
P.T.M. Dung et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 12, 300-305
300 www.tapchiyhcd.vn
PATIENTS’ PERCEPTIONS OF OUTPATIENT SERVICE QUALITY
AT THE OUTPATIENT DEPARTMENT OF THONG NHAT HOSPITAL
Pham Thi My Dung*, Nguyen Bao Luc, Vo Thanh Toan
Thong Nhat Hospital - 1 Ly Thuong Kiet, Tan Son Nhat ward, Ho Chi Minh city, Vietnam
Received: 07/7/2025
Reviced: 13/7/2025; Accepted: 29/7/2025
ABSTRACT
Objective: To assess patients’ perceptions of the quality of outpatient medical services at the
Outpatient Department of Thong Nhat Hospital.
Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 265 outpatients from
February to March 2025. Data were collected using a structured questionnaire based on the
SERVPERF model, consisting of 22 items evaluating five dimensions: tangibles, reliability,
responsiveness, assurance, and empathy.
Results: The majority of participants were female (58.1%) with a mean age of 48.8 ± 17.7 years;
86.4% had at least a high school education; 72.8% had visited the hospital more than three times.
The mean scores for the five SERVPERF dimensions were: tangibles (4.53 scores), reliability (4.49
scores), responsiveness (4.52 scores), assurance (4.61 scores), and empathy (4.52 scores), with an
overall average of 4.53 out of 5 scores.
Conclusion: Patients rated the quality of outpatient services at the Outpatient Department of Thong
Nhat Hospital as high across all SERVPERF dimensions, particularly in professional competence
and staff dedication. These findings provide valuable insights for sustaining and improving service
quality in similar healthcare settings.
Keywords: Service quality, SERVPERF, patient satisfaction, outpatient care.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 12, 300-305
*Corresponding author
Email: dungpham160875@gmail.com Phone: (+84) 918494939 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD12.2979

P.T.M. Dung et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 12, 300-305
301
KHẢO SÁT CẢM NHẬN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA NGƯỜI BỆNH
TẠI KHOA KHÁM BỆNH, BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT
Phạm Thị Mỹ Dung*, Nguyễn Bảo Lục, Võ Thành Toàn
Bệnh viện Thống Nhất - 1 Lý Thường Kiệt, phường Tân Sơn Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Ngày nhận bài: 07/7/2025
Ngày chỉnh sửa: 13/7/2025; Ngày duyệt đăng: 29/7/2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát cảm nhận của người bệnh về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại Khoa Khám
bệnh, Bệnh viện Thống Nhất.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 265 người bệnh từ
tháng 2 đến tháng 3 năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi cấu trúc theo mô hình
SERVPERF, gồm 22 mục, đánh giá trên 5 khía cạnh: hữu hình, tin tưởng, đáp ứng, đảm bảo và cảm
thông.
Kết quả: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nữ (58,1%); độ tuổi trung bình 48,8 ± 17,7 tuổi; trình độ
học vấn trung học phổ thông trở lên chiếm 86,4%; 72,8% đến khám từ lần thứ 3 trở lên. Điểm trung
bình các khía cạnh chất lượng dịch vụ: hữu hình (4,53 điểm), tin tưởng (4,49 điểm), đáp ứng (4,52
điểm), đảm bảo (4,61 điểm), cảm thông (4,52 điểm); điểm trung bình chung đạt 4,53/5 điểm.
Kết luận: Người bệnh đánh giá chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện
Thống Nhất ở mức cao, đặc biệt là năng lực chuyên môn và sự tận tâm của nhân viên y tế, kết quả
góp phần cung cấp dữ liệu thực tiễn để bệnh viện tiếp tục duy trì và cải tiến chất lượng phục vụ người
bệnh.
