
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 479 - THÁNG 6 - SỐ 1 - 2019
123
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ TRÊN BỆNH NHÂN
BỊ ĐỨT HOÀN TOÀN VÀ GẦN HOÀN TOÀN 1/3 DƯỚI CẲNG TAY VÀ
CỔ TAY TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Hiếu Liêm2, Trần Công Tường1
TÓM TẮT33
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển
của xã hội về mọi mặt, các tổn thương đứt hoàn toàn
và gần hoàn toàn cẳng tay và bàn tay cũng tăng theo.
Đây là một tổn thương rất nặng đối với bệnh nhân.
Tổn thương nặng hơn nếu chi bị đứt không được khâu
nối hoặc khâu nối không hoàn hảo. Mục tiêu: Khảo
sát đặc điểm lâm sàng và điều trị trên bệnh nhân bị
đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn 1/3 dưới cẳng tay và
cổ tay tại bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành
phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca được
chẩn đoán bị đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn ở 1/3
dưới cẳng tay và cổ tay, có đầy đủ hồ sơ bệnh án
nghiên cứu và được điều trị nối chi đứt. Bệnh nhân
được đánh giá đặc điểm lâm sàng, đặc điểm điều trị.
Kết quả: 34 bệnh nhân bị đứt hoàn toàn, gần hoàn
toàn vị trí 1/3 dưới cẳng tay và cổ tay đã được phẫu
thuật tại bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành
phố Hồ Chí Minh từ 01/2008 đến 06/2012. Bệnh nhân
nam chiếm 91,2%. 23 trường hợp đứt hoàn toàn và
11 đứt gần hoàn toàn. Tỉ lệ của chi sống hoàn toàn 33
bệnh nhân, chiếm 97,1%, hoại tử một phần da có 1
bệnh nhân, chiếm 2,9%. Kết luận: Áp dụng kỹ thuật
vi phẫu, khâu nối chi đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn
ở vị trí 1/3 dưới cẳng tay và cổ tay cho kết quả thành
công hoàn hảo.
Từ khóa:
Đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn; 1/3
dưới cẳng tay; Cổ tay.
SUMMARY
EVALUATE THE CLINICAL AND THERAPEUTIC
CHARACTERISTIC IN PATIENTS WITH TOTAL
AND NEARLY TOTAL AMPUTATION OF ONE-
THIRD LOWER FOREARMS AND WRISTS
TREATED AT HO CHI MINH CITY ORTHOPEDIC
AND TRAUMA HOSPITAL
In recent years, along with the development of
society in all aspects, total and nearly total amputation
of one-third lower forearms and wrists also increase.
This is a very serious injury to the patient, especially
cases treated incorrectly. Objectives: Evaluate the
clinical and therapeutic characteristics in patients with
total and nearly total amputation of one-third lower
forearms and wrists at the orthopedic hospital in Ho
1Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình, TP. Hồ Chí Minh
2Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ
Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Hiếu Liêm
Email: drliempham@pnt.edu.vn
Ngày nhận bài: 27.3.2019
Ngày phản biện khoa học: 22.5.2019
Ngày duyệt bài: 28.5.2019
Chi Minh city. Materials and methods: cases report of
patients diagnosed total and nearly total amputation
of one-third lower forearms and wrists, with complete
medical records and research data. Patients were
evaluated for clinical characteristics and treatment
characteristics. Results: 34 patients included in the
research were operated at Ho Chi Minh city
Orthopedic Trauma Hospital from 01/2008 to
06/2012. Male patients accounted for 91.2%. 23 cases
were completely amputation and 11 were nearly
complete. The survival rate was 97.1% (33 patients),
partial skin necrosis 1 patient, accounting for 2.9%
Conclusions: Applying microsurgical techniques, the
amputated limb could be treated successfully.
Keywords:
Total and nearly total amputated limb;
One-third lower forearms; Wrists.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, về phương diện
nền kinh tế, các ngành công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp đã có nhiều phát triển. Tuy vậy, các
biện pháp an toàn lao động nhất là tại các cơ sở
sản xuất nhỏ chưa đáp ứng được yêu cầu; về
phương diện giao thông, do sự quá tải cũng như
các biện pháp an toàn giao thông chưa đáp ứng
đầy đủ; về phương diện xã hội, các tranh chấp
tệ nạn vẫn chưa cải thiện. Trong điều kiện như
vậy, các tai nạn lao động, giao thông, sinh hoạt
đưa đến các tổn thương đứt hoàn toàn và gần
hoàn toàn cẳng tay và bàn tay thường xuất hiện.
