ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THÙY LINH
PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2014-L
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN ĐĂNG DUY
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
thông tin và số liệu mà tác giả sử dụng trong khoá luận là trung thực. Các
luận điểm, dữ liệu được trích dẫn đầy đủ, nếu không là ý tưởng hoặc kết quả
tổng hợp của chính bản thân tôi. Ngoài ra, trong bài nghiên cứu còn sử dụng
một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức
đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc. Tôi cũng đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2018 Người cam đoan Nguyễn Thùy Linh
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
CTCP : Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
HĐQT : Hội đồng quản trị
Luật cạnh tranh LCT :
Luật chứng khoán LCK :
Luật doanh nghiệp LDN :
Luật đầu tư LĐT :
LTCTD Luật tổ chức tín dụng :
M&A : Merger and acquisition
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SÁP NHẬP
CÔNG TY CỔ PHẦN ..................................................................................... 5
1.1. Khái niệm sáp nhập CTCP ..................................................................... 5
1.2. Đặc trưng pháp lý của sáp nhập CTCP .................................................. 8
1.3. Phân loại các hình thức sáp nhập CTCP .............................................. 10
1.3.1. Căn cứ theo mức độ liên kết của công ty thành viên .................... 10
1.3.2. Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ ....................................................... 11
1.4. Các phương thức sáp nhập CTCP ........................................................ 11
1.5. Quy trình thực hiện một thương vụ sáp nhập CTCP ........................... 14
1.6. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động sáp nhập CTCP ................................... 15
1.6.1. Đối với nhà đầu tư ........................................................................ 15
1.6.2. Đối với nền kinh tế ........................................................................ 15
1.7. Lược sử về hoạt động sáp nhập CTCP ................................................. 16
1.7.1. Hoạt động sáp nhập công ty cổ phần trên thế giới ....................... 16
1.7.2. Hoạt động sáp nhập CTCP tại Việt Nam ...................................... 19
1.8. Mối quan hệ giữa sáp nhập CTCP và M&A ........................................ 20
Tiểu kết chương I .......................................................................................... 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM ....... 22
2.1. Tổng quan về hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp
nhập CTCP .................................................................................................. 22
2.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập CTCP ......... 28
2.2.1. Các quy định về thủ tục sáp nhập CTCP ...................................... 28
2.2.2. Các quy định về bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập
CTCP ....................................................................................................... 29
2.2.3. Các quy định về bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập CTCP .. 32
2.2.4. Các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong hoạt động sáp
nhập CTCP .............................................................................................. 37
2.2.5. Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A............... 39
2.3. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập công ty cổ
phần có yếu tố nước ngoài .......................................................................... 46
2.3.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về điều kiện đối với
hoạt động sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài .................... 46
2.3.2. Các quy định quy trình, thủ tục sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố
nước ngoài ............................................................................................... 48
Tiểu kết chương II ......................................................................................... 52
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM .... 53
3.1. Kiến nghị về chính sách pháp luật ....................................................... 53
3.2. Kiến nghị về các quy định pháp luật .................................................... 54
Tiểu kết chương III ....................................................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................... 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 61
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
CTCP là một trong những loại hình doanh nghiệp đang ngày càng phát
triển và dần trở nên phổ biến nhất tại Việt Nam. Trong thời đại hội nhập và xu
hướng toàn cầu hóa hiện nay, sự hiện diện và mở rộng phạm vi của CTCP
càng được thể hiện rõ ràng hơn nữa. Vì thế mà số lượng doanh nghiệp nói
chung cũng như CTCP nói riêng không ngừng gia tăng với tốc độ nhanh. Tuy
nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng giữ vững được sự ổn định hay quy
mô phát triển của mình. Bởi với tốc độ phát triển "chóng mặt" của nền kinh tế
thị trường ngày nay, luôn luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và bất ổn không thể
lường trước có thể làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp, dẫn tới hoạt động thua
lỗ, không đem lại nhiều lợi nhuận. Bên cạnh đó, với mục tiêu phải đạt được
lợi nhuận cao nhất nên các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ cũng luôn muốn gia
tăng thị phần của mình trên thị trường. Chính vì hai lí do trên mà dẫn tới nhu
cầu hình thành nên các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (Merger
and acquisition - viết tắt là M&A).
M&A (được viết tắt từ 2 từ Tiếng Anh “Merger"(sáp nhập) và
"Acquisition" (mua lại)) là một thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực tài
chính kinh doanh và quản trị chiến lược. Sáp nhập được xem là hình thức hai
hay nhiều công ty hợp nhất lại thành một và kết quả là hình thành một pháp
nhân mới, còn mua lại là việc một công ty mua lại một công ty khác và không
tạo ra một pháp nhân mới. M&A dần trở thành một xu hướng phổ biến và
cũng là một trong nhiều chiến lược mà các công ty thường sử dụng trên
trường kinh doanh quốc tế. Năm 2017, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt 3,15
nghìn tỷ đô (đạt 18.433 giao dịch). Trong đó, lĩnh vực công nghệ thông tin đã
đạt được số lượng hợp đồng hàng năm cao kỷ lục kể từ năm 2001 khi các nhà
đầu tư hướng tới những phát triển mới nhất trong ngành như IoT, xe tự động
và công nghệ blockchain. Thị trường cũng đã chứng kiến sự gia tăng của
ngành tiêu dùng, phản ánh trong việc mua lại của Reynolds America,
1
Luxottica và Whole Foods, với tổng cộng 6 lần mua vào trong ngành trị giá
hơn 10 tỷ đô la Mỹ.[29]
Tại Việt Nam, hoạt động M&A được khởi động từ năm 2000, đã và
đang gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và giá trị các thương vụ. Sở dĩ có sự
bùng nổ xu hướng M&A mạnh mẽ như vậy là do thị trường Việt Nam đang là
đối tượng quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Đây được coi là con
đường ngắn nhất để các nhà đầu tư tiếp cận đến với thị trường của nước sở tại,
nhất là đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Ngược lại, đây
cũng là một trong những cách huy động vốn hiệu quả và đỡ tốn kém tại Việt
Nam - nơi có trên 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, hành lang pháp
lý cho hoạt động này vẫn còn chưa hoàn thiện, nhiều doanh nghiệp trong nước
vẫn chưa thể tận dụng được lợi thế "sân nhà" để mạnh dạn tham gia vào thị
trường M&A mà chủ yếu các thương vụ hầu hết đến từ các nhà đầu tư ngoại.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cần phải có sự tìm hiểu kĩ càng về đặc điểm, bản
chất pháp lý của M&A nói chung cũng như hoạt động sáp nhập nói riêng để có
thể đưa ra được những sự điều chỉnh, bổ sung thích hợp cho hành lang pháp lý
nhằm mục đích vừa khuyến khích M&A, vừa hạn chế được những hệ quả tiêu
cực từ hoạt động này. Đó là lí do người viết chọn đề tài: "Pháp luật về sáp
nhập công ty cổ phần ở Việt Nam".
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực
tiễn, tạo một cái nhìn chung về hoạt động sáp nhập CTCP trên thị trường Việt
Nam hiện nay.
Về mặt lý luận, khóa luận đưa ra những vấn đề tổng quan nhất về hệ
thống pháp luật Việt Nam cả về mặt tích cực lẫn hạn chế. Thông qua đó
làm rõ và phân tích những quy định đang hiện hành để có thể đóng góp,
hoàn thiện một số điểm của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sáp
nhập CTCP
2
Về thực tiễn, khóa luận đưa ra những cơ sở cho sự cần thiết phải điều
chỉnh hoạt động sáp nhập trên thị trường Việt Nam. Nhờ đó đề xuất được
những giải pháp mang tính thiết thực với những vấn đề đang còn tồn tại.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm làm sáng tỏ được
những vấn đề pháp lý xoay quanh hoạt động sáp nhập doanh nghiệp nói
chung cũng như sáp nhập CTCP nói riêng. Để đạt được mục tiêu trên, người
viết tiến hành làm rõ bản chất của của hoạt động sáp nhập CTCP. Bên cạnh
đó, phân tích vai trò cũngnhư thực trạng của hoạt động sáp nhập CTCP trong
thực tiễn đối với quá trình phát triển của nền kinh tế trong nước, nhằm rút ra
những điểm tích cực đạt được cũng như những điểm còn hạn chế trong phát
triển hoạt động sáp nhập ở Việt Nam. Từ đó có thể đưa ra một số quan điểm
đóng góp để đẩy mạnh hoạt động sáp nhập, hoàn thiện vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện
hành về hoạt động sáp nhập CTCP trong pháp luật Việt Nam, thực tiễn thi
hành pháp luật ở Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật M&A và một số
quốc gia trên thế giới.
Với đề tài "Pháp luật về sáp nhập công ty cổ phần ở Việt Nam", phạm
vi nghiên cứu là khá rộng. Bởi vậy, với khả năng còn hạn chế, người viết
không đặt tham vọng phân tích mọi khía cạnh pháp lý của hiện tượng này mà
chỉ tập trung ở một số vấn đề người viết quan tâm nhất sẽ được triển khai chi
tiết ở những chương sau. Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu sẽ là các
quy định của pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần. Về mặt thời gian, ngoại
trừ việc giới thiệu lược sử phát triển của hoạt động sáp nhập CTCP ở Việt
Nam, đề tài chỉ giới hạn ở các quy định pháp luật đang có hiệu lực cho đến
thời điểm hiện tại.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng của triết học Mác - Lênin. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người
viết cũng đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác
nhau như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê số liệu,
phương pháp logic,... và đặc biệt là phương pháp so sánh. Với những phương
pháp trên, chúng ta có thể đưa ra được những so sánh, nhận định để đối chiếu
giữa các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cũng làm rõ được những điểm
nổi bật, tích cực hoặc hạn chế của pháp luật hiện hành về vấn đề nghiên cứu.
Nhờ vậy, chúng ta có thể đánh giá được sự tiến bộ cũng như những mặt tồn
tại cần được khắc phục để đưa ra được một số giải pháp thích hợp cho hoạt
động sáp nhập công ty cổ phần ở Việt Nam.
4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN
Tại chương I, người viết tập trung làm rõ các vấn đề chung về lý luận
như lược sử của hoạt động sáp nhập CTCP trên thế giới và Việt Nam, khái
niệm, đặc trưng pháp lý và vai trò, ý nghĩa của hoạt động này.
1.1. Khái niệm sáp nhập CTCP
Muốn tìm hiểu thế nào là sáp nhập CTCP, trước hết chúng ta cần hiểu
được thế nào là hoạt động sáp nhập. Khi có được cái nhìn tổng quan về hoạt
động này, chúng ta nắm được những đặc điểm chung nhất, kết hợp cùng với
những tính chất riêng của CTCP thì sẽ có được một cách hiểu đúng về khái
niệm sáp nhập CTCP.
Từ thời kì tư bản chủ nghĩa, tập trung tư bản được hiểu là "sự tăng
thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản cá biệt có
sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn" [23,256]. Trong đó,
cạnh tranh và tín dụng chính là những đòn bẩy mạnh mẽ nhất để thúc đẩy tập
trung tư bản phát triển một cách nhanh chóng. Cạnh tranh buộc các tư bản,
nhất là tư bản có quy mô vừa và nhỏ phải liên kết hay sát nhập với nhau để
cùng đứng vững được trên thị trường. Còn tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành
phương tiện để tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào tay các nhà
tư bản. Như vậy, sáp nhập chính là một hình thức của tập trung tư bản.
Theo từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa tái bản năm
2010: "sáp nhập" có nghĩa là "nhập lại với nhau thành một". Theo đó, hoạt
động sáp nhập được coi là sự "nhập lại" của hai hoặc nhiều tổ chức, đặc biệt
là các công ty, doanh nghiệp thành một tổ chức duy nhất. Thông thường, sự
kết hợp này sẽ đến từ những tổ chức có nhiều điểm tương đồng với nhau.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quan điểm nào thống nhất về
khái niệm hoạt động sáp nhập. Tuy nhiên chúng ta có để tìm thấy khái niệm
này được đề cập đến trong một số điều luật cụ thể. LCT 2004 quy định sáp
nhập như là một hình thức tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi chống
5
cạnh tranh. Cụ thể, khoản 1 điều 17: "Sáp nhập doanh nghiệp là việc một
hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích
hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn
tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.". Trong khi đó, LDN 2014 quy định sáp
nhập như là một hình thức tổ chức lại công ty, chi tiết tại khoản 1 điều 195:
"Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp
nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty
nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.". Như
vậy, hoạt động sáp nhập được hiểu nôm na là những giao dịch mà trong đó,
một hoặc một số doanh nghiệp chấm dứt tư cách pháp nhân của mình để gia
nhập vào một doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiến hành
tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp bị sáp nhập. Ví dụ, khi một doanh nghiệp A bị sáp nhập vào doanh
nghiệp B, doanh nghiệp A sẽ không còn nữa. Thay vào đó, cổ phiếu của
doanh nghiệp A sẽ được chuyển đổi sang cổ phiếu của doanh nghiệp B. Cách
thức quản lý điều hành doanh nghiệp sau sáp nhập cũng khác với trường hợp
mua lại doanh nghiệp vì hai doanh nghiệp sáp nhập sẽ bắt tay, kết hợp cùng
nhau để cùng quản lý dù trên thực tế về mặt pháp lý có một bên bị sở hữu và
một bên được sở hữu.
So sánh với pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy cách
hiểu của những nhà làm luật tại Việt Nam về vấn đề này còn khá hẹp. Theo
điều 15 Luật Chống độc quyền của Nhật Bản, thuật ngữ "mua lại cổ phần"
cũng được hiểu là sáp nhập. Còn theo điều 91 LCT Ca-na-đa, sáp nhập được
coi là "sự thiết lập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của một hay nhiều bên
thông qua việc mua hoặc cho thuê cổ phần hoặc tài sản, liên kết hoặc kết hợp
bằng cách khác, quyền kiểm soát hoặc quan tâm đáng kể đối với toàn bộ hoặc
một phần hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, bên cung cấp, bên
mua hàng hoặc một người khác bất kỳ". Những cách hiểu trên có phần rộng
6
hơn, bởi hoạt động sáp nhập như đã nói, không chỉ dừng lại ở việc thực hiện
đơn thuần hành vi sáp nhập mà còn bao gồm một chuỗi hành vi có liên kết với
nhau để thực hiện mục đích sáp nhập. Đây là cách hiểu dựa trên thực tiễn
thương mại được đặt trong bối cảnh chung của thị trường quốc tế với kinh
nghiệm về hoạt động M&A mà các quốc gia trên thế giới đã thực hiện qua
hàng trăm năm và người viết cũng nghiêng về quan điểm này. So với cách
hiểu trên, những quy định về sáp nhập trong pháp luật Việt Nam mang tính
đóng hơn khi chỉ dừng lại ở việc định nghĩa theo đúng quan niệm của người
Việt Nam về "sáp nhập" và mô tả hành vi đó bằng việc liệt kê một cách trực
tiếp mà chưa xét đến mục đích cuối cùng của hành vi. Vô hình chung đã tạo
ra một kẽ hở, dẫn tới hiện tượng có những hành vi về bản chất, mục đích là
sáp nhập, tập trung kinh tế nhưng lại không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật
do không thể hiện được đầy đủ những mặt mô tả về hình thức của hành vi
pháp lý. Điều này đã khiến cho một số công ty gặp khó khăn khi không nắm
rõ được vấn đề trong hoạt động sáp nhập của mình.