Từ khóa: Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, SERVPERF, sự hài lòng, bệnh nhân ngoại trú.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một yếu tố quan
trọng phản ánh hiệu quả hoạt động của cơ sở y tế. Trong
bối cảnh gia tăng nhu cầu và kỳ vọng của người dân,
việc đánh giá cảm nhận của người bệnh đối với chất
lượng dịch vụ tại khoa khám bệnh trở nên cần thiết
nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng phục vụ. Việc cải
thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong
những mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế tại các
nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam [1-2]. Chất
lượng ở đây không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo các yêu
cầu kỹ thuật và chức năng trong quá trình cung cấp dịch
vụ khám chữa bệnh cho người bệnh, mà còn giúp cho
đối tượng này được điều trị đúng bệnh với phương pháp
phù hợp và đảm bảo khả năng tài chính bền vững. Mục
đích cuối cùng là nhằm giúp cho người bệnh cải thiện
tình trạng bệnh tật thông qua các hoạt động cung cấp
dịch vụ với chất lượng tốt, đảm bảo sự an toàn cho tính
mạng và sức khỏe, đồng thời với đó là các trải nghiệm
tích cực trong quá trình sử dụng dịch vụ tại các cở sơ
khám chữa bệnh [2-3]. Bệnh viện Thống Nhất là bệnh
viện đa khoa hạng I, thực hiện chức năng, nhiệm vụ
theo Quyết định số 4609/QĐ-BYT ngày 07 tháng 10
năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy
chế tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Thống Nhất.
Tại Khoa Khám bệnh, số phòng khám ngoại trú của
bệnh viện hiện có 29 phòng với 37 bàn khám. Số lượt
khám chữa bệnh ngoại trú khoảng 3000 người
bệnh/ngày. Với số lượng bệnh nhân lớn có thể gặp phản
ánh một vài vấn đề không mong muốn, chính vì thế
chúng tôi thực hiện nghiên cứu khảo sát cảm nhận
người bệnh tại đây nhằm góp phần cung cấp dữ liệu
thực tiễn để bệnh viện tiếp tục duy trì và cải tiến chất
lượng phục vụ người bệnh.
2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
265 người bệnh đến khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh
viện Thống Nhất từ tháng 2/2025 đến tháng 3/2025.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: người bệnh trên 18 tuổi, tự
nguyện tham gia và có khả năng trả lời phỏng vấn, đăng
ký khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Thống Nhất
từ tháng 2/2025 đến tháng 3/2025.
- Tiêu chuẩn loại trừ: người bệnh là nhân viên y tế hoặc
người nhà nhân viên y tế, bệnh nhân nội trú và người
bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả số
liệu người bệnh đến khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh
viện Thống Nhất từ tháng 2/2025 đến tháng 3/2025.
*Tác giả liên hệ
Email: dungpham160875@gmail.com Điện thoại: (+84) 918494939 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD12.2979

P.T.M. Dung et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 12, 300-305
302 www.tapchiyhcd.vn
- Chọn mẫu và cỡ mẫu: chọn mẫu thuận tiện tại các bàn
tiếp nhận tại Khoa Khám bệnh từ tháng 2/2025 đến
tháng 3/2025, trong thời gian trên chúng tôi thu thập
thông tin 265 người bệnh.
- Phỏng vấn bằng bảng câu hỏi có cấu trúc dựa trên mô
hình SERVPERF gồm 22 câu hỏi về 5 khía cạnh, các
tiểu mục của thang đo SERVPERF được đánh giá trên
thang đo mức độ tăng dần từ 1 đến 5 (cao nhất là 5, thấp
nhất là 1) [4-5]:
+ Sự hữu hình: cảm nhận của người bệnh về cơ sở
vật chất và trang thiết bị, cách ăn mặc và giao tiếp của
nhân viên y tế, gồm 4 tiểu mục, có tổng điểm chạy từ 4
đến 20. Người bệnh hài lòng với khía cạnh này khi
điểm trung bình ≥ 16.
+ Sự tin tưởng: cảm nhận của người bệnh về các
dịch vụ được cung cấp một cách kịp thời và chính xác,
gồm 5 tiểu mục, có tổng điểm chạy từ 5-25. Người bệnh
hài lòng với khía cạnh này khi điểm trung bình ≥ 20.
