ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY LINH

PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LUẬT KINH DOANH

Hệ đào tạo: Chính quy

Khóa học: QH-2014-L

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN ĐĂNG DUY

HÀ NỘI, 2018

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các

thông tin và số liệu mà tác giả sử dụng trong khoá luận là trung thực. Các

luận điểm, dữ liệu được trích dẫn đầy đủ, nếu không là ý tưởng hoặc kết quả

tổng hợp của chính bản thân tôi. Ngoài ra, trong bài nghiên cứu còn sử dụng

một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức

đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc. Tôi cũng đã hoàn thành tất cả các

môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể

bảo vệ khóa luận.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2018 Người cam đoan Nguyễn Thùy Linh

DANH MỤC VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự

CTCP : Công ty cổ phần

ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông

HĐQT : Hội đồng quản trị

Luật cạnh tranh LCT :

Luật chứng khoán LCK :

Luật doanh nghiệp LDN :

Luật đầu tư LĐT :

LTCTD Luật tổ chức tín dụng :

M&A : Merger and acquisition

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn................................................................... 2

3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 3

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3

5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 4

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SÁP NHẬP

CÔNG TY CỔ PHẦN ..................................................................................... 5

1.1. Khái niệm sáp nhập CTCP ..................................................................... 5

1.2. Đặc trưng pháp lý của sáp nhập CTCP .................................................. 8

1.3. Phân loại các hình thức sáp nhập CTCP .............................................. 10

1.3.1. Căn cứ theo mức độ liên kết của công ty thành viên .................... 10

1.3.2. Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ ....................................................... 11

1.4. Các phương thức sáp nhập CTCP ........................................................ 11

1.5. Quy trình thực hiện một thương vụ sáp nhập CTCP ........................... 14

1.6. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động sáp nhập CTCP ................................... 15

1.6.1. Đối với nhà đầu tư ........................................................................ 15

1.6.2. Đối với nền kinh tế ........................................................................ 15

1.7. Lược sử về hoạt động sáp nhập CTCP ................................................. 16

1.7.1. Hoạt động sáp nhập công ty cổ phần trên thế giới ....................... 16

1.7.2. Hoạt động sáp nhập CTCP tại Việt Nam ...................................... 19

1.8. Mối quan hệ giữa sáp nhập CTCP và M&A ........................................ 20

Tiểu kết chương I .......................................................................................... 21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM ....... 22

2.1. Tổng quan về hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp

nhập CTCP .................................................................................................. 22

2.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập CTCP ......... 28

2.2.1. Các quy định về thủ tục sáp nhập CTCP ...................................... 28

2.2.2. Các quy định về bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập

CTCP ....................................................................................................... 29

2.2.3. Các quy định về bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập CTCP .. 32

2.2.4. Các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong hoạt động sáp

nhập CTCP .............................................................................................. 37

2.2.5. Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A............... 39

2.3. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập công ty cổ

phần có yếu tố nước ngoài .......................................................................... 46

2.3.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về điều kiện đối với

hoạt động sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài .................... 46

2.3.2. Các quy định quy trình, thủ tục sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố

nước ngoài ............................................................................................... 48

Tiểu kết chương II ......................................................................................... 52

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM .... 53

3.1. Kiến nghị về chính sách pháp luật ....................................................... 53

3.2. Kiến nghị về các quy định pháp luật .................................................... 54

Tiểu kết chương III ....................................................................................... 58

KẾT LUẬN .................................................................................................... 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 61

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

CTCP là một trong những loại hình doanh nghiệp đang ngày càng phát

triển và dần trở nên phổ biến nhất tại Việt Nam. Trong thời đại hội nhập và xu

hướng toàn cầu hóa hiện nay, sự hiện diện và mở rộng phạm vi của CTCP

càng được thể hiện rõ ràng hơn nữa. Vì thế mà số lượng doanh nghiệp nói

chung cũng như CTCP nói riêng không ngừng gia tăng với tốc độ nhanh. Tuy

nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng giữ vững được sự ổn định hay quy

mô phát triển của mình. Bởi với tốc độ phát triển "chóng mặt" của nền kinh tế

thị trường ngày nay, luôn luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và bất ổn không thể

lường trước có thể làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp, dẫn tới hoạt động thua

lỗ, không đem lại nhiều lợi nhuận. Bên cạnh đó, với mục tiêu phải đạt được

lợi nhuận cao nhất nên các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ cũng luôn muốn gia

tăng thị phần của mình trên thị trường. Chính vì hai lí do trên mà dẫn tới nhu

cầu hình thành nên các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (Merger

and acquisition - viết tắt là M&A).

M&A (được viết tắt từ 2 từ Tiếng Anh “Merger"(sáp nhập) và

"Acquisition" (mua lại)) là một thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực tài

chính kinh doanh và quản trị chiến lược. Sáp nhập được xem là hình thức hai

hay nhiều công ty hợp nhất lại thành một và kết quả là hình thành một pháp

nhân mới, còn mua lại là việc một công ty mua lại một công ty khác và không

tạo ra một pháp nhân mới. M&A dần trở thành một xu hướng phổ biến và

cũng là một trong nhiều chiến lược mà các công ty thường sử dụng trên

trường kinh doanh quốc tế. Năm 2017, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt 3,15

nghìn tỷ đô (đạt 18.433 giao dịch). Trong đó, lĩnh vực công nghệ thông tin đã

đạt được số lượng hợp đồng hàng năm cao kỷ lục kể từ năm 2001 khi các nhà

đầu tư hướng tới những phát triển mới nhất trong ngành như IoT, xe tự động

và công nghệ blockchain. Thị trường cũng đã chứng kiến sự gia tăng của

ngành tiêu dùng, phản ánh trong việc mua lại của Reynolds America,

1

Luxottica và Whole Foods, với tổng cộng 6 lần mua vào trong ngành trị giá

hơn 10 tỷ đô la Mỹ.[29]

Tại Việt Nam, hoạt động M&A được khởi động từ năm 2000, đã và

đang gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và giá trị các thương vụ. Sở dĩ có sự

bùng nổ xu hướng M&A mạnh mẽ như vậy là do thị trường Việt Nam đang là

đối tượng quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Đây được coi là con

đường ngắn nhất để các nhà đầu tư tiếp cận đến với thị trường của nước sở tại,

nhất là đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Ngược lại, đây

cũng là một trong những cách huy động vốn hiệu quả và đỡ tốn kém tại Việt

Nam - nơi có trên 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, hành lang pháp

lý cho hoạt động này vẫn còn chưa hoàn thiện, nhiều doanh nghiệp trong nước

vẫn chưa thể tận dụng được lợi thế "sân nhà" để mạnh dạn tham gia vào thị

trường M&A mà chủ yếu các thương vụ hầu hết đến từ các nhà đầu tư ngoại.

Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cần phải có sự tìm hiểu kĩ càng về đặc điểm, bản

chất pháp lý của M&A nói chung cũng như hoạt động sáp nhập nói riêng để có

thể đưa ra được những sự điều chỉnh, bổ sung thích hợp cho hành lang pháp lý

nhằm mục đích vừa khuyến khích M&A, vừa hạn chế được những hệ quả tiêu

cực từ hoạt động này. Đó là lí do người viết chọn đề tài: "Pháp luật về sáp

nhập công ty cổ phần ở Việt Nam".

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực

tiễn, tạo một cái nhìn chung về hoạt động sáp nhập CTCP trên thị trường Việt

Nam hiện nay.

Về mặt lý luận, khóa luận đưa ra những vấn đề tổng quan nhất về hệ

thống pháp luật Việt Nam cả về mặt tích cực lẫn hạn chế. Thông qua đó

làm rõ và phân tích những quy định đang hiện hành để có thể đóng góp,

hoàn thiện một số điểm của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp

nhập CTCP

2

Về thực tiễn, khóa luận đưa ra những cơ sở cho sự cần thiết phải điều

chỉnh hoạt động sáp nhập trên thị trường Việt Nam. Nhờ đó đề xuất được

những giải pháp mang tính thiết thực với những vấn đề đang còn tồn tại.

3. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm làm sáng tỏ được

những vấn đề pháp lý xoay quanh hoạt động sáp nhập doanh nghiệp nói

chung cũng như sáp nhập CTCP nói riêng. Để đạt được mục tiêu trên, người

viết tiến hành làm rõ bản chất của của hoạt động sáp nhập CTCP. Bên cạnh

đó, phân tích vai trò cũngnhư thực trạng của hoạt động sáp nhập CTCP trong

thực tiễn đối với quá trình phát triển của nền kinh tế trong nước, nhằm rút ra

những điểm tích cực đạt được cũng như những điểm còn hạn chế trong phát

triển hoạt động sáp nhập ở Việt Nam. Từ đó có thể đưa ra một số quan điểm

đóng góp để đẩy mạnh hoạt động sáp nhập, hoàn thiện vấn đề nghiên cứu.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện

hành về hoạt động sáp nhập CTCP trong pháp luật Việt Nam, thực tiễn thi

hành pháp luật ở Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật M&A và một số

quốc gia trên thế giới.

Với đề tài "Pháp luật về sáp nhập công ty cổ phần ở Việt Nam", phạm

vi nghiên cứu là khá rộng. Bởi vậy, với khả năng còn hạn chế, người viết

không đặt tham vọng phân tích mọi khía cạnh pháp lý của hiện tượng này mà

chỉ tập trung ở một số vấn đề người viết quan tâm nhất sẽ được triển khai chi

tiết ở những chương sau. Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu sẽ là các

quy định của pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần. Về mặt thời gian, ngoại

trừ việc giới thiệu lược sử phát triển của hoạt động sáp nhập CTCP ở Việt

Nam, đề tài chỉ giới hạn ở các quy định pháp luật đang có hiệu lực cho đến

thời điểm hiện tại.

3

5. Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên phương pháp luận duy vật biện

chứng của triết học Mác - Lênin. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người

viết cũng đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác

nhau như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê số liệu,

phương pháp logic,... và đặc biệt là phương pháp so sánh. Với những phương

pháp trên, chúng ta có thể đưa ra được những so sánh, nhận định để đối chiếu

giữa các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cũng làm rõ được những điểm

nổi bật, tích cực hoặc hạn chế của pháp luật hiện hành về vấn đề nghiên cứu.

Nhờ vậy, chúng ta có thể đánh giá được sự tiến bộ cũng như những mặt tồn

tại cần được khắc phục để đưa ra được một số giải pháp thích hợp cho hoạt

động sáp nhập công ty cổ phần ở Việt Nam.

4

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN

Tại chương I, người viết tập trung làm rõ các vấn đề chung về lý luận

như lược sử của hoạt động sáp nhập CTCP trên thế giới và Việt Nam, khái

niệm, đặc trưng pháp lý và vai trò, ý nghĩa của hoạt động này.

1.1. Khái niệm sáp nhập CTCP

Muốn tìm hiểu thế nào là sáp nhập CTCP, trước hết chúng ta cần hiểu

được thế nào là hoạt động sáp nhập. Khi có được cái nhìn tổng quan về hoạt

động này, chúng ta nắm được những đặc điểm chung nhất, kết hợp cùng với

những tính chất riêng của CTCP thì sẽ có được một cách hiểu đúng về khái

niệm sáp nhập CTCP.

Từ thời kì tư bản chủ nghĩa, tập trung tư bản được hiểu là "sự tăng

thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản cá biệt có

sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn" [23,256]. Trong đó,

cạnh tranh và tín dụng chính là những đòn bẩy mạnh mẽ nhất để thúc đẩy tập

trung tư bản phát triển một cách nhanh chóng. Cạnh tranh buộc các tư bản,

nhất là tư bản có quy mô vừa và nhỏ phải liên kết hay sát nhập với nhau để

cùng đứng vững được trên thị trường. Còn tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành

phương tiện để tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào tay các nhà

tư bản. Như vậy, sáp nhập chính là một hình thức của tập trung tư bản.

Theo từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa tái bản năm

2010: "sáp nhập" có nghĩa là "nhập lại với nhau thành một". Theo đó, hoạt

động sáp nhập được coi là sự "nhập lại" của hai hoặc nhiều tổ chức, đặc biệt

là các công ty, doanh nghiệp thành một tổ chức duy nhất. Thông thường, sự

kết hợp này sẽ đến từ những tổ chức có nhiều điểm tương đồng với nhau.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quan điểm nào thống nhất về

khái niệm hoạt động sáp nhập. Tuy nhiên chúng ta có để tìm thấy khái niệm

này được đề cập đến trong một số điều luật cụ thể. LCT 2004 quy định sáp

nhập như là một hình thức tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi chống

5

cạnh tranh. Cụ thể, khoản 1 điều 17: "Sáp nhập doanh nghiệp là việc một

hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích

hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn

tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.". Trong khi đó, LDN 2014 quy định sáp

nhập như là một hình thức tổ chức lại công ty, chi tiết tại khoản 1 điều 195:

"Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp

nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách

chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty

nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.". Như

vậy, hoạt động sáp nhập được hiểu nôm na là những giao dịch mà trong đó,

một hoặc một số doanh nghiệp chấm dứt tư cách pháp nhân của mình để gia

nhập vào một doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiến hành

tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh

nghiệp bị sáp nhập. Ví dụ, khi một doanh nghiệp A bị sáp nhập vào doanh

nghiệp B, doanh nghiệp A sẽ không còn nữa. Thay vào đó, cổ phiếu của

doanh nghiệp A sẽ được chuyển đổi sang cổ phiếu của doanh nghiệp B. Cách

thức quản lý điều hành doanh nghiệp sau sáp nhập cũng khác với trường hợp

mua lại doanh nghiệp vì hai doanh nghiệp sáp nhập sẽ bắt tay, kết hợp cùng

nhau để cùng quản lý dù trên thực tế về mặt pháp lý có một bên bị sở hữu và

một bên được sở hữu.

So sánh với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy cách

hiểu của những nhà làm luật tại Việt Nam về vấn đề này còn khá hẹp. Theo

điều 15 Luật Chống độc quyền của Nhật Bản, thuật ngữ "mua lại cổ phần"

cũng được hiểu là sáp nhập. Còn theo điều 91 LCT Ca-na-đa, sáp nhập được

coi là "sự thiết lập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của một hay nhiều bên

thông qua việc mua hoặc cho thuê cổ phần hoặc tài sản, liên kết hoặc kết hợp

bằng cách khác, quyền kiểm soát hoặc quan tâm đáng kể đối với toàn bộ hoặc

một phần hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, bên cung cấp, bên

mua hàng hoặc một người khác bất kỳ". Những cách hiểu trên có phần rộng

6

hơn, bởi hoạt động sáp nhập như đã nói, không chỉ dừng lại ở việc thực hiện

đơn thuần hành vi sáp nhập mà còn bao gồm một chuỗi hành vi có liên kết với

nhau để thực hiện mục đích sáp nhập. Đây là cách hiểu dựa trên thực tiễn

thương mại được đặt trong bối cảnh chung của thị trường quốc tế với kinh

nghiệm về hoạt động M&A mà các quốc gia trên thế giới đã thực hiện qua

hàng trăm năm và người viết cũng nghiêng về quan điểm này. So với cách

hiểu trên, những quy định về sáp nhập trong pháp luật Việt Nam mang tính

đóng hơn khi chỉ dừng lại ở việc định nghĩa theo đúng quan niệm của người

Việt Nam về "sáp nhập" và mô tả hành vi đó bằng việc liệt kê một cách trực

tiếp mà chưa xét đến mục đích cuối cùng của hành vi. Vô hình chung đã tạo

ra một kẽ hở, dẫn tới hiện tượng có những hành vi về bản chất, mục đích là

sáp nhập, tập trung kinh tế nhưng lại không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật

do không thể hiện được đầy đủ những mặt mô tả về hình thức của hành vi

pháp lý. Điều này đã khiến cho một số công ty gặp khó khăn khi không nắm

rõ được vấn đề trong hoạt động sáp nhập của mình.