Từ những điều trên, dễ thấy rằng cách hiểu khái niệm về sáp nhập
CTCP không có nhiều điểm khác biệt so với sáp nhập doanh nghiệp nói
chung. Điểm khác biệt quan trọng nhất có lẽ là tính chất vốn điều lệ ở CTCP
được chia thành những phần vốn bằng nhau, dễ dàng được phát hành chứng
khoán để huy động vốn cũng như chuyển nhượng phần vốn góp. Do vậy mà
hoạt động sáp nhập đối với CTCP cũng sôi động hơn. Từ đặc điểm trên của
CTCP, có thể thấy rõ cổ phần trở thành một công cụ để bảo vệ quyền kinh
doanh của các bên trong những thương vụ sáp nhập. Bên nào sở hữu được số
lượng cổ phần vượt trội hơn sẽ giành được ưu thế về quyền kinh doanh chứ
không phụ thuộc vào đặc điểm về nhân thân hay các mối quan hệ. Thông
thường, điều này sẽ được quyết định bởi tình hình tài chính của chủ thể đó.
Như vậy, nhờ tính chất của CTCP mà sân chơi trong hoạt động sáp
nhập trở nên công bằng với tất cả các bên. Cũng dựa vào các tính chất riêng
biệt của CTCP, các quy định pháp lý về sáp nhập được hình thành. Ví dụ các
7
quy định về công bố thông tin khi sáp nhập, bảo vệ cổ đông thiểu số... đều
được thiết lập dựa trên các đặc điểm của loại hình công ty này.
1.2. Đặc trưng pháp lý của sáp nhập CTCP
Thứ nhất, hoạt động sáp nhập CTCP mang đặc trưng pháp lý đó là sự
chuyển đổi về mặt chủ sở hữu, cách thức điều hành và quản trị công ty. Đây
là một giao dịch mang tính chất dân sự nhưng có đối tượng là CTCP - một
thực thể pháp lý chứ không phải tài sản đơn thuần. Qua đó, bên thực hiện sáp
nhập muốn nắm quyền kiểm soát đối với bên bị sáp nhập. Hay nói cách khác,
khách thể của quan hệ sáp nhập này chính là trái quyền.
Trong hoạt động sáp nhập CTCP có sự chuyển giao toàn bộ sản nghiệp
thương mại của công ty cùng các trái quyền khác. Sản nghiệp thương mại ở
đây được hiểu là toàn bộ tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô
hình thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục
vụ cho hoạt động thương mại: trụ sở, cửa hàng, kho tàng, trang thiết bị, tên
thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá và cung ứng
dịch vụ... Các trái quyền ở đây là quyền kiểm soát công ty, tất cả quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp bao gồm cả quyền và nghĩa vụ đối với bên thứ ba cũng
như với chủ nợ hay người lao động...
Thứ hai, chủ thể thực hiện hoạt động sáp nhập là bên nhận sáp nhập và
bên bị sáp nhập. Theo đó, bên bị sáp nhập (bên bị động) trong hoạt động sáp
nhập CTCP là chính là công ty mục tiêu. Bởi đây là một pháp nhân có tư cách
pháp lý độc lập, có quyền nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp
luật. Đồng thời công ty này cũng là đối tượng của quan hệ sáp nhập.
Bên nhận sáp nhập (bên chủ động) là công ty muốn thực hiện hoạt động
sáp nhập. Dưới góc độ pháp lý, tính chất chủ động này của công ty xuất phát
từ sự thừa nhận của pháp luật về quyền tự do kinh doanh và quyền tự chủ
trong hoạt động kinh doanh của công ty. Sự công nhận này đem lại quyền cho
công ty đối với những hoạt động phát sinh trong nội bộ cũng như những hoạt
8
động phát sinh bên ngoài công ty như quyền tự do liên kết kinh doanh mà sáp
nhập là một trong những cách thức để thực hiện nó.
Hai chủ thể này trước hết phải đáp ứng đủ những điều kiện chung thế
nào là doanh nghiệp. Bởi CTCP là một loại hình của doanh nghiệp. Theo đó,
khoản 9 điều 3 LDN 2014 quy định "Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp
được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở
chính tại Việt Nam.". Vậy còn thế nào là CTCP? CTCP được hiểu là loại hình
doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là
cổ phần. Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về
các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. CTCP có
tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh
nghiệp.
Thứ ba, về hậu quả pháp lý, sáp nhập CTCP dẫn đến việc chấm dứt
hoàn toàn sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Thay vào đó, công ty nhận sáp
nhập vẫn được giữ nguyên, sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp khác từ công ty bị sáp nhập. Đây là điểm khác biệt so với các
hoạt động khác như mua bán, hợp nhất, chia, tách.. công ty.
Thứ tư, sáp nhập CTCP được thể hiện qua hợp đồng sáp nhập CTCP.
Hợp đồng sáp nhập là sự thỏa thuận giữa bên bị sáp nhập và bên nhận sáp
nhập về việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp khác
từ công ty bị sáp nhập sang công ty nhận sáp nhập. Đồng thời chấm dứt sự tồn
tại của công ty bị sáp nhập.
Thứ năm, sáp nhập CTCP phải thông qua sự thừa nhận của cơ quan có
thẩm quyền thông qua các thủ tục pháp lý nhất định. Điều này xuất phát từ
bản chất của công ty. Công ty được khai sinh thông qua thủ tục đăng ký kinh
doanh –một thủ tục để gán cho nó một tư cách pháp lý, gán cho những người
thành lập nên nó những quyền và nghĩa vụ pháp lý. Do đó, khi công ty bị sáp
nhập, có sự chuyển giao các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cổ đông sáng
lập nên doanh nghiệp, vì vậy cần một sự chứng nhận của cơ quan công quyền
9
về việc chuyển giao này. Ở góc độ này, Nhà nước đứng ra với tư cách người
công nhận thỏa thuận sáp nhập giữa các bên.
1.3. Phân loại các hình thức sáp nhập CTCP
Có nhiều cách thức để phân loại các hình thức sáp nhập CTCP dựa trên
nhiều tiêu chí khác nhau. Người viết lựa chọn một số tiêu chí nổi bật dưới đây
để đưa vào phần nghiên cứu của mình:
1.3.1. Căn cứ theo mức độ liên kết của công ty thành viên
Sáp nhập thường được chia thành 3 loại: sáp nhập theo chiều ngang
(Horizontal), sáp nhập theo chiều dọc (Vertical) và sáp nhập theo kiểu hỗn
hợp (Conglomerate).
- Sáp nhập theo chiều ngang
Đây là hoạt động sáp nhập giữa các công ty cùng một lĩnh vực kinh
doanh, có cùng loại sản phẩm và thị trường, từ đó tạo ra một hãng có sức cạnh
tranh cao. Hình thức này giúp giảm thiểu đối thủ cạnh tranh, tiết kiệm chi phí
do quy mô (Economies of Scale). Có thể lấy ví dụ trường hợp sáp nhập giữa
JPMorgan và BankOne trong lĩnh vực tài chính, hay thương vụ sáp nhập lớn
nhất trong lĩnh vực ngân hàng từ trước đến nay giữa hai ngân hàng Algemene
Bank Nederland (ABN) và Amsterdamsche-Rotterdamsche Bank (AMRO).
- Sáp nhập theo chiều dọc
Khác với sáp nhập theo chiều ngang, sáp nhập theo chiều dọc là sáp
nhập giữa các công ty cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác nhau về phân
khúc thị trường. Ví dụ như Walt Disney với ABC Television. Sự sáp nhập
này đem lại cho công ty tiến hành sáp nhập lợi thế về đảm bảo và kiểm soát
chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống
chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh.
- Sáp nhập theo kiểu hỗn hợp:
Sáp nhập giữa các công ty khác nhau hoàn toàn về lĩnh vực kinh doanh,
từ đó tạo ra các tập đoàn lớn hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực như Deawoo.
Hình thức này là giúp nhằm giảm cơ bản rủi ro nhờ đa dạng hóa và để khai
10
thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên.
Hình thức này không còn mấy phổ biến trong nhiều năm trở lại đây.
1.3.2. Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ
- Sáp nhập trong nước:
Đây là hình thức mua bán và sáp nhập diễn ra tại một quốc gia và được
thực hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ một quốc gia, không có
sự kết hợp giữa các tài sản xuyên biên giới.
- Sáp nhập xuyên biên giới:
Hình thức sáp nhập được thực hiện giữa các công ty thuộc hai quốc gia
khác nhau. Ngoải ra, đây còn có thể coi là một trong những hình thức đầu tư
trực tiếp và phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong quá trình
toàn cầu hóa gần đây, làn sóng toàn cầu hóa đã dần xóa bỏ biên giới kinh
doanh của các công ty đa quốc gia khiến cho xu hướng sáp nhập xuyên biên
giới ngày càng trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh kinh tế toàn cầu.
1.4. Các phương thức sáp nhập CTCP
Phương thức thực hiện sáp nhập CTCP rất đa dạng. Việc lựa chọn
phương thức nào tùy thuộc vào mục tiêu, đặc điểm quản trị cũng như ưu thế
của công ty trên thị trường trong từng trường hợp cụ thể. Một số phương thức
thực hiện hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp là phương thức chào
thầu, phương thức thương lượng tự nguyện với ban quản trị và điều hành,
phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn, phương thức mua lại tài sản của doanh
nghiệp, và phương thức thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Thương lượng
Thương lượng là một trong những phương thức được sử dụng phổ biến
nhất và mang nhiều thiện chí khi thực hiện sáp nhập CTCP. Khi cả hai công
ty đều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng của thương vụ sáp nhập hoặc họ dự
đoán được tiềm năng phát triển hoạt động kinh doanh vượt trội sau sáp nhập,
ban điều hành sẽ ngồi lại với nhau để thương thảo, tiến tới một hợp đồng sáp
nhập.
11
Chào thầu
Đây là phương pháp mà CTCP chủ động muốn nhận sáp nhập, đề xuất
trực tiếp với các cổ đông của CTCP mục tiêu (DN mục tiêu) về ý định mua cổ
phiếu của các cổ đông này với mức giá cao hơn thị trường. Theo đó, sẽ áp
dụng chế độ công bố thông tin cho các cổ đông về ý định sẽ trả một giá nào
đó trong một thời gian nhất định và cam kết mua cổ phiếu. Giá chào thầu
thường đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng
như quản trị công ty mà mình đang nắm giữ. Nếu các cổ đông của công ty
mục tiêu chấp nhận mức giá này thì việc chào thầu thành công. Điểm đáng
chú ý trong các thương vụ “chào thầu” là ban quản trị công ty bị mua bị mất
quyền định đoạt, bởi đây là sự trao đổi trực tiếp giữa công ty mua và cổ đông
của công ty bị mua, trong khi ban quản trị (lúc này nắm không đủ số lượng cổ
phần chi phối) bị gạt sang một bên. Với nhiều trường hợp sáp nhập CTCP dựa
vào phương pháp thương lượng không được tiến hành suôn sẻ thì sự lựa chọn
tiếp theo sẽ là phương pháp chào thầu. Vì thế, phương pháp này phần lớn diễn
ra trong trường hợp sáp nhập không thân thiện.
Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Công ty có ý định sáp nhập sẽ chuẩn bị nguồn vốn đủ lớn khi có ý
định thôn tính một doanh nghiệp nào đó trên thị trường. Lúc này công ty
muốn nhận sáp nhập sẽ tiến hành mua cổ phiếu của các doanh nghiệp mục
tiêu thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại của
các cổ đông chiến lược hiện hữu. Tuy nhiên, phương thức mua bán sáp
nhập này đòi hỏi thời gian, và nếu thông tin về thương vụ sáp nhập bị bại
lộ có có thể sẽ tạo nhu cầu về cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường tăng
lên. Dẫn đến giá của cổ phiếu của công ty bị sáp nhập có thể tăng cao trên
thị trường. Bên cạnh nhược điểm đó, phương thức mua bán sáp nhập này
cũng có những ưu điểm, nếu nó được thực hiện dần dần và thông tin không
được tiết lộ trước khi hoàn thành thương vụ thì công ty nhận sáp nhập có
thể đạt được mục đích cuối cùng của mình một cách êm thấm, không gây
12
xáo động lớn cho công ty bị sáp nhập trong khi chỉ cần trả một mức giá rẻ
hơn so với phương thức chào thầu rất nhiều.
Lôi kéo cổ đông bất mãn
Lôi kéo cổ đông bất mãn là phương thức sáp nhập đối với các thương
vụ mang tính chất thù địch. Khi một công ty rơi vào tình trạng kinh doanh yếu
kém, thua lỗ, thường có một bộ phận các cổ đông, họ bất mãn và muốn thay
đổi ban quản trị. Họ hi vọng rằng ban quản trị mới sẽ có thể điều hành công ty
tốt hơn, và đem lại kết quả kinh doanh khả quan hơn. Lợi dụng sự mâu thuẫn
nội bộ này mà công ty cạnh tranh có thể lôi kéo một bộ phận cổ đông bất
mãn. Trước hết, thông qua thị trường chứng khoán, công ty cạnh tranh thực
hiện mua số lượng cổ phần tương đối lớn để trở thành cổ đông của công ty
mục tiêu (nhưng tỷ lệ nắm giữ cổ phần chưa đủ để chi phối doanh nghiệp). Vì
vậy, họ tiếp tục mua cổ phần của các cổ đông bất mãn, cũng như nhận được
sự ủng hộ của các cổ đông này. Đến khi công ty cạnh tranh có đủ cổ phần chi
phối, công ty cạnh tranh cùng với những cổ đông bất mãn sẽ lập tức triệu tập
họp Đại hội đồng cổ đông và bầu đại diện của công ty cạnh tranh vào Hội
đồng quản trị mới. Mục đích cuối cùng của hoạt động là thay đổi ban điều
hành công ty mục tiêu.
Mua lại tài sản của công ty
Phương thứ này gần giống phương thức chào thầu. Công ty có mục
đích nhận sáp nhập có thể đơn phương, hoặc cùng doanh nghiệp mục tiêu tiến
hành hoạt động định giá lại tài sản của công ty bị mua. Tuy nhiên, công việc
định giá thường do một công ty định giá độc lập tiến hành. Trên cơ sở kết quả
của quá trình định giá, các bên liên quan sẽ tiến hành đưa ra mức giá mua phù
hợp. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc nợ. Điểm hạn chế của
phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, bạn hàng,
nhân sự, văn hóa của tổ chức rất khó có thể định giá chính xác và đi đến sự
thống nhất về giá cả giữa các hai bên. Do đó, phương thức này thường áp
dụng để tiếp quản lại các công ty nhỏ, thực chất là nhắm đến các cơ sở sản
13
xuất, nhà xưởng máy móc, dây chuyền công nghệ, hệ thống cửa hàng, đại lý
đang thuộc sở hữu của công ty đó.
1.5. Quy trình thực hiện một thương vụ sáp nhập CTCP
Việc tìm hiểu về quy trình sáp nhập công ty có ý nghĩa rất lớn đối với
những người thực hiện công việc tư vấn sáp nhập hay với những luật sư tham
gia vào quá trình này. Để thực hiện một thương vụ sáp nhập, thông thường
quy trình sẽ gồm các giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị sáp nhập
Tại giai đoạn này, các bên công ty sẽ tiến hành các bước như:
- Xây dựng chiến lược.
Bước này sẽ gồm những công việc quan trọng như lập và phê duyệt đề
án kinh doanh khả thi; lựa chọn công ty mục tiêu theo những tiêu chí, mục
đích riêng của công ty có nhu cầu nhận sáp nhập,...
- Lựa chọn các chủ thể gián tiếp tham gia vào hoạt động sáp nhập như
công ty kiểm toán, công ty tư vấn luật,...
- Tiến hành tìm hiểu, kiểm tra tính hợp pháp và đưa ra đánh giá về giá
trị công ty mục tiêu một cách cụ thể.
Giai đoạn 2: Tiến hành thỏa thuận
Hai bên công ty sẽ tiến hành thương lượng, thỏa thuận về việc sáp nhập
công ty. Sau đó sẽ ký kết những thỏa thuận sơ bộ. Công ty nhận sáp nhập sẽ
tiếp tục đánh giá thực tế về mục tiêu và đưa ra những thỏa thuận cuối cùng
cho thương vụ.
