
KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA TIỀN LỆ PHÁP –
HÌNH THỨC PHÁP LUẬT ĐẶC THÙ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
ANH - MỸ
Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật đặc thù trong luật pháp của những quốc gia
thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Đặc trưng của tiền lệ pháp thể hiện ở tính chất
khuôn mẫu bắt buộc của nó. Việc áp dụng tiền lệ pháp đòi hỏi sự đối chiếu các
tình tiết của vụ việc đang xem xét với tình tiết tương tự đã giải quyết để từ đó có
thể áp dụng hình phạt hoặc cách giải quyết đã có. Án lệ cũng đã được áp dụng
trong thời kỳ đầu của Nhà nước cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, hình thức pháp
luật chủ yếu mà hiện nay chúng ta sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật. Hai
nguồn pháp luật tập quán pháp và tiền lệ pháp không được sử dụng về nguyên tắc.
Trong những năm gần đây, chúng ta đã có những cách nhìn mới, khách quan hơn
về hai loại nguồn pháp luật này[1]. Theo chiến lược phát triển hệ thống pháp luật
Việt Nam đến 2010, Nhà nước ta cũng đang nghiên cứu để áp dụng tiền lệ pháp
như một nguồn luật chính thức ở Việt Nam[2]. Nhằm phục vụ yêu cầu chung đó,
việc tìm hiểu và nhận thức được khái niệm về tiền lệ pháp, những nguyên tắc và
cách thức ban hành hình thức pháp luật này là vô cùng cần thiết và đây cũng chính
là nội dung được đề cập trong bài viết này.

1. Khái niệm và các nguyên tắc về tiền lệ pháp
Theo Black’s Law Dictionary thì khái niệm tiền lệ pháp (precedent) được ghi nhận
như sau:
Tiền lệ pháp là việc làm luật của tòa án trong việc công nhận và áp dụng
các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử;
Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để ra phán quyết cho những trường
hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”[3].
Cũng tương tự như vậy, pháp luật nước Anh cũng cho rằng tiền lệ pháp chỉ xuất
phát từ phán quyết của thẩm phán tòa án cấp trên. “Khi đưa ra quyết định cho một
vụ việc, thẩm phán phải tuân theo các quyết định đã được đưa ra bởi tòa án cấp
trên cho vụ việc tương tự”[4]. Tuy nhiên, để đưa ra phán quyết cho một vụ án,
thẩm phán phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản đó là xem xét tình tiết cụ thể đang
xảy ra và luật sẽ áp dụng như thế nào đối với các tình tiết đó. Theo nguyên lý tiền
lệ phải được tuân thủ (stare decisis), việc áp dụng pháp luật sẽ căn cứ vào những
tình tiết tương tự của vụ việc trước đây để đưa ra một phán quyết đồng nhất và
thẩm phán phải tuân theo các quyết định trước đây của tòa án cấp trên. Ví dụ trong
vụ án Elizabeth Manley[5]. Elizabeth Manley đã trình báo với cảnh sát rằng có
một người đàn ông đã đánh cô và lấy toàn bộ tiền bạc. Tuy nhiên khi cảnh sát tiến
hành điều tra đã phát hiện vụ việc trên là không có thật. Tòa án đã kết tội
Elizabeth Manley với tội danh “làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng”. Tội danh
này không có quy định trong luật. Do đó, tòa đã đưa ra hai lý do và sau đó hình

thành nên tiền lệ. Thứ nhất, đặt người vô tội trước nguy cơ bị bắt giữ; thứ hai, là
tốn thời gian và công sức của cảnh sát cho quá trình điều tra một vụ việc không có
thật.
Vụ án Elizabeth Manley đã hình thành nên tiền lệ trong phán quyết của tòa án:
“Bất kỳ người nào đặt người vô tội vào tình trạng bị truy tố và làm cảnh sát phải
điều tra một vụ án không có thật thì bị buộc vào tội danh gây rối, ảnh hưởng đến
trật tự công cộng”.
Sau đó là vụ án của bà May Jones[6]. Bà Jones đang đi mua sắm ở cửa hàng thì
phát hiện mình bị mất chiếc ví. Bà ta nhớ lại trước đây ít phút, có một người đàn
ông đã đi lướt qua và chạm vào người bà. Bà ta lập tức báo cảnh sát và miêu tả
nhân dạng người đàn ông ấy. Ngày sau đó, cửa hàng gọi điện thoại đến và báo
rằng bà Jones đã để quên ví tiền tại cửa hàng. Trong vụ này, bà Jones cũng bị kết
tội như cô Manley vì đã làm cảnh sát điều tra một vụ việc không có thật và đặt
người vô tội trước rủi ro bị truy tố.
Nguyên tắc tiền lệ cũng ràng buộc với chính tòa cấp trên, có nghĩa là tòa án cấp
trên cũng phải tuân thủ tiền lệ do chính mình tạo ra. Cụ thể hơn, các nước theo hệ
thống thông luật đã đưa ra một số nguyên tắc trong việc xây dựng án lệ gồm
những quy định sau: [7]
Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa án cấp cao hơn
trong cùng hệ thống hoặc của chính tòa án đã ra tiền lệ;
Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống khác chỉ có giá trị tham khảo;