Từ những điều trên, dễ thấy rằng cách hiểu khái niệm về sáp nhập

CTCP không có nhiều điểm khác biệt so với sáp nhập doanh nghiệp nói

chung. Điểm khác biệt quan trọng nhất có lẽ là tính chất vốn điều lệ ở CTCP

được chia thành những phần vốn bằng nhau, dễ dàng được phát hành chứng

khoán để huy động vốn cũng như chuyển nhượng phần vốn góp. Do vậy mà

hoạt động sáp nhập đối với CTCP cũng sôi động hơn. Từ đặc điểm trên của

CTCP, có thể thấy rõ cổ phần trở thành một công cụ để bảo vệ quyền kinh

doanh của các bên trong những thương vụ sáp nhập. Bên nào sở hữu được số

lượng cổ phần vượt trội hơn sẽ giành được ưu thế về quyền kinh doanh chứ

không phụ thuộc vào đặc điểm về nhân thân hay các mối quan hệ. Thông

thường, điều này sẽ được quyết định bởi tình hình tài chính của chủ thể đó.

Như vậy, nhờ tính chất của CTCP mà sân chơi trong hoạt động sáp

nhập trở nên công bằng với tất cả các bên. Cũng dựa vào các tính chất riêng

biệt của CTCP, các quy định pháp lý về sáp nhập được hình thành. Ví dụ các

7

quy định về công bố thông tin khi sáp nhập, bảo vệ cổ đông thiểu số... đều

được thiết lập dựa trên các đặc điểm của loại hình công ty này.

1.2. Đặc trưng pháp lý của sáp nhập CTCP

Thứ nhất, hoạt động sáp nhập CTCP mang đặc trưng pháp lý đó là sự

chuyển đổi về mặt chủ sở hữu, cách thức điều hành và quản trị công ty. Đây

là một giao dịch mang tính chất dân sự nhưng có đối tượng là CTCP - một

thực thể pháp lý chứ không phải tài sản đơn thuần. Qua đó, bên thực hiện sáp

nhập muốn nắm quyền kiểm soát đối với bên bị sáp nhập. Hay nói cách khác,

khách thể của quan hệ sáp nhập này chính là trái quyền.

Trong hoạt động sáp nhập CTCP có sự chuyển giao toàn bộ sản nghiệp

thương mại của công ty cùng các trái quyền khác. Sản nghiệp thương mại ở

đây được hiểu là toàn bộ tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô

hình thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục

vụ cho hoạt động thương mại: trụ sở, cửa hàng, kho tàng, trang thiết bị, tên

thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá và cung ứng

dịch vụ... Các trái quyền ở đây là quyền kiểm soát công ty, tất cả quyền, nghĩa

vụ và lợi ích hợp pháp bao gồm cả quyền và nghĩa vụ đối với bên thứ ba cũng

như với chủ nợ hay người lao động...

Thứ hai, chủ thể thực hiện hoạt động sáp nhập là bên nhận sáp nhập và

bên bị sáp nhập. Theo đó, bên bị sáp nhập (bên bị động) trong hoạt động sáp

nhập CTCP là chính là công ty mục tiêu. Bởi đây là một pháp nhân có tư cách

pháp lý độc lập, có quyền nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp

luật. Đồng thời công ty này cũng là đối tượng của quan hệ sáp nhập.

Bên nhận sáp nhập (bên chủ động) là công ty muốn thực hiện hoạt động

sáp nhập. Dưới góc độ pháp lý, tính chất chủ động này của công ty xuất phát

từ sự thừa nhận của pháp luật về quyền tự do kinh doanh và quyền tự chủ

trong hoạt động kinh doanh của công ty. Sự công nhận này đem lại quyền cho

công ty đối với những hoạt động phát sinh trong nội bộ cũng như những hoạt

8

động phát sinh bên ngoài công ty như quyền tự do liên kết kinh doanh mà sáp

nhập là một trong những cách thức để thực hiện nó.

Hai chủ thể này trước hết phải đáp ứng đủ những điều kiện chung thế

nào là doanh nghiệp. Bởi CTCP là một loại hình của doanh nghiệp. Theo đó,

khoản 9 điều 3 LDN 2014 quy định "Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp

được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở

chính tại Việt Nam.". Vậy còn thế nào là CTCP? CTCP được hiểu là loại hình

doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là

cổ phần. Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về

các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. CTCP có

tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh

nghiệp.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý, sáp nhập CTCP dẫn đến việc chấm dứt

hoàn toàn sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Thay vào đó, công ty nhận sáp

nhập vẫn được giữ nguyên, sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và

lợi ích hợp pháp khác từ công ty bị sáp nhập. Đây là điểm khác biệt so với các

hoạt động khác như mua bán, hợp nhất, chia, tách.. công ty.

Thứ tư, sáp nhập CTCP được thể hiện qua hợp đồng sáp nhập CTCP.

Hợp đồng sáp nhập là sự thỏa thuận giữa bên bị sáp nhập và bên nhận sáp

nhập về việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp khác

từ công ty bị sáp nhập sang công ty nhận sáp nhập. Đồng thời chấm dứt sự tồn

tại của công ty bị sáp nhập.

Thứ năm, sáp nhập CTCP phải thông qua sự thừa nhận của cơ quan có

thẩm quyền thông qua các thủ tục pháp lý nhất định. Điều này xuất phát từ

bản chất của công ty. Công ty được khai sinh thông qua thủ tục đăng ký kinh

doanh –một thủ tục để gán cho nó một tư cách pháp lý, gán cho những người

thành lập nên nó những quyền và nghĩa vụ pháp lý. Do đó, khi công ty bị sáp

nhập, có sự chuyển giao các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cổ đông sáng

lập nên doanh nghiệp, vì vậy cần một sự chứng nhận của cơ quan công quyền

9

về việc chuyển giao này. Ở góc độ này, Nhà nước đứng ra với tư cách người

công nhận thỏa thuận sáp nhập giữa các bên.

1.3. Phân loại các hình thức sáp nhập CTCP

Có nhiều cách thức để phân loại các hình thức sáp nhập CTCP dựa trên

nhiều tiêu chí khác nhau. Người viết lựa chọn một số tiêu chí nổi bật dưới đây

để đưa vào phần nghiên cứu của mình:

1.3.1. Căn cứ theo mức độ liên kết của công ty thành viên

Sáp nhập thường được chia thành 3 loại: sáp nhập theo chiều ngang

(Horizontal), sáp nhập theo chiều dọc (Vertical) và sáp nhập theo kiểu hỗn

hợp (Conglomerate).

- Sáp nhập theo chiều ngang

Đây là hoạt động sáp nhập giữa các công ty cùng một lĩnh vực kinh

doanh, có cùng loại sản phẩm và thị trường, từ đó tạo ra một hãng có sức cạnh

tranh cao. Hình thức này giúp giảm thiểu đối thủ cạnh tranh, tiết kiệm chi phí

do quy mô (Economies of Scale). Có thể lấy ví dụ trường hợp sáp nhập giữa

JPMorgan và BankOne trong lĩnh vực tài chính, hay thương vụ sáp nhập lớn

nhất trong lĩnh vực ngân hàng từ trước đến nay giữa hai ngân hàng Algemene

Bank Nederland (ABN) và Amsterdamsche-Rotterdamsche Bank (AMRO).

- Sáp nhập theo chiều dọc

Khác với sáp nhập theo chiều ngang, sáp nhập theo chiều dọc là sáp

nhập giữa các công ty cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác nhau về phân

khúc thị trường. Ví dụ như Walt Disney với ABC Television. Sự sáp nhập

này đem lại cho công ty tiến hành sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểm soát

chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống

chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh.

- Sáp nhập theo kiểu hỗn hợp:

Sáp nhập giữa các công ty khác nhau hoàn toàn về lĩnh vực kinh doanh,

từ đó tạo ra các tập đoàn lớn hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực như Deawoo.

Hình thức này là giúp nhằm giảm cơ bản rủi ro nhờ đa dạng hóa và để khai

10

thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên.

Hình thức này không còn mấy phổ biến trong nhiều năm trở lại đây.

1.3.2. Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ

- Sáp nhập trong nước:

Đây là hình thức mua bán và sáp nhập diễn ra tại một quốc gia và được

thực hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ một quốc gia, không có

sự kết hợp giữa các tài sản xuyên biên giới.

- Sáp nhập xuyên biên giới:

Hình thức sáp nhập được thực hiện giữa các công ty thuộc hai quốc gia

khác nhau. Ngoải ra, đây còn có thể coi là một trong những hình thức đầu tư

trực tiếp và phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong quá trình

toàn cầu hóa gần đây, làn sóng toàn cầu hóa đã dần xóa bỏ biên giới kinh

doanh của các công ty đa quốc gia khiến cho xu hướng sáp nhập xuyên biên

giới ngày càng trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh kinh tế toàn cầu.

1.4. Các phương thức sáp nhập CTCP

Phương thức thực hiện sáp nhập CTCP rất đa dạng. Việc lựa chọn

phương thức nào tùy thuộc vào mục tiêu, đặc điểm quản trị cũng như ưu thế

của công ty trên thị trường trong từng trường hợp cụ thể. Một số phương thức

thực hiện hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp là phương thức chào

thầu, phương thức thương lượng tự nguyện với ban quản trị và điều hành,

phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn, phương thức mua lại tài sản của doanh

nghiệp, và phương thức thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Thương lượng

Thương lượng là một trong những phương thức được sử dụng phổ biến

nhất và mang nhiều thiện chí khi thực hiện sáp nhập CTCP. Khi cả hai công

ty đều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng của thương vụ sáp nhập hoặc họ dự

đoán được tiềm năng phát triển hoạt động kinh doanh vượt trội sau sáp nhập,

ban điều hành sẽ ngồi lại với nhau để thương thảo, tiến tới một hợp đồng sáp

nhập.

11

Chào thầu

Đây là phương pháp mà CTCP chủ động muốn nhận sáp nhập, đề xuất

trực tiếp với các cổ đông của CTCP mục tiêu (DN mục tiêu) về ý định mua cổ

phiếu của các cổ đông này với mức giá cao hơn thị trường. Theo đó, sẽ áp

dụng chế độ công bố thông tin cho các cổ đông về ý định sẽ trả một giá nào

đó trong một thời gian nhất định và cam kết mua cổ phiếu. Giá chào thầu

thường đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng

như quản trị công ty mà mình đang nắm giữ. Nếu các cổ đông của công ty

mục tiêu chấp nhận mức giá này thì việc chào thầu thành công. Điểm đáng

chú ý trong các thương vụ “chào thầu” là ban quản trị công ty bị mua bị mất

quyền định đoạt, bởi đây là sự trao đổi trực tiếp giữa công ty mua và cổ đông

của công ty bị mua, trong khi ban quản trị (lúc này nắm không đủ số lượng cổ

phần chi phối) bị gạt sang một bên. Với nhiều trường hợp sáp nhập CTCP dựa

vào phương pháp thương lượng không được tiến hành suôn sẻ thì sự lựa chọn

tiếp theo sẽ là phương pháp chào thầu. Vì thế, phương pháp này phần lớn diễn

ra trong trường hợp sáp nhập không thân thiện.

Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Công ty có ý định sáp nhập sẽ chuẩn bị nguồn vốn đủ lớn khi có ý

định thôn tính một doanh nghiệp nào đó trên thị trường. Lúc này công ty

muốn nhận sáp nhập sẽ tiến hành mua cổ phiếu của các doanh nghiệp mục

tiêu thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại của

các cổ đông chiến lược hiện hữu. Tuy nhiên, phương thức mua bán sáp

nhập này đòi hỏi thời gian, và nếu thông tin về thương vụ sáp nhập bị bại

lộ có có thể sẽ tạo nhu cầu về cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường tăng

lên. Dẫn đến giá của cổ phiếu của công ty bị sáp nhập có thể tăng cao trên

thị trường. Bên cạnh nhược điểm đó, phương thức mua bán sáp nhập này

cũng có những ưu điểm, nếu nó được thực hiện dần dần và thông tin không

được tiết lộ trước khi hoàn thành thương vụ thì công ty nhận sáp nhập có

thể đạt được mục đích cuối cùng của mình một cách êm thấm, không gây

12

xáo động lớn cho công ty bị sáp nhập trong khi chỉ cần trả một mức giá rẻ

hơn so với phương thức chào thầu rất nhiều.

Lôi kéo cổ đông bất mãn

Lôi kéo cổ đông bất mãn là phương thức sáp nhập đối với các thương

vụ mang tính chất thù địch. Khi một công ty rơi vào tình trạng kinh doanh yếu

kém, thua lỗ, thường có một bộ phận các cổ đông, họ bất mãn và muốn thay

đổi ban quản trị. Họ hi vọng rằng ban quản trị mới sẽ có thể điều hành công ty

tốt hơn, và đem lại kết quả kinh doanh khả quan hơn. Lợi dụng sự mâu thuẫn

nội bộ này mà công ty cạnh tranh có thể lôi kéo một bộ phận cổ đông bất

mãn. Trước hết, thông qua thị trường chứng khoán, công ty cạnh tranh thực

hiện mua số lượng cổ phần tương đối lớn để trở thành cổ đông của công ty

mục tiêu (nhưng tỷ lệ nắm giữ cổ phần chưa đủ để chi phối doanh nghiệp). Vì

vậy, họ tiếp tục mua cổ phần của các cổ đông bất mãn, cũng như nhận được

sự ủng hộ của các cổ đông này. Đến khi công ty cạnh tranh có đủ cổ phần chi

phối, công ty cạnh tranh cùng với những cổ đông bất mãn sẽ lập tức triệu tập

họp Đại hội đồng cổ đông và bầu đại diện của công ty cạnh tranh vào Hội

đồng quản trị mới. Mục đích cuối cùng của hoạt động là thay đổi ban điều

hành công ty mục tiêu.

Mua lại tài sản của công ty

Phương thứ này gần giống phương thức chào thầu. Công ty có mục

đích nhận sáp nhập có thể đơn phương, hoặc cùng doanh nghiệp mục tiêu tiến

hành hoạt động định giá lại tài sản của công ty bị mua. Tuy nhiên, công việc

định giá thường do một công ty định giá độc lập tiến hành. Trên cơ sở kết quả

của quá trình định giá, các bên liên quan sẽ tiến hành đưa ra mức giá mua phù

hợp. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc nợ. Điểm hạn chế của

phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, bạn hàng,

nhân sự, văn hóa của tổ chức rất khó có thể định giá chính xác và đi đến sự

thống nhất về giá cả giữa các hai bên. Do đó, phương thức này thường áp

dụng để tiếp quản lại các công ty nhỏ, thực chất là nhắm đến các cơ sở sản

13

xuất, nhà xưởng máy móc, dây chuyền công nghệ, hệ thống cửa hàng, đại lý

đang thuộc sở hữu của công ty đó.

1.5. Quy trình thực hiện một thương vụ sáp nhập CTCP

Việc tìm hiểu về quy trình sáp nhập công ty có ý nghĩa rất lớn đối với

những người thực hiện công việc tư vấn sáp nhập hay với những luật sư tham

gia vào quá trình này. Để thực hiện một thương vụ sáp nhập, thông thường

quy trình sẽ gồm các giai đoạn sau đây:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị sáp nhập

Tại giai đoạn này, các bên công ty sẽ tiến hành các bước như:

- Xây dựng chiến lược.

Bước này sẽ gồm những công việc quan trọng như lập và phê duyệt đề

án kinh doanh khả thi; lựa chọn công ty mục tiêu theo những tiêu chí, mục

đích riêng của công ty có nhu cầu nhận sáp nhập,...

- Lựa chọn các chủ thể gián tiếp tham gia vào hoạt động sáp nhập như

công ty kiểm toán, công ty tư vấn luật,...

- Tiến hành tìm hiểu, kiểm tra tính hợp pháp và đưa ra đánh giá về giá

trị công ty mục tiêu một cách cụ thể.

