CLIMATE CHANGE AND PUBLIC HEALTH: AWARENESS, ATTITUDE, AND
PRACTICES OF RURAL RESIDENTS IN NORTHERN VIETNAM
Nguyen Cam Tu1, Nguyen Thi Phuong Oanh1, Tran Quynh Anh1, Cao Thi Thu Ha1*
1Institute for Preventive Medicine and Public Health, Hanoi Medical University
Received 27/10/2025
Revised 27/11/2025; Accepted 25/02/2026
ABSTRACT
Objectives: To assess the knowledge, attitudes, and practices (KAP) regarding climate change and
its health impacts, and to analyze the correlation between attitudes and practices among rural
populations in Northern Vietnam in 2025.
Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted with 446 participants using a
structured questionnaire covering demographics and KAP dimensions. Descriptive statistics and
correlation analyses were employed to determine the relationships between variables.
Results: Findings revealed that 82.1% of participants had heard of climate change, primarily via
mass media (76.3%) and social networks (39.8%). Although 80.7% acknowledged the health risks
of climate change, only 54.9% could identify specific conditions such as vector-borne and non-
communicable diseases. Regarding attitudes, 72.9% expressed significant concern over health
impacts, and 76.9% advocated for relevant communication activities and policies. In terms of
practices, the most common actions were resource conservation (73.1%) and environmental
protection or waste management (67.6%). A significant positive correlation was observed between
attitude and practice scores (r = 0.56; p < 0.001), indicating that higher awareness and concern
drive proactive adaptation behaviors.
Conclusion: While basic awareness of climate change is high, adaptive and preventive practices
remain moderate. These results underscore the urgent need for enhanced community education
and the integration of health-centered climate communication strategies to bolster local resilience
and community engagement.
Keywords: climate change; public health; awareness; attitude; practices; rural population
256
*Corresponding author
Email: caothithuha@hmu.edu.vn Phone: (+84) 8860226007 Https://doi.org/10.52163/yhc.v67iCD2.4459
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, Special Issue 2, c
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG: KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ –
THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN MIỀN BẮC VIỆT NAM
Nguyễn Cẩm Tú1, Nguyễn Thị Phương Oanh1, Trần Quỳnh Anh1, Cao Thị Thu Hà1*
1 Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
Ngày nhận bài: 27/10/2025
Ngày chỉnh sửa: 27/11/2025; Ngày duyệt đăng: 25/02/2026
TÓM TT
Mục tiêu:tả kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về biến đổi khí hậu (BĐKH) ảnh hưởng của
nó đến sức khỏe; đồng thời phân tích mối liên quan giữa thái độ và thực hành của người dân nông
thôn miền Bắc Việt Nam năm 2025.
Đối ợng phương pháp: Nghiên cứu tả cắt ngang trên 446 đối tượng, sử dụng bộ câu hỏi
cấu trúc về nhân khẩu học các yếu tố KAP. Phân tích thống tả kiểm định tương quan
được áp dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến số.
Kết quả: 82,1% người dân từng nghe về BĐKH, chủ yếu qua truyền thông (76,3%) mạng hội
(39,8%). Dù 80,7% nhận thức được BĐKH ảnh hưởng đến sức khỏe, chỉ 54,9% xác định được các
bệnh cụ thể (bệnh truyền qua véc-tơ, bệnh không lây nhiễm). Về thái độ, 72,9% lo lắng về tác
động sức khỏe 76,9% ủng hộ các chính sách ứng phó. Về thực hành, các hành động phổ biến
nhất là tiết kiệm điện nước (73,1%) và bảo vệ môi trường (67,6%). Nghiên cứu ghi nhận mối tương
quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa thái độ và thực hành (r = 0,56; p < 0,001).
Kết luận: Nhận thức của người dân về BĐKH tương đối tốt nhưng hành vi thích ứng mới mức trung
bình. Kết quả nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết trong việc tăng cường giáo dục cộng đồng và lồng ghép
chiến lược truyền thông y tế - khí hậu để nâng cao năng lực ứng phó tại địa phương.