Ở vị trí 1/3 dưới cẳng tay, cổ tay, rất nhiều các
mô quan trọng (gân, mạch máu, thần kinh,
khớp, xương) là nơi tiếp giáp giữa cơ và gân cơ.
Các mô quan trọng này lại chỉ được che phủ,
bảo vệ bởi lớp da và mô dưới da mỏng. Trước
đây các tổn thương như vậy thường được xử trí
bằng cách đoạn chi, khâu mỏm cụt. Từ năm
1960, Jacobson khai sinh ra ngành vi phẫu thuật
[2] đến nay việc ứng dụng kỹ thuật vi phẫu khâu
nối mạch máu, thần kinh cho việc phục hồi cấu
trúc giải phẫu chi đứt hoàn toàn và gần hoàn
toàn khá chính xác và đầy đủ. Việc khâu nối chi
đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn đòi hỏi phải
phục hồi các cấu trúc xương, gân cơ, mạch máu,
thần kinh. Trên cơ sở đó, phục hồi lại được chức
năng của phần chi đứt hoàn toàn và gần hoàn
toàn. Riêng tổn thương đứt hoàn toàn hoặc gần
hoàn toàn tại vị trí 1/3 dưới cẳng tay, cổ tay,
nếu không được khâu nối hoặc khâu nối không
hoàn hảo, sẽ để lại di chứng nặng nề ảnh hưởng
không chỉ ở mức độ cá nhân của bệnh nhân như

vietnam medical journal n01 - JUNE - 2019
124
mất khả năng lao động, tự ti, mặc cảm mà còn
ảnh hưởng đến gia đình và toàn thể xã hội.
Trong báo cáo này, chúng tôi khảo sát đặc điểm
lâm sàng và điều trị ở bệnh nhân đứt hoàn toàn
và gần hoàn toàn 1/3 dưới cẳng tay và cổ tay tại
bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Thành phố
Hồ Chí Minh.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hàng loạt
các trường hợp bệnh.
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân bị
đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn ở 1/3 dưới cẳng
tay và cổ tay nhập bệnh viện Chấn thương Chỉnh
hình thành phố Hồ Chí Minh.
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng
01/2008 đến 06/2012.
2.4 Tiêu chuẩn chọn mẫu:
-
Tiêu chuẩn nhận bệnh:
Được chẩn đoán bị
đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn ở 1/3 dưới cẳng
tay và cổ tay; Đầy đủ hồ sơ bệnh án nghiên cứu.
Được điều trị nối chi đứt.
-
Tiêu chuẩn loại trừ:
Thiếu dữ liệu nghiên
cứu; Chi tổn thương bị dập nát, chỉ số M.E.S.S
từ 9 điểm trở lên, không có chỉ định khâu nối
chi. Thời gian thiếu máu nóng trên 6 giờ, thời
gian thiếu máu lạnh trên 12 giờ.
2.5 Phương pháp thu thập số liệu: Thu
thập số liệu theo bệnh án nghiên cứu.
2.6 Biến số nghiên cứu:
- Biến số chung: tuổi, giới.
- Đặc điểm tổn thương: Nguyên nhân tổn
thương; Đứt hoàn toàn hay gần hoàn toàn.
- Đặc điểm điều trị: Kỹ thuật khâu nối chi;
Biến chứng sau mổ nếu có (nhiễm khuẩn, chảy
máu, tụ dịch…).
2.7 Phân tích và xử lý số liệu: Tất cả số
liệu được mã hóa, nhập và phân tích dựa vào
phần mềm STATA 13.
2.8 Kỹ thuật khâu nối chi
- Chuẩn bị bệnh nhân: Chuẩn bị tâm lý
bệnh nhân, giải thích về cuộc phẫu thuật. Bệnh
nhân nằm ngửa, vai dang 90 độ, cẳng tay ngửa.
