /> Biểu đồ 1: Mối liên quan giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nguy hại ở vị thành niên nam và<br /> nữ<br /> <br /> <br /> <br /> 152 Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> có stress do học tập cao hơn hẳn học sinh nam(13).<br /> Học sinh nam có tỉ lệ hút thuốc lá, uống rượu<br /> Kết quả dù khác biệt theo giới ở từng địa điểm<br /> bia và lái xe không an toàn cao hơn học sinh nữ<br /> nghiên cứu nhưng điều cần quan tâm và can<br /> lần lượt 7,41 lần (KTC 95% 4,93 – 11,14), 1,46 lần<br /> thiệp là tỉ lệ các rối loạn tâm thần đều ở mức cao.<br /> (KTC 95% 1,28 – 1,67) và 2,87 lần (2,40 – 3,44)<br /> (Bảng 2). Tuy nhiên, không có khác biệt giữa Hành vi nguy hại sức khỏe được xem là tất<br /> nam và nữ về hành vi giảm cân không an toàn. cả những hành vi mà kết cuộc có thể ảnh hưởng<br /> Tại TP.HCM, không có khác biệt giới đối với đến sức khỏe của một người trực tiếp hoặc gián<br /> hành vi uống rượu bia nhưng lại có khác biệt có tiếp, trong thời gian ngắn hoặc tiềm ẩn trong<br /> ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ với hành vi thời gian dài, dưới hình thức có thể thấy được<br /> giảm cân không an toàn, trong đó học sinh nữ có hoặc không thấy được. Ở người vị thành niên<br /> hành vi giảm cân không an toàn cao hơn nam. đặc trưng bởi giai đoạn dậy thì và những hành<br /> vi “nông nổi” thường xuất hiện và xuất hiện với<br /> Kết quả trong biểu đồ 1 cho thấy có sự khác tần suất ngày càng nhiều trong thời đại mới.<br /> biệt về giới trong mối liên quan giữa các rối loạn Nếu chỉ xét về mặt y học, chính giai đoạn dậy thì<br /> tâm thần và hành vi nguy hại sức khỏe trong đó với nhiều biến đổi của vị thành niên có thể là<br /> học sinh nữ khi có các rối loạn tâm thần thì sẽ gia nguồn gốc của mọi hành vi nguy hại sức khỏe.<br /> tăng đáng kể và cao hơn khả năng có hành vi Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các<br /> nguy hại sức khỏe so với nam giới với cùng rối báo cáo trong y văn trong đó học sinh nam có tỉ<br /> loạn tâm thần. Ví dụ, mối liên hệ giữa trầm cảm lệ hành vi nguy hại sức khỏe cao hơn nữ(9, 11). Học<br /> và uống rượu bia, lái xe không an toàn hay giảm sinh nam có tỉ lệ hút thuốc lá, uống rượu bia và<br /> cân không an toàn là rõ rệt và cao hơn so với học lái xe không an toàn hơn học sinh nữ lần lượt<br /> sinh nam. 7,41 lần, 1,46 lần và 2,87 lần. Không có khác biệt<br /> BÀN LUẬN giữa nam và nữ về hành vi giảm cân không an<br /> Tại Việt Nam, sức khỏe tâm thần ở người toàn. Tuy nhiên, sự khác biệt giới trong các hành<br /> trưởng thành gần đây đã được cảnh báo là một vi nguy hại sức khỏe khác nhau tại các điểm<br /> vấn đề xã hội quan trọng thu hút sự chú ý của nghiên cứu. Vì vậy, việc can thiệp các vấn đề<br /> các nhà nghiên cứu y tế công cộng. Kết quả cho hành vi nguy hại sức khỏe cũng cần quan tâm<br /> thấy tỉ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần ở vị đến yếu tố vùng miền như trong kết quả nghiên<br /> thành niên tại Việt Nam là cao.Ngoài ra, kết quả cứu này. Các hành vi nguy hại nổi bật trong thời<br /> cũng khẳng định lại các phát hiện trong các gian gần đây như việc giảm cân không an toàn<br /> nghiên cứu đã thực hiện trước đây trong đó cho xuất hiện và khác biệt đáng kể ở nam và nữ tại<br /> thấy học sinh nữ có tỉ lệ các rối loạn tâm thần cao thành phố lớn.<br /> hơn nam giới(7,10,15). Trong nghiên cứu này, mức Ở học sinh nữ khi có các rối loạn tâm thần thì<br /> độ cao hơn ở nữ so với nam là 1,67 lần với trầm sẽ gia tăng đáng kể và cao hơn khả năng có hành<br /> cảm, 3,22 lần đối với rối loạn lo âu, 1,52 lần đối vi nguy hại sức khỏe so với nam giới với cùng<br /> với suy nhược tâm thần trong khi sự khỏe mạnh rối loạn tâm thần. Kết quả này gợi ý rằng, các<br /> về tinh thần chỉ bằng 0,60 lần so với nam. Sự chương trình can thiệp đối với các hành vi nguy<br /> khác biệt giới trong tất cả vấn đề sức khỏe tâm hại sức khỏe ở vị thành niên thì không nên đơn<br /> thần càng đáng kể ở các thành phố lớn so với thuần can thiệp trên nhóm học sinh nam mà bỏ<br /> nông thôn. Một trong những nguyên nhân khả qua nhóm học sinh nữ, đặc biệt là các em có dấu<br /> dĩ có thể giải thích trường hợp này là yếu tố áp hiệu của rối loạn tâm thần. Chính các học sinh<br /> lực học tập trong đó học sinh tại các thành phố nữ có các rối loạn tâm thần là nhóm nguy cơ cao<br /> lớn thường chịu nhiều áp lực học tập hơn và có các hành vi nguy hại sức khỏe cần đặc biệt<br /> nghiên cứu trước đây cũng cho thấy học sinh nữ quan tâm can thiệp. Đối với nhóm học sinh nữ<br /> <br /> <br /> Y tế Công cộng 153<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016<br /> <br /> này thì việc can thiệp cũng cần tiến hành trên cả 2. Hankin Benjamin L (2006). Adolescent depression:<br /> Description, causes, and interventions.Epilepsy & Behavior,<br /> hai lĩnh vực sức khỏe tâm thần và hành vi nguy 8(1): p. 102-114.