Giai đoạn 3: Ký kết hợp đồng
Sau khi đạt được những thỏa thuận cuối cùng về hoạt động sáp nhập
công ty, các bên sẽ đi đến ký kết hợp đồng sáp nhập. Đây là cơ sở để việc sáp
nhập công ty có giá trị pháp lý. Thông qua hợp đồng, các bên thiết lập được
mối quan hệ về chuyển giao toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ cùng lợi ích
hợp pháp cho nhau.
14
Giai đoạn 4: Hoàn thiện và nộp hồ sơ sáp nhập
Công ty nhận sáp nhập sẽ chuẩn bị, hoàn thiện hồ sơ sáp nhập gồm
nhiều tài liệu khác nhau để nộp cho Sở kế hoạch và đầu tư để nhận được kết
quả trong một khoảng thời gian nhất định.
1.6. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động sáp nhập CTCP
1.6.1. Đối với nhà đầu tư
Hoạt động sáp nhập CTCP mang lại nhiều lợi ích cho cả hai phía, công
ty nhận và công ty bị sáp nhập.
Đối với công ty bị sáp nhập, hoạt động này sẽ giúp cho họ tránh được
tình trạng bị phá sản khi lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính. Mặt khác,
đây cũng là một biện pháp góp phần cơ cấu lại các công ty kinh doanh kém
hiệu quả mà không làm giảm đi giá trị đầu tư của thị trường. Đồng thời, nó
cũng khuyến khích các công ty phải nỗ lực hoạt động hiệu quả hơn để tránh
tình trạng bị các công ty lớn "thâu tóm".
Đối với công ty nhận sáp nhập, việc tiến hành sáp nhập sẽ giúp cho
công ty mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh mà không phải bỏ quá
nhiều chi phí cũng như công sức, thời gian. Bởi việc xây dựng cơ sở hạ tầng,
tên tuổi thương hiệu hay quan hệ khách hàng... không thể thực hiện được
trong ngày một ngày hai mà đó là cả một quá trình lâu dài.Ngoài ra, đây cũng
là một trong những con đường ngắn, dễ dàng và tiết kiệm nhất để giúp các
nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận với thị trường của nước sở tại. Họ có thể triển
khai kinh doanh ngay sau khi tiến hành hợp đồng sáp nhập mà không cần mất
quá nhiều thời gian để chuẩn bị như các nhà đầu tư thực hiện bài bản từ đầu.
Hơn nữa, với những công ty lớn, có chỗ đứng trên thị trường thị việc thực
hiện hoạt động sáp nhập cũng được coi là một hình thức để "bành trướng"
quyền lực cũng như khả năng "thôn tính" đối thủ cạnh tranh của mình.
1.6.2. Đối với nền kinh tế
Hoạt động sáp nhập được coi như một biện pháp "kế hoạch hóa" tích
cực cho nền kinh tế khi đã giảm thiểu được số lượng các công ty hoạt động
15
không hiệu quả. Đây cũng là một hình thức tập trung kinh tế, thể hiện qua
việc những công ty gặp thua lỗ trong kinh doanh hay những công ty có tiềm
năng trong tương lai được sáp nhập lại để trở thành những công ty có quy mô
lớn hơn với đầy đủ khả năng về tài chính và khả năng đứng vững trên thị
trường đầy biến động. Những công ty này sẽ giữ vai trò tiên phong trong xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Qua đó thúc đẩy động lực cạnh
tranh cho nền kinh tế, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào
thị trường trong nước. Nếu hoạt động nàyđược diễn ra dựa trên một sân chơi
công bằng, thì nhu cầu sáp nhập sẽ được duy trì và củng cố. Nhu cầu này
khuyến khích các công ty phải hoạt động ngày càng hiệu quả hơn nếu không
muốn xảy ra tình trạng bị sáp nhập vào một công ty khác. Hoạt động hiệu quả
của công ty sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và trở thành một nguồn
thu thuế dồi dào của Nhà nước.
1.7. Lược sử về hoạt động sáp nhập CTCP
1.7.1. Hoạt động sáp nhập công ty cổ phần trên thế giới
Sáp nhập không còn là một hiện tượng mới lạ đối với thị trường toàn
cầu ngày nay. Nó đã xuất hiện rất sớm từ hàng trăm năm trước. Từ cuối thế kỉ
XIX - đầu thế kỉ XX là khoảng thời gian đánh dấu thời kì đỉnh cao trong quá
trình tập trung tư bản trên thế giới. Rất nhiều những công ty phát triển mạnh
mẽ trong một thời gian, tạo được chỗ đứng trên thị trường nhưng lại không
kịp thích nghi với những thay đổi bất ngờ của tình hình kinh tế nên lâm vào
tình trạng bị kiệt quệ về mặt tài chính. Từ đó nhu cầu cho hoạt động M&A nói
chung và sáp nhập nói riêng được hình thành. Đây được coi là thời kỳ là
chuyển giao từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc
quyền với sự hình thành của các tập đoàn công nghiệp khổng lồ. Chính sự
chuyển giao này đã dẫn đến sự phát triển của hoạt động M&A nói chung cũng
như sáp nhập nói riêng, mà thông qua đó các công ty có thể thực hiện việc
thâu tóm quyền lực quản trị của mình tại doanh nghiệp cũng như thâu tóm thị
16
trường.Từ đó đến nay, trên thế giới đã xuất hiện năm làn sóng về sáp nhập
công ty.
Làn sóng thứ nhất bắt đầu từ những năm 1897 đến năm 1904. Đây là
thời gian khởi đầu của hoạt động sáp nhập. Trong giai đoạn này, sự sáp nhập
giữa các công ty được độc quyền trên các dây chuyền sản xuất như đường sắt,
điện,.. Những vụ sáp nhập đầu tiên xảy ra trong khoảng thời gian nói trên hầu
hết là các vụ sáp nhập theo chiều ngang diễn ra giữa các ngành công nghiệp
sản xuất nặng. Phần lớn các vụ sáp nhập đã được hình thành trong giai đoạn
này kết thúc trong thất bại vì họ không thể đạt được hiệu quả mong muốn. Sự
thất bại này là sự suy thoái của nền kinh tế năm 1903 và sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán năm 1904. Khung pháp lý cũng không hỗ trợ một cách
hoàn chỉnh. Đạo luật Sherman ở Mỹ ra đời trong giai đoạn này nhằm khôi
phục cạnh tranh, làm suy yếu các độc quyền và bảo vệ quyền được tham gia
của những nhà sản xuất nhỏ.
Làn sóng thứ hai diễn ra từ năm 1916 đến năm 1929 được khởi tạo từ
sự bùng nổ về kinh tế đã xảy ra sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Sự phát
triển công nghệ như sự phát triển của đường sắt và vận chuyển bằng xe cơ
giới cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động sáp nhập này. Hoạt động
sáp nhập chủ yếu theo chiều dọc hoặc hỗn hợp (khác nhau hoàn toàn về lĩnh
vực kinh doanh ban đầu nhưng về sau tạo ra các tập đoàn lớn hoạt động trong
rất nhiều lĩnh vực). Các ngân hàng đầu tư đóng một vai trò quan trọng trong
việc tạo điều kiện cho việc sáp nhập và mua lại. Làn sóng này kết thúc với sự
sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929.
Các vụ sáp nhập diễn ra ở làn sóng thứ ba trong những năm 60 của thế
kỷ XX chủ yếu là sáp nhập tập đoàn. Hoạt động sáp nhập được lấy cảm hứng
từ giá cổ phiếu cao, lãi suất và việc chống pháp luật độc quyền. Học thuyết
kinh tế nền tảng của giai đoạn này là chủ nghĩa Keynes. Chủ nghĩa này đề cao
vai trò của nhà nước trong can thiệp vĩ mô. Đến cuối thập kỷ 60, những
17
phương pháp của Keynes không còn hiệu quả, hệ thống lý thuyết rơi vào
khủng hoảng và đó cũng là lúc làn sóng sáp nhập đi vào giai đoạn thoái trào.
Làn sóng thứ tư bắt đầu từ năm 1981 và kết thúc vào năm 1989 diễn ra
cùng thời điểm với sự thay đổi trong chính sách chống độc quyền, sự bãi bỏ quy
định về độc quyền trong dịch vụ tài chính, sự thiết lập những công cụ tài chính
và thị trường mới (thị trường trái phiếu), cũng như sự phát triển công nghệ trong
ngành công nghiệp điện tử. Thế giới bắt đầu xuất hiện những nền kinh tế mới
bên cạnh Mỹ và các nước Châu Âu như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,... tạo
ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trên toàn cầu. Hoạt động sáp nhập đã diễn ra giữa
ngành công nghiệp dầu khí, dược phẩm, ngân hàng và ngành hàng không. Các
vụ sáp nhập có yếu tố nước ngoài trở nên phổ biến với hầu hết trong số đó là sự
tiếp quản từ công ty đối thủ. làn sóng thứ tư này một lần nữa lại bị suy yếu dần
sau sự tụt dốc của thị trường chứng khoán vào năm 1987.
Làn sóng thứ năm (từ năm 1992 đến nay) là thời điểm để các hoạt động
mua bán cũng như sáp nhập công ty trở nên sôi nổi, đa dạng về cách thức
cũng như gia tăng về giá trị. Hoạt động sáp nhập diễn ra chủ yếu trong ngành
ngân hàng và viễn thông. Theo thống kê của công ty phân tích các dữ liệu tài
chính Dealogic, đến thời điểm giữa năm 2005, tổng giá trị các cuộc sáp nhập
trên toàn cầu đã lên tới 1.970 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm ngoái,
theo đó, châu Âu qua mặt Mỹ về giá trị các cuộc sáp nhập với giá trị ước
khoảng 281 tỷ USD (con số này ở Mỹ là 190,5 tỷ USD). Tình hình sáp nhập
và mua lại các tập đoàn đa quốc gia diễn ra ở hầu hết mọi lĩnh vực: công
nghiệp, tài chính, viễn thông, sản xuất hàng tiêu dùng (ôtô, sản phẩm giải trí,
điện thoại...). Thế giới từng chứng kiến một số sự kiện sáp nhập đáng chú ý
như vụ Tập đoàn Symantec và Tập đoàn Veritas Software sáp nhập với nhau,
ngân hàng UFJ Holdings Inc sáp nhập với Tập đoàn tài chính Tokyo
Mitsubishi...
Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng, nhờ sự phát triển đầy thăng trầm
của hoạt động sáp nhập mà các nước có nền kinh tế mới nổi hoặc đang phát
18
triển sau này xem nó như một định hướng cho hoạt động sáp nhập cho từng
quốc gia. Và hơn nữa, sự phát triển của hoạt động sáp nhật luôn theo xu
hướng tỉ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán.
Bên cạnh đó, hiệu quả mà hoạt động mang lại là khả năng đem lại cơ hội phục
hồi nền kinh tế thường rất cao.
1.7.2. Hoạt động sáp nhập CTCP tại Việt Nam
Nếu như vào khoảng hai mươi năm về trước, cụm từ M&A còn khá
mới lạ ở Việt Nam thì ngày nay hoạt động này đang nhận được rất nhiều sự
quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước và đã trở thành một phần
không thể thiếu trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng hội nhập ở
nước ta hiện nay.
Hoạt động sáp nhập tại Việt Nam được khởi động từ những năm 2000,
sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trước đó, phần lớn các giao
dịch sáp nhập doanh nghiệp diễn ra trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Tuy nhiên, kể từ sau thời
điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) thì sáp nhập doanh nghiệp nói chung cũng như CTCP nói riêng
mới thực sự phát triển một cách mạnh mẽ. Sự kiện LDN, LCT và LĐT mới có
hiệu lực từ năm 2005, đã tạo động lực thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước và nỗ lực mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân.
Trên một sân chơi phổ biến hơn và khung khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi
hơn, các công ty Việt Nam ở tất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm
quen và sử dụng M&A nói chung cũng như sáp nhập nói riêng như là công cụ
chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại doanh nghiệp của mình.
Năm 2007 đã chứng kiến sự tăng vọt của số vụ M&A, sáu tháng đầu
năm 2007 đã có 46 vụ (tổng giá trị 626 triệu USD) so với 32 vụ (245 triệu
USD) của cả năm 2006 và 18 vụ (61 triệu USD) của cả năm 2005[31]. Năm
2014, Việt Nam có trên 300 thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A), với giá trị
lên tới 4,2 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2013. Năm 2015 là năm cuối cùng
19
trong giai đoạn 2011-2015 trong Đề án 254 về tái cấu trúc các tổ chức tín
dụng. Vì vậy, đã bùng nổ thị trường sáp nhập giữa các ngân hàng. Điển hình
là vụ sáp nhập SouthernBank vào Sacombank. Tháng 5/2015, SouthernBank
đã thông qua phương án sáp nhập với Sacombank theo tỷ lệ chuyển đổi 1:0,75
(1 cổ phiếu SouthernBank đổi 0,75 cổ phiếu Sacombank). Ngoài ra có thể kể
đến vụ sáp nhập Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long
(MHB) vào Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Ngày
22/5/2015, thủ tục cuối cùng để MHB sáp nhập vào BIDV đã chính thức hoàn
thành khi lãnh đạo hai ngân hàng ký kết biên bản bàn giao toàn hệ thống và
công bố sáp nhập. Cổ phiếu được hoán đổi theo tỷ lệ 1:1[30]..v..v.
1.8. Mối quan hệ giữa sáp nhập CTCP và M&A
Dễ thấy rằng, M&A là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp
thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó và giúp mở
rộng thị phần (kênh phân phối) trong thời gian ngắn, tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp thông qua việc tối ưu bộ máy hành chính, tận dụng cơ sở
vật chất, công nghệ, con người, tiền mặt,.. đang có sẵn. Do vậy, hình thức của
M&A cũng rất đa dạng, bao gồm: Mua lại toàn bộ công ty, góp vốn trực tiếp
vào công ty, chia tách, hợp nhất, sáp nhập,... Như vậy, dù mang trong mình
những đặc điểm riêng biệt, song sáp nhập vẫn có những đặc điểm chung nhất
định của M&A. Chúng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sáp nhập có
thể coi là một "tập con" trong hoạt động M&A và còn có sự giao thoa với các
hoạt động khác. Khi thực hiện hoạt động sáp nhập nói chung hay CTCP nói
riêng chính là đang tham gia vào hoạt động M&A. Tuy nhiên ngược lại, chưa
hẳn hoạt động M&A nào cũng là sáp nhập. Chúng có thể có một số điểm
chung về mục đích thực hiện, về mặt bản chất hay phương thức thực hiện.
Song chủ thể, hậu quả pháp lý để lại sẽ có một số điểm khác nhau, nhằm phân
biệt giữa các hoạt động này. Vì vậy, xét về mối quan hệ này, chúng có sự liên
kết khăng khít, không thể tách rời nhau nhưng vẫn có những đặc điểm riêng
để phân biệt và nhận dạng từng hoạt động một.
20
Tiểu kết chương I
Trong quá trình phát triển hoạt động M&A tại Việt Nam, chúng ta
không thể phủ nhận những lợi ích mà hoạt động này đem lại. Chỉ với một thời
gian ngắn mà hoạt động này đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các
chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Mười năm trở lại đây, sáp nhập nói
chung cũng như sáp nhập CTCP nói riêng đã diễn ra hết sức sôi động, tạo
thành một làn sóng đặc biệt mạnh mẽ trong những năm 2006, 2007... Với một
sự khởi đầu đầy mạnh mẽ như thế, sáp nhập CTCP ở Việt Nam được dự báo
sẽ càng phát triển hơn nữa. Tuy nhiên, việc điều chỉnh hoạt động này ở Việt
Nam vẫn chưa được thống nhất, đồng bộ. Nhiều khi còn có sự nhầm lẫn giữa
các hoạt động như mua bán hay hợp nhất,.. gây khó khăn cho các chủ thể
tham gia. Vì vậy, đặt ra vấn đề cần phải nắm bắt hoạt động này cùng bản chất
pháp lý của nó mới tạo được cơ sở để hiểu rõ hơn thực trạng pháp luật về sáp
nhập CTCP ở nước ta sẽ được trình bày ở chương II.