Trong lúc nhóm gây mê chuẩn bị vô cảm cho
bệnh nhân, nhóm phẫu thuật viên xử lý phần chi
đứt hoàn toàn như rửa chi bằng bàn chải rửa tay
của phẫu thuật viên với nước rửa vô khuẩn, sát
khuẩn bằng dung dịch betadin, cắt lọc các mô bị
bầm dập, bộc lộ vết thương, bóc tách và đánh
dấu động mạch, tĩnh mạch tùy hành của bó
mạch quay, trụ, thần kinh trụ, thần kinh giữa,
nhánh cảm giác của thần kinh quay, từ 3 đến 5
tĩnh mạch lớn ở mặt sau cẳng tay, cổ tay. Khâu
mũi chờ các gân bằng chỉ nylon 4.0 theo phương
pháp Tazima hoặc Kessler. Cắt ngắn xương trụ
và xương quay từ 0,5 - 1cm, hoặc hơn nếu vị trí
tổn thương bị bầm dập nhiều.
- Kỹ thuật mổ: Garrott hơi 250 mmHg mỗi
60 phút, xả garrott 15 phút. Kết hợp xương có
thể bằng nẹp vít hoặc bằng kim Kirschner, chỉ
thép, khâu dây chằng bằng chỉ vicryl. Bệnh nhân
đến sớm trước 6 giờ, nối gân cơ trước, rồi sau
đó khâu nối động mạch trụ, động mạch quay,
tĩnh mạch tùy hành, các tĩnh mạch lớn ở mặt sau
cẳng tay, cổ tay theo quy luật một động mạch
và hai tĩnh mạch có kích thước tương đương [6].
Khâu mạch máu theo kỹ thuật Cobbett, bằng chỉ
nylon hoặc chỉ prolene 7.0, 8.0, 9.0, 10.0. Khâu
nối thần kinh theo phương pháp bao ngoài bao
bó sợi bằng chỉ nylon 7.0, 8.0, 9.0.3,4. Mở kẹp
động mạch trước, để xả máu ứ động ở chi đứt
hoàn toàn, sau đó mở kẹp tĩnh mạch. Trước khi
mở kẹp mạch máu, chúng tôi sử dụng Heparin
tiêm tĩnh mạch với liều 50UI đến 100UI trên 1
kg cân nặng 1. Khâu da hoàn toàn nếu vùng vết
thương không căng gây chèn ép mạch máu,
hoặc để hở một phần da.
- Theo dõi hậu phẫu:
- Không được chèn ép vùng khâu nối mạch máu.
- Kê cao chi khoảng 10- 20 cm.
- Sưởi đèn 50-100W, khoảng cách 30 - 40 cm
thời gian 5 ngày.
- Theo dõi ở giai đoạn hậu phẫu mỗi 2 giờ
một lần trong 24 giờ đầu, màu sắc, nhiệt độ,
nhấp nháy móng, phù nề, có chèn ép mạch máu
khâu nối hay không.
- Thuốc sử dụng:
• Thuốc giảm đau, chống phù nề, và kháng sinh.
• Dịch truyền cao phân tử để giữ lòng mạch,
500ml mỗi ngày cho bệnh nhân cân nặng từ
50kg đến 70kg trong 5 ngày.
• Thuốc chống kết tập tiểu cầu, bệnh nhân
được sử dụng Aspegic 100mg đến 500mg mỗi
ngày, Calciparine tiêm dưới da liều 50 UI đến
100UI cho mỗi kg cân nặng mỗi ngày trong 10
ngày 156
- Cắt chỉ muộn sau 2 tuần.
- Giữ nẹp bột 3 tuần.
- Tập cử động cổ tay và các ngón, sử dụng
sóng siêu âm tách dính gân, kích thích điện TK
sau 3 tuần.
- Điều trị biến chứng nhiễm khuẩn nếu có.
2.7 Các tiêu chuẩn đánh giá:
- Tiêu chuẩn đánh giá mức độ sống của chi
được khâu nối: Bàn tay và các ngón tay đều hồng
ấm, dấu hiệu nhấp nháy da, móng dưới 2 giây.
- Sống toàn bộ: Chi được khâu nối sống toàn
bộ không bị hoại tử vùng nào.
