www.tapchiyhcd.vn
268
฀ CHUYÊN ĐỀ LAO ฀
AN EXAMINATION OF INTERNET USAGE AMONG SECONDARY SCHOOL
STUDENTS IN BAC NINH PROVINCE AMID THE COVID-19 PANDEMIC
Nguyen Thanh Long1,2*, Tran Xuan Ngoc3,
Vu Thi My Hanh4, Pham Thi Nguyet Nga1,2, Nguyen Van Tuan1,2
1Department of Psychiatry, Hanoi Medical University – 1 Ton That Tung Street, Kim Lien Ward, Hanoi City, Vietnam
2National Institute of Mental Health, Bach Mai Hospital – 78 Giai Phong Street, Kim Lien Ward, Hanoi City, Vietnam
3Bac Ninh Mental Health Hospital – Than Khue Street, Da Mai Ward, Bac Ninh City, Vietnam
4Vietnam National Childrens Hospital – 18/879 La Thanh Street, Lang Ward, Hanoi City, Vietnam
Received: 05/09/2025
Revised: 26/09/2025; Accepted: 22/10/2025
ABSTRACT
After the COVID-19 pandemic, community lifestyles have undergone many changes. In
particular, students, after a long period of online learning at home, have become more
familiar with electronic devices connected to the Internet. This raises concerns about
Internet use among students, especially those in lower secondary (middle school) and
upper secondary (high school).
Objective: To assess the current situation of Internet use among middle and high school
students in Bac Ninh province.
Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 533
middle and high school students from 4 schools in Bac Ninh province, including 2 schools
in urban areas and 2 schools in rural areas, from October 2023 to April 2024, using the
CIAS scale to evaluate the level of Internet use.
Results: With a cut-off score of 63/64, the proportion of Internet addiction among female
students was 3.175 times higher than that of male students, and high school students
had a rate 1.901 times higher than middle school students, with statistically significant
results. Using a cut-off score of 57/58 also showed that female students and high school
students had higher rates of Internet addiction screening scores.
Conclusion: High school students are at higher risk of Internet addiction compared
to middle school students, and female students are at higher risk compared to male
students.
Keyword: COVID-19, Internet use, student.
*Corresponding author
Email: thanhlongnguyenhmu253@gmail.com Phone: (+84) 835446679 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD19.3716
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 268-273
269
N.T. Long et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 268-273
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INTERNET Ở HỌC SINH TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG TRUNG HỌC TỈNH BẮC NINH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI DỊCH COVID
Nguyễn Thành Long1,2*, Trần Xuân Ngọc3,
Vũ Thị Mỹ Hạnh4, Phạm Thị Nguyệt Nga1,2, Nguyễn Văn Tuấn1,2
1Bộ môn Tâm thần, Đại học Y Hà Nội – Số 1 Tôn Thất Tùng, P. Kim Liên, Tp. Hà Nội, Việt Nam
2Viện Sức khỏe Tâm Thần, Bệnh Viện Bạch Mai - Số 78 Giải Phóng, P. Kim Liên, Tp. Hà Nội, Việt Nam
3Bệnh viện Sức khỏe Tâm Thần Bắc Ninh - Thân Khuê, P. Đa Mai, Tp. Bắc Ninh, Việt Nam
4Bệnh viện Nhi Trung Ương- Số 18/879 La Thành, P. Láng, Tp. Hà Nội, Việt Nam
Ngày nhận: 05/09/2025
Ngày sửa: 26/09/2025; Ngày đăng: 22/10/2025
ABSTRACT
Sau đại dịch COVID, thói quen sinh hoạt trong cộng đồng có nhiều thay đổi, đặc biêt, học
sinh sau thời gian dài ở nhà học online, trở nên quen thuộc hơn với các thiết bị điện tử có
kết nối với Internet. Điều này làm dấy lên lo ngại về thực trạng sử dụng Internet của học
sinh, đặc biệt ở nhóm Trung học cơ sở và nhóm Trung học phổ thông.
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng sử dụng Internet học sinh THCS THPT khu vực Bắc
Ninh.
Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tả cắt ngang thực hiện trên 533
học sinh THCS và THPT tại 4 trường ở tỉnh Bắc Ninh, bao gồm 2 trường tại thành phố và 2
trường tại vùng nông thôn, trong thời gian tháng 10 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024, sử
dụng thang điểm CIAS đánh giá mức độ sử dụng Internet.