21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN
TẠI VIỆT NAM
M&A là hoạt động kinh doanh thương mại đặc biệt xuất hiện ở nước ta
đang có những bước phát triển vượt bậc. Trong bối cảnh hiện nay, với nền
kinh tế thị trường mở cửa dường như là điều kiện tốt để các thương vụ M&A
trở nên sôi động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tài chính ngân hàng
đến đầu tư, sản xuất kinh doanh và đặc biệt rất sôi nổi giữa các doanh nghiệp
Việt Nam với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế các hoạt động M&A vẫn chưa có
một sự điều chỉnh đồng bộ và hiệu quả từ luật pháp. Để làm rõ hiện tượng
này, tại chương 2, khóa luận sẽ phân tích về thực trạng các quy định pháp luật
trong nước về hoạt động sáp nhập đối với CTCP đồng thời so sánh với thực
tiễn thi hành pháp luật trên thực tế. Từ đó nhằm làm rõ những khoảng cách
giữa luật pháp và thực tế, tìm hiểu nguyên nhân cho những hạn chế này.
2.1. Tổng quan về hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động
sáp nhập CTCP
Bản thân hoạt động sáp nhập doanh nghiệp nói chung cũng như sáp
nhập CTCP nói riêng có thể hiểu là việc thực hiện một chuỗi nhiều hành vi có
liên kết chặt chẽ với nhau để đạt được mục đích sáp nhập. Do vậy, hoạt động
này sẽ thể hiện rất nhiều mặt trên nhiều phương diện khác nhau: vừa là một
hoạt động đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời là một hình
thức để các doanh nghiệp mở rộng quy mô của mình bằng cách huy động vốn.
Mặt khác nó cũng là một hình thức tập trung kinh tế trong nền kinh tế thị
trường hiện nay. Chính vì thế mà không có một luật nào quy định tập trung và
riêng rẽ về hoạt động sáp nhập. Tuy nhiên, nó lại được quy định rải rác ở
nhiều quy phạm pháp luật ứng với mỗi lĩnh vực tương ứng. Trong pháp luật
Việt Nam, có thể tìm thấy những chế định điều chỉnh hoạt động sáp nhập
doanh nghiệp tại BLDS 2015, LDN 2014, LCT 2004 hay LĐT 2014...
BLDS 2015 quy định về hoạt động sáp nhập pháp nhân tại điều 89:
22
"Điều 89. Sáp nhập pháp nhân
1. Một pháp nhân có thể được sáp nhập (sau đây gọi là pháp nhân được
sáp nhập) vào một pháp nhân khác (sau đây gọi là pháp nhân sáp nhập).
2. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại; quyền
và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp
nhân sáp nhập."
So với BLDS 2005, điều 89 này đã lược bỏ yếu tố cùng loại của các
pháp nhân khi tham gia vào hoạt động sáp nhập. Điểm mới này đã mở rộng
phạm vi điều chỉnh, cho phép cả những pháp nhân không cùng loại có thể
thực hiện sáp nhập.
LDN 2014 chưa đưa ra khái niệm thế nào là hoạt động sáp nhập công ty
mà chỉ đề cập đến việc làm thể nào để sáp nhập công ty tại khoản 1 điều 195:
"Điều 195: Sáp nhập doanh nghiệp
1. Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể
sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng
cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công
ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
[...]"
Bên cạnh đó, khoản 3 điều 195 LDN cũng có những quy định liên quan
đến việc sáp nhập những công ty có thị phần lớn trên thị trường như công ty
nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại
diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước
khi tiến hành sáp nhập, cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó
công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ
trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác,... Ngoài ra còn một số điều
chỉnh liên quan đến thủ tục cũng như hồ sơ sáp nhập công ty. Điểm mới của
LDN 2014 so với LDN 2005 là đã bổ sung quy định hồ sơ đăng ký doanh
nghiệp của công ty nhận sáp nhập phải kèm theo bản sao của: (a) Hợp đồng
sáp nhập, (b) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của
23
các công ty nhận sáp nhập, và (c) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp
đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp
nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có
quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.
Khoản 1 điều 17 LCT 2004 đề cập đến sáp nhập doanh nghiệp là "việc
một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự
tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.". Tuy nhiên LCT lại nhìn nhận hoạt
động này dưới khía cạnh kiểm soát tập trung kinh tế nên chưa bộc lộ cụ thể
những đặc điểm pháp lý của hoạt động này. Việc kiểm soát của Cục quản lý
cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi xuất hiện những giao dịch rơi vào ngưỡng
cạnh tranh phải khai báo hoặc bị cấm.
So với LĐT 2005, LĐT 2014 đã thể chế hóa nguyên tắc Hiến định về
quyền tự do kinh doanh của công dân trong những ngành, nghề mà pháp luật
không cấm; hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư thuận
lợi và minh bạch hơn nữa để huy động có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài. Điều 25 LĐT 2014 quy định minh bạch về hình
thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế:
" Điều 25. Hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp
vào tổ chức kinh tế
1. Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các
hình thức sau đây:
a) Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của
công ty cổ phần;
b) Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;
c) Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định
tại điểm a và điểm b khoản này.
2. Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh
tế theo các hình thức sau đây:
24
a) Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;
b) Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn
để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;
c) Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh
để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;
d) Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc
trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
3. Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài theo các hình thức quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đáp
ứng điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 22 của Luật này. "
LĐT 2014 cũng sửa đổi quy định về điều kiện thực hiện hoạt động đầu
tư của nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp,
mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, ngoài việc đáp ứng điều
kiện về tỷ lệ sở hữu và các điều kiện đầu tư khác, nhà đầu tư nước ngoài thực
hiện hoạt động này theo thủ tục quy định thống nhất tại LDN. Điều 6 LĐT
2014 đã vạch rõ giới hạn của các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, thay vì
cấm mông lung theo lĩnh vực như Điều 30 LĐT 2005. Quy định này có thể
coi là một bước tiến quan trọng để thể chế hóa Điều 33 Hiến pháp 2013: "Mọi
người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật
không cấm.". LĐT 2014 dành riêng một phụ lục (Phụ lục 4) liệt kê 267 ngành
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện với mục đích để tổng hợp và làm rõ hơn
danh mục những ngành nghề kinh doanh có điều kiện vốn đã được liệt kê
trong vô số các văn bản chuyên ngành khác. Nhờ đó, các cơ quan Nhà nước
không còn quyền tự đặt ra các nghề kinh doanh có điều kiện, trừ khi được
Quốc hội chấp thuận bằng việc sửa đổi LĐT. Như vậy, các quy định điều
chỉnh M&A nói chung hay hoạt động sáp nhập nói riêng theo LĐT 2014 cơ
bản đã thông thoáng, minh bạch, hợp lý và khả thi. Tạo điều kiện thuận lợi để
hoạt động này được thúc đẩy một cách mạnh mẽ.
25
LCK 2013 điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán của các công ty
đại chúng, mặc dù không liên quan nhiều đến hoạt động sáp nhập công ty, tuy
nhiên trong tương lai, có khả năng nhiều công ty đại chúng sẽ bị “thôn tính”
thông qua cách chuyển nhượng cổ phần tự do hoặc mua dần trên thị trường
chứng khoán phục vụ cho hoạt động sáp nhập. Vì vậy, LCK có một số điều
khoản nhằm điều tiết hoạt động này:
Khoản 1 điều 29 quy định: “Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn
của công ty đại chúng phải báo cáo công ty đại chúng, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán nơi cổ phiếu của công ty đại chúng
đó được niêm yết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ đông
lớn.”. Đây sẽ là dấu hiệu để các cổ đông công ty sớm phát hiện mục đích
"thôn tính" công ty của một nhà đầu tư. Khoản 1 điều 32 quy định về chào
mua công khai, theo đó các tổ chức, cá nhân chào mua công khai số cổ phiếu
biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ 25% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của
một công ty đại chúng phải gửi đăng ký chào mua đến Ủy ban chứng khoán
Nhà nước. Có thể coi đây là bước thứ hai đối với các nhà đầu tư có ý định
thôn tính công ty theo hình thức mua dần cổ phần. Những điều khoản này góp
phần bảo vệ cho cổ đông thiểu số và đồng thời cũng tạo ra một cơ chế cho nhà
đầu tư tiến hành hoạt động thâu tóm công ty đại chúng hay như trong đề tài
này, nhà đầu tư sẽ tiến hành hoạt động sáp nhập công ty.
LTCTD 2010 đề cập đến việc sáp nhập tổ chức tín dụng phải được
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản (Điều 34). Ngoài ra, một số
quy định liên quan giúp hỗ trợ cho hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế, như:
tổ chức được cấp giấy phép có thể bị Ngân hàng nhà nước thu hồi giấy phép
khi chia, sáp nhập, hợp nhất. phá sản (Điều 29); tổ chức tín dụng phải được
Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện chuyển
nhượng cổ phần có ghi tên quá tỷ lệ quy định của Ngân hàng nhà nước, hoặc
khi thay đổi tỷ lệ cổ phần của các cổ đông lớn (Điều 31).
26
Sáp nhập CTCP cũng được đề cập đến trực tiếp hoặc gián tiếp trong
một số nghị định, văn bản hướng dẫn như:
Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ
Quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp.
Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ
Về đăng ký doanh nghiệp.
Nghị định 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ
Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh.
...
Qua đây, có thể thấy khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sáp nhập
CTCP chưa được hoàn thiện. Hoạt động sáp nhập công ty còn được quy định
khá rời rạc tại nhiều văn bản khác nhau, và chưa có sự thống nhất. Mỗi một
văn bản pháp luật lại điều chỉnh hoạt động này dưới một góc nhìn khác nhau.
Như LCT điều chỉnh dưới góc độ sáp nhập là một hình thức tập trung kinh tế,
trong khi LDN lại có xu hướng điều chỉnh dưới góc độ coi hoạt động này là
cách thức tổ chức, cơ cấu lại công ty còn LĐT thì coi đây là một hoạt động
đầu tư quan trọng. LCK cũng không trực tiếp nhắc đến hoạt động này song lại
điều chỉnh thông qua các điều khoản về bảo vệ cổ đông, công bố thông tin...
Những điều trên có thể thể hiện được tính linh hoạt khi áp dụng cho hoạt động
sáp nhập trong từng lĩnh vực cụ thể tuy nhiên một phần nào đó tạo khó khăn
trong việc tìm hiểu pháp luật. Trong khi đó, với quá trình phát triển kinh tế
mạnh mẽ, quá trình hội nhập sâu rộng vào đời sống thương mại quốc tế, sáp
nhập công ty đang trở thành một kênh đầu tư có quy mô lớn, một hình thức
đầu tư trực tiếp được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. Dẫn đến nhu cầu điều
chỉnh hoạt động sáp nhập công ty ở Việt Nam là vô cùng cần thiết.
27
2.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập CTCP
2.2.1. Các quy định về thủ tục sáp nhập CTCP
Thủ tục sáp nhập CTCP được quy định chi tiết tại điều 195 LDN 2014.
Đồng thời, thủ tục cũng được dựa trên Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14
tháng 09 năm 2015 của Chính phủ Về đăng ký doanh nghiệp.
Trước hết, công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo
Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ
yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở
chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử
dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản,
chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành
phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực
hiện sáp nhập.
Tiếp đến, các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các
công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập
và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của
LDN 2014. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông
báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua.
Khi có hợp đồng sáp nhập rồi thì các công ty bị sáp nhập phải nộp hồ sơ
xin xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và xin đóng mã số thuế lên cơ quan
thuế quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội (nếu có), tổng cục hải quan (nếu có)…
Sau đó, công ty nhận sáp nhập tiến hành chuẩn bị hồ sơ sáp nhập để thực
hiện đăng ký kinh doanh cho công ty nhận sáp nhập. Hồ sơ sáp nhập gồm:
- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh.
- Hợp đồng sáp nhập.
- Điều lệ của công ty nhận sáp nhập.
- Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của
ĐHĐCĐ của công ty nhận sáp nhập về việc sáp nhập công ty.
28
- Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của
ĐHĐCĐ của công ty bị sáp nhập về việc sáp nhập công ty, trừ trường hợp
công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ
hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.
- Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty bị
sáp nhập và công ty nhận sáp nhập.
- Bản sao hợp lệ Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân
hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực của các sáng lập viên của công ty nhận
sáp nhập.
Công ty nhận sáp nhập sẽ tiến hành nộp hồ sơ tại Sở kế hoạch và đầu
tư. Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra phiếu nhận
và hẹn ngày trả kết quả. Nếu hồ sơ chưa đúng, bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả yêu cầu bổ sung. Nếu hồ sơ thiếu, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ra văn
bản yêu cầu bổ sung.
Cuối cùng, khi có kết quả, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ tiến hành cập
nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về
đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp
cho công ty nhận sáp nhập.
2.2.2. Các quy định về bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp
nhập CTCP
Khi thực hiện sáp nhập, vấn đề đặt ra làm thế nào để tạo được sự công
bằng giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động này. Muốn vậy, Nhà nước cần
thể hiện vai trò khách quan của mình trong việc điều tiết hoạt động này thông
qua một loạt các quy định pháp luật. Từ đó tạo ra một sự cân bằng về quyền
lợi và nghĩa vụ của các bên trên một sân chơi bình đẳng.
Nếu như pháp luật Việt Nam thừa nhận các quyền tự do hoạt động kinh
doanh để công ty có thể chủ động cũng như dễ dàng thực hiện hoạt động sáp
nhập với một công ty mục tiêu nào đó thì ngược lại, về phía công ty mục tiêu
cũng cần có những sự thừa nhận về quyền cũng như các cơ chế hỗ trợ để
29
những doanh nghiệp này có khả năng tự bảo vệ quyền kinh doanh, sở hữu của
mình trước nguy cơ bị những công ty khác "thâu tóm". Điều này đã được các
nhà làm luật tính đến và được cụ thể hóa trong một số quy định pháp luật
khác nhau.
Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập CTCP thông qua
các quy định về công bố thông tin
Các công ty có quyền được yêu cầu thông tin một cách đầy đủ, điều 29
và điều 32 LCK 2013 cũng như nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07
năm 2012 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Chứng khoán và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng
khoán và Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bộ tài
chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã có
những quy định về nghĩa vụ công bố thông tin sở hữu số lượng lớn cổ phiếu
cũng như các quy định về việc công bố thông tin trong hoạt động chào mua
công khai. Bởi sự tích luỹ cổ phiếu có thể uy hiếp đến quyền kinh doanh. Vì
vậy, để ngăn chặn quyền kinh doanh bị thâu tóm một cách bất công bằng, họ
nảy sinh nhu cầu được minh bạch hoá về thông tin sở hữu cổ phiếu số lượng
lớn. Mặt khác, khi công ty có sự thay đổi bất thường về cơ cấu hay tỉ lệ sở
hữu cổ phần giữa các cổ đông,... thì cũng đều cần phải công bố thông tin. Dựa
vào đây, công ty mục tiêu có thể nhận thức được nguy cơ bị thâu tóm từ
những công ty khác từ khá sớm. Qua đó sẽ có những sự chuẩn bị cần thiết
cũng như những phương án, hướng đi để điều chỉnh lại hoạt động công ty phù
hợp với hoàn cảnh hiện tại.
Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập CTCP thông qua
các quy định về tỉ lệ sở hữu cổ phần
Chúng ta có thể nhận biết được ý đồ của một công ty muốn nhận sáp
nhập thông qua tỉ lệ sở hữu cổ phần. Tỷ lệ sở hữu cổ phần, nghĩa vụ báo cáo
thông tin và chào mua công khai là ba yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát
hoạt động sáp nhập. Thực tiễn cho thấy, tuỳ từng nhu cầu điều chỉnh (nới
30
lỏng hay siết chặt hoạt động sáp nhập), pháp luật sẽ sử dụng các công cụ
này theo cách linh hoạt nhất. Ví dụ, khi cần bảo vệ quyền kinh doanh, siết
chặt hoạt động sáp nhập, nhà làm luật thường quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu
bằng một con số cụ thể. Khi cần nâng cao tính công bằng trong hoạt động
sáp nhập thì sẽ bãi bỏ các quy định giới hạn này và thay vào đó bằng chế độ
chào mua công khai. Như vậy, việc kết hợp, sử dụng khéo léo những yếu tố
trên đã khiến cho sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sáp nhập trở nên
linh hoạt hơn là những kỹ thuật lập pháp cấm đoán và hệ thống các chế tài
cứng nhắc.
Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về tỉ lệ sở hữu cổ phần
trong các công ty. Tỉ lệ này được thông qua các quy định về nghĩa vụ báo cáo
sở hữu cổ phần của các cổ đông lớn (cổ đông lớn là cổ đông nắm giữ từ 5%
trở lên cổ phần có quyền biểu quyết) hay trong hoạt động chào mua công khai
(một trong những trường hợp phải chào mua công khai là chào mua cổ phiếu
có quyền biểu quyết, chứng chỉ quỹ đóng dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi
lăm phần trăm trở lên cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đang lưu hành của một công ty
đại chúng, quỹ đóng)...
Bảo đảm sự công bằng trong hoạt động sáp nhập CTCP thông qua
các quy định về chào mua công khai
Chào mua công khai là một trong những cách thức để bản thân công ty
muốn nhận sáp nhập có thể chủ động mua được số lượng lớn cổ phần, nhờ đó
có thể nhanh chóng tiến hành chi phối hoặc kiểm soát công ty mục tiêu. Đây
cùng là một cách để cảnh báo trước với công ty mục tiêu, tạo điều kiện cho
công ty này có đủ thời gian hợp lý để lên kế hoạch bảo vệ quyền kinh doanh
của mình.Trong thời gian chào mua công khai, pháp luật cũng cho phép công
ty mục tiêu thực hiện một số quyền nhất định như quyền phát hành chứng
khoán bổ sung, quyền mua lại cổ phiếu của chính mình,... Có thể coi đây là
biện pháp đáp trả của công ty mục tiêu với kế hoạch thâu tóm của công ty
muốn nhận sáp nhập. Nó có thể làm cho quá trình thực hiện việc tiếp cận sáp
31
nhập trở nên khó khăn hơn và buộc công ty muốn nhận sáp nhập phải xem xét
lại mục tiêu của mình. Nhờ vậy mà tạo ra được sự cân bằng giữa việc công ty
mục tiêu có quyền đáp trả còn công ty muốn nhận sáp nhập có quyền rút lui
nếu thấy mình không có khả năng đối phó được với sự đáp trả ấy
2.2.3. Các quy định về bảo vệ cổ đông trong hoạt động sáp nhập CTCP
Có thể thấy, hoạt động sáp nhập thể hiện quyền quyết định của người
lãnh đạo hoặc những cổ đông lớn trong công ty. Vì vậy, chắc chắn một bộ
phận các cổ đông nhỏ lẻ sẽ chịu ảnh hưởng, quyền lợi của họ sẽ dễ bị xâm
phạm. Do đó, đặt ra nhu cầu cần phải có những cơ chế để bảo vệ bộ phận yếu
thế này trong hoạt động sáp nhập CTCP.
Sau khi đạt được thỏa thuận về sáp nhập công ty, cổ đông của công ty
bị sáp nhập sẽ phải quyết định có trở thành cổ đông của công ty nhận sáp
nhập hay lựa chọn phương án rút lui khỏi công ty bị sáp nhập trước khi hợp
đồng sáp nhập có hiệu lực.Từ đó, việc cụ thể hóa các quyền của cổ đông trong
những quy định pháp luật là cơ sở để các cổ đông có thể tự bảo vệ quyền lợi
của mình.
Trong quyết định sáp nhập, pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông
bằng cách bắt buộc phải có nghị quyết tán thành của ĐHĐCĐ của công ty
nhận và bị sáp nhập. Riêng đối với công ty bị sáp nhập, phải có Nghị quyết và
biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp
nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có
quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập (Điểm c khoản 4 Điều 195 LDN
2014). Đa số những thương vụ sáp nhập được quyết định bởi nhóm cổ đông
lớn, nắm đa số quyền biểu quyết. Lá phiếu của cổ đông thiểu số chỉ đóng vai
trò thứ yếu trong hoạt động này. Vậy nên, khi các cổ đông thiểu số không tán
thành với việc sáp nhập, họ có thể yêu cầu công ty mua lại cổ phần theo điều
129 LDN 2014:
32
" Điều 129. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông
1. Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty
hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có
quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản,
trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự
định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty
trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị
quyết về các vấn đề quy định tại khoản này.
2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại
khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy
định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu
cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một
tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ
chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là
quyết định cuối cùng."
Ngoài ra, tỷ lệ hoán đổi cổ phần cũng là một yếu tố giúp cân bằng
quyền lợi của những cổ đông thiểu số khi đưa ra quyết định sáp nhập. Dựa
vào giá trị tài sản cũng như khả năng sinh lời của công ty bị sáp nhập mà tỷ lệ
hoán đổi sẽ được xác định và tỷ lệ này phải được thẩm định bởi một tổ chức
thẩm định giá. Tỷ lệ hoán đổi được thỏa thuận, quyết định theo nguyên tắc đa
số biểu quyết tại ĐHĐCĐ của CTCP nhận sáp nhập dựa trên đề xuất của
HĐQT và người đại diện theo pháp luật. Cụ thể, tại điểm a khoản 3 điều 3
Nghị định 60/2015/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một
số điều nghị định 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Chứng khoán quy định như sau:
"[...]
a) Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án chào
bán. Phương án chào bán phải nêu rõ mục đích, số lượng cổ phiếu dự kiến
33
chào bán, danh sách nhà đầu tư, số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành hoán
đổi và số lượng cổ phiếu, phần vốn góp nhận hoán đổi của từng nhà đầu tư,
phương pháp xác định và tỷ lệ hoán đổi. Phương pháp xác định và tỷ lệ hoán
đổi phải có ý kiến của tổ chức thẩm định giá độc lập. Trường hợp có ý kiến
khác nhau giữa tỷ lệ hoán đổi dự kiến thực hiện và tỷ lệ hoán đổi hợp lý do tổ
chức thẩm định giá độc lập xác định, thì Hội đồng quản trị phải có văn bản
giải trình để Đại hội đồng cổ đông xem xét quyết định.
Trường hợp hoán đổi cổ phiếu của một hoặc một số cổ đông xác định
của công ty đại chúng khác thì phải được Đại hội đồng cổ đông của công ty
được hoán đổi thông qua trong trường hợp tỷ lệ sở hữu của tổ chức phát hành
tại công ty đại chúng có cổ phiếu được hoán đổi vượt mức chào mua công
khai theo quy định tại Khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Chứng khoán;
[...]"
Ví dụ, trong vụ sáp nhập giữa CTCP Vinpearl (VPL) vào CTCP
Vincom (VIC) năm 2011, cổ phiếu VPL được chuyển đổi thành cổ phiếu VIC
theo tỷ lệ VPL:VIC là 1:0,77 (nghĩa là 1 cổ phần VPL đổi 0,77 cổ phần VIC).
Vincom đã phát hành thêm 158.233.837 cổ phần để hoán đổi lấy 100% cổ
phần của Vinpearl, tương đương với 205.498.489 cổ phần. triệu cổ phần.
Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá là hơn 1.582 tỷ đồng, đối tượng phát
hành cho các cổ đông Vinpearl tại thời điểm chốt danh sách để thực hiện hoán
đổi cổ phần. Sau khi sáp nhập, VIC sẽ đổi tên thành CTCP Tập đoàn Đầu tư
Việt Nam, tên viết tắt là Vingroup JSC với tổng vốn điều lệ là 5.900 tỷ
đồng[32].
Trong thương vụ sáp nhập, không chỉ có quyền lợi của cổ đông phía
công bị sáp nhập cần bảo vệ mà còn cần phải chú ý đến cả quyền lợi của cổ
đông phía công ty nhận sáp nhập. Bởi không phải lúc nào công ty nhận sáp
nhập sau khi sáp nhập thêm công ty mới cũng hoạt động hiệu quả. Việc sáp
nhập này có thể làm gia tăng lợi ích của cổ đông của CTCP nhận sáp nhập khi
34
làm tăng giá cổ phiếu và tăng mức cổ tức chi trả hoặc giảm lợi ích của cổ
đông của CTCP nhận sáp nhập khi làm giảm giá cổ phiếu và giảm mức cổ tức
chi trả. Điển hình có thể kể đến vụ sáp nhập Ngân hàng Nhà Hà Nội
(Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) năm 2012 đã khiến cho
SHB phải chịu gánh nặng xử lý nợ xấu hàng nghìn tỷ đồng trong khi dự kiến
sẽ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng này. Tại đại hội cổ đông thường niên
2017, lãnh đạo SHB cho biết thời điểm sáp nhập Habubank, nợ xấu của
Habubank chuyển sang là 8.600 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu của SHB tăng từ 2,23%
lên 8,81%. Đến nay, SHB đã thu hồi 2.800 tỷ đồng, bán 3.500 tỷ đồng cho
VAMC, nhưng trong quá trình hoạt động nên ngân hàng vẫn tiếp tục phát sinh
nợ xấu[33].
Chính vì những điều trên mà đặt ra cho các nhà làm luật làm thế nào để
các quy định có thể dung hòa được lợi ích của các bên cổ đông, đảm bảo sự
công bằng cho một sân chơi lành mạnh. Việc này thể hiện ở những quy định
pháp luật về nguyên tắc định giá tài sản của CTCP bị sáp nhập, cũng như cụ
thể hóa quy định về nghĩa vụ công ty mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ
đông. Tuy nhiên những quy định về định giá giá tài sản của CTCP bị sáp nhập
cũng khá phức tạp. Giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công
ty, trong trường hợp không thỏa thuận được về giá thì giá do tổ chức thẩm
định giá chuyên nghiệp định giá. Như vậy, cổ đông sẽ luôn ở thế "bị động"
khi muốn quyết định rút lui. Ngoài ra, khi các cổ đông không đồng ý về một
vụ sáp nhập, họ có thể yêu cầu được nhận lại tiền thay vì nhận cổ phiếu thông
qua yêu cầu mua lại cổ phiếu. Đây là cách thức “giải thoát” hiệu quả cho
những cổ đông không đồng ý với quyết định sáp nhập mà không nhất thiết
phải hạn chế hoạt động sáp nhập. LDN 2014 quy định:
" Điều 129. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông
1. Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty
hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có
quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản,
35
trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự
định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty
trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị
quyết về các vấn đề quy định tại khoản này.
2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại
khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy
định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu
cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một
tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ
chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là
quyết định cuối cùng."
Trong quan hệ với chủ nợ, vấn đề đặt ra với CTCP nhận sáp nhập là sẽ
ưu tiên quyền lợi của các cổ đông thuộc công ty mình hay ưu tiên quyền lợi
của chủ nợ của CTCP bị sáp nhập. Có thể thấy, chủ nợ là đối tượng có quyền
lợi trực tiếp liên quan đến thương vụ. Do đó, chủ nợ có quyền được biết đầy
đủ thông tin về thương vụ sáp nhập. Trước khi tiến hành sáp nhập, công ty
nhận sáp nhập cần phải có những đánh giá về các khoản nợ của công ty bị sáp
nhập và xác định trách nhiệm của người quản lý đối với khoản nợ. Vì suy cho
cùng, nguyên nhân chính dẫn đến những thương vụ sáp nhập chính là những
khoản nợ không thể thanh toán. Ngược lại, các cổ đông của các bên công ty
cũng phải được cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình tài chính, các khoản nợ
của công ty bị sáp nhập để có thời gian xem xét, suy nghĩ tiến tới việc thực
hiện quyền biểu quyết tới số phận của thương vụ sáp nhập trước khi hợp đồng
sáp nhập có hiệu lực. Điều này được thể hiện trong các quy định yêu cầu công
ty công bố các thông tin đã nêu ở phần trên.
Như vậy, việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong hoạt động sáp
nhập có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức đa dạng và đan xen nhau.
Như việc đảm bảo sự công bằng trong hoạt động sáp nhập cũng đã bao hàm
36
bảo vệ cổ đông thông qua việc công bố thông tin và minh bạch hóa các chỉ số
về tình hình tài chính.
2.2.4. Các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế trong hoạt động
sáp nhập CTCP
Pháp luật công nhận và tạo rất nhiều điều kiện cho hoạt động sáp nhập
công ty. Tuy nhiên, sự công nhận này cũng có một số giới hạn. Có thể hiểu
hoạt động sáp nhập sẽ giúp giảm đi về mặt số lượng của các công ty hoạt
động trên thị trường do không đáp ứng được những yêu cầu của quy luật cạnh
tranh trước sự phát triển mạnh của các công ty khác, từ đó dẫn đến sự thay đổi
về cấu trúc và phân vùng thị trường. Song nếu kiểm soát không tốt sự tập
trung này sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền của các công ty lớn đối với nền
kinh tế thị trường hiện nay. Vì thế cần phải có những giới hạn được ghi nhận
bởi pháp luật để kiểm soát hoạt động này, tránh sự lạm quyền.
LCT 2005 coi sáp nhập là một trong những hành vi tập trung kinh tế.
Theo đó, các công ty tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên
thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các công ty đó phải thông báo cho
cơ quan quản lý cạnh tranh (Cục quản lý cạnh tranh) trước khi tiến hành tập
trung kinh tế. Với những trường hợp thị phần kết hợp của các công ty tham gia
tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp công ty
sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại công ty nhỏ và vừa theo quy
định của pháp luật thì không phải thông báo (điều 20 LCT 2005). Ngoài ra, điều
18, điều 19 LCT 2005 quy định thêm về các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
và miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm:
"Điều 18. Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham
gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường
hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi
thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy
định của pháp luật."
37
"Điều 19. Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm
Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được
xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
1. Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị
giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;
2. Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần
phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ."
Từ một số quy định trên, chúng ta có thể thấy tiêu chí về thị phần là
tiêu chí để xác định mức độ tập trung kinh tế của một công ty. Nếu như hai
CTCP tiến hành sáp nhập dẫn đến tình trạng chiễm lĩnh hơn 50% trên thị
trường liên quan thì sẽ thuộc những trường hợp bị cấm. Tuy nhiên, ở đây lại
không quy định rõ ràng thế nào là "thị trường liên quan". Về phần các công ty
tham gia sáp nhập, họ chỉ có thể biết và chịu trách nhiệm về doanh số của
mình mà không có nghĩa vụ phải nắm được doanh số của các đối thủ cạnh
tranh trên thị trường, trong khi đây lại là căn cứ để tính toán thị phần của các
bên tham gia tập trung kinh tế. Dẫn đến việc các công ty phải đi thu thập một
lượng thông tin khổng lồ liên quan đến thị trường nói chung cũng như thị
phần nói riêng, tạo ra một áp lực rất lớn cho các doanh nghiệp mong muốn
thực hiện thủ tục thông báo hoặc tham vấn ý kiến của cơ quan cạnh tranh về
tập trung kinh tế. Hơn nữa, sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan
trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động tập trung kinh tế lại chưa thực sự tốt.