- Hoại tử một phần hoặc một vùng chi được
khâu nối.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 479 - THÁNG 6 - SỐ 1 - 2019
125
- Hoại tử hoàn toàn: Hoại tử toàn bộ chi khâu nối.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu
- 34 bệnh nhân bị đứt hoàn toàn, gần hoàn
toàn, vị trí 1/3 dưới cẳng tay và cổ tay đã được
phẫu thuật tại bệnh viện Chấn thương Chỉnh
hình thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó có 31
bệnh nhân nam, chiếm 91,2% và 3 bệnh nhân
nữ, chiếm 8,8%.
- Tuổi nhỏ nhất là 7 tuổi, tuổi lớn nhất là 46
tuổi. Tuổi bị tai nạn nhiều nhất từ 15 đến 30
tuổi, 23 người (chiếm 67,65%).
3.2 Phân loại tổn thương và nguyên nhân
Bảng 1: Phân loại tổn thương và nguyên nhân
Loại tổn thương
Đứt hoàn toàn
Đứt gần hoàn toàn
23 (67,65%)
11 (32,35%)
Vị trí tổn thương
Vị trí tổn thương
1/3 dưới cẳng tay
Cổ tay
1/3 dưới cẳng tay
Cổ tay
7 (20,59%)
16 (47,06%)
7 (20,59%)
4 (11,76%)
Tay
tổn
thương
Tay
trái
Nguyên
nhân
Máy cưa
2
1
1
1
Máy dập
0
0
0
0
Sắc gọn
1
3
2
2
Khác
0
1
2
0
Tay
phải
Nguyên
nhân
Máy cưa
2
3
0
0
Máy dập
0
0
2
0
Sắc gọn
1
6
0
1
Khác
1
2
0
0
3.3 Các phương pháp điều trị
Bảng 2: Các phương pháp điều trị
Phương pháp điều trị
Số bệnh
nhân
%
Kết hợp xương (KHX)
Hai nẹp
3
8.8
Một nẹp và đinh
4
11.8
Không KHX (khâu dây chằng)
4
11.8
Đinh
23
67.6
Mạch máu được khâu nối
Động mạch
Động mạch quay, trụ
30
88.2
Động mạch quay
2
5.9
Ghép 2 động mạch quay
2
5.9
Tĩnh mạch
2 tĩnh mạch
4
11.8
3 tĩnh mạch
9
26.5
4 tĩnh mạch
14
41.2
5 tĩnh mạch
2
5.9
0 tĩnh mạch (đứt gần hoàn toàn)
5
14.7
Khâu gân
Gân thì đầu
30
88.2
Gân thì 2(gân duỗi)
4
11.8
Khâu thần kinh
Thần kinh giữa, trụ
22
64.7
Thần kinh giữa
4
11.8
Thần kinh trụ
3
8.8
Khâu thần kinh thì hai
5
14.7
Khâu da vết thương
Khâu da kín
18
52.9
Để hở một phần
16
47.1
Nhận xét:
- Phương pháp KHX: Kết hợp bằng đinh là
chủ yếu, 23 bệnh nhân, chiếm 67,6%.
- Mạch máu được khâu nối: Ở động mạch,
đa số bệnh nhân nối động mạch quay và động
mạch trụ, 30 bệnh nhân, chiếm 88,2%. Ở tĩnh
mạch, trường hợp nối 3 tĩnh mạch có 9 bệnh
nhân, chiếm 26,5% và trường hợp nối 4 tĩnh
mạch có 14 bệnh nhân, chiếm 41,2%. Tuy nhiên
trường hợp không nối tĩnh mạch có 5 bệnh nhân
(5 bệnh nhân bị đứt gần hoàn toàn còn cầu da
có chứa 2 tĩnh mạch lớn), chiếm 14,7%.
- Khâu gân: Khâu gân thì đầu là chủ yếu, 30
bệnh nhân, chiếm 88,2%. Khâu gân thì hai
(khâu gân duỗi) có 4 bệnh nhân chiếm 11,8%.
- Khâu thần kinh: Khâu thần kinh giữa và
thần kinh trụ chiếm đa số, 22 bệnh nhân, chiếm
64,7%. Bên cạnh đó, có 5 bệnh nhân cần khâu
thần kinh thì hai, chiếm 14,7%.
- Khâu da vết thương: Có 18 bệnh nhân được
khâu da kín, chiếm 52,9%. Trong khi đó, có 16
bệnh nhân được để hở một phần, chiếm 47,1%.