Giai đoạn 2: Tiến hành thỏa thuận

Hai bên công ty sẽ tiến hành thương lượng, thỏa thuận về việc sáp nhập

công ty. Sau đó sẽ ký kết những thỏa thuận sơ bộ. Công ty nhận sáp nhập sẽ

tiếp tục đánh giá thực tế về mục tiêu và đưa ra những thỏa thuận cuối cùng

cho thương vụ.

Giai đoạn 3: Ký kết hợp đồng

Sau khi đạt được những thỏa thuận cuối cùng về hoạt động sáp nhập

công ty, các bên sẽ đi đến ký kết hợp đồng sáp nhập. Đây là cơ sở để việc sáp

nhập công ty có giá trị pháp lý. Thông qua hợp đồng, các bên thiết lập được

mối quan hệ về chuyển giao toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ cùng lợi ích

hợp pháp cho nhau.

14

Giai đoạn 4: Hoàn thiện và nộp hồ sơ sáp nhập

Công ty nhận sáp nhập sẽ chuẩn bị, hoàn thiện hồ sơ sáp nhập gồm

nhiều tài liệu khác nhau để nộp cho Sở kế hoạch và đầu tư để nhận được kết

quả trong một khoảng thời gian nhất định.

1.6. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động sáp nhập CTCP

1.6.1. Đối với nhà đầu tư

Hoạt động sáp nhập CTCP mang lại nhiều lợi ích cho cả hai phía, công

ty nhận và công ty bị sáp nhập.

Đối với công ty bị sáp nhập, hoạt động này sẽ giúp cho họ tránh được

tình trạng bị phá sản khi lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính. Mặt khác,

đây cũng là một biện pháp góp phần cơ cấu lại các công ty kinh doanh kém

hiệu quả mà không làm giảm đi giá trị đầu tư của thị trường. Đồng thời, nó

cũng khuyến khích các công ty phải nỗ lực hoạt động hiệu quả hơn để tránh

tình trạng bị các công ty lớn "thâu tóm".

Đối với công ty nhận sáp nhập, việc tiến hành sáp nhập sẽ giúp cho

công ty mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh mà không phải bỏ quá

nhiều chi phí cũng như công sức, thời gian. Bởi việc xây dựng cơ sở hạ tầng,

tên tuổi thương hiệu hay quan hệ khách hàng... không thể thực hiện được

trong ngày một ngày hai mà đó là cả một quá trình lâu dài.Ngoài ra, đây cũng

là một trong những con đường ngắn, dễ dàng và tiết kiệm nhất để giúp các

nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận với thị trường của nước sở tại. Họ có thể triển

khai kinh doanh ngay sau khi tiến hành hợp đồng sáp nhập mà không cần mất

quá nhiều thời gian để chuẩn bị như các nhà đầu tư thực hiện bài bản từ đầu.

Hơn nữa, với những công ty lớn, có chỗ đứng trên thị trường thị việc thực

hiện hoạt động sáp nhập cũng được coi là một hình thức để "bành trướng"

quyền lực cũng như khả năng "thôn tính" đối thủ cạnh tranh của mình.

1.6.2. Đối với nền kinh tế

Hoạt động sáp nhập được coi như một biện pháp "kế hoạch hóa" tích

cực cho nền kinh tế khi đã giảm thiểu được số lượng các công ty hoạt động

15

không hiệu quả. Đây cũng là một hình thức tập trung kinh tế, thể hiện qua

việc những công ty gặp thua lỗ trong kinh doanh hay những công ty có tiềm

năng trong tương lai được sáp nhập lại để trở thành những công ty có quy mô

lớn hơn với đầy đủ khả năng về tài chính và khả năng đứng vững trên thị

trường đầy biến động. Những công ty này sẽ giữ vai trò tiên phong trong xu

hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Qua đó thúc đẩy động lực cạnh

tranh cho nền kinh tế, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào

thị trường trong nước. Nếu hoạt động nàyđược diễn ra dựa trên một sân chơi

công bằng, thì nhu cầu sáp nhập sẽ được duy trì và củng cố. Nhu cầu này

khuyến khích các công ty phải hoạt động ngày càng hiệu quả hơn nếu không

muốn xảy ra tình trạng bị sáp nhập vào một công ty khác. Hoạt động hiệu quả

của công ty sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và trở thành một nguồn

thu thuế dồi dào của Nhà nước.

1.7. Lược sử về hoạt động sáp nhập CTCP

1.7.1. Hoạt động sáp nhập công ty cổ phần trên thế giới

Sáp nhập không còn là một hiện tượng mới lạ đối với thị trường toàn

cầu ngày nay. Nó đã xuất hiện rất sớm từ hàng trăm năm trước. Từ cuối thế kỉ

XIX - đầu thế kỉ XX là khoảng thời gian đánh dấu thời kì đỉnh cao trong quá

trình tập trung tư bản trên thế giới. Rất nhiều những công ty phát triển mạnh

mẽ trong một thời gian, tạo được chỗ đứng trên thị trường nhưng lại không

kịp thích nghi với những thay đổi bất ngờ của tình hình kinh tế nên lâm vào

tình trạng bị kiệt quệ về mặt tài chính. Từ đó nhu cầu cho hoạt động M&A nói

chung và sáp nhập nói riêng được hình thành. Đây được coi là thời kỳ là

chuyển giao từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc

quyền với sự hình thành của các tập đoàn công nghiệp khổng lồ. Chính sự

chuyển giao này đã dẫn đến sự phát triển của hoạt động M&A nói chung cũng

như sáp nhập nói riêng, mà thông qua đó các công ty có thể thực hiện việc

thâu tóm quyền lực quản trị của mình tại doanh nghiệp cũng như thâu tóm thị

16

trường.Từ đó đến nay, trên thế giới đã xuất hiện năm làn sóng về sáp nhập

công ty.

Làn sóng thứ nhất bắt đầu từ những năm 1897 đến năm 1904. Đây là

thời gian khởi đầu của hoạt động sáp nhập. Trong giai đoạn này, sự sáp nhập

giữa các công ty được độc quyền trên các dây chuyền sản xuất như đường sắt,

điện,.. Những vụ sáp nhập đầu tiên xảy ra trong khoảng thời gian nói trên hầu

hết là các vụ sáp nhập theo chiều ngang diễn ra giữa các ngành công nghiệp

sản xuất nặng. Phần lớn các vụ sáp nhập đã được hình thành trong giai đoạn

này kết thúc trong thất bại vì họ không thể đạt được hiệu quả mong muốn. Sự

thất bại này là sự suy thoái của nền kinh tế năm 1903 và sự sụp đổ của thị

trường chứng khoán năm 1904. Khung pháp lý cũng không hỗ trợ một cách

hoàn chỉnh. Đạo luật Sherman ở Mỹ ra đời trong giai đoạn này nhằm khôi

phục cạnh tranh, làm suy yếu các độc quyền và bảo vệ quyền được tham gia

của những nhà sản xuất nhỏ.

Làn sóng thứ hai diễn ra từ năm 1916 đến năm 1929 được khởi tạo từ

sự bùng nổ về kinh tế đã xảy ra sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Sự phát

triển công nghệ như sự phát triển của đường sắt và vận chuyển bằng xe cơ

giới cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động sáp nhập này. Hoạt động

sáp nhập chủ yếu theo chiều dọc hoặc hỗn hợp (khác nhau hoàn toàn về lĩnh

vực kinh doanh ban đầu nhưng về sau tạo ra các tập đoàn lớn hoạt động trong

rất nhiều lĩnh vực). Các ngân hàng đầu tư đóng một vai trò quan trọng trong

việc tạo điều kiện cho việc sáp nhập và mua lại. Làn sóng này kết thúc với sự

sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929.

Các vụ sáp nhập diễn ra ở làn sóng thứ ba trong những năm 60 của thế

kỷ XX chủ yếu là sáp nhập tập đoàn. Hoạt động sáp nhập được lấy cảm hứng

từ giá cổ phiếu cao, lãi suất và việc chống pháp luật độc quyền. Học thuyết

kinh tế nền tảng của giai đoạn này là chủ nghĩa Keynes. Chủ nghĩa này đề cao

vai trò của nhà nước trong can thiệp vĩ mô. Đến cuối thập kỷ 60, những

17

phương pháp của Keynes không còn hiệu quả, hệ thống lý thuyết rơi vào

khủng hoảng và đó cũng là lúc làn sóng sáp nhập đi vào giai đoạn thoái trào.

Làn sóng thứ tư bắt đầu từ năm 1981 và kết thúc vào năm 1989 diễn ra

cùng thời điểm với sự thay đổi trong chính sách chống độc quyền, sự bãi bỏ quy

định về độc quyền trong dịch vụ tài chính, sự thiết lập những công cụ tài chính

và thị trường mới (thị trường trái phiếu), cũng như sự phát triển công nghệ trong

ngành công nghiệp điện tử. Thế giới bắt đầu xuất hiện những nền kinh tế mới

bên cạnh Mỹ và các nước Châu Âu như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,... tạo

ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trên toàn cầu. Hoạt động sáp nhập đã diễn ra giữa

ngành công nghiệp dầu khí, dược phẩm, ngân hàng và ngành hàng không. Các

vụ sáp nhập có yếu tố nước ngoài trở nên phổ biến với hầu hết trong số đó là sự

tiếp quản từ công ty đối thủ. làn sóng thứ tư này một lần nữa lại bị suy yếu dần

sau sự tụt dốc của thị trường chứng khoán vào năm 1987.

Làn sóng thứ năm (từ năm 1992 đến nay) là thời điểm để các hoạt động

mua bán cũng như sáp nhập công ty trở nên sôi nổi, đa dạng về cách thức

cũng như gia tăng về giá trị. Hoạt động sáp nhập diễn ra chủ yếu trong ngành

ngân hàng và viễn thông. Theo thống kê của công ty phân tích các dữ liệu tài

chính Dealogic, đến thời điểm giữa năm 2005, tổng giá trị các cuộc sáp nhập

trên toàn cầu đã lên tới 1.970 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm ngoái,

theo đó, châu Âu qua mặt Mỹ về giá trị các cuộc sáp nhập với giá trị ước

khoảng 281 tỷ USD (con số này ở Mỹ là 190,5 tỷ USD). Tình hình sáp nhập

và mua lại các tập đoàn đa quốc gia diễn ra ở hầu hết mọi lĩnh vực: công

nghiệp, tài chính, viễn thông, sản xuất hàng tiêu dùng (ôtô, sản phẩm giải trí,

điện thoại...). Thế giới từng chứng kiến một số sự kiện sáp nhập đáng chú ý

như vụ Tập đoàn Symantec và Tập đoàn Veritas Software sáp nhập với nhau,

ngân hàng UFJ Holdings Inc sáp nhập với Tập đoàn tài chính Tokyo

Mitsubishi...

Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng, nhờ sự phát triển đầy thăng trầm

của hoạt động sáp nhập mà các nước có nền kinh tế mới nổi hoặc đang phát

18

triển sau này xem nó như một định hướng cho hoạt động sáp nhập cho từng

quốc gia. Và hơn nữa, sự phát triển của hoạt động sáp nhật luôn theo xu

hướng tỉ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán.

Bên cạnh đó, hiệu quả mà hoạt động mang lại là khả năng đem lại cơ hội phục

hồi nền kinh tế thường rất cao.

1.7.2. Hoạt động sáp nhập CTCP tại Việt Nam

Nếu như vào khoảng hai mươi năm về trước, cụm từ M&A còn khá

mới lạ ở Việt Nam thì ngày nay hoạt động này đang nhận được rất nhiều sự

quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước và đã trở thành một phần

không thể thiếu trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng hội nhập ở

nước ta hiện nay.

Hoạt động sáp nhập tại Việt Nam được khởi động từ những năm 2000,

sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trước đó, phần lớn các giao

dịch sáp nhập doanh nghiệp diễn ra trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Tuy nhiên, kể từ sau thời

điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế

giới (WTO) thì sáp nhập doanh nghiệp nói chung cũng như CTCP nói riêng

mới thực sự phát triển một cách mạnh mẽ. Sự kiện LDN, LCT và LĐT mới có

hiệu lực từ năm 2005, đã tạo động lực thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các

doanh nghiệp nhà nước và nỗ lực mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân.

Trên một sân chơi phổ biến hơn và khung khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi

hơn, các công ty Việt Nam ở tất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm

quen và sử dụng M&A nói chung cũng như sáp nhập nói riêng như là công cụ

chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại doanh nghiệp của mình.

Năm 2007 đã chứng kiến sự tăng vọt của số vụ M&A, sáu tháng đầu

năm 2007 đã có 46 vụ (tổng giá trị 626 triệu USD) so với 32 vụ (245 triệu

USD) của cả năm 2006 và 18 vụ (61 triệu USD) của cả năm 2005[31]. Năm

2014, Việt Nam có trên 300 thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A), với giá trị

lên tới 4,2 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2013. Năm 2015 là năm cuối cùng

19

trong giai đoạn 2011-2015 trong Đề án 254 về tái cấu trúc các tổ chức tín

dụng. Vì vậy, đã bùng nổ thị trường sáp nhập giữa các ngân hàng. Điển hình

là vụ sáp nhập SouthernBank vào Sacombank. Tháng 5/2015, SouthernBank

đã thông qua phương án sáp nhập với Sacombank theo tỷ lệ chuyển đổi 1:0,75

(1 cổ phiếu SouthernBank đổi 0,75 cổ phiếu Sacombank). Ngoài ra có thể kể

đến vụ sáp nhập Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long

(MHB) vào Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Ngày

22/5/2015, thủ tục cuối cùng để MHB sáp nhập vào BIDV đã chính thức hoàn

thành khi lãnh đạo hai ngân hàng ký kết biên bản bàn giao toàn hệ thống và

công bố sáp nhập. Cổ phiếu được hoán đổi theo tỷ lệ 1:1[30]..v..v.

1.8. Mối quan hệ giữa sáp nhập CTCP và M&A

Dễ thấy rằng, M&A là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp

thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó và giúp mở

rộng thị phần (kênh phân phối) trong thời gian ngắn, tăng khả năng cạnh tranh

của doanh nghiệp thông qua việc tối ưu bộ máy hành chính, tận dụng cơ sở

vật chất, công nghệ, con người, tiền mặt,.. đang có sẵn. Do vậy, hình thức của

M&A cũng rất đa dạng, bao gồm: Mua lại toàn bộ công ty, góp vốn trực tiếp

vào công ty, chia tách, hợp nhất, sáp nhập,... Như vậy, dù mang trong mình

những đặc điểm riêng biệt, song sáp nhập vẫn có những đặc điểm chung nhất

định của M&A. Chúng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sáp nhập có

thể coi là một "tập con" trong hoạt động M&A và còn có sự giao thoa với các

hoạt động khác. Khi thực hiện hoạt động sáp nhập nói chung hay CTCP nói

riêng chính là đang tham gia vào hoạt động M&A. Tuy nhiên ngược lại, chưa

hẳn hoạt động M&A nào cũng là sáp nhập. Chúng có thể có một số điểm

chung về mục đích thực hiện, về mặt bản chất hay phương thức thực hiện.

Song chủ thể, hậu quả pháp lý để lại sẽ có một số điểm khác nhau, nhằm phân

biệt giữa các hoạt động này. Vì vậy, xét về mối quan hệ này, chúng có sự liên

kết khăng khít, không thể tách rời nhau nhưng vẫn có những đặc điểm riêng

để phân biệt và nhận dạng từng hoạt động một.