Từ khóa: biến đổi khí hậu; sức khỏe cộng đồng; nhận thức; thái độ; thực hành; Việt Nam
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang được xem một trong
những thách thức y tế công cộng lớn nhất của thế kỷ 21,
tác động sâu rộng đến môi trường, hệ sinh thái sức
khỏe con người trên toàn cầu. Theo T chức Y tế Thế
giới (WHO), BĐKH được dự báo sẽ gây ra thêm khoảng
250.000 ca tử vong mỗi năm trong giai đoạn 2030–2050
do suy dinh dưỡng, sốt rét, tiêu chảy stress nhiệt(1).
Các hiện tượng thời tiết cực đoan, như nắng nóng kéo
dài, bão lũ và hạn hán, ngày càng gia tăng ở khu vực Đông
Nam Á, đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực, nguồn
nước và sức khỏe cộng đồng.
Tại Việt Nam, quốc gia được đánh giá một trong năm
nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, tác động
này thể hiện rõ ở vùng nông thôn, nơi phần lớn dân cư sống
dựa vào nông nghiệp khả năng chống chịu hạn chế(2).
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng BĐKH góp phần làm gia
tăng tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết,
tiêu chảy, cúm mùa cũng như các bệnh không lây nhiễm
như tim mạch, hấp rối loạn tâm thần(3). Tuy nhiên,
mức độ hiểu biết, thái độ và hành vi ứng phó của người dân
nông thôn trước các tác động này vẫn chưa được nghiên
cứu sâu, đặc biệt là trong mối liên hệ giữa nhận thức – thái
độ – thực hành (KAP) về BĐKH và sức khỏe.
Hầu hết các nghiên cứu trong nước tập trung vào biến đổi
khí hậu khía cạnh môi trường hoặc chính sách ,
trong khi các bằng chứng định lượng về nhận thức hành
vi của cộng đồng nông thôn còn hạn chế. Việc hiểu rõ KAP
của người dân là cơ sở khoa học để xây dựng các chương
trình truyền thông, giáo dục sức khỏe và chiến lược thích
ứng cộng đồng hiệu quả hơn.
Từ bối cảnh trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tr
lời các câu hỏi:
Người dân nông thôn miền Bắc Việt Nam hiện mức độ hiểu
biết và thái độ như thế nào về biến đổi khí hậu và sức khỏe?
Các yếu tố nào liên quan đến thực hành ứng phó và thích
ứng của họ trước BĐKH?
Mục tiêu nghiên cứu:
tả kiến thức, thái độ, thực hành các yếu tố liên quan
về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến
sức khỏe của người dân tại vùng nông thôn miền Bắc Việt
Nam năm 2025.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
257
*Tác giả liên hệ
Email: caothithuha@hmu.edu.vn Điện thoại: (+84) 8860226009 Https://doi.org/10.52163/yhc.v67iCD2.4459
C. T. T. Ha et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, Special Issue 2, 256-260
2.2. Địa điểm thời gian nghiên cứu: 4/8/2025 10/8/2025
Địa điểm triển khai nghiên cứu: khu vực Bình An, Ninh Bình.
2.3. Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chuẩn lựa chọn: Hộ gia đình thành viên trên 18
tuổi đang ở nhà tại thời điểm điều tra viên ghé thăm, đang
trú tại địa bàn nghiên cứu trong thời gian khảo sát.
Đồng ý tự nguyện tham gia và trả lời đầy đủ bảng hỏi.
Tiêu chuẩn loại trừ: Hộ vắng nhà trong thời gian điều tra.
Không đồng ý tham gia hoặc bỏ trống quá 20% câu hỏi
trong bảng hỏi.
2.4. Cỡ mẫu, chọn mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ
trong quần thể:
n =Z2
1-α/2 x p(1 - p)
d2
Trong đó:
ng với mức tin cậy 95% là sai số cho phép.
(giả định tỷ lệ người dân có hiểu biết đúng về BĐKH là 50%
để đạt cỡ mẫu lớn nhất).
Cỡ mẫu tối thiểu tính được 384 người. Cộng thêm
15% để dự trù cho các trường hợp mất mẫu. Như vậy cỡ
mẫu cần có là 442 hộ gia đình. Trên thực tế, chúng tôi thu
thập được 460 phiếu trả lời, sau khi làm sạch thì loại 14
phiếu không đủ thông tin, thì được cỡ mẫu cuối cùng
446 hộ gia đình.
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
từ danh sách hộ gia đình của Bình An, mỗi hộ chọn 1
người đại diện để phỏng vấn.