Kết quả: Với điểm cut off 63/64, nhóm nữ có tỷ lệ nghiện Internet cao gấp 3,175 lần nhóm
nam, nhóm học sinh cấp 3 có tỷ lệ nghiên Internet cao gấp 1,901 lần nhóm học sinh cấp 2,
kết quả có giá trị thống kê. Với điểm cut-off 57/58 cũng cho thấy tỷ lệ học sinh nữ và nhóm
học sinh cấp 3 có điểm sàng lọc nghiện Internet cao hơn.
Kết luận: Học sinh cấp 3 nguy cơ nghiện Internet cao hơn so với học sinh cấp 2, học sinh
nữ có nguy cơ nghiện Internet cao hơn so với học sinh nam.
Từ khóa: Covid-19, sử dụng Internet, học sinh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kể từ 20/10/2023, COVID-19 được phân nhóm bệnh
truyền nhiễm nhóm A sang nhóm B [1]. Điều này có
nghĩa bệnh COVID-19 trở thành một bệnh lây nhiễm
thông thường qua đường hấp, không còn nguy
hiểm như trước đây. Tuy nhiên COVID-19 ảnh hưởng
không chỉ vấn đề y tế, mà còn ảnh hưởng đến nhiều
khía cạnh cuộc sống khác. Trong thời buổi COVID,
các chương trình trực tuyến từ giải trí đến các hình
thức học tập Online phát triển rầm r, thói quen sử
dụng Internet của học sinh có sự thay đổi nhiều. Là
đất nước có tỷ lệ người dùng Internet khoảng ¾ dân
số, đứng thứ 13 thế giới. Theo báo cáo của UNICEF
về sử dụng Internet trem, tính tới tháng 8/2022,
có tới 82% trẻ em 12-13 có sử dụng Internet và 93%
đối với trẻ từ 14-15 tuổi [2]. Việc sử dụng Internet gây
hại được nhận thấy gia tăng nhanh trong độ tuổi học
sinh, điều này làm dấy lên lo ngại về thực trạng sử
dụng Internet của học sinh, đặc biệt nhóm Trung
học cơ sở và nhóm Trung học phổ thông, khi các em
sự chủ động tìm kiếm thông tin qua các phương
tiện khác nhau. Người sử dụng Internet quá mức có
nguy nghiện Internet[3,4], hay còn được gọi với
thuật ngữ: sdụng Internet bệnh [5]. Đây một
loại nghiện hành vi một vấn đề sức khỏe tâm
thần đang nhận được nhiều sự quan tâm trên thế
giới và trong nước[6]. Do vậy việc xác định đầy đủ về
thực trạng sử dụng Internet nhóm học sinh THCS
cần thiết. Qua đó giúp phát hiện sớm, can thiệp
kịp thời những rối loạn sử dụng Internet.
*Tác giả liên hệ
Email: thanhlongnguyenhmu253@gmail.com Điện thoại: (+84) 835446679 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD19.3716
www.tapchiyhcd.vn
270
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện trên 533 học sinh THCS
THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, từ tháng 10/2023
đến tháng 4/2024. trong đó 4 trường: 2 trường
THCS (1 trường ở thành phố, 1 trường ở nông thôn);
2 trường THPT (1 trường thành phố 1 trường
nông thôn). Với mỗi trường đều lấy đại diện một lớp
trong khối, tổng số lớp là 8 lớp THCS và 6 lớp THPT.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Học sinh gia đình đồng ý
tham gia vào nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh rối loạn các chức
năng giao tiếp ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tả
cắt ngang.
Công thức tính cỡ mẫu: ước lượng số lượng quần thể
dựa theo tỷ lệ:
n0=
Z2×p(1-p)
d2
+ n0: Cỡ mẫu tối thiểu (không tính điều chỉnh).
+ Z: Hệ số Z theo mức tin cậy , với độ tin cậy 95% thì
Z=1.96.
+ p: Ước lượng tỉ lệ (dự kiến) của tỉ lệ nghiện Internet.
Trong nghiên cứu này lấy p=0,82 theo số liệu
UNICEFF về tỷ lệ sử dụng Internet trẻ em 12-13
tuổi.
+ d: Sai số chấp nhận được.
Do vậy số mẫu cần dùng trong nghiên cứu cần tối
thiểu 226. Để đảm bảo đảm tính ngoại suy cho
nghiên cứu khi phân tầng, nhóm học sinh THCS
học sinh THPT, nhóm học sinh nữ học sinh nam
cần tối thiểu 226 học sinh. Trong nghiên cứu chúng
tôi lựa chọn được cỡ mẫu là 533 với số lượng học
sinh khi chia thành các nhóm nam- nữ; THCS-THPT
đáp ứng được yêu cầu tối thiểu cỡ mẫu.