20

Tiểu kết chương I

Trong quá trình phát triển hoạt động M&A tại Việt Nam, chúng ta

không thể phủ nhận những lợi ích mà hoạt động này đem lại. Chỉ với một thời

gian ngắn mà hoạt động này đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các

chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Mười năm trở lại đây, sáp nhập nói

chung cũng như sáp nhập CTCP nói riêng đã diễn ra hết sức sôi động, tạo

thành một làn sóng đặc biệt mạnh mẽ trong những năm 2006, 2007... Với một

sự khởi đầu đầy mạnh mẽ như thế, sáp nhập CTCP ở Việt Nam được dự báo

sẽ càng phát triển hơn nữa. Tuy nhiên, việc điều chỉnh hoạt động này ở Việt

Nam vẫn chưa được thống nhất, đồng bộ. Nhiều khi còn có sự nhầm lẫn giữa

các hoạt động như mua bán hay hợp nhất,.. gây khó khăn cho các chủ thể

tham gia. Vì vậy, đặt ra vấn đề cần phải nắm bắt hoạt động này cùng bản chất

pháp lý của nó mới tạo được cơ sở để hiểu rõ hơn thực trạng pháp luật về sáp

nhập CTCP ở nước ta sẽ được trình bày ở chương II.

21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN

TẠI VIỆT NAM

M&A là hoạt động kinh doanh thương mại đặc biệt xuất hiện ở nước ta

đang có những bước phát triển vượt bậc. Trong bối cảnh hiện nay, với nền

kinh tế thị trường mở cửa dường như là điều kiện tốt để các thương vụ M&A

trở nên sôi động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tài chính ngân hàng

đến đầu tư, sản xuất kinh doanh và đặc biệt rất sôi nổi giữa các doanh nghiệp

Việt Nam với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế các hoạt động M&A vẫn chưa có

một sự điều chỉnh đồng bộ và hiệu quả từ luật pháp. Để làm rõ hiện tượng

này, tại chương 2, khóa luận sẽ phân tích về thực trạng các quy định pháp luật

trong nước về hoạt động sáp nhập đối với CTCP đồng thời so sánh với thực

tiễn thi hành pháp luật trên thực tế. Từ đó nhằm làm rõ những khoảng cách

giữa luật pháp và thực tế, tìm hiểu nguyên nhân cho những hạn chế này.

2.1. Tổng quan về hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động

sáp nhập CTCP

Bản thân hoạt động sáp nhập doanh nghiệp nói chung cũng như sáp

nhập CTCP nói riêng có thể hiểu là việc thực hiện một chuỗi nhiều hành vi có

liên kết chặt chẽ với nhau để đạt được mục đích sáp nhập. Do vậy, hoạt động

này sẽ thể hiện rất nhiều mặt trên nhiều phương diện khác nhau: vừa là một

hoạt động đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời là một hình

thức để các doanh nghiệp mở rộng quy mô của mình bằng cách huy động vốn.

Mặt khác nó cũng là một hình thức tập trung kinh tế trong nền kinh tế thị

trường hiện nay. Chính vì thế mà không có một luật nào quy định tập trung và

riêng rẽ về hoạt động sáp nhập. Tuy nhiên, nó lại được quy định rải rác ở

nhiều quy phạm pháp luật ứng với mỗi lĩnh vực tương ứng. Trong pháp luật

Việt Nam, có thể tìm thấy những chế định điều chỉnh hoạt động sáp nhập

doanh nghiệp tại BLDS 2015, LDN 2014, LCT 2004 hay LĐT 2014...

BLDS 2015 quy định về hoạt động sáp nhập pháp nhân tại điều 89:

22

"Điều 89. Sáp nhập pháp nhân

1. Một pháp nhân có thể được sáp nhập (sau đây gọi là pháp nhân được

sáp nhập) vào một pháp nhân khác (sau đây gọi là pháp nhân sáp nhập).

2. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại; quyền

và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp

nhân sáp nhập."

So với BLDS 2005, điều 89 này đã lược bỏ yếu tố cùng loại của các

pháp nhân khi tham gia vào hoạt động sáp nhập. Điểm mới này đã mở rộng

phạm vi điều chỉnh, cho phép cả những pháp nhân không cùng loại có thể

thực hiện sáp nhập.

LDN 2014 chưa đưa ra khái niệm thế nào là hoạt động sáp nhập công ty

mà chỉ đề cập đến việc làm thể nào để sáp nhập công ty tại khoản 1 điều 195:

"Điều 195: Sáp nhập doanh nghiệp

1. Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể

sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng

cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công

ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

[...]"

Bên cạnh đó, khoản 3 điều 195 LDN cũng có những quy định liên quan

đến việc sáp nhập những công ty có thị phần lớn trên thị trường như công ty

nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại

diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước

khi tiến hành sáp nhập, cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó

công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ

trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác,... Ngoài ra còn một số điều

chỉnh liên quan đến thủ tục cũng như hồ sơ sáp nhập công ty. Điểm mới của

LDN 2014 so với LDN 2005 là đã bổ sung quy định hồ sơ đăng ký doanh

nghiệp của công ty nhận sáp nhập phải kèm theo bản sao của: (a) Hợp đồng

sáp nhập, (b) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của

23

các công ty nhận sáp nhập, và (c) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp

đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp

nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có

quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.

Khoản 1 điều 17 LCT 2004 đề cập đến sáp nhập doanh nghiệp là "việc

một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi

ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự

tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.". Tuy nhiên LCT lại nhìn nhận hoạt

động này dưới khía cạnh kiểm soát tập trung kinh tế nên chưa bộc lộ cụ thể

những đặc điểm pháp lý của hoạt động này. Việc kiểm soát của Cục quản lý

cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi xuất hiện những giao dịch rơi vào ngưỡng

cạnh tranh phải khai báo hoặc bị cấm.

So với LĐT 2005, LĐT 2014 đã thể chế hóa nguyên tắc Hiến định về

quyền tự do kinh doanh của công dân trong những ngành, nghề mà pháp luật

không cấm; hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư thuận

lợi và minh bạch hơn nữa để huy động có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong

nước và đầu tư nước ngoài. Điều 25 LĐT 2014 quy định minh bạch về hình

thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế:

" Điều 25. Hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp

vào tổ chức kinh tế

1. Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các

hình thức sau đây:

a) Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của

công ty cổ phần;

b) Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;

c) Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định

tại điểm a và điểm b khoản này.

2. Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh

tế theo các hình thức sau đây:

24

a) Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;

b) Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn

để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;

c) Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh

để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;

d) Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc

trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này.

3. Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước

ngoài theo các hình thức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đáp

ứng điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 22 của Luật này. "

LĐT 2014 cũng sửa đổi quy định về điều kiện thực hiện hoạt động đầu

tư của nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp,

mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, ngoài việc đáp ứng điều

kiện về tỷ lệ sở hữu và các điều kiện đầu tư khác, nhà đầu tư nước ngoài thực

hiện hoạt động này theo thủ tục quy định thống nhất tại LDN. Điều 6 LĐT

2014 đã vạch rõ giới hạn của các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, thay vì

cấm mông lung theo lĩnh vực như Điều 30 LĐT 2005. Quy định này có thể

coi là một bước tiến quan trọng để thể chế hóa Điều 33 Hiến pháp 2013: "Mọi

người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật

không cấm.". LĐT 2014 dành riêng một phụ lục (Phụ lục 4) liệt kê 267 ngành

nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện với mục đích để tổng hợp và làm rõ hơn

danh mục những ngành nghề kinh doanh có điều kiện vốn đã được liệt kê

trong vô số các văn bản chuyên ngành khác. Nhờ đó, các cơ quan Nhà nước

không còn quyền tự đặt ra các nghề kinh doanh có điều kiện, trừ khi được

Quốc hội chấp thuận bằng việc sửa đổi LĐT. Như vậy, các quy định điều

chỉnh M&A nói chung hay hoạt động sáp nhập nói riêng theo LĐT 2014 cơ

bản đã thông thoáng, minh bạch, hợp lý và khả thi. Tạo điều kiện thuận lợi để

hoạt động này được thúc đẩy một cách mạnh mẽ.

25

LCK 2013 điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán của các công ty

đại chúng, mặc dù không liên quan nhiều đến hoạt động sáp nhập công ty, tuy

nhiên trong tương lai, có khả năng nhiều công ty đại chúng sẽ bị “thôn tính”

thông qua cách chuyển nhượng cổ phần tự do hoặc mua dần trên thị trường

chứng khoán phục vụ cho hoạt động sáp nhập. Vì vậy, LCK có một số điều

khoản nhằm điều tiết hoạt động này:

Khoản 1 điều 29 quy định: “Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn

của công ty đại chúng phải báo cáo công ty đại chúng, Uỷ ban Chứng khoán

Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán nơi cổ phiếu của công ty đại chúng

đó được niêm yết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ đông

lớn.”. Đây sẽ là dấu hiệu để các cổ đông công ty sớm phát hiện mục đích

"thôn tính" công ty của một nhà đầu tư. Khoản 1 điều 32 quy định về chào

mua công khai, theo đó các tổ chức, cá nhân chào mua công khai số cổ phiếu

biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ 25% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của

một công ty đại chúng phải gửi đăng ký chào mua đến Ủy ban chứng khoán

Nhà nước. Có thể coi đây là bước thứ hai đối với các nhà đầu tư có ý định

thôn tính công ty theo hình thức mua dần cổ phần. Những điều khoản này góp

phần bảo vệ cho cổ đông thiểu số và đồng thời cũng tạo ra một cơ chế cho nhà

đầu tư tiến hành hoạt động thâu tóm công ty đại chúng hay như trong đề tài

này, nhà đầu tư sẽ tiến hành hoạt động sáp nhập công ty.

LTCTD 2010 đề cập đến việc sáp nhập tổ chức tín dụng phải được

Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản (Điều 34). Ngoài ra, một số

quy định liên quan giúp hỗ trợ cho hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế, như:

tổ chức được cấp giấy phép có thể bị Ngân hàng nhà nước thu hồi giấy phép

khi chia, sáp nhập, hợp nhất. phá sản (Điều 29); tổ chức tín dụng phải được

Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện chuyển

nhượng cổ phần có ghi tên quá tỷ lệ quy định của Ngân hàng nhà nước, hoặc

khi thay đổi tỷ lệ cổ phần của các cổ đông lớn (Điều 31).

26

Sáp nhập CTCP cũng được đề cập đến trực tiếp hoặc gián tiếp trong

một số nghị định, văn bản hướng dẫn như:

Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ

Quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp.

Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ

Về đăng ký doanh nghiệp.

Nghị định 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ

Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 của Chính phủ

quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh.

...

Qua đây, có thể thấy khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sáp nhập

CTCP chưa được hoàn thiện. Hoạt động sáp nhập công ty còn được quy định

khá rời rạc tại nhiều văn bản khác nhau, và chưa có sự thống nhất. Mỗi một

văn bản pháp luật lại điều chỉnh hoạt động này dưới một góc nhìn khác nhau.

Như LCT điều chỉnh dưới góc độ sáp nhập là một hình thức tập trung kinh tế,

trong khi LDN lại có xu hướng điều chỉnh dưới góc độ coi hoạt động này là

cách thức tổ chức, cơ cấu lại công ty còn LĐT thì coi đây là một hoạt động

đầu tư quan trọng. LCK cũng không trực tiếp nhắc đến hoạt động này song lại

điều chỉnh thông qua các điều khoản về bảo vệ cổ đông, công bố thông tin...

Những điều trên có thể thể hiện được tính linh hoạt khi áp dụng cho hoạt động

sáp nhập trong từng lĩnh vực cụ thể tuy nhiên một phần nào đó tạo khó khăn

trong việc tìm hiểu pháp luật. Trong khi đó, với quá trình phát triển kinh tế

mạnh mẽ, quá trình hội nhập sâu rộng vào đời sống thương mại quốc tế, sáp

nhập công ty đang trở thành một kênh đầu tư có quy mô lớn, một hình thức

đầu tư trực tiếp được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. Dẫn đến nhu cầu điều

chỉnh hoạt động sáp nhập công ty ở Việt Nam là vô cùng cần thiết.

27

2.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập CTCP

2.2.1. Các quy định về thủ tục sáp nhập CTCP

Thủ tục sáp nhập CTCP được quy định chi tiết tại điều 195 LDN 2014.

Đồng thời, thủ tục cũng được dựa trên Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14

tháng 09 năm 2015 của Chính phủ Về đăng ký doanh nghiệp.

Trước hết, công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo

Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ

yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở

chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử

dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản,

chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành

phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực

hiện sáp nhập.

Tiếp đến, các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các

công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập

và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của

LDN 2014. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông

báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua.

Khi có hợp đồng sáp nhập rồi thì các công ty bị sáp nhập phải nộp hồ sơ

xin xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và xin đóng mã số thuế lên cơ quan

thuế quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội (nếu có), tổng cục hải quan (nếu có)…

Sau đó, công ty nhận sáp nhập tiến hành chuẩn bị hồ sơ sáp nhập để thực

hiện đăng ký kinh doanh cho công ty nhận sáp nhập. Hồ sơ sáp nhập gồm:

- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh.

- Hợp đồng sáp nhập.

- Điều lệ của công ty nhận sáp nhập.

- Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của

ĐHĐCĐ của công ty nhận sáp nhập về việc sáp nhập công ty.

28

- Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của

ĐHĐCĐ của công ty bị sáp nhập về việc sáp nhập công ty, trừ trường hợp

công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ

hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.

- Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty bị

sáp nhập và công ty nhận sáp nhập.

- Bản sao hợp lệ Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân

hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực của các sáng lập viên của công ty nhận

sáp nhập.

Công ty nhận sáp nhập sẽ tiến hành nộp hồ sơ tại Sở kế hoạch và đầu

tư. Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra phiếu nhận

và hẹn ngày trả kết quả. Nếu hồ sơ chưa đúng, bộ phận tiếp nhận và trả kết

quả yêu cầu bổ sung. Nếu hồ sơ thiếu, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra văn

bản yêu cầu bổ sung.

Cuối cùng, khi có kết quả, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ tiến hành cập

nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về

đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp

cho công ty nhận sáp nhập.

2.2.2. Các quy định về bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp

nhập CTCP

Khi thực hiện sáp nhập, vấn đề đặt ra làm thế nào để tạo được sự công

bằng giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động này. Muốn vậy, Nhà nước cần

thể hiện vai trò khách quan của mình trong việc điều tiết hoạt động này thông

qua một loạt các quy định pháp luật. Từ đó tạo ra một sự cân bằng về quyền

lợi và nghĩa vụ của các bên trên một sân chơi bình đẳng.

Nếu như pháp luật Việt Nam thừa nhận các quyền tự do hoạt động kinh

doanh để công ty có thể chủ động cũng như dễ dàng thực hiện hoạt động sáp

nhập với một công ty mục tiêu nào đó thì ngược lại, về phía công ty mục tiêu

cũng cần có những sự thừa nhận về quyền cũng như các cơ chế hỗ trợ để

29

những doanh nghiệp này có khả năng tự bảo vệ quyền kinh doanh, sở hữu của

mình trước nguy cơ bị những công ty khác "thâu tóm". Điều này đã được các

nhà làm luật tính đến và được cụ thể hóa trong một số quy định pháp luật

khác nhau.

Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập CTCP thông qua

các quy định về công bố thông tin

Các công ty có quyền được yêu cầu thông tin một cách đầy đủ, điều 29

và điều 32 LCK 2013 cũng như nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07

năm 2012 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của Luật Chứng khoán và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng

khoán và Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bộ tài

chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã có

những quy định về nghĩa vụ công bố thông tin sở hữu số lượng lớn cổ phiếu

cũng như các quy định về việc công bố thông tin trong hoạt động chào mua

công khai. Bởi sự tích luỹ cổ phiếu có thể uy hiếp đến quyền kinh doanh. Vì

vậy, để ngăn chặn quyền kinh doanh bị thâu tóm một cách bất công bằng, họ

nảy sinh nhu cầu được minh bạch hoá về thông tin sở hữu cổ phiếu số lượng

lớn. Mặt khác, khi công ty có sự thay đổi bất thường về cơ cấu hay tỉ lệ sở

hữu cổ phần giữa các cổ đông,... thì cũng đều cần phải công bố thông tin. Dựa

vào đây, công ty mục tiêu có thể nhận thức được nguy cơ bị thâu tóm từ

những công ty khác từ khá sớm. Qua đó sẽ có những sự chuẩn bị cần thiết

cũng như những phương án, hướng đi để điều chỉnh lại hoạt động công ty phù

hợp với hoàn cảnh hiện tại.

Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập CTCP thông qua

các quy định về tỉ lệ sở hữu cổ phần

Chúng ta có thể nhận biết được ý đồ của một công ty muốn nhận sáp

nhập thông qua tỉ lệ sở hữu cổ phần. Tỷ lệ sở hữu cổ phần, nghĩa vụ báo cáo

thông tin và chào mua công khai là ba yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát

hoạt động sáp nhập. Thực tiễn cho thấy, tuỳ từng nhu cầu điều chỉnh (nới

30

lỏng hay siết chặt hoạt động sáp nhập), pháp luật sẽ sử dụng các công cụ

này theo cách linh hoạt nhất. Ví dụ, khi cần bảo vệ quyền kinh doanh, siết

chặt hoạt động sáp nhập, nhà làm luật thường quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu

bằng một con số cụ thể. Khi cần nâng cao tính công bằng trong hoạt động

sáp nhập thì sẽ bãi bỏ các quy định giới hạn này và thay vào đó bằng chế độ

chào mua công khai. Như vậy, việc kết hợp, sử dụng khéo léo những yếu tố

trên đã khiến cho sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sáp nhập trở nên

linh hoạt hơn là những kỹ thuật lập pháp cấm đoán và hệ thống các chế tài

cứng nhắc.

Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về tỉ lệ sở hữu cổ phần

trong các công ty. Tỉ lệ này được thông qua các quy định về nghĩa vụ báo cáo

sở hữu cổ phần của các cổ đông lớn (cổ đông lớn là cổ đông nắm giữ từ 5%

trở lên cổ phần có quyền biểu quyết) hay trong hoạt động chào mua công khai

(một trong những trường hợp phải chào mua công khai là chào mua cổ phiếu

có quyền biểu quyết, chứng chỉ quỹ đóng dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi

lăm phần trăm trở lên cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đang lưu hành của một công ty

đại chúng, quỹ đóng)...

Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập CTCP thông qua

các quy định về chào mua công khai

Chào mua công khai là một trong những cách thức để bản thân công ty

muốn nhận sáp nhập có thể chủ động mua được số lượng lớn cổ phần, nhờ đó

có thể nhanh chóng tiến hành chi phối hoặc kiểm soát công ty mục tiêu. Đây

cùng là một cách để cảnh báo trước với công ty mục tiêu, tạo điều kiện cho

công ty này có đủ thời gian hợp lý để lên kế hoạch bảo vệ quyền kinh doanh

của mình.Trong thời gian chào mua công khai, pháp luật cũng cho phép công

ty mục tiêu thực hiện một số quyền nhất định như quyền phát hành chứng

khoán bổ sung, quyền mua lại cổ phiếu của chính mình,... Có thể coi đây là

biện pháp đáp trả của công ty mục tiêu với kế hoạch thâu tóm của công ty

muốn nhận sáp nhập. Nó có thể làm cho quá trình thực hiện việc tiếp cận sáp

31

nhập trở nên khó khăn hơn và buộc công ty muốn nhận sáp nhập phải xem xét

lại mục tiêu của mình. Nhờ vậy mà tạo ra được sự cân bằng giữa việc công ty

mục tiêu có quyền đáp trả còn công ty muốn nhận sáp nhập có quyền rút lui

nếu thấy mình không có khả năng đối phó được với sự đáp trả ấy

2.2.3. Các quy định về bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập CTCP

Có thể thấy, hoạt động sáp nhập thể hiện quyền quyết định của người

lãnh đạo hoặc những cổ đông lớn trong công ty. Vì vậy, chắc chắn một bộ

phận các cổ đông nhỏ lẻ sẽ chịu ảnh hưởng, quyền lợi của họ sẽ dễ bị xâm

phạm. Do đó, đặt ra nhu cầu cần phải có những cơ chế để bảo vệ bộ phận yếu

thế này trong hoạt động sáp nhập CTCP.

Sau khi đạt được thỏa thuận về sáp nhập công ty, cổ đông của công ty

bị sáp nhập sẽ phải quyết định có trở thành cổ đông của công ty nhận sáp

nhập hay lựa chọn phương án rút lui khỏi công ty bị sáp nhập trước khi hợp

đồng sáp nhập có hiệu lực.Từ đó, việc cụ thể hóa các quyền của cổ đông trong

những quy định pháp luật là cơ sở để các cổ đông có thể tự bảo vệ quyền lợi

của mình.

Trong quyết định sáp nhập, pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông

bằng cách bắt buộc phải có nghị quyết tán thành của ĐHĐCĐ của công ty

nhận và bị sáp nhập. Riêng đối với công ty bị sáp nhập, phải có Nghị quyết và

biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp

nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có

quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập (Điểm c khoản 4 Điều 195 LDN

2014). Đa số những thương vụ sáp nhập được quyết định bởi nhóm cổ đông

lớn, nắm đa số quyền biểu quyết. Lá phiếu của cổ đông thiểu số chỉ đóng vai

trò thứ yếu trong hoạt động này. Vậy nên, khi các cổ đông thiểu số không tán

thành với việc sáp nhập, họ có thể yêu cầu công ty mua lại cổ phần theo điều

129 LDN 2014:

32

" Điều 129. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông

1. Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty

hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có

quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản,

trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự

định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty

trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị

quyết về các vấn đề quy định tại khoản này.

2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại

khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy

định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu

cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một

tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ

chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là

quyết định cuối cùng."

Ngoài ra, tỷ lệ hoán đổi cổ phần cũng là một yếu tố giúp cân bằng

quyền lợi của những cổ đông thiểu số khi đưa ra quyết định sáp nhập. Dựa

vào giá trị tài sản cũng như khả năng sinh lời của công ty bị sáp nhập mà tỷ lệ

hoán đổi sẽ được xác định và tỷ lệ này phải được thẩm định bởi một tổ chức

thẩm định giá. Tỷ lệ hoán đổi được thỏa thuận, quyết định theo nguyên tắc đa

số biểu quyết tại ĐHĐCĐ của CTCP nhận sáp nhập dựa trên đề xuất của

HĐQT và người đại diện theo pháp luật. Cụ thể, tại điểm a khoản 3 điều 3

Nghị định 60/2015/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một

số điều nghị định 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Chứng khoán quy định như sau:

"[...]

a) Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chào

bán. Phương án chào bán phải nêu rõ mục đích, số lượng cổ phiếu dự kiến

33

chào bán, danh sách nhà đầu tư, số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành hoán

đổi và số lượng cổ phiếu, phần vốn góp nhận hoán đổi của từng nhà đầu tư,

phương pháp xác định và tỷ lệ hoán đổi. Phương pháp xác định và tỷ lệ hoán

đổi phải có ý kiến của tổ chức thẩm định giá độc lập. Trường hợp có ý kiến

khác nhau giữa tỷ lệ hoán đổi dự kiến thực hiện và tỷ lệ hoán đổi hợp lý do tổ

chức thẩm định giá độc lập xác định, thì Hội đồng quản trị phải có văn bản

giải trình để Đại hội đồng cổ đông xem xét quyết định.

Trường hợp hoán đổi cổ phiếu của một hoặc một số cổ đông xác định

của công ty đại chúng khác thì phải được Đại hội đồng cổ đông của công ty

được hoán đổi thông qua trong trường hợp tỷ lệ sở hữu của tổ chức phát hành

tại công ty đại chúng có cổ phiếu được hoán đổi vượt mức chào mua công

khai theo quy định tại Khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật Chứng khoán;

[...]"

Ví dụ, trong vụ sáp nhập giữa CTCP Vinpearl (VPL) vào CTCP

Vincom (VIC) năm 2011, cổ phiếu VPL được chuyển đổi thành cổ phiếu VIC

theo tỷ lệ VPL:VIC là 1:0,77 (nghĩa là 1 cổ phần VPL đổi 0,77 cổ phần VIC).

Vincom đã phát hành thêm 158.233.837 cổ phần để hoán đổi lấy 100% cổ

phần của Vinpearl, tương đương với 205.498.489 cổ phần. triệu cổ phần.

Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá là hơn 1.582 tỷ đồng, đối tượng phát

hành cho các cổ đông Vinpearl tại thời điểm chốt danh sách để thực hiện hoán

đổi cổ phần. Sau khi sáp nhập, VIC sẽ đổi tên thành CTCP Tập đoàn Đầu tư

Việt Nam, tên viết tắt là Vingroup JSC với tổng vốn điều lệ là 5.900 tỷ

đồng[32].

Trong thương vụ sáp nhập, không chỉ có quyền lợi của cổ đông phía

công bị sáp nhập cần bảo vệ mà còn cần phải chú ý đến cả quyền lợi của cổ

đông phía công ty nhận sáp nhập. Bởi không phải lúc nào công ty nhận sáp

nhập sau khi sáp nhập thêm công ty mới cũng hoạt động hiệu quả. Việc sáp

nhập này có thể làm gia tăng lợi ích của cổ đông của CTCP nhận sáp nhập khi

34

làm tăng giá cổ phiếu và tăng mức cổ tức chi trả hoặc giảm lợi ích của cổ

đông của CTCP nhận sáp nhập khi làm giảm giá cổ phiếu và giảm mức cổ tức

chi trả. Điển hình có thể kể đến vụ sáp nhập Ngân hàng Nhà Hà Nội

(Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) năm 2012 đã khiến cho

SHB phải chịu gánh nặng xử lý nợ xấu hàng nghìn tỷ đồng trong khi dự kiến

sẽ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng này. Tại đại hội cổ đông thường niên

2017, lãnh đạo SHB cho biết thời điểm sáp nhập Habubank, nợ xấu của

Habubank chuyển sang là 8.600 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu của SHB tăng từ 2,23%

lên 8,81%. Đến nay, SHB đã thu hồi 2.800 tỷ đồng, bán 3.500 tỷ đồng cho

VAMC, nhưng trong quá trình hoạt động nên ngân hàng vẫn tiếp tục phát sinh

nợ xấu[33].

Chính vì những điều trên mà đặt ra cho các nhà làm luật làm thế nào để

các quy định có thể dung hòa được lợi ích của các bên cổ đông, đảm bảo sự

công bằng cho một sân chơi lành mạnh. Việc này thể hiện ở những quy định

pháp luật về nguyên tắc định giá tài sản của CTCP bị sáp nhập, cũng như cụ

thể hóa quy định về nghĩa vụ công ty mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ

đông. Tuy nhiên những quy định về định giá giá tài sản của CTCP bị sáp nhập

cũng khá phức tạp. Giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công

ty, trong trường hợp không thỏa thuận được về giá thì giá do tổ chức thẩm

định giá chuyên nghiệp định giá. Như vậy, cổ đông sẽ luôn ở thế "bị động"

khi muốn quyết định rút lui. Ngoài ra, khi các cổ đông không đồng ý về một

vụ sáp nhập, họ có thể yêu cầu được nhận lại tiền thay vì nhận cổ phiếu thông

qua yêu cầu mua lại cổ phiếu. Đây là cách thức “giải thoát” hiệu quả cho

những cổ đông không đồng ý với quyết định sáp nhập mà không nhất thiết

phải hạn chế hoạt động sáp nhập. LDN 2014 quy định:

" Điều 129. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông

1. Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty

hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có

quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản,

35

trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự

định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty

trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị

quyết về các vấn đề quy định tại khoản này.

2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại

khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy

định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu

cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một

tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ

chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là

quyết định cuối cùng."

Trong quan hệ với chủ nợ, vấn đề đặt ra với CTCP nhận sáp nhập là sẽ

ưu tiên quyền lợi của các cổ đông thuộc công ty mình hay ưu tiên quyền lợi

của chủ nợ của CTCP bị sáp nhập. Có thể thấy, chủ nợ là đối tượng có quyền

lợi trực tiếp liên quan đến thương vụ. Do đó, chủ nợ có quyền được biết đầy

đủ thông tin về thương vụ sáp nhập. Trước khi tiến hành sáp nhập, công ty

nhận sáp nhập cần phải có những đánh giá về các khoản nợ của công ty bị sáp

nhập và xác định trách nhiệm của người quản lý đối với khoản nợ. Vì suy cho

cùng, nguyên nhân chính dẫn đến những thương vụ sáp nhập chính là những

khoản nợ không thể thanh toán. Ngược lại, các cổ đông của các bên công ty

cũng phải được cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình tài chính, các khoản nợ

của công ty bị sáp nhập để có thời gian xem xét, suy nghĩ tiến tới việc thực

hiện quyền biểu quyết tới số phận của thương vụ sáp nhập trước khi hợp đồng

sáp nhập có hiệu lực. Điều này được thể hiện trong các quy định yêu cầu công

ty công bố các thông tin đã nêu ở phần trên.

Như vậy, việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong hoạt động sáp

nhập có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức đa dạng và đan xen nhau.

Như việc đảm bảo sự công bằng trong hoạt động sáp nhập cũng đã bao hàm

36

bảo vệ cổ đông thông qua việc công bố thông tin và minh bạch hóa các chỉ số

về tình hình tài chính.

2.2.4. Các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong hoạt động

sáp nhập CTCP

Pháp luật công nhận và tạo rất nhiều điều kiện cho hoạt động sáp nhập

công ty. Tuy nhiên, sự công nhận này cũng có một số giới hạn. Có thể hiểu

hoạt động sáp nhập sẽ giúp giảm đi về mặt số lượng của các công ty hoạt

động trên thị trường do không đáp ứng được những yêu cầu của quy luật cạnh

tranh trước sự phát triển mạnh của các công ty khác, từ đó dẫn đến sự thay đổi

về cấu trúc và phân vùng thị trường. Song nếu kiểm soát không tốt sự tập

trung này sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền của các công ty lớn đối với nền

kinh tế thị trường hiện nay. Vì thế cần phải có những giới hạn được ghi nhận

bởi pháp luật để kiểm soát hoạt động này, tránh sự lạm quyền.

LCT 2005 coi sáp nhập là một trong những hành vi tập trung kinh tế.

Theo đó, các công ty tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên

thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các công ty đó phải thông báo cho

cơ quan quản lý cạnh tranh (Cục quản lý cạnh tranh) trước khi tiến hành tập

trung kinh tế. Với những trường hợp thị phần kết hợp của các công ty tham gia

tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp công ty

sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại công ty nhỏ và vừa theo quy

định của pháp luật thì không phải thông báo (điều 20 LCT 2005). Ngoài ra, điều

18, điều 19 LCT 2005 quy định thêm về các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm

và miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm:

"Điều 18. Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm

Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham

gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường

hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi

thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy

định của pháp luật."

37

"Điều 19. Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm

Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được

xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây:

1. Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị

giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;

2. Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần

phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ."

Từ một số quy định trên, chúng ta có thể thấy tiêu chí về thị phần là

tiêu chí để xác định mức độ tập trung kinh tế của một công ty. Nếu như hai

CTCP tiến hành sáp nhập dẫn đến tình trạng chiễm lĩnh hơn 50% trên thị

trường liên quan thì sẽ thuộc những trường hợp bị cấm. Tuy nhiên, ở đây lại

không quy định rõ ràng thế nào là "thị trường liên quan". Về phần các công ty

tham gia sáp nhập, họ chỉ có thể biết và chịu trách nhiệm về doanh số của

mình mà không có nghĩa vụ phải nắm được doanh số của các đối thủ cạnh

tranh trên thị trường, trong khi đây lại là căn cứ để tính toán thị phần của các

bên tham gia tập trung kinh tế. Dẫn đến việc các công ty phải đi thu thập một

lượng thông tin khổng lồ liên quan đến thị trường nói chung cũng như thị

phần nói riêng, tạo ra một áp lực rất lớn cho các doanh nghiệp mong muốn

thực hiện thủ tục thông báo hoặc tham vấn ý kiến của cơ quan cạnh tranh về

tập trung kinh tế. Hơn nữa, sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan

trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động tập trung kinh tế lại chưa thực sự tốt.