3.4 Theo dõi bệnh nhân
Bảng 3. Quá trình theo dõi bệnh nhân
Số bệnh nhân
%
Thời gian theo dõi (Tháng)
≤ 6
1
2,94
6 < x ≤ 12
17
50,00
12 < x ≤ 18
14
41,18
18 < x ≤ 24
1
2,94
24 < x ≤ 36
1
2,94

vietnam medical journal n01 - JUNE - 2019
126
Trung bình = 12,8 tháng
Lành vết thương
Lành thì đầu
18
52,9
Ghép da
16
47,1
Lành xương
Cấu trúc giải phẫu
25
73,5
Can xương lệch
7
20,6
Khác
2
5,9
Nhận xét:-
Thời gian theo dõi: Thời gian theo
dõi ngắn nhất là 6 tháng và dài nhất là 36 tháng.
- Lành vết thương: Lành thì đầu có 18 bệnh
nhân, chiếm 52,9%. Ghép da có 16 bệnh nhân,
chiếm 47,1%.
- Lành xương: Lành theo cấu trúc giải phẫu có
25 bệnh nhân, chiếm 73,5%. Can xương lệch có
7 bệnh nhân chiếm 20,6%. Ngoài ra, có 1 bệnh
nhân bị cứng khớp vai, 1 bị mất vững cổ tay.
3.5 Tỷ lệ sống và phục hồi cảm giác chi
được khâu nối
Bảng 4. Tỷ lệ sống của chi được khâu
nối và phục hồi cảm giác
Số bệnh
nhân
%
Tỉ lệ sống của chi
Sống hoàn toàn
33
97,06
Hoại tử 1 phần da
1
2,94
Cảm giác da: S3
14
41,2
S4
20
58,8
Cảm giác phân biệt 2 điểm
<6
13
38,2
6-10
7
20,6
11-15
1
2,9
Không phân biệt
13
38,2
Nhận xét: -
Tỉ lệ sống của chi: Sống hoàn
toàn 33 bệnh nhân, chiếm 97,1%. Hoại tử một
phần da 1 bệnh nhân, chiếm 2,9%.
- Cảm giác da: S3 có 14 bệnh nhân, chiếm
41,2%; S4 có 20 bệnh nhân, chiếm 58,8%.
- Cảm giác phân biệt hai điểm: Dưới 6mm có
13 bệnh nhân, chiếm 38,2%. Từ 6mm-10mm có
10 bệnh nhân chiếm 20,6%. Từ 11mm-15mm có
1 bệnh nhân chiếm 2,9%. Không phân biệt được
2 điểm có 13 bệnh nhân chiếm 38,2%.
Hình 1:
Bệnh nhân nam, sinh năm 1988 là
công nhân. SHS: 298VP/2009. Bị đứt gần hoàn
toàn 1/3 dưới cẳng tay và cổ tay, được điều trị
bằng kỹ thuật khâu nối vi phẫu. Thời gian bị tai
nạn 20giờ, ngày 27/02/2009 do máy chưa gỗ.
Đứt hoàn toàn 1/3 dưới cẳng tay phải. Thời gian
thiếu máu lạnh là 3giờ 50 phút. Thời gian phẫu
thuật là 3giờ 55 phút. KHX bằng nẹp ốc xương
quay, đinh nội tủy xương trụ. Khâu nối động
mạch trụ, quay. Khâu nối 4 tĩnh mạch. Khâu gân
thì 2. Khâu thần kinh trụ, giữa thì đầu.
IV. BÀN LUẬN
- Ứng dụng kỹ thuật vi phẫu hỗ trợ phẫu
thuật điều trị khâu nối mạch máu, thần kinh, đứt
hoàn toàn, gần hoàn toàn ở vị trí 1/3 dưới cẳng
tay và cổ tay: Các nghiên cứu cơ bản về sự phân
hủy của chi đứt hoàn toàn đã được công bố. Đối
với vùng chi có cấu trúc cơ bị hoại tử bắt đầu từ
giờ thứ 6 với thời gian thiếu máu nóng ở nhiệt
độ từ 20-250C, từ giờ thứ 12 với thời gian thiếu
máu lạnh ở nhiệt độ 40C. Đối với vùng chi không
có cấu trúc cơ, thời gian thiếu máu nóng 8 giờ,
thời gian thiếu máu lạnh có thể hơn 30 giờ.