+ Sự đáp ứng: cảm nhận về việc người bệnh sẵn
sàng được hỗ trợ, phục vụ kịp thời, gồm 4 tiểu mục, có
tổng điểm chạy từ 4 đến 20. Người bệnh hài lòng với
khía cạnh này khi điểm trung bình ≥ 16.
+ Sự đảm bảo: cảm nhận của người bệnh về lịch sự
của nhân viên y tế, gồm 4 tiểu mục, có tổng điểm chạy
từ 4 đến 20. Người bệnh hài lòng với khía cạnh này khi
điểm trung bình ≥ 16.
+ Sự cảm thông: cảm nhận của người bệnh về sự
chăm sóc của nhân viên y tế, gồm 5 tiểu mục, có tổng
điểm chạy từ 5 đến 25. Người bệnh hài lòng với khía
cạnh này khi điểm trung bình ≥ 20.
- Thang đo Likert 5 mức: rất không đồng ý (1 điểm),
không đồng ý (2 điểm), bình thường (3 điểm), đồng ý
(4 điểm), rất đồng ý (5 điểm).
- Nhập liệu bằng phần mềm EpiData; phân tích bằng
SPSS 20.0 và thống kê mô tả: tần suất, tỷ lệ %, trung
bình và độ lệch chuẩn cho từng khía cạnh
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 265)
Đặc điểm
Tần số
Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
18-45
110
41,5
45-60
104
39,2
> 60
51
19,3
Giới tính
Nam
111
41,9
Nữ
154
58,1
Trình độ học vấn
Không biết đọc
1
0,4
Tiểu học
9
3,4
Trung học cơ sở
26
9,8
Trung học phổ thông
70
26,4
Trung cấp/cao đẳng
43
16,3
Đại học
100
37,7
Sau đại học
16
6,0
Nghề nghiệp
Nông dân
6
2,3
Lao động tự do
37
14,0
Học sinh, sinh viên
20
7,5
Công nhân
37
14,0
Công chức, viên chức
91
34,3
Buôn bán
42
15,8
Khác
32
12,1
Tình trạng hôn nhân
Độc thân
63
23,8
Sống với vợ/chồng
170
64,2
Ly dị, ly thân
21
7,9
Góa
11
4,1
Số lần khám bệnh
Lần 1
41
15,5
Lần 2
31
11,7
Lần 3 trở lên
193
72,8

P.T.M. Dung et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 12, 300-305
303
Đặc điểm
Tần số
Tỷ lệ (%)
Kinh tế hộ gia đình
Thu nhập < 10 triệu đồng/tháng
129
48,7
Thu nhập 10-20 triệu đồng/tháng
106
40,0
Thu nhập > 20 triệu đồng/tháng
30
11,3
Khoảng cách từ nhà đến
bệnh viện
< 5 km
71
26,8
Từ 5-10 km
93
35,1
> 10 km
101
38,1
Bảng 2. Điểm trung bình chất lượng dịch vụ khía cạnh hữu hình
Nội dung
Đánh giá (điểm)
Môi trường khoa khám bệnh sạch sẽ
4,55 ± 0,60
Trang phục của nhân viên khoa khám bệnh phù hợp
4,61 ± 0,57
Khoa khám bệnh tiện nghi
4,48 ± 0,61
Khoa khám bệnh có trang thiết bị hiện đại và sẵn sàng phục vụ người bệnh
4,48 ± 0,62
Khía cạnh hữu hình
4,53
Các yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, sự sạch sẽ và trang phục của nhân viên y tế đều được đánh giá rất cao;
độ lệch chuẩn thấp cho thấy sự đánh giá của bệnh nhân khá đồng nhất.