Những hạn chế trên dẫn đến việc khi xem xét hồ sơ đề nghị tập trung kinh tế,

hầu hết các cơ quan Nhà nước sẽ dựa trên cảm tính của mình để đánh giá mức

độ tập trung kinh tế của một công ty liệu có dẫn đến vị trí độc quyền trên thị

trường hay không.

Tính đến hết tháng 12/2014, cơ quan cạnh tranh mới chỉ tiếp nhận 26

vụ việc thông báo tập trung kinh tế, trong số đó 20 vụ việc đã được thông qua,

01 vụ việc rút hồ sơ và 5 vụ việc đang trong quá trình xem xét (con số này là

quá ít so với khoảng hơn 1.200 các thương vụ mua bán sáp nhập diễn ra tại

38

Việt Nam trong cùng giai đoạn này). Những con số trên phần nào thể hiện

được thêm công tác kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Việt Nam trong

giai đoạn vừa qua hoạt động không thực sự hiệu quả[34].

Như vậy, hoạt động sáp nhập trên thực tế hoàn toàn có thể gây ảnh

hưởng đến thị trường thông qua việc tập trung kinh tế với quy mô lớn. Bên

cạnh những tác động tích cực đến nền kinh tế thì đây chính là điểm hạn chế

của hoạt động này. Nếu như không kiểm soát tốt sẽ rất dễ dẫn đến nguy cơ

hình thành độc quyền, triệt tiêu cạnh tranh. Có thể thấy rằng thời gian qua,

Nhà nước đã có nỗ lực trong việc thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế thông

qua việc ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, từ những vụ

việc thực tế đã phát sinh ra nhiều vấn đề chưa có cơ chế điều chỉnh hiệu quả,

tạo ra những khó khăn đối với các công ty và cả nền kinh tế của nước ta.

Chính vì thế, điều cần thiết ở thời điểm này là hoàn thiện hơn các văn bản

pháp lý để tạo ra một khung pháp lý đầy đủ và rõ ràng hơn để công việc quản

lý của Nhà nước đạt được hiệu quả nhất định cũng như bảo vệ nền kinh tế

khỏi những rủi ro từ nguy cơ độc quyền.

2.2.5. Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A

Trong quá trình hội nhập với thế giới, việc cập nhật xu thế trên thị

trường quốc tế là vô cùng quan trọng. Muốn tham gia được sân chơi mở này,

đòi hỏi cần phải có một hệ thống pháp luật trong nước hoàn thiện cũng như

mở cửa thị trường, gia nhập những tổ chức quốc tế lớn như Tổ chức Thương

mại Thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),... Chấp

nhận tham gia những tổ chức này đồng nghĩa với việc chúng ta phải chủ động

tham gia các cam kết quốc tế để chứng minh khả năng hội nhập và tiềm năng

phát triển trên một thị trường rộng mở. Tính đến nay Việt Nam đã ký kết và

tham gia rất nhiều cam kết quốc tế về đầu tư hoặc liên quan đến đầu tư, bao

gồm: các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký kết với 55 nước; các

Hiệp định/Chương Đầu tư trong khuôn khổ FTA; và các cam kết khác liên

quan đến đầu tư như Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương

39

mại (TRIMs) của WTO, các hiệp định về dịch vụ trong WTO và các FTA,

hiệp định thành lập tổ chức bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước

New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước

ngoài, các cam kết đầu tư song phương và đa phương v..v… Có thể dễ dàng

nhận thấy, các Hiệp định, cam kết của Việt Nam liên quan đến hoạt động

M&A nói chung cũng như sáp nhập nói riêng hầu hết thể hiện dưới hình thức

tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt

Nam hoặc được thể hiện dưới dạng cam kết cho phép các nhà đầu tư nước

ngoài hiện diện thương mại, thâm nhập trong các ngành hay lĩnh vực đầu tư

tại Việt Nam.

Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại

dịch vụ

Sau hơn mười năm gia nhập WTO, Việt Nam đã và đang ngày càng mở

rộng cánh cửa thị trường của mình để các nhà đầu tư có thể gia nhập một cách

có lộ trình. Chính vì thế mà hoạt động M&A được coi là một cách để các nhà

đầu tư tiếp cận vào thị trường trong nước thuận tiện, nhanh chóng và dễ dàng

(chủ yếu qua việc góp vốn, mua cổ phần). Việc nhà đầu tư góp vốn, mua cổ

phần của doanh nghiệp Việt Nam liên quan đến phương thức cung cấp dịch

vụ thông qua sự hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Trong phần cam kết chung khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết:

"Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép góp vốn dưới hình thức mua cổ

phần trong các doanh nghiệp Việt Nam. Trong trường hợp này, tổng mức vốn

cổ phần do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trong một doanh nghiệp

không được vượt quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó, trừ khi luật pháp

Việt Nam có quy định khác hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

cho phép. Một năm sau khi gia nhập, hạn chế 30% cổ phần nước ngoài trong

việc mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ

đối với việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các ngân hàng thương

mại cổ phần và với những ngành không cam kết trong Biểu cam kết này. Với

40

các ngành và phân ngành khác đã cam kết trong Biểu cam kết này, mức cổ

phần do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ khi mua cổ phần tại doanh

nghiệp Việt Nam phải phù hợp với các hạn chế về tỷ lệ tham gia vốn của nước

ngoài được quy định trong các ngành và phân ngành đó, bao gồm cả hạn chế

dưới dạng thời gian chuyển đổi, nếu có"[35]. Có thể thấy, các hạn chế đối với

tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nói chung

cũng như các CTCP nói riêng tại Việt Nam đã bị xóa bỏ, trừ một số lĩnh vực

đặc thù như ngân hàng và chứng khoán. Ngoài ra, một số hạn chế về tỷ lệ sở

hữu cổ phần hạn chế không có thời hạn dỡ bỏ:

- Dịch vụ liên quan đến lâm nghiệp, săn bắn và nông nghiệp: Chỉ cho

phép thành lập liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phần vốn góp

của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.

- Dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Phần vốn góp của phía nước

ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.

Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp và công ty trong nước, chúng ta

có thể thấy sự dè dặt trong việc áp dụng các cam kết quốc tế khi mà các cam

kết quốc tế đó quy định khác với luật trong nước vẫn đang tồn tại, gây cản trở

một phần không nhỏ đến sự phát triển và hòa mình vào xu hướng hội nhập

của các công ty trong nước. Nguyên nhân của vấn đề này một phần là do các

chủ thể áp dụng pháp luật không có sự hiểu biết về các cam kết quốc tế hoặc

do e ngại sẽ vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam. Mặt khác, mặc dù

các tập đoàn đa ngành ở nước ta đang phát triển khá mạnh, song số lượng

doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn luôn chiếm đa số, chưa thực sự đáp

ứng đủ những yêu cầu cần thiết để gia nhập thị trường này.

Thực tế cho thấy, sau khi Việt Nam gia nhập WTO ngày 7/11/2006,

hoạt động M&A phát triển đặc biệt mạnh mẽ trong những năm gần đây. Một

số vụ thương vụ M&A điển hình trong giai đoạn này là: Công ty Cổ phần

Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai mua lại Cheerfield Rama, Dai-ichi mua lại Bảo

Minh CMG, Kinh Đô mua lại Kem Wall’s, Anco mua lại nhà máy sữa của

41

Nestlé. Trong năm 2008, các hoạt động này cũng diễn ra khá mạnh mẽ:

Indochina Capital Vietnam Holding mua 20% cổ phần của Công ty Thời trang

Việt - Ninomaxx, Tập đoàn Goldman Sachs đầu tư 30% cổ phần của Công ty

cổ phần Diana, hay việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho

Eximbank bán 25% vốn điều lệ cho nhà đầu tư nước ngoài là: Sumitomo

Mitsui Banking Corporation (SMBC),... Năm 2016, tổng giá trị các thương

vụ M&A của Việt Nam đạt mức kỷ lục trong vòng 9 năm gần đây với con số

5,82 tỷ USD, tăng trưởng gần 12%. Trong tổng số hơn 500 thương vụ diễn ra

trong năm 2016, số thương vụ có giá trị lớn trên 1 tỷ USD chỉ là 2 thương vụ.

Phần lớn các thương vụ có giá trị khiêm tốn, khoảng dưới 20 triệu USD. Bước

sang quý I/2017, tổng giá trị các thương vụ M&A lại giảm 25% so với cùng

kỳ năm trước, chỉ đạt 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, thương vụ “bom tấn” bán thành

công hơn 343 triệu cổ phần của Sabeco vừa qua đã phá toàn bộ kỷ lục trong

các thương vụ M&A trước đó. Đồng thời, thương vụ này cũng đưa tổng giá trị

các thương vụ M&A trong năm nay lên con số 8 tỷ USD. Ngoài ra, thị trường

cũng chứng kiến những sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong nước ra

thị trường nước ngoài như Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel đầu tư vào

thị trường Campuchia, Lào; tập đoàn FPT đầu tư vào thị trường Cambodia,

Myanmar, Isreal,...

Những con số biết nói trên đã cho thấy, mở cửa thị trường không chỉ

đem lại lợi ích cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mà nếu như các

doanh nghiệp, công ty trong nước cũng biết tận dụng lợi thế về thị trường mở

cửa, có am hiểu vững về pháp luật cùng với khả năng tài chính tốt thì hoàn

toàn có thể tham gia vào thị trường M&A quốc tế một cách hiệu quả.

Cam kết trong khu vực ASESAN

Đối với khu vực ASEAN, nhiều dự đoán cho rằng hoạt động M&A

trong khu vực ASEAN sẽ diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính

và năng lượng, do các Hiệp định được ký kết giữa các quốc gia ASEAN đã

tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, các rào cản thương mại, thuế quan

42

hầu như không còn trong khu vực này. Các cam kết của Việt Nam trong khu

vực ASEAN về hoạt động M&A chủ yếu được thể hiện ở các hiệp định hợp

tác về đầu tư.

Ngày 15/12/1987 những nhà lãnh đạo phụ trách các vấn đề kinh tế của

các nước ASEAN 6 đã kí kết hiệp định hợp tác về đầu tư mang quy mô toàn

ASEAN đầu tiên có tên là Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (AIGA)

để tiến hành hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực đầu tư trong khu vực. Hiệp định

Khuyến khích và bảo hộ đầu tư có hiệu lực từ ngày 2/8/1988, sau đó được sửa

đổi một lần vào năm 1996. Hiệp định này khá ngắn, chỉ bao gồm 13 điều

khoản và mới chỉ dừng lại ở những qui định liên quan tới các yếu tố về bảo hộ

đầu tư và xúc tiến đầu tư. Cụ thể, theo qui định tại Khoản 1 Điều IV “Mỗi bên

kí kết trong phạm vi lãnh thổ của mình sẽ đảm bảo bảo hộ đầy đủ đối với các

khoản đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu tư của bên kí kết khác theo qui định

của bên kí kết đó”.

Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) được các quốc gia

thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á lập ngày 07-10-1998

nhằm khẳng định lại tầm quan trọng của việc giữ vững sự tăng trưởng và phát

triển kinh tế ở tất cả các quốc gia, đồng thời ghi nhớ những thỏa thuận nhằm

hình thành Khu vực Đầu tư ASEAN có tính cạnh tranh vào năm 2010 sẽ góp

phần hướng tới Tầm nhìn ASEAN năm 2020. Hiệp định này chính thức có

hiệu lực vào ngày 21 tháng 6 năm 1999 chứa đựng 21 điều khoản. Với mục

tiêu tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, tự do, minh bạch, so với IGA

(Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư), AIA tiếp tục đưa ra các thỏa

thuận nâng cao hơn nữa tiến trình tự do hóa, xúc tiến, thuận lợi hóa và hài hòa

hóa chính sách đầu tư nước ngoài đang được thực hiện trong ASEAN; loại trừ

danh mục đầu tư và bổ sung điều khoản về áp dụng nguyên tắc đối xử quốc

gia và đối xử tối hệ quốc, bảo hộ đầu tư.

Năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đưa ra quyết định thành lập Cộng

đồng kinh tế ASEAN. Trong xu thế này, nhiều điều khoản trong AIA và IGA

43

không đáp ứng được mục tiêu mà AEC đặt ra như AIA chỉ bao gồm các thỏa

thuận về tiếp cận thị trường, các thỏa thuận về bảo hộ đầu tư theo IGA cũng

trở nên lạc hậu với tình hình đầu tư, thương mại trong khu vực. Vì vậy, các

nước thành viên ASEAN đã thống nhất quan điểm soạn thảo văn bản mới

thay thế hai Hiệp định về đầu tư hiện hành nhằm cải thiện môi trường đầu tư

cạnh tranh, minh bạch, tự do và thông thoáng hơn. Sau hơn 2 năm chuẩn bị và

soạn thảo, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) đã được kí kết vào

ngày 26/02/2009 và có hiệu lực vào ngày 29/3/2012. Hiệp định ACIA gồm 3

phần với 49 Điều khoản, trong đó, ngoài việc kế thừa các quy định trong IGA

và AIA, căn cứ vào thực tiễn đầu tư quốc tế và khu vực, ACIA còn đưa ra

những điều chỉnh mới nhằm cải thiện môi trường đầu tư ASEAN như: mở

rộng khái niệm nhà đầu tư ASEAN, đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp phát

sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia thành viên, bổ sung những điều

khoản với về chuyển giao và đãi ngộ đầu tư, đưa ra một danh sách các biện

pháp hạn chế đầu tư và các tiêu cực trong đầu tư…

Các hiệp định thương mại tự do có cam kết về đầu tư

Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một thỏa thuận giữa hai hay

nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về

một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các

quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành

viên[34] Theo báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần

Tuấn Anh ký gửi Thường vụ Quốc hội ngày 21-12 liên quan đến Nghị quyết

số 1052/NQ-UBTVQH13 về một số định hướng, nhiệm vụ và giải pháp thúc

đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tính đến nay Việt Nam đã ký kết và

thực thi 10 FTA, kết thúc đàm phán 2 FTA, và đang đang đàm phán 4 FTA

khác (bao gồm Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA

ASEAN- Hồng Kông, FTA với Israel và FTA với Khối thương mại tự do

châu Âu). Trong 10 FTA đã ký kết và thực thi có 6 FTA ký kết với tư cách là

thành viên ASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung

44

Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và New Zealand), 4 FTA ký kết với

tư cách là một bên độc lập (Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á-

Âu)[35]. Hai FTA đã kết thúc đàm phán là FTA với Liên minh châu Âu, và

Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Cụ thể:

- Hiệp định Hợp tác Kinh tế Việt Nam -Nhật Bản (VJEPA): Nội dung

về đầu tư của Hiệp định này dẫn chiếu đến toàn bộ Hiệp định Khuyến khích,

Bảo hộ và Tự do hoá đầu tư Việt Nam - Nhật Bản.

-Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA): Đây là một hiệp định về

đầu tư độc lập, trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của Cộng đồng ASEAN. Hiệp

định này thay thế hai hiệp định về đầu tư của ASEAN đã ký trước đây là Hiệp

định Khu vực Đầu tư ASEAN (về tự do hoá và thuận lợi hoá đầu tư, ký năm

1998) và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA –ký năm 1986);

- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN –Australia & New Zealand

(AANZFTA). Đây là một Hiệp định trọn gói, trong đó Chương Đầu tư được

đàm phán và ký kết cùng lúc với các chương khác của Hiệp định.

- Hiệp định đầu tư trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –

Trung Quốc (ACFTA)

- Hiệp định đầu tư trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –

Hàn Quốc (AKFTA)

Nhìn chung, các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia khá đầy đủ và đa

dạng, góp phần thúc đẩy sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài

vào thị trường trong nước cũng như thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước

mạnh dạn đầu tư vào thị trường quốc tế. Tuy nhiên việc nội luật hóa những

quy định quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế,

đòi hỏi cần phải có những thay đổi tích cực hơn.