-
Tỷ lệ sống của chi:
Những bệnh nhân đến
muộn sau 6 giờ và tổn thương bầm dập nhiều,
các phẫu thuật viên áp dụng chỉ số M.E.S.S
(Mangled Extremity Severity Score). Nếu chỉ số
M.E.S.S từ 9 điểm trở lên, không thể khâu nối
chi. Trong nghiên cứu này, qua 34 bệnh nhân
được khâu nối chi, những bệnh nhân đến trước
6 giờ kể từ lúc bị tai nạn, thời gian thiếu máu
nóng không quá 6 giờ. Bệnh nhân được chọn lựa
trình tự các kỹ thuật, cắt lọc các mô dập nát, cắt
ngắn xương, KHX hoặc lấy bỏ hàng xương cổ tay
ở những bệnh nhân bị đứt ở cổ tay và khâu nối
các gân gập, gân duỗi, gân dạng, thám sát cắt
bao ngoài động mạch, bơm rửa lòng động mạch
bằng dung dịch Heparin 5000 UI pha với 500ml
NaCl 0,9%, dùng sonde Fogarty lấy máu đông
trong lòng mạch của chi bị đứt hoàn toan ở phần
xa. Khâu nối tĩnh mạch, động mạch, sau cùng
khâu nối thần kinh. Mở kẹp động mạch. Với
những bệnh nhân này, được áp dụng phẫu thuật
theo trình tự như vậy bệnh nhân sẽ ít mất máu,
có 10 bệnh nhân không phải truyền máu, có 7
bệnh nhân chỉ truyền 2 đơn vị hồng cầu lắng, 5
bệnh nhân truyền 3 đơn vị hồng cầu lắng, 8
bệnh nhân truyền 4 đơn vị hồng cầu lắng. Theo
kết quả, 30 bệnh được khâu nối 2 động mạch
gồm động mạch trụ và động mạch quay, 2 bệnh
nhân có động mạch quay bị tổn thương không
khâu nối được, chỉ khâu nối được 1 động mạch
trụ duy nhất, 2 bệnh nhân không khâu nối động
mạch trực tiếp, phải ghép động mạch. Trong

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 479 - THÁNG 6 - SỐ 1 - 2019
127
nghiên cứu này, 33 bệnh nhân có chi được khâu
nối đều sống tốt, 1 bệnh nhân có chi được khâu
nối bị hoại tử một phần da ở mặt lưng bàn tay,
và được ghép da, da ghép sống, vết thương lành
tốt, các ngón tay và bàn tay vẫn sống tốt, cho
thấy kết quả áp dụng kỹ thuật vi phẫu khâu nối
chi đứt hoàn toàn và gần hoàn toàn đạt kết quả
sống 100%. Như vậy, với kỹ thuật vi phẫu tinh vi
và chính xác trợ giúp việc khâu nối chi đứt hoàn
toàn và gần hoàn toàn có kết quả chi được khâu
sống 100%.
- Tại các nước phát triển, những bệnh viện
lớn, đều có đội ngũ phẫu thuật viên khâu nối
chi, gồm nhiều phẫu thuật viên hỗ trợ nhau
trong lúc phẫu thuật. Nếu xây dựng được đội
phẫu thuật viên khâu nối chi gồm nhiều phẫu
thuật viên hỗ trợ nhau để hoàn thành phẫu
thuật thật tốt và có chất lượng cao. Với việc áp
dụng kỹ thuật vi phẫu, nếu thần kinh trụ giữa
được khâu nối qua việc sử dụng kính hiển vi có
độ phóng đại lớn khâu nối theo phương pháp
bao ngoài - bao bó sợi và hổ trợ theo kỹ thuật
bao bó, khả năng phục hồi thần kinh sẽ có kết
quả cao hơn. Với sự hỗ trợ của việc tập vật lý trị
liệu, tập vận động, sử dụng sóng siêu âm tách
dính sẹo, tách dính gân, máy kích thích điện cơ
duy trì các cơ nội tại ở bàn tay, các tấm bảng
động của cơ không bị bất hoạt, tạo luồng kích
thích để cho thần kinh mọc nhanh hơn.