2.5. Biến số/ chỉ số/ Nội dung/ chủ đề nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung vào bốn nhóm biến chính:
Đặc điểm nhân khẩu học: giới, tuổi, nghề nghiệp, trình độ
học vấn.
Kiến thức: mức độ từng nghe về BĐKH, nguồn thông tin,
nguyên nhân, hậu quả tác động của BĐKH đến sức
khỏe, cây trồng, vật nuôi, kinh tế.
Thái độ: mức độ quan tâm, lo lắng nhận thức về tầm
quan trọng của ứng phó BĐKH, sự cần thiết của truyền
thông và chính sách hỗ trợ.
Thực hành: hành vi tiết kiệm điện, nước, phân loại rác, sử
dụng sản phẩm thân thiện môi trường, truyền thông
tham gia hoạt động cộng đồng.
Cuối cùng, nghiên cứu mô tả mối liên quan giữa thái độ
thực hành trong ứng phó với BĐKH.
2.6. Kỹ thuật, công cụ và quy trình thu thập số liệu:
Công cụ: Bộ câu hỏi cấu trúc sẵn gồm 4 phần ơng ứng
với 4 nhóm biến nêu trên, được nhóm nghiên cứu xây
dựng dựa trên tài liệu của WHO và Bộ Y tế Việt Nam.
Hình thức thu thập: Phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình bởi
điều tra viên được tập huấn.
Quy trình: (1) Xin phép chính quyền xã; (2) Lập danh sách
và chọn mẫu; (3) Phỏng vấn người dân; (4) Kiểm tra và làm
sạch dữ liệu.
2.7. Xử lý và phân tích số liệu:
Dữ liệu được nhập quản bằng phần mềm EpiData
3.1, sau đó được kiểm tra, làm sạch mã hóa trước khi
phân tích. Các phân tích thống được thực hiện bằng
phần mềm R (phiên bản 4.3.1).
Các biến định tính được trình bày dưới dạng tần suất và tỷ
lệ phần trăm, còn các biến định lượng được tả bằng
giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
Để đánh giá mối liên quan giữa thái độ thực hành ứng
phó với biến đổi khí hậu, nghiên cứu sử dụng hệ số tương
quan Spearman thông qua gói stats trong R. Kết quả cho
thấy mối tương quan thuận mức trung bình (r = 0,55) và
ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
2.8. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được Hội đồng của
Viện Đào tạo Y học dự phòng Y tế công cộng, Trường
Đại học Y Nội xem xét chấp thuận. Tất cả người
tham gia đều được giải thích mục tiêu nghiên cứu, đảm
bảo tự nguyện, ẩn danh, bảo mật thông tin và chỉ sử dụng
dữ liệu cho mục đích khoa học.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
(n = 446)
Đặc điểm Phân nhóm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 184 41,3
Nữ 262 58,7
Nhóm tuổi (năm)
< 30 34 7,6
30 – 44 118 26,5
45 – 59 146 32,7
≥ 60 148 33,2
Trình độ học vấn
Không có bằng cấp 12 2,7
Tiểu học 36 8,1
THCS 235 52,7
THPT 146 32,7
Trung học CN trở lên 17 3,8
Nghề nghiệp
chính
Làm ruộng/nương rẫy 180 40,4
Công nhân/làm thợ 104 25,3
Buôn bán/kinh doanh 54 12,1
Công chức/viên chức 20 4,5
Nội trợ 23 5,2
Nghỉ hưu 42 9,4
Khác 23 5,2
Trong 446 người tham gia, nữ giới chiếm ưu thế (58,7%).
Nhóm tuổi lao động chính (30–59 tuổi) chiếm đa số với
64%. Về học vấn, trên 85% có trình độ từ trung học cơ sở
trở lên. cấu nghề nghiệp tập trung vào nông nghiệp
(40,4%), tiếp theo là công nhân (25,3%) kinh doanh
(12,1%), phản ánh đặc thù kinh tế nông thôn miền Bắc
dựa trên nông nghiệp và lao động thủ công.