2.3. Phân tích, xử số liệu: Các số liệu được phân
tích và xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0, dùng phép
kiểm định Chi-square và tính tỷ lệ.
2.4. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu không can
thiệp, đã được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y
Nội phê duyệt. Số giấy phép: 1226/GCN-HMUIRB.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu xã hội học (n=533)
Đặc điểm n%
Cấp học THCS 264 49,5
THPT 269 50,5
Tuổi trung bình 14,2±1,9
Giới Nam 262 49,2
Nữ 271 50,8
Nhận xét: Trong nghiên cứu, số học sinh nam và nữ
số lượng tương đương nhau, học sinh THPT
THCS có số lượng tương đồng.
3.2. Thực trạng sử dụng Internet học sinh Trung
học cơ sở và Trung học phổ thông
Biểu đồ 1. Điểm CIAS trung bình theo lớp
(n=533, CI 95%)
Nhận xét: Theo thang CIAS, mức độ sử dụng Internet
học sinh lớp 12 cao nhất, trung bình 54,24 điểm.
Trong nhóm cấp 2, điểm sử dụng Internet cao nhất
học sinh lớp 6, thấp nhất là học sinh lớp 7, kết luận
thông qua kiểm định ANOVA. Nhìn chung học sinh
cấp 3 sử dụng Internet nhiều hơn so với học sinh cấp
2 khi dùng phép so sánh t-test giữa 2 giá trị trung
bình giữa khối lớp THCS và THPT
N.T. Long et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 268-273
271
Biểu đồ 2. Phân bố điểm CIAS theo lớp và giới tính (n=533)
Nhận xét: Nhìn chung trong các lớp, nữ có điểm trung bình mức độ nghiện Internet cao hơn đáng kể so với
nam, trong đó nhóm có điểm nghiện Internet nhiều nhất là nữ học lớp 10,12. Nhóm điểm nghiện Internet ít
nhất là nam lớp 7,8.
Biểu đồ 3. Phân bố nhóm điểm CIAS dựa vào điểm cut-off (n=533)
Nhận xét: Khi so sánh tương quan các nhóm điểm
CIAS theo giới cấp học cho thấy cả điểm cut-off
với giá trị sàng lọc và giá trị chẩn đoán, nhóm nữ và
học sinh cấp 3 tỷ lệ nghiện Internet cao hơn. Đáng
chú ý là nếu dùng tháng CIAS với điểm cut-off 57/58
để sàng lọc thì hơn 1/3 số học sinh nữ nghiện
Internet khoảng ¼ số học sinh các cấp nghiện
Internet.
N.T. Long et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 268-273
www.tapchiyhcd.vn
272
Bảng 2. Mối liên quan giữa nghiện Internet theo
thang điểm CIAS (điểm cut-off 63/64) với giới và
cấp học (n=533)
Đặc
điểm
Nghiện
Internet
Không
nghiện
Internet OR
(95%CI) p
n%n%
Giới
Nữ 68 25,1 203 74,9 3,175 <
0,001
Nam 25 9,5 237 90,5
Cấp học
Cấp 3 59 21,9 210 78,1 1,901 0,006
Cấp 2 34 12,9 230 87,1
Nhận xét: Khi sử dụng điểm cut-off 63/64, nhóm nữ
mối liên quan với nghiện Internet cao gấp 3,175
lần nhóm nam, nhóm học sinh cấp 3 mối tương
quan với nghiện Internet cao gấp 1,901 lần nhóm
học sinh cấp 2, kết quả có giá trị thống kê.
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
- Đặc điểm nhân khẩu xã hội học:
- Tuổi: Nhóm tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu
14,2, nhóm tuổi khoảng giữa trong nhóm học
sinh từ lớp 6-12, chọn mẫu tương đối đồng đều
giữa các khối lớp.
- Giới: Số lượng học sinh nam nữ trong nghiên cứu
tương đồng với nhau.