V. KẾT LUẬN
- Áp dụng kỹ thuật vi phẫu, khâu nối chi đứt
hoàn toàn và gần hoàn toàn ở vị trí 1/3 dưới cẳng
tay và cổ tay cho kết quả thành công hoàn hảo.
- Khâu nối các gân, thần kinh ở thì đầu cho
kết quả phục hồi sớm. Giảm được chi phí, giảm
được một số lần giải phẫu.
- KHX vững chắc đúng quy ước cho kết quả
lành xương theo cấu trúc giải phẫu.
- Việc để hở một phần da và ghép da thì hai
cho kết quả lành vết thương tốt, hỗ trợ cho việc
tránh chèn ép mạch máu khâu nối.
- Trên các bệnh nhân được lấy bỏ một hàng
xương cổ tay cho thấy tầm vận động khớp về
sau chấp nhận được, hỗ trợ cho việc khâu nối
các cấu trúc động mạch, tĩnh mạch, thần kinh,
gân cơ được thuận lợi.
- Các bệnh nhân bị dập đứt hoặc bị nhổ đứt
một số gân cơ, qua các lần phẫu thuật, phục hồi
chức năng đều cho kết quả bàn tay hữu dụng hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Văn Châu (2004). “Kỹ thuật vi phẫu trong
phẫu thuật bàn tay”, trang 305-307.
2. Jacobson J. H, Suarez E. L. (1960).
“Microsurgery in the anastomosis of small vessels”.
Sur. For, pp. 243.
3. W.W. Shaw, D.A. Hidalgo (1987). “Microsurgery
in Trauma”. New York, pp. 132-133.
4. S.Terry Cananel & James (2008). “Campbell’s
Operative Orthopedics”. V.4, C.60, pp. 3713.
5. Buncke H.J. (1973). “Total ear reimplatation in
the rabbit uilising micro miniature vascular
anastomosis”, Br. J. Plast Sur. C.26, pp. 194.
6. Chang T.S. (1986). “Techniques and Applications
in Microsurgery”. World Scientific, C.3,7,8,16.
7. Kraemer B. A. (1988). “Use of leeches in plastic
and reconstructive surgery” J. Reconstructive
Microsurgery. Vol 4. pp. 381-385.
LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ HBA1C VÀ CHỈ SỐ BMI ĐẾN BIẾN CHỨNG
THẦN KINH NGOẠI VI DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 TRÊN NGƯỜI CAO TUỔI
Nguyễn Văn Hướng*, Cao Thị Vân*
TÓM TẮT34
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên
quan giữa chỉ số HBA1C và chỉ số khối lượng cơ thể
(BMI) đến biến chứng thần kinh ngoại biên trên bệnh
nhân người cao tuổi đái tháo đường tuýp 2. Đối
tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang nhằm đánh giá mối liên quan giữa chỉ số
HBA1C và chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) đến biến
chứng thần kinh ngoại biên trên 179 bệnh nhân đái
*Trường Đại học Y Hà nội
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Văn Hướng
Email: vanhuong73@hotmail.com
Ngày nhận bài: 23.3.2019
Ngày phản biện khoa học: 20.5.2019
Ngày duyệt bài: 24.5.2019
tháo đường tuýp 2 tại Bệnh viện Đại học Y Hà nội.
Kết quả: Kiểm soát HBA1C chưa tốt tổn thương thần
kinh sợi nhỏ cao gấp 1,9 lần so với nhóm kiểm soát
tốt HBA1C với p<0,05. Tổn thương mức độ nặng ở
nhóm chưa kiểm soát tốt chỉ số HBA1C cao gắp 8,4
lần so với nhóm kiểm soát HBA1C tốt với p < 0,05.
Tổn thương mức độ nặng ở nhóm thừa cân béo phì
cao gấp 3,2 lần so với nhóm không thừa cân béo phì
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết luận: Việc
kiểm soát không tốt HBA1C sẽ dễ gây ra tổn thương
sợi nhỏ và mức độ tổn thương thần kinh ngoại biên
nặng hơn so với nhóm kiểm soát tốt HBA1C. Người
thừa cân béo phì tổn thương thần kinh mức độ nặng
hay gặp hơn so với nhóm chỉ số khối BMI bình thường.
Từ khóa:
Biến chứng thần kinh ngoại biên, chỉ số
HBA1C, chỉ số BMI