Những hạn chế trên dẫn đến việc khi xem xét hồ sơ đề nghị tập trung kinh tế,
hầu hết các cơ quan Nhà nước sẽ dựa trên cảm tính của mình để đánh giá mức
độ tập trung kinh tế của một công ty liệu có dẫn đến vị trí độc quyền trên thị
trường hay không.
Tính đến hết tháng 12/2014, cơ quan cạnh tranh mới chỉ tiếp nhận 26
vụ việc thông báo tập trung kinh tế, trong số đó 20 vụ việc đã được thông qua,
01 vụ việc rút hồ sơ và 5 vụ việc đang trong quá trình xem xét (con số này là
quá ít so với khoảng hơn 1.200 các thương vụ mua bán sáp nhập diễn ra tại
38
Việt Nam trong cùng giai đoạn này). Những con số trên phần nào thể hiện
được thêm công tác kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Việt Nam trong
giai đoạn vừa qua hoạt động không thực sự hiệu quả[34].
Như vậy, hoạt động sáp nhập trên thực tế hoàn toàn có thể gây ảnh
hưởng đến thị trường thông qua việc tập trung kinh tế với quy mô lớn. Bên
cạnh những tác động tích cực đến nền kinh tế thì đây chính là điểm hạn chế
của hoạt động này. Nếu như không kiểm soát tốt sẽ rất dễ dẫn đến nguy cơ
hình thành độc quyền, triệt tiêu cạnh tranh. Có thể thấy rằng thời gian qua,
Nhà nước đã có nỗ lực trong việc thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế thông
qua việc ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, từ những vụ
việc thực tế đã phát sinh ra nhiều vấn đề chưa có cơ chế điều chỉnh hiệu quả,
tạo ra những khó khăn đối với các công ty và cả nền kinh tế của nước ta.
Chính vì thế, điều cần thiết ở thời điểm này là hoàn thiện hơn các văn bản
pháp lý để tạo ra một khung pháp lý đầy đủ và rõ ràng hơn để công việc quản
lý của Nhà nước đạt được hiệu quả nhất định cũng như bảo vệ nền kinh tế
khỏi những rủi ro từ nguy cơ độc quyền.
2.2.5. Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A
Trong quá trình hội nhập với thế giới, việc cập nhật xu thế trên thị
trường quốc tế là vô cùng quan trọng. Muốn tham gia được sân chơi mở này,
đòi hỏi cần phải có một hệ thống pháp luật trong nước hoàn thiện cũng như
mở cửa thị trường, gia nhập những tổ chức quốc tế lớn như Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),... Chấp
nhận tham gia những tổ chức này đồng nghĩa với việc chúng ta phải chủ động
tham gia các cam kết quốc tế để chứng minh khả năng hội nhập và tiềm năng
phát triển trên một thị trường rộng mở. Tính đến nay Việt Nam đã ký kết và
tham gia rất nhiều cam kết quốc tế về đầu tư hoặc liên quan đến đầu tư, bao
gồm: các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký kết với 55 nước; các
Hiệp định/Chương Đầu tư trong khuôn khổ FTA; và các cam kết khác liên
quan đến đầu tư như Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
39
mại (TRIMs) của WTO, các hiệp định về dịch vụ trong WTO và các FTA,
hiệp định thành lập tổ chức bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước
New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước
ngoài, các cam kết đầu tư song phương và đa phương v..v… Có thể dễ dàng
nhận thấy, các Hiệp định, cam kết của Việt Nam liên quan đến hoạt động
M&A nói chung cũng như sáp nhập nói riêng hầu hết thể hiện dưới hình thức
tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt
Nam hoặc được thể hiện dưới dạng cam kết cho phép các nhà đầu tư nước
ngoài hiện diện thương mại, thâm nhập trong các ngành hay lĩnh vực đầu tư
tại Việt Nam.
Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại
dịch vụ
Sau hơn mười năm gia nhập WTO, Việt Nam đã và đang ngày càng mở
rộng cánh cửa thị trường của mình để các nhà đầu tư có thể gia nhập một cách
có lộ trình. Chính vì thế mà hoạt động M&A được coi là một cách để các nhà
đầu tư tiếp cận vào thị trường trong nước thuận tiện, nhanh chóng và dễ dàng
(chủ yếu qua việc góp vốn, mua cổ phần). Việc nhà đầu tư góp vốn, mua cổ
phần của doanh nghiệp Việt Nam liên quan đến phương thức cung cấp dịch
vụ thông qua sự hiện diện thương mại tại Việt Nam.
Trong phần cam kết chung khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết:
"Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép góp vốn dưới hình thức mua cổ
phần trong các doanh nghiệp Việt Nam. Trong trường hợp này, tổng mức vốn
cổ phần do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trong một doanh nghiệp
không được vượt quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó, trừ khi luật pháp
Việt Nam có quy định khác hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
cho phép. Một năm sau khi gia nhập, hạn chế 30% cổ phần nước ngoài trong
việc mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ
đối với việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các ngân hàng thương
mại cổ phần và với những ngành không cam kết trong Biểu cam kết này. Với
40
các ngành và phân ngành khác đã cam kết trong Biểu cam kết này, mức cổ
phần do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ khi mua cổ phần tại doanh
nghiệp Việt Nam phải phù hợp với các hạn chế về tỷ lệ tham gia vốn của nước
ngoài được quy định trong các ngành và phân ngành đó, bao gồm cả hạn chế
dưới dạng thời gian chuyển đổi, nếu có"[35]. Có thể thấy, các hạn chế đối với
tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nói chung
cũng như các CTCP nói riêng tại Việt Nam đã bị xóa bỏ, trừ một số lĩnh vực
đặc thù như ngân hàng và chứng khoán. Ngoài ra, một số hạn chế về tỷ lệ sở
hữu cổ phần hạn chế không có thời hạn dỡ bỏ:
- Dịch vụ liên quan đến lâm nghiệp, săn bắn và nông nghiệp: Chỉ cho
phép thành lập liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phần vốn góp
của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.
- Dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Phần vốn góp của phía nước
ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp và công ty trong nước, chúng ta
có thể thấy sự dè dặt trong việc áp dụng các cam kết quốc tế khi mà các cam
kết quốc tế đó quy định khác với luật trong nước vẫn đang tồn tại, gây cản trở
một phần không nhỏ đến sự phát triển và hòa mình vào xu hướng hội nhập
của các công ty trong nước. Nguyên nhân của vấn đề này một phần là do các
chủ thể áp dụng pháp luật không có sự hiểu biết về các cam kết quốc tế hoặc
do e ngại sẽ vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam. Mặt khác, mặc dù
các tập đoàn đa ngành ở nước ta đang phát triển khá mạnh, song số lượng
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn luôn chiếm đa số, chưa thực sự đáp
ứng đủ những yêu cầu cần thiết để gia nhập thị trường này.
Thực tế cho thấy, sau khi Việt Nam gia nhập WTO ngày 7/11/2006,
hoạt động M&A phát triển đặc biệt mạnh mẽ trong những năm gần đây. Một
số vụ thương vụ M&A điển hình trong giai đoạn này là: Công ty Cổ phần
Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai mua lại Cheerfield Rama, Dai-ichi mua lại Bảo
Minh CMG, Kinh Đô mua lại Kem Wall’s, Anco mua lại nhà máy sữa của
41
Nestlé. Trong năm 2008, các hoạt động này cũng diễn ra khá mạnh mẽ:
Indochina Capital Vietnam Holding mua 20% cổ phần của Công ty Thời trang
Việt - Ninomaxx, Tập đoàn Goldman Sachs đầu tư 30% cổ phần của Công ty
cổ phần Diana, hay việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho
Eximbank bán 25% vốn điều lệ cho nhà đầu tư nước ngoài là: Sumitomo
Mitsui Banking Corporation (SMBC),... Năm 2016, tổng giá trị các thương
vụ M&A của Việt Nam đạt mức kỷ lục trong vòng 9 năm gần đây với con số
5,82 tỷ USD, tăng trưởng gần 12%. Trong tổng số hơn 500 thương vụ diễn ra
trong năm 2016, số thương vụ có giá trị lớn trên 1 tỷ USD chỉ là 2 thương vụ.
Phần lớn các thương vụ có giá trị khiêm tốn, khoảng dưới 20 triệu USD. Bước
sang quý I/2017, tổng giá trị các thương vụ M&A lại giảm 25% so với cùng
kỳ năm trước, chỉ đạt 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, thương vụ “bom tấn” bán thành
công hơn 343 triệu cổ phần của Sabeco vừa qua đã phá toàn bộ kỷ lục trong
các thương vụ M&A trước đó. Đồng thời, thương vụ này cũng đưa tổng giá trị
các thương vụ M&A trong năm nay lên con số 8 tỷ USD. Ngoài ra, thị trường
cũng chứng kiến những sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong nước ra
thị trường nước ngoài như Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel đầu tư vào
thị trường Campuchia, Lào; tập đoàn FPT đầu tư vào thị trường Cambodia,
Myanmar, Isreal,...
Những con số biết nói trên đã cho thấy, mở cửa thị trường không chỉ
đem lại lợi ích cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mà nếu như các
doanh nghiệp, công ty trong nước cũng biết tận dụng lợi thế về thị trường mở
cửa, có am hiểu vững về pháp luật cùng với khả năng tài chính tốt thì hoàn
toàn có thể tham gia vào thị trường M&A quốc tế một cách hiệu quả.
Cam kết trong khu vực ASESAN
Đối với khu vực ASEAN, nhiều dự đoán cho rằng hoạt động M&A
trong khu vực ASEAN sẽ diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính
và năng lượng, do các Hiệp định được ký kết giữa các quốc gia ASEAN đã
tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, các rào cản thương mại, thuế quan
42
hầu như không còn trong khu vực này. Các cam kết của Việt Nam trong khu
vực ASEAN về hoạt động M&A chủ yếu được thể hiện ở các hiệp định hợp
tác về đầu tư.
Ngày 15/12/1987 những nhà lãnh đạo phụ trách các vấn đề kinh tế của
các nước ASEAN 6 đã kí kết hiệp định hợp tác về đầu tư mang quy mô toàn
ASEAN đầu tiên có tên là Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (AIGA)
để tiến hành hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực đầu tư trong khu vực. Hiệp định
Khuyến khích và bảo hộ đầu tư có hiệu lực từ ngày 2/8/1988, sau đó được sửa
đổi một lần vào năm 1996. Hiệp định này khá ngắn, chỉ bao gồm 13 điều
khoản và mới chỉ dừng lại ở những qui định liên quan tới các yếu tố về bảo hộ
đầu tư và xúc tiến đầu tư. Cụ thể, theo qui định tại Khoản 1 Điều IV “Mỗi bên
kí kết trong phạm vi lãnh thổ của mình sẽ đảm bảo bảo hộ đầy đủ đối với các
khoản đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu tư của bên kí kết khác theo qui định
của bên kí kết đó”.
Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) được các quốc gia
thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á lập ngày 07-10-1998
nhằm khẳng định lại tầm quan trọng của việc giữ vững sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế ở tất cả các quốc gia, đồng thời ghi nhớ những thỏa thuận nhằm
hình thành Khu vực Đầu tư ASEAN có tính cạnh tranh vào năm 2010 sẽ góp
phần hướng tới Tầm nhìn ASEAN năm 2020. Hiệp định này chính thức có
hiệu lực vào ngày 21 tháng 6 năm 1999 chứa đựng 21 điều khoản. Với mục
tiêu tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, tự do, minh bạch, so với IGA
(Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư), AIA tiếp tục đưa ra các thỏa
thuận nâng cao hơn nữa tiến trình tự do hóa, xúc tiến, thuận lợi hóa và hài hòa
hóa chính sách đầu tư nước ngoài đang được thực hiện trong ASEAN; loại trừ
danh mục đầu tư và bổ sung điều khoản về áp dụng nguyên tắc đối xử quốc
gia và đối xử tối hệ quốc, bảo hộ đầu tư.
Năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đưa ra quyết định thành lập Cộng
đồng kinh tế ASEAN. Trong xu thế này, nhiều điều khoản trong AIA và IGA
43
không đáp ứng được mục tiêu mà AEC đặt ra như AIA chỉ bao gồm các thỏa
thuận về tiếp cận thị trường, các thỏa thuận về bảo hộ đầu tư theo IGA cũng
trở nên lạc hậu với tình hình đầu tư, thương mại trong khu vực. Vì vậy, các
nước thành viên ASEAN đã thống nhất quan điểm soạn thảo văn bản mới
thay thế hai Hiệp định về đầu tư hiện hành nhằm cải thiện môi trường đầu tư
cạnh tranh, minh bạch, tự do và thông thoáng hơn. Sau hơn 2 năm chuẩn bị và
soạn thảo, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) đã được kí kết vào
ngày 26/02/2009 và có hiệu lực vào ngày 29/3/2012. Hiệp định ACIA gồm 3
phần với 49 Điều khoản, trong đó, ngoài việc kế thừa các quy định trong IGA
và AIA, căn cứ vào thực tiễn đầu tư quốc tế và khu vực, ACIA còn đưa ra
những điều chỉnh mới nhằm cải thiện môi trường đầu tư ASEAN như: mở
rộng khái niệm nhà đầu tư ASEAN, đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp phát
sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia thành viên, bổ sung những điều
khoản với về chuyển giao và đãi ngộ đầu tư, đưa ra một danh sách các biện
pháp hạn chế đầu tư và các tiêu cực trong đầu tư…
Các hiệp định thương mại tự do có cam kết về đầu tư
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một thỏa thuận giữa hai hay
nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về
một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các
quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành
viên[34] Theo báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần
Tuấn Anh ký gửi Thường vụ Quốc hội ngày 21-12 liên quan đến Nghị quyết
số 1052/NQ-UBTVQH13 về một số định hướng, nhiệm vụ và giải pháp thúc
đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tính đến nay Việt Nam đã ký kết và
thực thi 10 FTA, kết thúc đàm phán 2 FTA, và đang đang đàm phán 4 FTA
khác (bao gồm Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA
ASEAN- Hồng Kông, FTA với Israel và FTA với Khối thương mại tự do
châu Âu). Trong 10 FTA đã ký kết và thực thi có 6 FTA ký kết với tư cách là
thành viên ASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung
44
Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và New Zealand), 4 FTA ký kết với
tư cách là một bên độc lập (Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á-
Âu)[35]. Hai FTA đã kết thúc đàm phán là FTA với Liên minh châu Âu, và
Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Cụ thể:
- Hiệp định Hợp tác Kinh tế Việt Nam -Nhật Bản (VJEPA): Nội dung
về đầu tư của Hiệp định này dẫn chiếu đến toàn bộ Hiệp định Khuyến khích,
Bảo hộ và Tự do hoá đầu tư Việt Nam - Nhật Bản.
-Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA): Đây là một hiệp định về
đầu tư độc lập, trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của Cộng đồng ASEAN. Hiệp
định này thay thế hai hiệp định về đầu tư của ASEAN đã ký trước đây là Hiệp
định Khu vực Đầu tư ASEAN (về tự do hoá và thuận lợi hoá đầu tư, ký năm
1998) và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA –ký năm 1986);
- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN –Australia & New Zealand
(AANZFTA). Đây là một Hiệp định trọn gói, trong đó Chương Đầu tư được
đàm phán và ký kết cùng lúc với các chương khác của Hiệp định.
- Hiệp định đầu tư trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –
Trung Quốc (ACFTA)
- Hiệp định đầu tư trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –
Hàn Quốc (AKFTA)
Nhìn chung, các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia khá đầy đủ và đa
dạng, góp phần thúc đẩy sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài
vào thị trường trong nước cũng như thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước
mạnh dạn đầu tư vào thị trường quốc tế. Tuy nhiên việc nội luật hóa những
quy định quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế,
đòi hỏi cần phải có những thay đổi tích cực hơn.
