i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH AERMOD VÀ KỸ THUẬT GIS
MÔ PHỎNG CHẤT LƢỢNG KHÔNG KHÍ
TẠI KHU VỰC SÔNG THỊ VẢI
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Ngành: Hệ thống thông tin địa lý
Niên khóa: 2012 - 2016
Tháng 6/2016
i
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH AERMOD VÀ KỸ THUẬT GIS
MÔ PHỎNG CHẤT LƢỢNG KHÔNG KHÍ
TẠI KHU VỰC SÔNG THỊ VẢI
Tác giả
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Khóa luận đƣợc đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sƣ ngành Hệ Thống Thông Tin Địa Lý
Giáo viên hƣớng dẫn:
TS. Hồ Quốc Bằng
Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 6 năm 2016
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệ p y, tôi
đã nhận đƣợc sự giúp đỡ, động viên, chỉ bảo tận tình của quý thầ y cô, các quan, gia
đình và bạn bè. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Quý thầy trƣờng Đại Học Nông m Tp.HCM đã dạy, đào tạo trong
suốt 04 năm qua.
Thầy TS. HQuốc Bằng Trƣởng phòng Ô nhiễm không khí Biến đổi
khí hậu, viện Môi trƣờng Tài nguyên, ĐHQG HCM đã tận tình hƣớng
dẫn thực hiện luận văn này.
Chị Khuê, anh Phƣớc Phòng Ô nhiễm không khí Biến đổi khí hậu,
Viện Môi trƣờng Tài nguyên, ĐHQG HCM đã tận tình chỉ dẫn, hỗ trợ
thực hiện luận văn này.
Thầy PGS.TS Nguyễn Kim Lợi, các thầy trong Bộ môn Tài nguyên
GIS, đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học
tập tại trƣờng.
Gia đình, bạn bè, đặc biệt phòng 27b-Cƣ B- Đại học Nông Lâm Tp
HCM đã động viên, và giúp đỡ trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Khoa Môi trƣờng và Tài nguyên
Trƣờng Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
iii
TÓM TẮT
Khóa luận tốt nghiệp “Ứng dụng hình AERMOD k thuật GIS
phỏng chất lƣợng không khí tại khu vực sông Thị Vải” đã đƣợc thực hiện trong
khoảng thời gian từ ngày 01/03/2016 đến ngày 31/05/2016.
Khu vực sông Thị V ải rất thuận lợi về giao thông, cảng biển nên thu hút nhiều
nhà đầu tƣ. Trên u vực sông Thị Vải có nhiều KCN đang hoạt động nhƣ: KCN Nhơn
Trạch 1, 2, 3, 4, KCN Dầu, Cái Mép, Mỹ Xuân A, Phú M3. Và nhiều dự án công
nghiệp khác đang đƣợc đề xuất. Với sự phát triển ngành công nghiệp, kéo theo những
vấn đề khó khăn về công tác quản lý môi trƣờng. Do đó việc đánh giá chất lƣợng
không khí là rất cần thiết. Mục tiêu của đề tài là mô phỏng chất lƣợng không khí, từ đó
đánh giá thành lập b ản đồ chất lƣợng không khí khu vực nghiên cứu năm 2014. Dữ
liệu cần thiết cho nghiên cứu bao gồm: thôn g tin về 50 điểm nguồn ; thông số về các
chất SO2, CO, NOx, TSP, THC/VOC dữ liệu khí tƣợng. Điểm nguồn đƣợc chi a
thành 2 cụm: cụm 1 phân bố tập trung KCN Nhơn Trạch; cụm 2 tập trung chủ yếu
KCN Dầu, Mỹ Xuân A. Kết quả chạy hình lan truyền ô nhiễm không k
AERMOD cho thấy trong m 2014, tại khu vực nghn cứu mức độ lan truyền không
khí trên khu vực nghiên cứu diễn biến khá phức tạp, phân bố nồng độ các chất SO2,
CO, NOx, TSP, THC/VOC bán kính 1000m về hƣớng Bắc (so với điểm nguồn thải)
cao hơn cao nhất so với các ớng còn lại, về ớng Tây Nam thấp nhất. Riêng
nồng độ THC/VOC thấp nhất tập trung về hƣớng Đông Nam. Nguyên nhân do khu
vực nghiên cứu nằm vị trí địa chịu ảnh hƣởng của gió tín pho ng quanh năm, kết
hợp với yếu tố địa hình phía Đông giáp biển, phía y đồi núi thấp. Do đó khu vực
này thƣờng xuyên có gTây Na m Đông Nam. Kết quả phân bố nồng độ các chất ô
nhiễm 2 cụm, không sự khác biệt nhiều. Các chất gây ô nhiễm nhƣ: SO 2, CO,
NOx, TSP cụm 1 thấp hơn cụm 2, nhƣng sự chênh lệch giữa 2 cụm không vƣợt quá
1(µg/m3). Chất gây ô nhiễm THC/VOC cụm 1 cao hơn cụm 2, cao hơn 0,1 (µg/m3).
Do các yếu tố tự nhiên nhƣ địa hình, vị trí địa lý, khí tƣợng không có sự khác biệt lớn
2 cụm điểm nguồn thải loại nguồn thải c hủ yếu Đốt, lò Hơi, Sấy. Kết quả
kiểm định hình AERMOD với chất NOx CO nhƣ sau: hệ stƣơng quan R2
0,9(NOx) 0,9(CO) ; chỉ số NSI 0,6(NOx) 0,7(CO) nằm trong khoảng giá trị
chấp nhận. Tuy nhiên mặt hạn chế không kiểm định đƣợc các chất sau: SO2, TSP,
iv
THC/VOC. Cuối cùng tiến hành so sánh kết quả nồng độ các chất SO2, CO, NOx, TSP,
THC/VOC với quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lƣợng không khí xung quanh
(QCVN 05: 2013/BTNMT). Cho thấy các thông số đều thấp hơn so với quy chuẩn. Do
đó chất lƣợng không ktại khu vực nghiên cứu tốt.