45

2.3. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập

công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài

2.3.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về điều kiện đối

với hoạt động sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài

Việc nhà đầu tư nước ngoài sở hữu cổ phần của các công ty trong nước

- một trong những cách để tiến hành sáp nhập công ty nội địa là một vấn đề

khá nhạy cảm. Đó có thể trở thành một trong những cách thức để thu hút vốn

đầu tư nước ngoài. Mặt khác, đó cũng có khả năng là cách thức dễ dàng nhất

để thâm nhập thị trường, biến thị trường nước nhà trở thành thị trường nội địa

của các nhà tư bản nước ngoài.

Để điều chỉnh vấn đề trên, xu hướng pháp luật Việt Nam đang ngày

càng nới lỏng tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Nghị định 60/2015/NĐ-

CP ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều

của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán quy định về tỉ lệ sở

hữu với các nhà đầu tư nước ngoài như sau:

"1. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại công ty đại chúng như sau:

a) Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định

về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì thực hiện theo điều ước quốc tế;

b) Trường hợp công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư

kinh doanh mà pháp luật về đầu tư, pháp luật liên quan có quy định về tỷ lệ

sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo quy định tại pháp luật đó.

Đối với công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh

doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài mà chưa có quy

định cụ thể về sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa là 49%;

c) Trường hợp công ty đại chúng hoạt động đa ngành, nghề, có quy

định khác nhau về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài không

vượt quá mức thấp nhất trong các ngành, nghề (mà công ty đó hoạt động) có

46

quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy

định khác;

d) Đối với công ty đại chúng không thuộc các trường hợp quy định tại

Điểm a, b, c khoản này, tỷ lệ sở hữu nước ngoài là không hạn chế, trừ trường

hợp Điều lệ công ty có quy định khác."

Với tỉ lệ nêu trên, việc các nhà đầu tư nước ngoài muốn gia nhập thị

trường trong nước hoàn toàn đã dễ dàng hơn rất nhiều khi mức tỉ lệ tối đa mà

nhà đầu tư có thể sở hữu là 49% (đối với công ty đại chúng hoạt động trong

ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước

ngoài mà chưa có quy định cụ thể) và không giới hạn (đối với công ty đại

chúng không nằm trong trường hợp bị hạn chế tỉ lệ.

LĐT 2014 quy định hoạt động sáp nhập như là một cách đầu tư kinh doanh

đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khoản 5 điều 3 LĐT 2014 quy định:

"Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt

động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,

mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp

đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư."

Các hình thức đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Quy định tại Điều 22 LĐT 2014 và

được hướng dẫn cụ thể tại Điều 44 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.

Điểm mới của LĐT 2014 so với LĐT 2005 là trước khi thành lập tổ

chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục

cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở

hữu vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt

Nam là thành viên. Theo đó, về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà đầu tư nước

ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một

số trường hợp hạn chế theo quy định của pháp luật về chứng khoán, về cổ

phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và các điều ước quốc tế mà

Việt Nam là thành viên như đã trình bày ở phần trên.

47

- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ

chức kinh tế: Được quy định tại Điều 24 LĐT 2014.

Hình thức đầu tư này được hiểu là nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần,

phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư. Theo đó, nhà

đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình thức sau

đây (Khoản 1 điều 25 LĐT 2014):

+ Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của

công ty cổ phần;

+ Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;

+ Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định

tại hai trường hợp trên

Và mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức

sau đây:

+ Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;

+ Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn

để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;

+ Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để

trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;

+ Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc

ba trường hợp trên.

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: Hình thức đầu tư này được quy

định tại Điều 27 Luật đầu tư 2014 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định

15/2015/NĐ-CP.

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: Hình thức đầu tư này được quy

định tại Điều 28 Luật đầu tư 2014.

2.3.2. Các quy định quy trình, thủ tục sáp nhập công ty cổ phần có

yếu tố nước ngoài

Các nhà đầu tư nước ngoài muốn thực hiện hoạt động đầu tư vào thị

trường Việt Nam thì cần phải tuân theo một số thủ tục nhất định. Để một dự

48

án đầu tư muốn được triển khai trên lãnh thổ Việt Nam, thông thường nhà đầu

tư sẽ phải xem xét rằng dự án đó có thuộc trường hợp phải quyết định chủ

trương đầu tư hay thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư hay

không để thực hiện trước khi triển khai dự án trên thực tế.

Hiện nay, các dự án phải quyết định chủ trương đầu tư đang được quy

định tại Điều 30, 31 và 32 LĐT năm 2014, lần lượt tương ứng với thẩm quyền

quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh. Khi dự án của nhà đâu tư thuộc những trường hợp luật

định phải quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư nộp hồ sơ dự án đầu tư

cho cơ quan quản lý đâu tư có thẩm quyền. Nếu dự án đầu tư thuộc thẩm

quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì sau 35 ngày kể từ ngày

nhận được hồ sơ dự án đầu tư thì cơ quan đăng kí đầu tư sẽ thông báo kết quả

cho nhà đầu tư, tuy nhiên đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ

trương đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ hiện nay pháp luật chưa

quy định về thời gian cụ thể thông báo kết quả cho nhà đầu tư.

Cũng như thủ tục quyết định chủ trương đầu tư thì không phải mọi dự

án đầu tư đều phải có Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư, mà chỉ những dự án

được pháp luật quy định mới phải có Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư. Hiện

nay những trường hợp phải thực hiện và không phải thực hiện thủ tục cấp

Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đang được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2

Điều 36 LĐT năm 2014:

"Điều 36. Trường hợp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký

đầu tư

1. Các trường hợp phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký

đầu tư:

a) Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài;

b) Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của

Luật này.

49

2. Các trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận

đăng ký đầu tư:

a) Dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước;

b) Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 của

Luật này;

c) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ

chức kinh tế."

Như vậy nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng

nhận đầu tư cho dự án với thành lập doanh nghiệp trên cơ sở sáp nhập. Chỉ

những dự án của nhà đầu tư nước ngoài và của tổ chức kinh tế quy định tại

khoản 1 Điều 23 LĐT 2014 mới bắt buộc phải có giấy chứng nhận đăng kí

đầu tư. Tuy nhiên những dự án thuộc trường hợp không bắt buộc phải có Giấy

chứng nhận đăng kí đầu tư (Khoản 2 Điều 36 LĐT) vẫn có thể thực hiện thủ

tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư nếu nhà đầu tư có nhu cầu.

Hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư bao gồm:

- Văn bản đề nghị/đăng ký điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư theo mẫu

- Văn bản đề nghị sáp nhập, mua lại doanh nghiệp

- Biên bản họp và Quyết định của Đại hội đồng cổ đông đối với CTCP

về việc sáp nhập doanh nghiêp

- Bản giải trình những nội dung điều chỉnh đối với dự án đầu tư (ghi rõ

những thay đổi so với dự án đang triển khai) và lý do điều chỉnh

- Bản sửa đổi, bổ sung của hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác

kinh doanh (nếu có)

- Bản sao Điều lệ của doanh nghiệp

- Bản sao Giấy chứng nhận đầu tư

- Danh sách cổ đông sáng lập CTCP theo mẫu kèm theo các giấy tờ

chứng minh tư cách pháp lý của cổ đông đã được hợp pháp hóa lãnh sự

- Báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp và dự án đầu tư đến

thời điểm điều chỉnh

50

- Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo qui định của pháp luật phải

có vốn pháp định

- Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của một hoặc một số cá nhân

khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo qui định của pháp luật

phải có chứng chỉ hành nghề (chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài

không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên

ngành hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có qui định khác).

Nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người nước

ngoài thì phải có thêm các giấy tờ sau:

- Hộ chiếu Việt Nam; Hộ chiếu nước ngoài (hoặc giấy tờ có giá trị thay

thế hộchiếu nước ngoài) và một trong các giấy tờ chứng minh người gốc Việt

Nam ở nước ngoài. Các giấy tờ này phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

- Giấy đăng ký tạm trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và

Hộ chiếu còn hiệu lực đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

- Nếu người đại diện theo pháp luật không phải cổ đông của công ty thì

phải có thêm Hợp đồng lao động

Để được cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư thì nhà đầu tư nộp hồ sơ

cho cơ quan đăng kí đầu tư theo quy định của pháp luật, khi nhận đủ hồ sơ thì

cơ quan đăng kí đầu tư sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư cho nhà đầu tư

sau 15 ngày. Trường hợp dự án thuộc trường hợp phải quyết định chủ trương

đầu tư thì Giấy chứng nhận đăng kí đầu từ sẽ được cấp sau 5 ngày làm việc kể

từ kí cơ quan đăng kí đầu tư nhận được văn bản chấp thuận đầu tư và như thế

nhà đầu tư chỉ phải nộp hồ sơ 1 lần nếu thuộc trường hợp phải quyết định chủ

trương đầu tư và phải có Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư. Quy trình này đã

tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình thực hiện các thủ tục đầu tư.

51

Tiểu kết chương II

Để tiến hành thành công một thương vụ sáp nhập CTCP, các công ty

phải trải qua rất nhiều bước khác nhau. Chính vì vậy mỗi nội dung, mỗi vấn

đề khi tiến hành sáp nhập CTCP đều cần phải được điều chỉnh của các quy

định pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham

gia hoạt động sáp nhập. Những quy định này nằm rải rác ở nhiều văn bản

khác nhau như: BLDS 2015, LDN 2014, LĐT 2014, LCK 2010,... và một số

các văn bản hướng dẫn khác. Có thể thấy pháp luật đã điều chỉnh hoạt động

này ở nhiều khía cạnh khác nhau. Song các quy định này không nằm tập trung

cho nên dẫn đến tình trạng khi cùng điều chỉnh một vấn đề sẽ thiếu tính đồng

bộ, thống nhất. Do đó có thể gây ảnh hưởng đến các chủ thể tham gia quan hệ

pháp luật và làm giảm hiệu quả. Vì vậy mà thực tiễn thực thi pháp luật về

hoạt động sáp nhập đang đòi hỏi các quy phạm điều chỉnh hoạt động này cần

được hoàn thiện hơn.

52

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam đã đạt được một

số thành tựu nhất định, đặc biệt là những thành tựu kinh tế. Nền kinh tế giờ đây

là nền kinh tế thị trường vô cùng rộng mở với nhiều thành phần khác nhau. Số

lượng các doanh nghiệp, công ty gia tăng ngày một nhanh chóng. Dẫn đến thị

trường M&A nói chung cũng như sáp nhập nói riêng hoạt động ngày càng mạnh

mẽ và sôi động, đòi hỏi pháp luật phải có những sự điều chỉnh thích hợp và toàn

diện. Đứng trước nhu cầu trên, việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động sáp nhập

CTCP tại Việt Nam vô cùng cần thiết. Nền tảng pháp luật đầy đủ sẽ là điều kiện

rất quan trọng để hoạt động sáp nhập CTCP phát triển ổn định, bềnh vững và

mang lại nhiều giá trị cho nền kinh tế nước ta.

3.1. Kiến nghị về chính sách pháp luật

Các chính sách pháp luật có một vai trò quan trọng trong việc định

hướng cho sự pháp triển của hoạt động sáp nhập CTCP. Những chính sách

đúng đẵn sẽ mang lại những lợi ích to lớn với hoạt động này.

Thứ nhất, cần phải tạo môi trường thuận lợi và hành lang pháp lý ổn

định cho hoạt động sáp nhập CTCP thông qua việc xóa bỏ độc quyền ngành

trong một số lĩnh vực, mở rộng khả năng tiếp cận quyền kinh doanh của khối

doanh nghiệp dân doanh theo mô hình đấu thầu tư nhân đối với quyền khai

thác theo tiêu chuẩn chọn thầu là hiệu quả khai thác tối ưu; nâng cao hiệu quả

khai thác, sử dụng vốn, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác của đất

nước nhằm thực hiện chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế mà Quốc hội đã đề ra.

Mục đích nhằm thu hút được nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài.

Thứ hai, cần có những chính sách khuyến khích hoạt động sáp nhập của

các công ty thuộc mọi thành phần. Sử dụng sự liên kết này như một rào cản

đối với các vụ sáp nhập có yếu tố nước ngoài bên cạnh những ràng buộc khác

của nhà quản lý.

53

Thứ ba, tạo hành lang pháp lý để thu hút vốn từ nước ngoài thông qua

hoạt động mua bán, sáp nhập và tổ chức lại doanh nghiệp; Bảo đảm an ninh

xã hội và đảm bảo quản lý, kiểm soát hiệu quả của nhà nước, tạo nền tảng cho

sự phát triển bền vững của nền kinh tế; Tạo môi trường kinh doanh bình

đẳng, phát huy tính cạnh tranh của các thành phần kinh tế.

Thứ tư, hoàn thiện một số chính sách bổ trợ cho hoạt động sáp nhập

CTCP như: các biện pháp để nâng cao hơn vai trò của hiệp hội doanh nghiệp,

các hiệp hội ngành; nâng cao tính minh bạch trong quản trị công ty; giảm

thiểu sự can thiệp chính trị hay những quyết định mang tính hành chính đối

với hoạt động sáp nhập. Song song với đó, các chính sách kinh tế ngành cũng

cần đảm bảo sự hỗ trợ lẫn nhau.

3.2. Kiến nghị về các quy định pháp luật

Hoạt động sáp nhập CTCP không chỉ là hành vi sáp nhập thông thường.

Vì đối tượng của hoạt động sáp nhập rất đặc biệt (công ty-một thực thể pháp

lý đang tồn tại), phương thức tiến hành đa dạng, hoạt động sáp nhập công ty

vốn đã rất phức tạp và liên quan đến nhiều hệ thống luật như: Luật dân sự với

những quy định về tài sản, hợp đồng; Luật doanh nghiệp với các quy định về

cách thức hoạt động, vận hành của mỗi loại hình công ty; Luật thương mại

với các quy định về quyền tự do đầu tư kinh doanh; Luật đầu tư với những

quy định về điều kiện, thủ tục đầu tư cho các nhà đầu tư ..v.v.. Vì thế, để đưa

ra được một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động mua bán công ty đòi hỏi

sự kết hợp của nhiều ngành luật khác nhau. Hệ thống các văn bản pháp luật

hiện hành phần nào tạo ra một nền tảng pháp lý cho các chủ thể tiến hành hoạt

động sáp nhập CTCP, tuy nhiên lại thiếu đi những quy định cụ thể để điều

chỉnh và hướng dẫn thực hiện hoạt động này. Như vậy, hệ thống pháp luật

Việt Nam hiện nay đã sẵn có những quy định mang tính chất nền tảng, những

quy định chung cho hoạt động sáp nhập, pháp luật Việt Nam chỉ cần bổ sung

những quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động này

54

- Trong việc đảm bảo công bằng của hoạt động sáp nhập CTCP

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng các cơ chế hỗ trợ các quyền để đảm bảo

cho các công ty mục tiêu như: khả năng có thể nhận thức được nguy cơ bị

thâu tóm; có đủ thời gian cần thiết đểxem xét những lời đề nghị hay hành

động của công ty nhận sáp nhập; có được những thông tin đầy đủ để đảm bảo

cho sự cân nhắc một cách đúng đắn nhất đối với những lời đề nghị hay hành

động của bên nhận sáp nhập; có được các quyền cũng như những cơ hội

ngang bằng trong khả năng hành động để tương xứng với khả năng hành động

của công ty nhận sáp nhập, chúng ta cần hoàn thiện các quy định về công bố

thông tin về sở hữu cổ phiếu số lượng lớn theo hướng bổ sung thêm các nội

dung bắt buộc trong công bố thông tin. Ngoài các thông tin bắt buộc về người

sở hữu cổ phần lớn, các thay đổi tỷ lệ cổ phần và các thông tin bất thường

cũng cần quy định thêm về các thông tin: về mục đích sở hữu hay lý do thay

đổi, số lượng và chủng loại cổ phiếu, thay đổi phương pháp và giá mua, nội

dung các hợp đồng uỷ thác, hợp đồng thế chấp về cổ phiếu sở hữu và các hợp

đồng quan trọng nhất. Bên cạnh đó, hoàn thiện hơn nữa các quy định trong

chế định chào mua công khai theo hướng: cho phép công ty mục tiêu được

quyền phát hành chứng khoán bổ sung, được quyền mua lại cổ phiếu của

chính mình trong thời gian chào mua công khai.