45
2.3. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về sáp nhập
công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài
2.3.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về điều kiện đối
với hoạt động sáp nhập công ty cổ phần có yếu tố nước ngoài
Việc nhà đầu tư nước ngoài sở hữu cổ phần của các công ty trong nước
- một trong những cách để tiến hành sáp nhập công ty nội địa là một vấn đề
khá nhạy cảm. Đó có thể trở thành một trong những cách thức để thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Mặt khác, đó cũng có khả năng là cách thức dễ dàng nhất
để thâm nhập thị trường, biến thị trường nước nhà trở thành thị trường nội địa
của các nhà tư bản nước ngoài.
Để điều chỉnh vấn đề trên, xu hướng pháp luật Việt Nam đang ngày
càng nới lỏng tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Nghị định 60/2015/NĐ-
CP ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán quy định về tỉ lệ sở
hữu với các nhà đầu tư nước ngoài như sau:
"1. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại công ty đại chúng như sau:
a) Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định
về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì thực hiện theo điều ước quốc tế;
b) Trường hợp công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư
kinh doanh mà pháp luật về đầu tư, pháp luật liên quan có quy định về tỷ lệ
sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo quy định tại pháp luật đó.
Đối với công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài mà chưa có quy
định cụ thể về sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa là 49%;
c) Trường hợp công ty đại chúng hoạt động đa ngành, nghề, có quy
định khác nhau về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài không
vượt quá mức thấp nhất trong các ngành, nghề (mà công ty đó hoạt động) có
46
quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy
định khác;
d) Đối với công ty đại chúng không thuộc các trường hợp quy định tại
Điểm a, b, c khoản này, tỷ lệ sở hữu nước ngoài là không hạn chế, trừ trường
hợp Điều lệ công ty có quy định khác."
Với tỉ lệ nêu trên, việc các nhà đầu tư nước ngoài muốn gia nhập thị
trường trong nước hoàn toàn đã dễ dàng hơn rất nhiều khi mức tỉ lệ tối đa mà
nhà đầu tư có thể sở hữu là 49% (đối với công ty đại chúng hoạt động trong
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước
ngoài mà chưa có quy định cụ thể) và không giới hạn (đối với công ty đại
chúng không nằm trong trường hợp bị hạn chế tỉ lệ.
LĐT 2014 quy định hoạt động sáp nhập như là một cách đầu tư kinh doanh
đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khoản 5 điều 3 LĐT 2014 quy định:
"Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt
động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp
đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư."
Các hình thức đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:
- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Quy định tại Điều 22 LĐT 2014 và
được hướng dẫn cụ thể tại Điều 44 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.
Điểm mới của LĐT 2014 so với LĐT 2005 là trước khi thành lập tổ
chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục
cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở
hữu vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên. Theo đó, về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà đầu tư nước
ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một
số trường hợp hạn chế theo quy định của pháp luật về chứng khoán, về cổ
phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và các điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên như đã trình bày ở phần trên.
47
- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ
chức kinh tế: Được quy định tại Điều 24 LĐT 2014.
Hình thức đầu tư này được hiểu là nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần,
phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư. Theo đó, nhà
đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình thức sau
đây (Khoản 1 điều 25 LĐT 2014):
+ Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của
công ty cổ phần;
+ Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;
+ Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định
tại hai trường hợp trên
Và mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức
sau đây:
+ Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;
+ Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn
để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;
+ Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để
trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;
+ Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc
ba trường hợp trên.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: Hình thức đầu tư này được quy
định tại Điều 27 Luật đầu tư 2014 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định
15/2015/NĐ-CP.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: Hình thức đầu tư này được quy
định tại Điều 28 Luật đầu tư 2014.
2.3.2. Các quy định quy trình, thủ tục sáp nhập công ty cổ phần có
yếu tố nước ngoài
Các nhà đầu tư nước ngoài muốn thực hiện hoạt động đầu tư vào thị
trường Việt Nam thì cần phải tuân theo một số thủ tục nhất định. Để một dự
48
án đầu tư muốn được triển khai trên lãnh thổ Việt Nam, thông thường nhà đầu
tư sẽ phải xem xét rằng dự án đó có thuộc trường hợp phải quyết định chủ
trương đầu tư hay thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư hay
không để thực hiện trước khi triển khai dự án trên thực tế.
Hiện nay, các dự án phải quyết định chủ trương đầu tư đang được quy
định tại Điều 30, 31 và 32 LĐT năm 2014, lần lượt tương ứng với thẩm quyền
quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh. Khi dự án của nhà đâu tư thuộc những trường hợp luật
định phải quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư nộp hồ sơ dự án đầu tư
cho cơ quan quản lý đâu tư có thẩm quyền. Nếu dự án đầu tư thuộc thẩm
quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì sau 35 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ dự án đầu tư thì cơ quan đăng kí đầu tư sẽ thông báo kết quả
cho nhà đầu tư, tuy nhiên đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ
trương đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ hiện nay pháp luật chưa
quy định về thời gian cụ thể thông báo kết quả cho nhà đầu tư.
Cũng như thủ tục quyết định chủ trương đầu tư thì không phải mọi dự
án đầu tư đều phải có Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư, mà chỉ những dự án
được pháp luật quy định mới phải có Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư. Hiện
nay những trường hợp phải thực hiện và không phải thực hiện thủ tục cấp
Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đang được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2
Điều 36 LĐT năm 2014:
"Điều 36. Trường hợp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư
1. Các trường hợp phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư:
a) Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài;
b) Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của
Luật này.
49
2. Các trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư:
a) Dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước;
b) Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 của
Luật này;
c) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ
chức kinh tế."
Như vậy nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng
nhận đầu tư cho dự án với thành lập doanh nghiệp trên cơ sở sáp nhập. Chỉ
những dự án của nhà đầu tư nước ngoài và của tổ chức kinh tế quy định tại
khoản 1 Điều 23 LĐT 2014 mới bắt buộc phải có giấy chứng nhận đăng kí
đầu tư. Tuy nhiên những dự án thuộc trường hợp không bắt buộc phải có Giấy
chứng nhận đăng kí đầu tư (Khoản 2 Điều 36 LĐT) vẫn có thể thực hiện thủ
tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư nếu nhà đầu tư có nhu cầu.
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư bao gồm:
- Văn bản đề nghị/đăng ký điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư theo mẫu
- Văn bản đề nghị sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
- Biên bản họp và Quyết định của Đại hội đồng cổ đông đối với CTCP
về việc sáp nhập doanh nghiêp
- Bản giải trình những nội dung điều chỉnh đối với dự án đầu tư (ghi rõ
những thay đổi so với dự án đang triển khai) và lý do điều chỉnh
- Bản sửa đổi, bổ sung của hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác
kinh doanh (nếu có)
- Bản sao Điều lệ của doanh nghiệp
- Bản sao Giấy chứng nhận đầu tư
- Danh sách cổ đông sáng lập CTCP theo mẫu kèm theo các giấy tờ
chứng minh tư cách pháp lý của cổ đông đã được hợp pháp hóa lãnh sự
- Báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp và dự án đầu tư đến
thời điểm điều chỉnh
50
- Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo qui định của pháp luật phải
có vốn pháp định
- Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của một hoặc một số cá nhân
khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo qui định của pháp luật
phải có chứng chỉ hành nghề (chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài
không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên
ngành hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có qui định khác).
Nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người nước
ngoài thì phải có thêm các giấy tờ sau:
- Hộ chiếu Việt Nam; Hộ chiếu nước ngoài (hoặc giấy tờ có giá trị thay
thế hộchiếu nước ngoài) và một trong các giấy tờ chứng minh người gốc Việt
Nam ở nước ngoài. Các giấy tờ này phải được hợp pháp hóa lãnh sự.
- Giấy đăng ký tạm trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và
Hộ chiếu còn hiệu lực đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.
- Nếu người đại diện theo pháp luật không phải cổ đông của công ty thì
phải có thêm Hợp đồng lao động
Để được cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư thì nhà đầu tư nộp hồ sơ
cho cơ quan đăng kí đầu tư theo quy định của pháp luật, khi nhận đủ hồ sơ thì
cơ quan đăng kí đầu tư sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư cho nhà đầu tư
sau 15 ngày. Trường hợp dự án thuộc trường hợp phải quyết định chủ trương
đầu tư thì Giấy chứng nhận đăng kí đầu từ sẽ được cấp sau 5 ngày làm việc kể
từ kí cơ quan đăng kí đầu tư nhận được văn bản chấp thuận đầu tư và như thế
nhà đầu tư chỉ phải nộp hồ sơ 1 lần nếu thuộc trường hợp phải quyết định chủ
trương đầu tư và phải có Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư. Quy trình này đã
tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình thực hiện các thủ tục đầu tư.
51
Tiểu kết chương II
Để tiến hành thành công một thương vụ sáp nhập CTCP, các công ty
phải trải qua rất nhiều bước khác nhau. Chính vì vậy mỗi nội dung, mỗi vấn
đề khi tiến hành sáp nhập CTCP đều cần phải được điều chỉnh của các quy
định pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham
gia hoạt động sáp nhập. Những quy định này nằm rải rác ở nhiều văn bản
khác nhau như: BLDS 2015, LDN 2014, LĐT 2014, LCK 2010,... và một số
các văn bản hướng dẫn khác. Có thể thấy pháp luật đã điều chỉnh hoạt động
này ở nhiều khía cạnh khác nhau. Song các quy định này không nằm tập trung
cho nên dẫn đến tình trạng khi cùng điều chỉnh một vấn đề sẽ thiếu tính đồng
bộ, thống nhất. Do đó có thể gây ảnh hưởng đến các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật và làm giảm hiệu quả. Vì vậy mà thực tiễn thực thi pháp luật về
hoạt động sáp nhập đang đòi hỏi các quy phạm điều chỉnh hoạt động này cần
được hoàn thiện hơn.
52
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam đã đạt được một
số thành tựu nhất định, đặc biệt là những thành tựu kinh tế. Nền kinh tế giờ đây
là nền kinh tế thị trường vô cùng rộng mở với nhiều thành phần khác nhau. Số
lượng các doanh nghiệp, công ty gia tăng ngày một nhanh chóng. Dẫn đến thị
trường M&A nói chung cũng như sáp nhập nói riêng hoạt động ngày càng mạnh
mẽ và sôi động, đòi hỏi pháp luật phải có những sự điều chỉnh thích hợp và toàn
diện. Đứng trước nhu cầu trên, việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động sáp nhập
CTCP tại Việt Nam vô cùng cần thiết. Nền tảng pháp luật đầy đủ sẽ là điều kiện
rất quan trọng để hoạt động sáp nhập CTCP phát triển ổn định, bềnh vững và
mang lại nhiều giá trị cho nền kinh tế nước ta.
3.1. Kiến nghị về chính sách pháp luật
Các chính sách pháp luật có một vai trò quan trọng trong việc định
hướng cho sự pháp triển của hoạt động sáp nhập CTCP. Những chính sách
đúng đẵn sẽ mang lại những lợi ích to lớn với hoạt động này.
Thứ nhất, cần phải tạo môi trường thuận lợi và hành lang pháp lý ổn
định cho hoạt động sáp nhập CTCP thông qua việc xóa bỏ độc quyền ngành
trong một số lĩnh vực, mở rộng khả năng tiếp cận quyền kinh doanh của khối
doanh nghiệp dân doanh theo mô hình đấu thầu tư nhân đối với quyền khai
thác theo tiêu chuẩn chọn thầu là hiệu quả khai thác tối ưu; nâng cao hiệu quả
khai thác, sử dụng vốn, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác của đất
nước nhằm thực hiện chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế mà Quốc hội đã đề ra.
Mục đích nhằm thu hút được nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài.
Thứ hai, cần có những chính sách khuyến khích hoạt động sáp nhập của
các công ty thuộc mọi thành phần. Sử dụng sự liên kết này như một rào cản
đối với các vụ sáp nhập có yếu tố nước ngoài bên cạnh những ràng buộc khác
của nhà quản lý.
53
Thứ ba, tạo hành lang pháp lý để thu hút vốn từ nước ngoài thông qua
hoạt động mua bán, sáp nhập và tổ chức lại doanh nghiệp; Bảo đảm an ninh
xã hội và đảm bảo quản lý, kiểm soát hiệu quả của nhà nước, tạo nền tảng cho
sự phát triển bền vững của nền kinh tế; Tạo môi trường kinh doanh bình
đẳng, phát huy tính cạnh tranh của các thành phần kinh tế.
Thứ tư, hoàn thiện một số chính sách bổ trợ cho hoạt động sáp nhập
CTCP như: các biện pháp để nâng cao hơn vai trò của hiệp hội doanh nghiệp,
các hiệp hội ngành; nâng cao tính minh bạch trong quản trị công ty; giảm
thiểu sự can thiệp chính trị hay những quyết định mang tính hành chính đối
với hoạt động sáp nhập. Song song với đó, các chính sách kinh tế ngành cũng
cần đảm bảo sự hỗ trợ lẫn nhau.
3.2. Kiến nghị về các quy định pháp luật
Hoạt động sáp nhập CTCP không chỉ là hành vi sáp nhập thông thường.
Vì đối tượng của hoạt động sáp nhập rất đặc biệt (công ty-một thực thể pháp
lý đang tồn tại), phương thức tiến hành đa dạng, hoạt động sáp nhập công ty
vốn đã rất phức tạp và liên quan đến nhiều hệ thống luật như: Luật dân sự với
những quy định về tài sản, hợp đồng; Luật doanh nghiệp với các quy định về
cách thức hoạt động, vận hành của mỗi loại hình công ty; Luật thương mại
với các quy định về quyền tự do đầu tư kinh doanh; Luật đầu tư với những
quy định về điều kiện, thủ tục đầu tư cho các nhà đầu tư ..v.v.. Vì thế, để đưa
ra được một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động mua bán công ty đòi hỏi
sự kết hợp của nhiều ngành luật khác nhau. Hệ thống các văn bản pháp luật
hiện hành phần nào tạo ra một nền tảng pháp lý cho các chủ thể tiến hành hoạt
động sáp nhập CTCP, tuy nhiên lại thiếu đi những quy định cụ thể để điều
chỉnh và hướng dẫn thực hiện hoạt động này. Như vậy, hệ thống pháp luật
Việt Nam hiện nay đã sẵn có những quy định mang tính chất nền tảng, những
quy định chung cho hoạt động sáp nhập, pháp luật Việt Nam chỉ cần bổ sung
những quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động này
54
- Trong việc đảm bảo công bằng của hoạt động sáp nhập CTCP
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng các cơ chế hỗ trợ các quyền để đảm bảo
cho các công ty mục tiêu như: khả năng có thể nhận thức được nguy cơ bị
thâu tóm; có đủ thời gian cần thiết đểxem xét những lời đề nghị hay hành
động của công ty nhận sáp nhập; có được những thông tin đầy đủ để đảm bảo
cho sự cân nhắc một cách đúng đắn nhất đối với những lời đề nghị hay hành
động của bên nhận sáp nhập; có được các quyền cũng như những cơ hội
ngang bằng trong khả năng hành động để tương xứng với khả năng hành động
của công ty nhận sáp nhập, chúng ta cần hoàn thiện các quy định về công bố
thông tin về sở hữu cổ phiếu số lượng lớn theo hướng bổ sung thêm các nội
dung bắt buộc trong công bố thông tin. Ngoài các thông tin bắt buộc về người
sở hữu cổ phần lớn, các thay đổi tỷ lệ cổ phần và các thông tin bất thường
cũng cần quy định thêm về các thông tin: về mục đích sở hữu hay lý do thay
đổi, số lượng và chủng loại cổ phiếu, thay đổi phương pháp và giá mua, nội
dung các hợp đồng uỷ thác, hợp đồng thế chấp về cổ phiếu sở hữu và các hợp
đồng quan trọng nhất. Bên cạnh đó, hoàn thiện hơn nữa các quy định trong
chế định chào mua công khai theo hướng: cho phép công ty mục tiêu được
quyền phát hành chứng khoán bổ sung, được quyền mua lại cổ phiếu của
chính mình trong thời gian chào mua công khai.