258
C. T. T. Ha et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, Special Issue 2, 256-260
Bảng 2. Nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu và
các tác động đến sức khỏe (n = 446)
Nội dung Phân nhóm / Đối tượng Số lượng
(n) Tỷ lệ
(%)
Đã từng nghe nói
về biến đổi khí hậu
367 82,1
Không 80 17,9
Nguồn thông tin
về BĐKH
Phương tiện truyền thông
đại chúng 341 76,3
Mạng xã hội 178 39,8
Sách/Báo/Tạp chí 122 27,3
Tập huấn/Hội thảo 17 3,8
Không biết 3 0,7
Nhận thức về tác
động của BĐKH
Sức khỏe con người 360 80,7
Cây trồng 261 58,5
Vật nuôi 222 49,8
Môi trường 217 48,7
Kinh tế 165 37,0
Không biết 16 3,6
Đa số người dân xã Bình An có nhận thức về biến đổi khí hậu
(BĐKH), với 82,1% từng nghe thông tin, chủ yếu qua truyền
thông (76,3%) và mạng xã hội (39,8%), trong khi tập huấn chỉ
chiếm 3,8%. Khoảng 80,7% nhận thức được tác động của
BĐKH đến sức khỏe; tỷ lệ nhận diện ảnh hưởng đến cây trồng,
vật nuôi và môi trường lần lưt là 58,5%, 49,8% và 48,7%. Tuy
nhiên, chỉ 37% người dân nhận thấy tác động về kinh tế.
Biểu đồ 1. Nguồn thông tin người dân tiếp cận về biến
đổi khí hậu (n = 446)
Biểu đồ 1 cho thấy phương tiện truyền thông đại chúng là
nguồn thông tin chính người dân tiếp cận về biến đổi
khí hậu (76,3%), tiếp theo là mạng xã hội (39,8%) và sách/
báo/tạp chí (27,3%). Tỷ lệ người tiếp cận thông tin qua các
hình thức tập huấn hoặc hội thảo còn rất thấp (3,8%).
Biểu đồ 2. Mức độ quan tâm của người dân đến biến đổi
khí hậu và sức khỏe (n = 446)
Biểu đồ 2 cho thấy đa số người dân quan tâm đến biến
đổi khí hậu (72,9%) sức khỏe (71,3%). Tổng tỷ lệ quan
tâm đạt trên 70%, trong khi sự chênh lệch, khoảng 25%
“không ý kiến”.
Bảng 3. Một số thực hành ứng phó với biến đổi khí hậu
(n = 446)
Hành vi
Luôn
luôn
(%)
Thường
xu yên
(%)
Thỉnh
thoảng
(%)
Hiếm khi/
Không
bao giờ
(%)
Tiết kiệm điện, nước 20,9 52,2 20,4 6,5
Phân loại rác trước
khi thải bỏ 11,4 31,6 36,8 20,2
Dùng túi giấy, túi vải
thay túi nilon 3,8 18,2 33,9 44,1
Tham gia hoạt động
bảo vệ môi trường 10,5 26,5 35,4 27,6
Bảng 3 cho thấy mức độ thực hành ứng phó BĐKH của
người dân xã Bình An chưa đồng đều. Tiết kiệm điện, nước
hành vi phổ biến nhất với 73,1% thực hiện thường xuyên.
Ngược lại, việc phân loại rác và tham gia bảo vệ môi trường
còn hạn chế, chỉ đạt khoảng 40–45%. Đáng chú ý, thói
quen sử dụng túi giấy/vải thay túi nilon tỷ lệ thấp nhất,
với 44,1% hiếm khi hoặc không bao giờ thực hiện.
Bảng 4. Mối tương quan giữa thái độ và thực hành ứng
phó BĐKH
Biến số Hệ số tương quan (r) p-value
Thái độ – Thực hành 0,56 < 0,001
Kết quả phân tích ghi nhận mối tương quan thuận mức
độ trung bình giữa thái độ thực hành ứng phó với biến
đổi khí hậu ($r_s = 0,551$), ý nghĩa thống kê cao ($p <
0,001$). Những người có điểm thái độ cao hơn đồng thời
có xu hướng thực hiện nhiều hành vi ứng phó BĐKH hơn.
4. BÀN LUẬN
Phần lớn người dân tại Bình An đã từng nghe nói về “Biến
đổi khí hậu (BĐKH)” (82,1 %) hơn 80 % nhận biết rằng
BĐKH tác động đến sức khỏe con người. Về mặt kiến thức,
kết quả này tương đối tích cực, phù hợp với những nghiên
cứu trước tại Việt Nam khu vực cho thấy mức độ nhận
thức ban đầu về BĐKH cộng đồng xu hướng gia tăng.