- Trong việc bảo vệ cổ đông khi sáp nhập CTCP

Cần hoàn thiện quy định trong chế độ quyền yêu cầu mua cổ phiếu của

cổ đông phản đối theo hướng quy định lại căn cứ xác định giá của cổ phiếu

theo giá thị trường tại thời điểm cổ đông phản đối có yêu cầu chuyển nhượng

lại cổphần cho công ty. Việc này sẽ giúp cho hoạt động xác định giá rõ ràng

và mang lại sự khách quan cho các cổ đông.

Hoàn thiện quy định trong chế định chào mua công khai theo hướng:

thiết lập nguyên tắc cấm các hành vi chào mua với mục đích lũng đoạn giá;

xác định lại thời điểm bảo vệ cổ đông trong thời gian chào mua công khai

theo mô hình: trong một thời hạn nhất định sau khi đăng ký với cơ quan quản

55

lý nhà nước mà không cần sự chấp thuận của cơ quan thẩm quyền đối với

chào mua công khai như quy định hiện nay; tạo ra các giải pháp cho cổ đông

thiểu số của công ty nhận sáp nhập thông qua quy định “ép mua” đối với

những người đã sở hữu một lượng cổphiếu lớn của công ty mục tiêu nhằm

bảo vệ các cổ đông này trước các biện pháp đáp trả cực đoan của công ty mục

tiêu; nâng cao tính minh bạch trong quản trị công ty, tạo dựng thiết chế giám

sát hiệu quả đối với các hoạt động của HĐQT nói chung và việc xác định giá

chào bán cổ phần mới nói riêng.

Bổ sung quy định về quyền của cổ đông công ty được yêu cầu tòa án

xem xét lại giá mua lại cổ phần/phần vốn góp trong trường hợp cổ đông công

ty yêu cầu công ty mua lại cổ phần/phần vốn góp của mình do bất đồng với

quyết định của công ty. Hiện nay, LDN 2014 đã có quy định cho phép công ty

cổ phần mua lại cổ phần của cổ đông nếu cổ đông đó phản đối quyết định về

việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định

tại Điều lệ công ty. Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định nghĩa vụ mua lại cổ

phần này theo giá thị trường hoặc giá quy định theo nguyên tắc tại Điều lệ

công ty, nhưng không nêu cụ thể loại giá nào sẽ được ưu tiên áp dụng, cũng

như không đưa ra nguyên tắc xác định giá thị trường của cổ phiếu, đặc biệt về

thời điểm định giá và định giá cổ phiếu trong CTCP chưa niêm yết. Do đó, đề

nghị bổ sung vào các văn bản pháp luật về doanh nghiệp nguyên tắc xác định

giá mua lại cổ phần, phần vốn góp và ghi nhận quyền của cổ đông công ty

được khởi kiện để yêu cầu Tòa án xác định giá mua lại cổ phần trong trường

hợp này.

- Trong việc kiểm soát tập trung kinh tế

Việc pháp luật thừa nhận các biện pháp nhằm mục đích chống lại sáp

nhập như là các quyền của công ty mục tiêu và các quy định hạn chế sự lạm

dụng các quyền này thể hiện tính cân bằng trong việc điều chỉnh hoạt động

sáp nhập. Làm thế nào để vừa mở rộng thị trường, nới lỏng các điều kiện cho

các nhà đầu tư trong và ngoài nước để tăng nguồn vốn, kích thích sự phát

56

triển của nền kinh tế song vẫn phải có những giới hạn để tránh tình trạng lạm

quyền, gây độc quyền kinh tế, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng là một

câu hỏi không dễ.

Vì vậy, cần hoàn thiện quy định về cổ phiếu quỹ theo hướng ngăn cấm

mọi hành vi mua lại cổ phiếu nhằm mục đích lũng đoạn giá hoặc với mục

đích không tốt. Áp dụng chế độ minh bạch bắt buộc đối với cổ phiếu quỹ

thông qua các yêu cầu về nội dung thông tin công bố trong trường hợp mua

lại cổ phiếu của chính mình: về mục đích mua, số lượng cổphiếu tối đa dự

kiến mua lại, nguồn vốn để mua lại, nguyên tắc xác định giá, thời gian thực

hiện giao dịch, tên công ty chứng khoán được chỉ định để thực hiện giao dịch.

Ngoài ra, cũng có thể điều chỉnh lại những quy định về kiểm soát tập

trung kinh tế theo hướng giới hạn hoạt động sáp nhập ở một số ngành nghề nhất

định (những ngành nghề đặc biệt, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến cả kinh tế và

xã hội). Nếu như có một sự kiểm soát tốt, vừa đủ để tạo điều kiện thuận lợi cho

một môi trường sáp nhập sôi động và mạnh mẽ nhưng cũng ko làm nhẹ đi vai trò

quản lý của Nhà nước đối với một hoạt động quan trọng với nền kinh tế, chắc

chắc sẽ là cơ sở để hoạt động này phát triển ổn định và bền vững.

- Trong quan hệ với các nhà đầu tư nước ngoài

Về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài và tỷ lệ sở hữu của nhà

đầu tư nước ngoài, chúng ta cần xác định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài,

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó cũng cần xây dựng một

danh sách thống nhất và duy nhất về các ngành/lĩnh vực có hạn chế về tỷ lệ

góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc các điều kiện đầu tư khác. Có thể đề

xuất nguyên tắc xử lý các trường hợp nhà đầu tư của các nước không thuộc

WTO, theo hướng không hạn chế nếu pháp luật không có quy định hạn chế,

nhưng không thuận lợi hơn chế độ đối xử dành cho nhà đầu tư của các nước

thành viên WTO. Cuối cùng, về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, các

lĩnh vực đầu tư có điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài cần được xử lý ở một

văn bản riêng hướng dẫn thi hành LĐT sửa đổi.

57

Tiểu kết chương III

Hoạt động M&A ở Việt Nam đã và đang có giai đoạn phát triển rất sôi

động và trong đó, sáp nhập đã trở thành một phương thức phổ biến để phục

vụ cho nhiều mục đích khác nhau của các công ty và nhà đầu tư. Về tổng

quan, Việt Nam đã có một hệ thống nền tảng các quy định pháp luật về sáp

nhập CTCP đủ để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp áp dụng khi thực hiện

hoạt động này. Tuy nhiên, hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam về

sáp nhập CTCP còn bộc lộ nhiều bất cập và thiếu đồng bộ, cần phải tiếp tục

nghiên cứu và hoàn thiện. Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập là một vấn đề cấp

bách nhằm đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam, tạo lòng tin,

sự uy tín của các quốc gia trên thế giới. Việc khắc phục những bất cập của các

quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam cần phải tiến hành đồng bộ, trên

nhiều lĩnh vực có sự liên kết với nhau như quản lý doanh nghiệp, đầu tư,

cạnh tranh, thị trường chứng khoán, lĩnh vực ngân hàng, lao động... Nếu làm

tốt điều này, chúng ta sẽ tạo ra một môi trường M&A minh bạch, giúp Việt

Nam thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra,việc

hoàn thiện pháp luật về M&A hay sáp nhập còn góp phần bảo vệ cổ đông

thiểu số, người có ít tiếng nói trong doanh nghiệp. Đồng thời, đem lại cho các

công ty nội địa cơ hội cơ cấu lại tổ chức, mở rộng thị trường với khả năng tiếp

cận vốn và công nghệ tiên tiến.

58

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh cao giữa các

doanh nghiệp sẽ là động lực để các doanh nghiệp vươn lên, phát triển cả chiều

ngang lẫn chiều rộng, và đương nhiên khi đó sẽ có công ty tồn tại, phát triển,

sẽ có công ty phá sản, bị thôn tính. Từ đó hình thành nhu cầu cần mua, cần

bán, sáp nhập, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp để lớn mạnh hơn,

phát triển hơn và hỗ trợ cho nhau tốt hơn. Tuy nhiên, như đã đề cập, việc sáp

nhập công ty không đơn giản như mua bán một sản phẩm hàng hóa thông

thường. Một thương vụ sáp nhập thành công hay không phụ thuộc vào vào rất

nhiều yếu tố: nhu cầu, giá cả, giải quyết các vấn đề phát sinh hậu sáp nhập...

Với những ưu điểm rõ rệt như giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường,

tăng sức cạnh tranh, tăng năng suất lao động (đối với bên nhận sáp nhập), hay

một cơ hội rút lui hiệu quả khỏi thị trường (đối với bị sáp nhập), sáp nhập

CTCP đã mang lại nhiều lợi ích cho các bên trong giao dịch. Đồng thời, với

tính chất như một hình thức tổ chức lại của các công ty, sáp nhập công ty thực

sự trở thành một trong những phương thức mà Nhà nước khuyến khích lựa

chọn để tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển ổn định và bền vững.

Giao dịch sáp nhập công ty là một giao dịch rất phức tạp liên quan đến nhiều

vấn đề từ quản trị công ty, chứng khoán, ngân hàng đến các lĩnh vực như

thương hiệu, định giá, cạnh tranh,... Hiện nay, các văn bản pháp lý thực sự để

điều chỉnh hoạt động mua bán, sáp nhập ở Việt Nam còn rất ít, hầu hết đều

nằm rải rác ở các điều luật liên quan đến từng vấn đề cụ thể. Với khung pháp

lý hiện nay, các nhà đầu tư đang gặp nhiều khó khăn khi tiến hành đầu tư theo

hình thức này, đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, nhà

đầu tư trong nước còn khá rụt rè khi tiến hành các giao dịch sáp nhập công ty

do thiếu kiến thức chuyên môn và thiếu hiểu biết pháp luật. Vì vậy, xây dựng

và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động M&A hay hoạt động sáp nhập công

ty đang trở thành một nhu cầu cấp thiết hiện nay. Đặc biệt là trong điều kiện

59

những năm tới đây nhiều lĩnh vực như bán lẻ, ngân hàng, chứng khoán, công

nghệ thông tin, dược phẩm, v.v.. sẽ chứng kiến nhiều hơn nữa thương vụ sáp

nhập ở quy mô lớn, số lượng các giao dịch sẽ tăng nhanh, nếu pháp luật

không kịp điều chỉnh sẽ dẫn đến những rủi ro về mặt pháp lý cho bên bán và

bên mua, rủi ro về mặt quản lý, điều hành nền kinh tế của Chính phủ. Vì lẽ

đó, bản thân các công ty cũng cần phải luôn cập nhập xu hướng của pháp luật,

tìm hiểu và nắm rõ những vấn đề pháp lý đối với công ty mình để có thể tự

chủ, tham gia hoạt động sáp nhập một cách tự tin và hiệu quả nhất.

Hoạt động xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý đòi hỏi phải có quá

trình nghiên cứu, tập trung trí tuệ của nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia

kinh tế, pháp lý. Với những kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề tài

này, người viết hy vọng góp phần vào việc hoàn thiện khung pháp lý về sáp

nhập CTCP ở Việt Nam. Do kiến thức còn hạn chế nên người viết không

tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy/cô

giáo để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.

60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1. Bộ luật dân sự năm 2005

2. Bộ luật dân sự năm 2015

3. Hiến pháp năm 2013

4. Luật cạnh tranh năm 2015

5. Luật chứng khoán năm 2013

6. Luật doanh nghiệp năm 2005

7. Luật doanh nghiệp năm 2014

8. Luật đầu tư năm 2005

9. Luật đầu tư năm 2014

10. Luật thương mại năm 2005

11. Luật tổ chức tín dụng năm 2010

12. Nghị định 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2007 của Chính

phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

13. Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Chính

Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng

khoán và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.

14. Nghị định 60/2015/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2015 sửa đổi, bổ

sung một số điều nghị định 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của Luật Chứng khoán

15. Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính

phủ Về đăng ký doanh nghiệp.

16. Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính

phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp.

17. Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 của Chính

phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh.

18. Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bộ tài

chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.

61

SÁCH, GIÁO TRÌNH, TẠP CHÍ, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

19. Andrew J.Sherman – Milledge A.Hart (2009), Mua lại & sáp nhập

từ A đến Z, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội.

20. Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh Pháp và Liên minh

Châu Âu, NXB Tư pháp, Hà Nội.

21. Lương Thị Thu Hương (2010), Pháp luật về mua bán, sáp nhập

công ty trách nhiệm hữu hạn và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận văn

Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội.

22. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo luật kinh tế, Nhà xuất bản

Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

23. Tập thể tác giả (2014), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ

nghĩa Mác - Lênin, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

24. Trương Thị Tuyết Minh (2008), Một số vấn đề pháp lý về sáp nhập

công ty cổ phần ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật (ĐHQG

Hà Nội), Hà Nội.

25. ThS. Chu Thị Lê Dung, "Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và

những lợi ích mang lại", Tạp chí Tài chính tháng 4/2016.

26. ThS. Đào Anh Tuấn, "Sáp nhập và mua lại, một xu hướng cần lưu ý

trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Ngân hàng số 18/2007.

27. TS. Nguyễn Thị Lan Hương, "Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ

đông trong sáp nhập công ty cổ phần", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.

28. Uỷ ban hợp tác quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Chính

sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Canađa, NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.

29. Xem thêm MergerMarket,“M&A Trend Report 2017” trên

www.mergermarket.com, truy cập ngày 30/03/2018.

30. Xem thêm Nhóm nghiên cứu MAF, "Những thương vụ mua bán,

sáp nhập đình đám năm 2014-2015" trên http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-

-trao-doi/trao-doi-binh-luan/nhung-thuong-vu-mua-ban-sap-nhap-dinh-dam-

nam-20142015-66475.html, truy cập ngày 10/04/2018.

62

31. Xem thêm Báo cáo của Cục quản lý cạnh tranh, Bộ công thương

32. Xem thêm Đỗ Hà, "ĐHCĐ thông qua việc sáp nhập Vinpearl vào

Vincom" trên http://www.vingroup.net/vi-vn/tin-tuc-su-kien/thong-tin-bao-

chi/gocbaochi/dhcd-thong-qua-viec-sap-nhap-vinpearl-vao-vincom-582.aspx,

truy cập ngày 05/04/2018.

33. Xem thêm Diệp Bình, "Hậu sáp nhập ngân hàng, câu chuyện của

thời gian..." trên https://vietnambiz.vn/hau-sap-nhap-ngan-hang-cau-chuyen-

cua-thoi-gian-20305.html, truy cập ngày 26/03/2018.

34. Xem thêm ThS Trịnh Anh Tuấn, "Kiểm soát hoạt động tập trung

kinh tế ở Việt Nam: Những bất cập và giải pháp" trên

http://tapchicongthuong.vn/kiem-soat-hoat-dong-tap-trung-kinh-te-o-viet-

nam-nhung-bat-cap-va-giai-phap-2015032611456362p40c14.htm, truy cập

ngày 15/04/2018.

35. Xem thêm http://www.trungtamwto.vn/wto/gioi-thieu-bo-van-kien-

gia-nhap-wto.

36. Xem thêm http://www.trungtamwto.vn/tin-tuc/vai-tro-cua-cac-hiep-

dinh-thuong-mai-tu-do-he-moi-trong-thuong-mai-quoc-te.

37. http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-

te.aspx?ItemID=175.

38. http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1294&CateID=371.

39. http://thoibaokinhdoanh.vn/viet-nam/khi-khoi-ngoai-nam-the-co-

ma-1027556.html.

40. http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-

doi.aspx?Ite

63