Bảng 1. Điểm trung bình đánh giá dịch vụ khía cạnh tin tưởng
Nội dung
Đánh giá (điểm)
Người bệnh thấy an toàn khi khám chữa bệnh tại khoa khám bệnh
4,43 ± 0,67
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý
4,49 ± 0,64
Sự lo lắng về sức khỏe của người bệnh được quan tâm giải quyết
4,52 ± 0,64
Người bệnh được cung cấp thông tin về tình trạng bệnh và điều trị
4,49 ± 0,65
Người bệnh luôn tin tưởng vào phương pháp điều trị
4,54 ± 0,60
Khía cạnh tin tưởng
4,49
Người bệnh đánh giá ffểm cao đồng đều các mục: an toàn, chi phí, thông tin, giải thích bệnh. Mức điểm phản ánh
lòng tin lớn vào chất lượng chuyên môn và dịch vụ.
Bảng 2. Điểm trung bình đánh giá dịch vụ khía cạnh đáp ứng
Nội dung
Đánh giá (điểm)
Nhân viên khoa khám bệnh luôn sẵn sàng giúp đỡ, đáp ứng yêu cầu
chính đáng của người bệnh
4,51 ± 0,63
Người bệnh được thông báo thời gian chờ nhận dịch vụ
4,47 ± 0,63
Các dịch vụ đều sẵn sàng phục vụ người bệnh một cách nhanh chóng
4,52 ± 0,61
Người bệnh luôn được sẵn sàng giúp đỡ
4,57 ± 0,60
Khía cạnh đáp ứng
4,52
Người bệnh đánh giá cao việc sẵn sàng phục vụ, hỗ trợ nhanh chóng, thông báo thời gian chờ.
Bảng 3. Điểm trung bình đánh giá dịch vụ khía cạnh đảm bảo
Nội dung
Đánh giá (điểm)
Sự riêng tư của người bệnh luôn được tôn trọng
4,59 ± 0,58
Bác sĩ khám bệnh tỉ mỉ cẩn thận
4,62 ± 0,56
Bác sĩ có trình độ chuyên môn tốt
4,66 ± 0,55
Nhân viên y tế có đủ kiến thức để giải đáp thắc mắc
4,59 ± 0,60
Khía cạnh đảm bảo
4,61
Khía cạnh đảm bảo có điểm cao nhất trong 5 khía cạnh, đặc biệt về chuyên môn và sự tôn trọng riêng tư. Mức độ
đồng thuận rất cao, phản ánh niềm tin mạnh vào đội ngũ y tế.

P.T.M. Dung et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 12, 300-305
304 www.tapchiyhcd.vn
Bảng 4. Điểm trung bình đánh giá dịch vụ khía cạnh cảm thông
Nội dung
Đánh giá (điểm)
Sự đồng cảm, cảm thông chia sẻ của nhân viên y tế
4,52 ± 0,63
Người bệnh được quan tâm chăm sóc, giải quyết khó khăn
4,51 ± 0,65
Người bệnh được đối xử tận tình chu đáo
4,58 ± 0,58
Thời gian khám chữa bệnh bố trí phù hợp
4,49 ± 0,65
Người bệnh dễ dàng gặp nhân viên y tế, trao đổi những khó khăn để được giải quyết
4,52 ± 0,65
4,52
Trong khía cạnh cảm thông, người bệnh đánh giá cao
sự chia sẻ, chăm sóc, thái độ tận tình. Có sự đồng thuận
cao, nhưng có thể nâng cao thêm ở yếu tố “thời gian
khám phù hợp”.
Bảng 5. Các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ y tế
Khía cạnh
Điểm trung bình
(tổng điểm)
Hữu hình
4,53
Tin tưởng
4,49
Đáp ứng
4,52
Đảm bảo
4,61
Cảm thông
4,52
Trung bình SERVPERF
4,53
Tất cả các khía cạnh đều đạt trên 4,49 điểm, tức là chất
lượng dịch vụ được đánh giá rất tốt.
4. BÀN LUẬN
Về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Giới tính có 154 nữ, 111 nam, tỷ lệ nữ/nam là 3/2. Điều
này phản ánh phần nào giới nữ quan tâm đến sức khỏe
hơn và có thời gian hơn để khám bệnh.
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 48,8 ± 17,7
tuổi (nhỏ nhất 18 tuổi, lớn nhất 90 tuổi), phù hợp với
độ tuổi lao động và nghỉ hưu khi đến khám tại Bệnh
viện Thống Nhất.