Một nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy người dân thường bị
xem thiếu kiến thức năng lực để ứng phó với các tác
động khí hậu do cơ chế tham gia cộng đồng còn hạn chế.(4)
Sự phù hợp này cho thấy nỗ lực truyền thông và giáo dục
về khí hậu trên địa bàn nông thôn thể đã hiệu quả
bước đầu. Tuy nhiên, khi xem xét sâu hơn các chỉ số thái
độ thực hành, mẫu khảo sát của chúng tôi cho thấy
mặc hơn 70 % người tham gia hai mức “rất quan
tâm“quan tâm”, nhưng tỷ lệ “luôn luôn” thực hiện các
hành vi ứng phó vẫn thấp (ví dụ tiết kiệm điện-nước chỉ
~20,9 %) nhiều hành vi như sử dụng túi vải thay nilon
tới 44 % người báo cáo “hiếm khi/không bao giờ”. Điều này
chỉ ra rằng nhận thức chỉ bước đầu; không tự động
259
C. T. T. Ha et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, Special Issue 2, 256-260
chuyển hóa thành hành động bền vững, giống như các
nghiên cứu KAP khác đã chỉ ra rằng kiến thức cao không
nhất thiết dẫn tới thực hành tốt.(5)
Việc chúng tôi xác định được mối tương quan đáng kể giữa
thái độ thực hành (r = 0,55; p < 0,001) phản ánh đúng
cấu trúc lý thuyết của mô hình KAP: nhận thức ảnh hưởng
tới thái độ, thái độ tiếp tục ảnh hưởng đến thực hành. Điều
này cũng phù hợp với nghiên cứu tại Kenya cho thấy kiến
thức môi trường đóng vai trò trung gian quan trọng trong
việc hình thành hành vi công dân môi trường”.(6)
Mối ơng quan thuận giữa thái độ và thực hành (r = 0,55;
p < 0,001) củng cố mạnh mẽ thuyết về sự tác động của
tâm đến hành vi thích ứng. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành
‘luôn luôn’ đối với một số hành vi bảo vệ môi trường vẫn
còn khiêm tốn. Đáng lưu ý, kết quả tự khai báo về các hành
vi tích cực (như tiết kiệm điện, nước) thể chịu ảnh hưởng
nhất định của sai lệch do mong muốn xã hội, khi người dân
xu hướng báo cáo tần suất thực hiện cao hơn thực tế để
phù hợp với các chuẩn mực cộng đồng. Để thu hẹp khoảng
cách này, các chiến lược can thiệp không nên chỉ dừng lại
ở truyền thông thông tin thuần túy mà cần được cụ thể hóa
thông qua việc tích hợp nội dung BĐKH sức khỏe vào
hoạt động của các tổ chức đoàn thể địa phương như Hội
Phụ nữ và Hội Nông dân. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của
mạng lưới y tế sở trong việc vấn hướng dẫn trực
tiếp các biện pháp bảo vệ sức khỏe thích ứng với điều kiện
khí hậu cực đoan tại địa phương, từ đó chuyển hóa thái độ
tích cực thành những hành động thực tiễn bền vững.
Nghiên cứu cũng gặp phải một số hạn chế cần lưu ý. Thứ
nhất, do thiết kế cắt ngang, dữ liệu chỉ phản ánh tại thời
điểm khảo sát không cho phép xác định mối quan hệ
nhân quả giữa kiến thức-thái độ-thực hành. Thứ hai, đối
tượng nghiên cứu tập trung tại một xã nông thôn miền Bắc
nên khả năng khái quát hóa ra các vùng khác (vùng miền
núi, ven biển hoặc đô thị) còn hạn chế. Thứ ba, các hành
vi báo cáo tự khai báo, có thể chịu ảnh hưởng của hiệu
ứng người được hỏi biết đang được khảo sát (Hawthorne
effect) hoặc ghi nhớ không chính xác. Để khắc phục các
hạn chế này, các nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng thiết kế
dọc/longitudinal, mở rộng mẫu qua nhiều vùng địa lý khác
nhau bổ sung quan sát hành vi thực tế hoặc đo lường
hành vi qua thời gian để xác định hơn chuyển hóa từ
nhận thức sang hành động. Đồng thời, nghiên cứu thể
kết hợp thành phần can thiệp truyền thông và giáo dục, và
đánh giá trước-sau để kiểm định hiệu quả thay đổi thái độ
thực hành. Ngoài ra, do là nghiên cứu cắt ngang, nghiên
cứu này chỉ phản ánh thực trạng tại thời điểm khảo sát,
chưa ghi nhận biến động theo mùa vụ hay thiên tai. Vì vậy,
các nghiên cứu tương lai nên thiết kế khảo sát lặp lại hoặc
nghiên cứu dọc để đánh giá sự thay đổi KAP theo thời gian.