<br /> hại sức khỏe. 3. Kessler RC, et al (2003). Screening for serious mental illness in<br /> the general population.Arch Gen Psychiatry, 2003. 60(2): p.<br /> Nghiên cứu này có một số điểm mạnh và 184-9.<br /> hạn chế. Cỡ mẫu lớn cùng với tỉ lệ tham gia 4. Mental Health Centre North Zealand – Denmark (2010).<br /> WHO-Five Well-being Index (WHO-5). Accessed on 22 June<br /> nghiên cứu cao là một trong những điểm mạnh.<br /> 2010 from: http://www.who-5.org/.<br /> Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng các thang đo 5. Ministry of Health of Vietnam (2010). Survey Assessment of<br /> đã được chuẩn hóa để kết quả đánh giá đồng Vietnamese Youth. Hanoi.<br /> 6. Nguyen Thanh Huong (2006). Child maltreatment in Vietnam<br /> nhất giữa các điểm nghiên cứu và dễ dàng so : prevalence and associated mental and physical health<br /> sánh cũng như cho kết quả chính xác cao. problems. PhD Thesis, Queensland University of Technology,<br /> Nghiên cứu đánh giá đa dạng các hành vi nguy Australia<br /> 7. Nolen-Hoeksema S and Girgus JS (1994). The Emergence of<br /> hại sức khỏe ở lứa tuổi vị thành niên trong đó có Gender Differences in Depression During<br /> các vấn đề nổi bật trong thời gian gần đây như Adolescence.Psychological Bulletin, 115(3): p. 424-443.<br /> 8. Radloff LS (1977). The CES-D Scale: A Self-Report Depression<br /> việc giảm cân không an toàn. Tuy nhiên, điểm Scale for Research in the General Population. Applied<br /> hạn chế trong nghiên cứu là dữ liệu được thu Psychological Measurement, 1(3): p. 385-401.<br /> thập rải rác tại các thời điểm khác nhau và từ bộ 9. Ruangkanchanasetr S, et al (2005). Youth risk behavior survey:<br /> Bangkok, Thailand.J Adolesc Health, 36(3): p. 227-35.<br /> câu hỏi tự điền và vì vậy không tránh khỏi 10. Seedat Soraya, et al (2009). Cross-national associations<br /> những sai sót do kỹ thuật này mang lại. between gender and mental disorders in the WHO World<br /> Mental Health Surveys. Archives of general psychiatry, 66(7):<br /> KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ p. 785-795.<br /> 11. Swahn MH and Bossarte RM (2005). Gender, early alcohol<br /> Có sự khác biệt đáng kể về giới tính trong use, and suicide ideation and attempts: findings from the 2005<br /> các vấn đề rối loạn tâm thần và hành vi nguy hại youth risk behavior survey.J Adolesc Health, 41(2): p. 175-81.<br /> 12. Thái Thanh Trúc and Bùi Thị HyHân (2012). Những trải<br /> sức khỏe ở vị thành niên tại Việt Nam. Học sinh<br /> nghiệm bất lợi thời thơ ấu và sức khỏe tâm thần ở học sinh<br /> nữ có nhiều khả năng có các rối loạn tâm thần trung học cơ sở và phổ thông trung học tại Long An. Tạp chí y<br /> hơn học sinh nam nhưng ngược lại học sinh nam học Tp.Hồ Chí Minh, 16: p. 35-41.<br /> 13. Thái Thanh Trúc and Bùi Thị HyHân (2012). Tính tin cậy và<br /> có nhiều khả năng có các hành vi nguy hại sức tính giá trị của thang đo ESSA trong đánh giá stress do học tập<br /> khỏe hơn học sinh nữ. Tuy nhiên, khi xuất hiện ở học sinh trung học cơ sở và phổ thông trung học tại Long<br /> các rối loạn tâm thần thì học sinh nữ gia tăng An. Tạp chí y học Tp.Hồ Chí Minh, 16: p. 28-34.<br /> 14. Thai Thanh Truc, et al (2015). Validation of the Educational<br /> đáng kể khả năng có hành vi nguy hại sức khỏe Stress Scale for Adolescents (ESSA) in Vietnam. Asia Pac J<br /> so với học sinh nam với cùng các rối loạn tâm Public Health, 27(2): p. NP2112-21.<br /> 15. Wade TJ, Cairney J, Pevalin DJ (2002). Emergence of Gender<br /> thần. Quá trình can thiệp cần lưu tâm đến yếu tố Differences in Depression During Adolescence: National<br /> khác biệt giới, vùng miền nhưng cũng cần giám Panel Results From Three Countries. Journal of the American<br /> sát sự xuất hiện của các yếu tố tác động khác để Academy of Child & Adolescent Psychiatry, 41(2): p. 190-198.<br /> <br /> mang lại hiệu quả cao và đồng thời giải quyết tốt<br /> Ngày nhận bài báo: 20/11/2015<br /> cả vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nguy hại<br /> Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2015<br /> sức khỏe ở vị thành niên. Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Hallfors DD, et al (2004). Adolescent depression and suicide<br /> risk: association with sex and drug behavior.Am J Prev Med,<br /> 27(3): p. 224-31.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 154 Chuyên Đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2