- Trong việc bảo vệ cổ đông khi sáp nhập CTCP
Cần hoàn thiện quy định trong chế độ quyền yêu cầu mua cổ phiếu của
cổ đông phản đối theo hướng quy định lại căn cứ xác định giá của cổ phiếu
theo giá thị trường tại thời điểm cổ đông phản đối có yêu cầu chuyển nhượng
lại cổphần cho công ty. Việc này sẽ giúp cho hoạt động xác định giá rõ ràng
và mang lại sự khách quan cho các cổ đông.
Hoàn thiện quy định trong chế định chào mua công khai theo hướng:
thiết lập nguyên tắc cấm các hành vi chào mua với mục đích lũng đoạn giá;
xác định lại thời điểm bảo vệ cổ đông trong thời gian chào mua công khai
theo mô hình: trong một thời hạn nhất định sau khi đăng ký với cơ quan quản
55
lý nhà nước mà không cần sự chấp thuận của cơ quan thẩm quyền đối với
chào mua công khai như quy định hiện nay; tạo ra các giải pháp cho cổ đông
thiểu số của công ty nhận sáp nhập thông qua quy định “ép mua” đối với
những người đã sở hữu một lượng cổphiếu lớn của công ty mục tiêu nhằm
bảo vệ các cổ đông này trước các biện pháp đáp trả cực đoan của công ty mục
tiêu; nâng cao tính minh bạch trong quản trị công ty, tạo dựng thiết chế giám
sát hiệu quả đối với các hoạt động của HĐQT nói chung và việc xác định giá
chào bán cổ phần mới nói riêng.
Bổ sung quy định về quyền của cổ đông công ty được yêu cầu tòa án
xem xét lại giá mua lại cổ phần/phần vốn góp trong trường hợp cổ đông công
ty yêu cầu công ty mua lại cổ phần/phần vốn góp của mình do bất đồng với
quyết định của công ty. Hiện nay, LDN 2014 đã có quy định cho phép công ty
cổ phần mua lại cổ phần của cổ đông nếu cổ đông đó phản đối quyết định về
việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định
tại Điều lệ công ty. Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định nghĩa vụ mua lại cổ
phần này theo giá thị trường hoặc giá quy định theo nguyên tắc tại Điều lệ
công ty, nhưng không nêu cụ thể loại giá nào sẽ được ưu tiên áp dụng, cũng
như không đưa ra nguyên tắc xác định giá thị trường của cổ phiếu, đặc biệt về
thời điểm định giá và định giá cổ phiếu trong CTCP chưa niêm yết. Do đó, đề
nghị bổ sung vào các văn bản pháp luật về doanh nghiệp nguyên tắc xác định
giá mua lại cổ phần, phần vốn góp và ghi nhận quyền của cổ đông công ty
được khởi kiện để yêu cầu Tòa án xác định giá mua lại cổ phần trong trường
hợp này.
- Trong việc kiểm soát tập trung kinh tế
Việc pháp luật thừa nhận các biện pháp nhằm mục đích chống lại sáp
nhập như là các quyền của công ty mục tiêu và các quy định hạn chế sự lạm
dụng các quyền này thể hiện tính cân bằng trong việc điều chỉnh hoạt động
sáp nhập. Làm thế nào để vừa mở rộng thị trường, nới lỏng các điều kiện cho
các nhà đầu tư trong và ngoài nước để tăng nguồn vốn, kích thích sự phát
56
triển của nền kinh tế song vẫn phải có những giới hạn để tránh tình trạng lạm
quyền, gây độc quyền kinh tế, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng là một
câu hỏi không dễ.
Vì vậy, cần hoàn thiện quy định về cổ phiếu quỹ theo hướng ngăn cấm
mọi hành vi mua lại cổ phiếu nhằm mục đích lũng đoạn giá hoặc với mục
đích không tốt. Áp dụng chế độ minh bạch bắt buộc đối với cổ phiếu quỹ
thông qua các yêu cầu về nội dung thông tin công bố trong trường hợp mua
lại cổ phiếu của chính mình: về mục đích mua, số lượng cổphiếu tối đa dự
kiến mua lại, nguồn vốn để mua lại, nguyên tắc xác định giá, thời gian thực
hiện giao dịch, tên công ty chứng khoán được chỉ định để thực hiện giao dịch.
Ngoài ra, cũng có thể điều chỉnh lại những quy định về kiểm soát tập
trung kinh tế theo hướng giới hạn hoạt động sáp nhập ở một số ngành nghề nhất
định (những ngành nghề đặc biệt, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến cả kinh tế và
xã hội). Nếu như có một sự kiểm soát tốt, vừa đủ để tạo điều kiện thuận lợi cho
một môi trường sáp nhập sôi động và mạnh mẽ nhưng cũng ko làm nhẹ đi vai trò
quản lý của Nhà nước đối với một hoạt động quan trọng với nền kinh tế, chắc
chắc sẽ là cơ sở để hoạt động này phát triển ổn định và bền vững.
- Trong quan hệ với các nhà đầu tư nước ngoài
Về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài và tỷ lệ sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài, chúng ta cần xác định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó cũng cần xây dựng một
danh sách thống nhất và duy nhất về các ngành/lĩnh vực có hạn chế về tỷ lệ
góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc các điều kiện đầu tư khác. Có thể đề
xuất nguyên tắc xử lý các trường hợp nhà đầu tư của các nước không thuộc
WTO, theo hướng không hạn chế nếu pháp luật không có quy định hạn chế,
nhưng không thuận lợi hơn chế độ đối xử dành cho nhà đầu tư của các nước
thành viên WTO. Cuối cùng, về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, các
lĩnh vực đầu tư có điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài cần được xử lý ở một
văn bản riêng hướng dẫn thi hành LĐT sửa đổi.
57
Tiểu kết chương III
Hoạt động M&A ở Việt Nam đã và đang có giai đoạn phát triển rất sôi
động và trong đó, sáp nhập đã trở thành một phương thức phổ biến để phục
vụ cho nhiều mục đích khác nhau của các công ty và nhà đầu tư. Về tổng
quan, Việt Nam đã có một hệ thống nền tảng các quy định pháp luật về sáp
nhập CTCP đủ để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp áp dụng khi thực hiện
hoạt động này. Tuy nhiên, hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam về
sáp nhập CTCP còn bộc lộ nhiều bất cập và thiếu đồng bộ, cần phải tiếp tục
nghiên cứu và hoàn thiện. Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập là một vấn đề cấp
bách nhằm đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam, tạo lòng tin,
sự uy tín của các quốc gia trên thế giới. Việc khắc phục những bất cập của các
quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam cần phải tiến hành đồng bộ, trên
nhiều lĩnh vực có sự liên kết với nhau như quản lý doanh nghiệp, đầu tư,
cạnh tranh, thị trường chứng khoán, lĩnh vực ngân hàng, lao động... Nếu làm
tốt điều này, chúng ta sẽ tạo ra một môi trường M&A minh bạch, giúp Việt
Nam thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra,việc
hoàn thiện pháp luật về M&A hay sáp nhập còn góp phần bảo vệ cổ đông
thiểu số, người có ít tiếng nói trong doanh nghiệp. Đồng thời, đem lại cho các
công ty nội địa cơ hội cơ cấu lại tổ chức, mở rộng thị trường với khả năng tiếp
cận vốn và công nghệ tiên tiến.
58
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh cao giữa các
doanh nghiệp sẽ là động lực để các doanh nghiệp vươn lên, phát triển cả chiều
ngang lẫn chiều rộng, và đương nhiên khi đó sẽ có công ty tồn tại, phát triển,
sẽ có công ty phá sản, bị thôn tính. Từ đó hình thành nhu cầu cần mua, cần
bán, sáp nhập, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp để lớn mạnh hơn,
phát triển hơn và hỗ trợ cho nhau tốt hơn. Tuy nhiên, như đã đề cập, việc sáp
nhập công ty không đơn giản như mua bán một sản phẩm hàng hóa thông
thường. Một thương vụ sáp nhập thành công hay không phụ thuộc vào vào rất
nhiều yếu tố: nhu cầu, giá cả, giải quyết các vấn đề phát sinh hậu sáp nhập...
Với những ưu điểm rõ rệt như giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường,
tăng sức cạnh tranh, tăng năng suất lao động (đối với bên nhận sáp nhập), hay
một cơ hội rút lui hiệu quả khỏi thị trường (đối với bị sáp nhập), sáp nhập
CTCP đã mang lại nhiều lợi ích cho các bên trong giao dịch. Đồng thời, với
tính chất như một hình thức tổ chức lại của các công ty, sáp nhập công ty thực
sự trở thành một trong những phương thức mà Nhà nước khuyến khích lựa
chọn để tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển ổn định và bền vững.
Giao dịch sáp nhập công ty là một giao dịch rất phức tạp liên quan đến nhiều
vấn đề từ quản trị công ty, chứng khoán, ngân hàng đến các lĩnh vực như
thương hiệu, định giá, cạnh tranh,... Hiện nay, các văn bản pháp lý thực sự để
điều chỉnh hoạt động mua bán, sáp nhập ở Việt Nam còn rất ít, hầu hết đều
nằm rải rác ở các điều luật liên quan đến từng vấn đề cụ thể. Với khung pháp
lý hiện nay, các nhà đầu tư đang gặp nhiều khó khăn khi tiến hành đầu tư theo
hình thức này, đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, nhà
đầu tư trong nước còn khá rụt rè khi tiến hành các giao dịch sáp nhập công ty
do thiếu kiến thức chuyên môn và thiếu hiểu biết pháp luật. Vì vậy, xây dựng
và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động M&A hay hoạt động sáp nhập công
ty đang trở thành một nhu cầu cấp thiết hiện nay. Đặc biệt là trong điều kiện
59
những năm tới đây nhiều lĩnh vực như bán lẻ, ngân hàng, chứng khoán, công
nghệ thông tin, dược phẩm, v.v.. sẽ chứng kiến nhiều hơn nữa thương vụ sáp
nhập ở quy mô lớn, số lượng các giao dịch sẽ tăng nhanh, nếu pháp luật
không kịp điều chỉnh sẽ dẫn đến những rủi ro về mặt pháp lý cho bên bán và
bên mua, rủi ro về mặt quản lý, điều hành nền kinh tế của Chính phủ. Vì lẽ
đó, bản thân các công ty cũng cần phải luôn cập nhập xu hướng của pháp luật,
tìm hiểu và nắm rõ những vấn đề pháp lý đối với công ty mình để có thể tự
chủ, tham gia hoạt động sáp nhập một cách tự tin và hiệu quả nhất.
Hoạt động xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý đòi hỏi phải có quá
trình nghiên cứu, tập trung trí tuệ của nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia
kinh tế, pháp lý. Với những kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề tài
này, người viết hy vọng góp phần vào việc hoàn thiện khung pháp lý về sáp
nhập CTCP ở Việt Nam. Do kiến thức còn hạn chế nên người viết không
tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy/cô
giáo để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Bộ luật dân sự năm 2005
2. Bộ luật dân sự năm 2015
3. Hiến pháp năm 2013
4. Luật cạnh tranh năm 2015
5. Luật chứng khoán năm 2013
6. Luật doanh nghiệp năm 2005
7. Luật doanh nghiệp năm 2014
8. Luật đầu tư năm 2005
9. Luật đầu tư năm 2014
10. Luật thương mại năm 2005
11. Luật tổ chức tín dụng năm 2010
12. Nghị định 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2007 của Chính
phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
13. Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Chính
Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng
khoán và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
14. Nghị định 60/2015/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2015 sửa đổi, bổ
sung một số điều nghị định 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Chứng khoán
15. Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính
phủ Về đăng ký doanh nghiệp.
16. Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính
phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp.
17. Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh.
18. Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bộ tài
chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
61
SÁCH, GIÁO TRÌNH, TẠP CHÍ, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
19. Andrew J.Sherman – Milledge A.Hart (2009), Mua lại & sáp nhập
từ A đến Z, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội.
20. Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh Pháp và Liên minh
Châu Âu, NXB Tư pháp, Hà Nội.
21. Lương Thị Thu Hương (2010), Pháp luật về mua bán, sáp nhập
công ty trách nhiệm hữu hạn và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội.
22. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo luật kinh tế, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
23. Tập thể tác giả (2014), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Trương Thị Tuyết Minh (2008), Một số vấn đề pháp lý về sáp nhập
công ty cổ phần ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật (ĐHQG
Hà Nội), Hà Nội.
25. ThS. Chu Thị Lê Dung, "Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và
những lợi ích mang lại", Tạp chí Tài chính tháng 4/2016.
26. ThS. Đào Anh Tuấn, "Sáp nhập và mua lại, một xu hướng cần lưu ý
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Ngân hàng số 18/2007.
27. TS. Nguyễn Thị Lan Hương, "Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ
đông trong sáp nhập công ty cổ phần", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
28. Uỷ ban hợp tác quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Chính
sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Canađa, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
29. Xem thêm MergerMarket,“M&A Trend Report 2017” trên
www.mergermarket.com, truy cập ngày 30/03/2018.
30. Xem thêm Nhóm nghiên cứu MAF, "Những thương vụ mua bán,
sáp nhập đình đám năm 2014-2015" trên http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-
-trao-doi/trao-doi-binh-luan/nhung-thuong-vu-mua-ban-sap-nhap-dinh-dam-
nam-20142015-66475.html, truy cập ngày 10/04/2018.
62
31. Xem thêm Báo cáo của Cục quản lý cạnh tranh, Bộ công thương
32. Xem thêm Đỗ Hà, "ĐHCĐ thông qua việc sáp nhập Vinpearl vào
Vincom" trên http://www.vingroup.net/vi-vn/tin-tuc-su-kien/thong-tin-bao-
chi/gocbaochi/dhcd-thong-qua-viec-sap-nhap-vinpearl-vao-vincom-582.aspx,
truy cập ngày 05/04/2018.
33. Xem thêm Diệp Bình, "Hậu sáp nhập ngân hàng, câu chuyện của
thời gian..." trên https://vietnambiz.vn/hau-sap-nhap-ngan-hang-cau-chuyen-
cua-thoi-gian-20305.html, truy cập ngày 26/03/2018.
34. Xem thêm ThS Trịnh Anh Tuấn, "Kiểm soát hoạt động tập trung
kinh tế ở Việt Nam: Những bất cập và giải pháp" trên
http://tapchicongthuong.vn/kiem-soat-hoat-dong-tap-trung-kinh-te-o-viet-
nam-nhung-bat-cap-va-giai-phap-2015032611456362p40c14.htm, truy cập
ngày 15/04/2018.
35. Xem thêm http://www.trungtamwto.vn/wto/gioi-thieu-bo-van-kien-
gia-nhap-wto.
36. Xem thêm http://www.trungtamwto.vn/tin-tuc/vai-tro-cua-cac-hiep-
dinh-thuong-mai-tu-do-he-moi-trong-thuong-mai-quoc-te.
37. http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-
te.aspx?ItemID=175.
38. http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1294&CateID=371.
39. http://thoibaokinhdoanh.vn/viet-nam/khi-khoi-ngoai-nam-the-co-
ma-1027556.html.
40. http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-
doi.aspx?Ite
63