Chỉ có những phần quyết định dựa trên chứng cứ pháp lý (ratio decidendi)
của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc để ra quyết định cho vụ án sau này;
Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án
không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm
phán (obiter dictum) sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân
thủ;
Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của tiền lệ.
Như vậy, không phải tất cả những phần nêu ra trong một bản án đều bắt buộc trở
thành tiền lệ pháp. Sẽ có những phần bắt buộc và những phần không bắt buộc (tuy
rằng phần không bắt buộc này vẫn thuyết phục các bên tham gia vụ án tuân thủ).
Theo sự giải thích về tiền lệ pháp trong luật so sánh[8], “ranh giới cơ bản khi giải
thích tiền lệ pháp theo luật Anh là giữa cơ sở pháp lý (ratio decidendi) và sự giải
thích thêm - phần bình luận của thẩm phán (obiter dictum)”. Cơ sở pháp lý là
nguyên tắc pháp lý để tòa quyết định vụ việc và nó mang tính chất bắt buộc. Còn
phần bình luận chỉ là việc nêu ra những lý lẽ, giải thích thêm của thẩm phán về vụ
việc đã qua và do đó nó không mang tính bắt buộc cho những trường hợp sau này.
Những lý do mà các thẩm phán đưa ra để giải thích thêm nằm ngoài phạm vi của
cơ sở pháp lý và họ cũng không cần kiểm tra cũng như xem xét đến hậu quả của
nó. Mục đích của việc đưa ra luận cứ này chỉ mang tính chất là giải thích hay minh
họa để phân biệt giữa vụ việc này với vụ việc khác mà thôi.
Theo các nhà làm luật Anh thì tiền lệ pháp có rất nhiều ưu điểm [9].

Thứ nhất, các đối tượng liên quan trong vụ án có thể biết trước các hậu quả pháp
lý của vụ việc vì họ biết các quyết định này không phải là các quyết định tùy tiện
của các thẩm phán mà các thẩm phán đã dựa vào các quyết định của các vụ việc
trước đó.
Thứ hai, tiền lệ được đưa ra từ thực tiễn, trong khi các đạo luật lại ít nhiều căn cứ
vào lý thuyết và suy luận mang tính lô gích; tiền lệ hình thành từ các hoàn cảnh
khác nhau trong đời sống do đó nó điều chỉnh được hầu hết các quan hệ xã hội
phát sinh.
Thứ ba, tiền lệ tạo điều kiện cho thẩm phán đưa ra nhiều tư tưởng mới trong lĩnh
vực áp dụng pháp luật tùy theo điều kiện, hoàn cảnh xã hội phát sinh ra các quan
hệ pháp luật. Thứ tư, đó là tính linh hoạt của tiền lệ pháp, thuộc tính này phụ hợp
với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Trong khi sự thay đổi các văn bản quy
phạm pháp luật cần phải một thời gian nhất định thì tiền lệ pháp lại đáp ứng ngay
những đòi hỏi của thực tiễn.
Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức tiền lệ pháp gặp phải những bất cập nhất
định.
Thứ nhất, do các quyết định và bản án quá nhiều và liên tục tăng theo thời gian
nên gây rất nhiều khó khăn trong quá trình vận dụng.
Thứ hai, bên cạnh tính linh hoạt thì nó cũng chứa đựng sự cứng nhắc vì thẩm phán
buộc phải tuân thủ theo những tiền lệ mà họ cho rằng không đầy đủ hoặc không
mang giá trị pháp lý cao.