Tóm lại, kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng cộng đồng
nông thôn miền Bắc Việt Nam đã mức nhận biết
thái độ tương đối tốt về BĐKH và sức khỏe, nhưng vẫn còn
khoảng cách giữa thái độ thực hành ứng phó. Việc phát
triển các chiến lược truyền thông tập trung không chỉ vào
kiến thức mà còn vào thái độ hành động và năng lực thực
thi là điều cần thiết để thúc đẩy hành vi ứng phó chủ động
và bền vững trước biến đổi khí hậu.
5. KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng kiến thức, thái độ thực
hành (KAP) của người dân nông thôn miền Bắc Việt Nam
về biến đổi khí hậu và tác động đến sức khỏe cộng đồng.
Kết quả cho thấy phần lớn người dân đã nhận thức
bản và thái độ tích cực, tuy nhiên hành vi ứng phó thực tế
còn hạn chế. Mối tương quan giữa thái độ và hành vi nhấn
mạnh vai trò của nhận thức và cảm nhận rủi ro trong việc
hình thành hành vi bảo vệ môi trường và sức khỏe.
Để tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng, cần thúc
đẩy các chương trình truyền thông giáo dục về biến đổi
khí hậu gắn với sức khỏe, chú trọng thay đổi hành vi và huy
động sự tham gia của chính quyền, tổ chức đoàn thể và y tế
cơ sở. Việc lồng ghép nội dung sức khỏe khí hậu vào chính
sách phát triển địa phương đào tạo cán bộ y tế cộng
đồng sẽ góp phần nâng cao năng lực ứng phó và giảm thiểu
tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe người dân.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Organization WH, Bank TW. Tracking universal health
coverage: 2023 global monitoring report. World Health
Organization; 2023. 156 p.
[2] Tran Thuc, Nguyen Van Thang, Huynh Thi Lan Huong,
Mai Van Khiem, Nguyen Xuan Hien, Doan Ha Phong.
Climate change and sea level rise scenarios for Viet
Nam: Summary for policymakers. Hanoi: Ministry of
Natural Resources and Environment; 2016. Available
from: https://imh.ac.vn/files/doc/KichbanBDKH/CCS_
SPM_2016.pdf. Accessed 2025 Dec 25.
[3] Linh Tran NQ, Cam Hong Le HT, Pham CT, Nguyen XH,
Tran ND, Thi Tran TH, et al. Climate change and human
health in Vietnam: a systematic review and additional
analyses on current impacts, future risk, and adaptation.
Lancet Reg Health - West Pac. 2023 Nov 1;40:100943.
[4] Le VTH, Tran TA, Rola-Rubzen MF. How subjectivities and
subject-making influence community participation in
climate change adaptation: the case of Vietnam. Clim
Change. 2023 Nov 11;176(11):156.
[5] Rehman T, Bandh SA, Peerzada M, Bashir S, Hoang
A. Knowledge, perception and attitude in relation to
climate change: a cross-sectional survey [preprint].
Research Square; 2021. doi:10.21203/rs.3.rs-433071/
v1. Available from: https://www.researchsquare.com/
article/rs-433071/v1. Accessed 2025 Oct 26.
[6] Maumoh I, Yindi EH. Understanding the Farmers,
Environmental Citizenship Behaviors Towards
Climate Change. The Moderating Mediating Role of
Environmental Knowledge and Ascribed Responsibility
[Internet]. arXiv; 2021 [cited 2025 Oct 26]. Available
from: http://arxiv.org/abs/2102.12378
260
C. T. T. Ha et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 67, Special Issue 2, 256-260