Trình độ học vấn: phần lớn bệnh nhân đến khám có
trình độ từ trung học phổ thông trở lên (86,4%) cho thấy
việc tiếp cận dễ dàng, nhận xét và đánh giá dịch vụ
khám chữa bệnh khách quan.
Nghề nghiệp thường gặp nhất là cán bộ, viên chức
(34,3%) bởi đặc thù khám chữa bệnh của Bệnh viện
Thống Nhất cũng như vị trí trung tâm thành phố Hồ Chí
Minh.
Tình trạng hôn nhân: đa số đã lập gia đình (64,2%).
Số lần khám từ lần 3 trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với
72,8%, cho thấy niềm tin đến khám chữa bệnh tại Bệnh
viện Thống Nhất.
Tình trạng kinh tế gia đình phần lớn có thu nhập ≤ 20
triệu đồng/tháng chiếm 88,7%, cho thấy Bệnh viện
Thống Nhất là nơi tin cậy cho nhiều đối tượng có nguồn
thu nhập ở mức trung bình thấp đến khám.
Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện thu thập số liệu với
hơn 100 bệnh nhân đến khám từ khoảng cách trên 10
km, cho thấy uy tín bệnh viện vượt trội hơn so với
khoảng cách địa lý.
Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim
Phụng tại Bệnh viện Nhân dân 115 và nghiên cứu của
Phạm Thị Bích Ngọc tại Bệnh viện E, khi nhóm công
chức, người có học vấn cao chiếm tỷ lệ lớn trong bệnh
nhân ngoại trú [6-7].
Về kết quả khảo sát chất lượng dịch vụ tại Khoa
Khám bệnh, Bệnh viện Thống Nhất
Khía cạnh hữu hình đạt điểm trung bình cao (4,53/5
điểm), phản ánh sự hài lòng của người bệnh với môi
trường khám bệnh, cơ sở vật chất và hình ảnh nhân viên
y tế. Đặc biệt, 58,6% người bệnh đánh giá mức độ tối
đa (5 điểm), không có đánh giá tiêu cực nào.
Khía cạnh tin tưởng đạt 4,49/5 điểm, trong đó đánh giá
cao nhất là niềm tin vào phương pháp điều trị và sự
quan tâm đến lo lắng của người bệnh, hơn 57% người
bệnh đánh giá mức cao nhất.
Với điểm trung bình 4,52/5 điểm, khía cạnh đáp ứng
cho thấy người bệnh hài lòng với khả năng hỗ trợ, phục
vụ nhanh và sự chủ động của nhân viên y tế. 58,3%
người bệnh phản hồi ở mức tối đa cho thấy sự nhất quán
trong cảm nhận.
Khía cạnh đảm bảo có điểm trung bình cao nhất (4,61/5
điểm). Người bệnh đánh giá cao sự chuyên nghiệp, tôn
trọng và trình độ của bác sĩ. Có 65,8% người bệnh chọn
mức tối đa cho thấy sự tin tưởng gần như tuyệt đối.
Điểm trung bình khía cạnh cảm thông là 4,52/5 điểm,
thể hiện sự đánh giá tích cực đối với sự quan tâm và
thái độ phục vụ của nhân viên y tế. 58,3% người bệnh
phản hồi mức tối đa, cho thấy kỳ vọng về sự gần gũi và
đồng cảm đã được đáp ứng.
Trong các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ y tế, khía
cạnh đảm bảo là cao nhất (4,61 điểm), phản ánh niềm
tin chuyên môn và sự an tâm. Điểm thấp nhất là “tin
tưởng” (4,49 điểm) nhưng vẫn cao hơn thang trung
bình.
Kết quả khảo sát toàn diện cho thấy chất lượng dịch vụ
tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Thống Nhất đạt mức
rất tốt với điểm trung bình 4,53/5 điểm. Điều này phản
ánh sự hài lòng gần như toàn diện của người bệnh trên