4.2. Thực trạng nghiện Internet học sinh Trung
học cơ sở và trung học phổ thông
Mức độ nghiện Internet trung bình theo lớp: Biểu đồ
1 cho thấy điểm số nghiện Internet theo thang CIAS
theo nhóm tuổi, trong đó điểm trung bình cao nhất
học sinh lớp 12 là 54,24, sau đó là học sinh lớp 6 với
50,34. Học sinh lớp 7,8,9 có điểm trung bình nghiện
Internet ít nhất. Điều này cho thấy nhu cầu sử dụng
Internet học sinh cấp 3 cao nhất, xu hướng
tăng dần theo nhóm lớp. Điều khác biệt so với quy
luật chung học sinh lớp 6 xu hướng sử dụng
Internet nhiều nhất trong khối THCS, điều này có thể
giải bởi việc các em chưa cân bằng được việc sử
dụng Internet khi bước vào môi trường mới, cần sử
dụng nhiều hơn có thể trong những việc như: kết nối
bạn bè, chơi game, học tập,….
Mức độ nghiện Internet theo giới tính khối lớp:
Theo biểu đồ 2, điểm trung bình đánh giá nghiện
Internet của nữ cao hơn đáng kso với nam giới
gần như tất cả các khối lớp, trừ lớp 6. Học sinh THCS
độ phân bố điểm rộng hơn so với THPT cho thấy
nhu cầu sử dụng Internet của học sinh cấp 3 đồng
nhất hơn, không quá chênh lệch giữa các nhóm lớp,
đặc biệt là nhóm nữ cấp 3 có điểm sử dụng Internet
tương đối đồng đều thể hiện qua khoảng CI 95% cột
hiển thị tương đối ngắn hơn so với học sinh THCS.
Phân bố nhóm điểm CIAS dựa vào điểm cut-off:
Thang điểm đánh giá nghiện Internet Chen (Chen
Internet Addiction scale - CIAS) gồm 26 mục,
đánh giá mức độ các vấn đề liên quan đến sử dụng
Internet của nhân trong vòng 3 tháng gần đây. Mỗi
mục được đánh giá gồm 4 mức độ (1: không đúng với
tôi chút nào; 2: không đúng lắm với tôi; 3: Hầu như
đúng với tôi; 4: hoàn toàn đúng với tôi). Điểm kết quả
của thang điểm sẽ tổng điểm tất cả các mục, với
điểm tối thiểu 26 tối đa 104. Độ tin cậy bên
trong của thang đo và các phạm vi trong nghiên cứu
ban đầu nằm trong khoảng từ 0,79 đến 0,93. Theo
tiêu chuẩn DC-IA-A, điểm giới hạn 63/64 của CIAS
độ chính xác chẩn đoán cao nhất. Theo nghiên
cứu của Chih-Hung Ko cộng sự, điểm cắt 57/58
cho độ nhạy cao nhất để sàng lọc vấn đề nghiện
Internet ở người tr. [7,8]
Như vậy, với điểm cut-off 57/58 để sàng lọc nghiện
Interne thay điểm cut-off 63/64 với mục đích chẩn
đoán chính xác cao hơn, tỷ lệ học sinh nữ nghiện
Internet cao hơn so với nhóm nam.
Tương tự với nhóm học sinh THPT, dùng điểm
cut-off 57/58 hay 63/64 trên nhóm này đều cho kết
quả học sinh cấp 3 có tỷ lệ nghiên Internet cao hơn.
Đáng chú ý khi sàng lọc thang CIAS với điểm
cut-off 57/58, khoảng hơn ¼ số học sinh nói
chung đạt qua điểm nghiện Internet.
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ nhóm học sinh nghiện Internet
không nghiện Internet với điểm cut-off 63/64,
sự khác biệt ý nghĩa thống kê khi dùng phép
kiểm định χ2, tỷ lệ học sinh nữ liên quan tới nghiện
Internet cao gấp 3,175 lần nhóm nam, học sinh cấp
3 mối ơng quan với nghiện Internet cao gấp
1,901 lần nhóm học sinh cấp 2. Như vậy nhóm
nguy cơ nghiện Internet cao nhất có thể là nhóm nữ
học sinh cấp 3.
5. KẾT LUẬN
Khảo sát 533 học sinh THCS THPT sau đại dịch
COVID cho thấy tỷ lệ học sinh nghiện Internet theo
thang CIAS mức độ đáng báo động với 9,5% học
sinh cấp 2 21,9% học sinh cấp 3, trong đó tỷ lệ
học sinh nữ điểm số nghiện Internet chiếm tới
25,1%, học sinh nam chiếm 9,5%.
Học sinh cấp 3 có mối liên quan với nghiện Internet
cao hơn so với học sinh cấp 2, học sinh nữ mối
liên quan với nghiện Internet cao hơn so với học sinh
nam.
N.T. Long et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 268-273