
1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH TRONG KHUÔN KHỔ WTO
CỦA HÀN QUỐC - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Thanh Thảo
Lớp : Anh 10
Khoá : K43C
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Đặng Thị Nhàn
HÀ NỘI, 6/2008

2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hàn Quốc, từng được biết đến là một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn vào
thập kỷ 60, đã mạnh dạn thực hiện chiến lược phát triển hướng ra bên ngoài, nhờ
thế Hàn Quốc đã phát triển rất nhanh, trở thành một trong những nền kinh tế thần kỳ
Đông Á và đã trở thành thành viên của GATT từ năm 1967 và được gia nhập Tổ
chức phát triển kinh tế OECD vào năm 1996.
Dưới sức ép từ bên ngoài (chủ yếu là từ Mỹ) và xuất phát từ chính nhu cầu
nội tại của nền kinh tế trong nước, Hàn Quốc đã bắt đầu thực hiện tự do hóa tài
chính từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20 với mục đích củng cố hệ thống tài chính
còn nhiều hạn chế nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quá
trình tự do hóa tài chính không đồng bộ, thiếu sự nhất quán, trong nhiều thời điểm
còn bộc lộ sự nóng vội, chủ quan đã khiến Hàn Quốc lâm vào khủng hoảng tài
chính châu Á 1997- 1998.
Tuy nhiên, Hàn Quốc một lần nữa lại khiến thế giới phải kinh ngạc khi
nhanh chóng thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính nhờ thực hiện những biện
pháp tự do hóa tài chính táo bạo theo các cam kết trong WTO. Chỉ một năm sau
cuộc khủng hoảng, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện mở cửa rộng rãi cho sự tham
gia của nước ngoài. Tuy nhiên, khác với thời kỳ trước, Hàn Quốc đã nhanh chóng
mở cửa với một lộ trình hợp lý và vẫn duy trì được sự kiểm soát nhất định của
Chính phủ nên tự do hóa giai đoạn này đã đạt được thành công lớn, góp phần đưa
nước này sớm ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục phát triển kinh tế. Và hiện nay, Hàn
Quốc đã trở thành một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới WTO kể từ ngày 11/1/2007. Hiện Việt Nam cũng đang
trong quá trình thực hiện các cam kết về tự do hóa tài chính theo WTO. Là một
quốc gia đang phát triển, với mức cam kết được các chuyên gia đánh giá là tương
đối mở, chắc chắn Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi các doanh nghiệp nước
ngoài với nhiều lợi thế hơn tham gia tích cực vào thị trường tài chính Việt Nam.

3
Việt Nam và Hàn Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1992. Kể từ
đó hai nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hợp tác kinh tế, chính trị,
văn hóa... Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam, hiện là
quốc gia đứng đầu trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Bên
cạnh đó, Hàn Quốc cũng đã rất thiện chí chia sẻ kinh nghiệm thực hiện tự do hóa tài
chính của mình với Việt Nam thông qua các hội thảo.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Tự
do hóa tài chính của Hàn Quốc_Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” để nghiên cứu
trong khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: là nhằm tìm hiểu về cam kết tự do hóa tài
chính trong khuôn khổ WTO của Hàn Quốc cũng như những thành công và hạn chế
của nước này trong quá trình thực hiện cam kết đó. Từ đó, rút ra những bài học kinh
nghiệm cho Việt nam trong tiến trình tự do hóa tài chính theo các cam kết trong
WTO có hiệu lực ngay khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức này vào ngày
11/1/2007.
Để thực hiện được mục tiêu đó, Khóa luận tốt nghiệp này thực hiện những
nhiệm vụ sau:
- Khái quát một số vấn đề lý luận về tự do hóa tài chính nói chung và tự do
hóa tài chính trong khuôn khổ WTO.
- Nghiên cứu bản cam kết cụ thể về dịch vụ tài chính của Hàn Quốc trong
WTO.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tự do hóa tài chính của Hàn Quốc theo các
cam kết trong WTO; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong
tiến trình thực hiện các cam kết tự do hóa tài chính trong khuôn khổ WTO.
- Nghiên cứu nội dung cam kết tự do hóa tài chính theo WTO của Việt Nam
kết hợp so sánh với cam kết của Hàn Quốc.
- Đánh giá thực trạng tự do hóa tài chính tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO
và đưa ra một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hóa
tài chính của Việt Nam trong thời gian tới.

4
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Kết hợp phương pháp miêu tả với phương pháp tổng hợp số liệu từ các
nguồn: sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet…và phân tích hê thống
4. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm 3 chương với những nội dung chính như sau:
Chương I: Tự do hóa tài chính trong khuôn khổ WTO
Chương II: Tự do hóa tài chính trong khuôn khổ WTO của Hàn Quốc_Bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương III: Một số kiến nghị mang tính giải pháp cho tiến trình tự do hóa tài
chính của Việt Nam theo WTO nhìn từ kinh nghiệm Hàn Quốc.
Do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên khóa luận này không tránh
khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
những người quan tâm giúp em bổ sung, hoàn thiện kiến thức cho mình.
Em xin trân trọng cảm ơn TS. Đặng Thị Nhàn, Khoa Tài chính- Ngân hàng
đã hết lòng hướng dẫn em thực hiện khóa luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến các cơ quan hữu quan như Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung
ương, Viện kinh tế thế giới, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong thời gian tham khảo, tìm hiểu tài liệu, thu thập kiến thức để hoàn thành
khóa luận.

5
CHƢƠNG I: TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH TRONG KHUÔN KHỔ WTO
I. Khái niệm tự do hóa tài chính
1. Khái niệm
Xu hướng phổ biến trong mọi nền kinh tế thị trường là khi biên độ tự do hoá
đầu tư, tự do hoá thương mại càng được mở rộng, thì tất yếu phải nới rộng tự do hoá
tài chính. Xu hướng này đang và sẽ diễn ra với cường độ ngày càng mạnh ở Việt
Nam, cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập sâu vào thị trường thế giới.
Về khái niệm, theo các chuyên gia, tự do hoá tài chính (TDHTC) là giảm
thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ và giao dịch tài chính; các hoạt
động tài chính được tự do thực hiện theo tín hiệu thị trường. Nói theo một cách
khác, TDHTC là quá trình nới lỏng những hạn chế về các quyền tham gia thị trường
cho các bên tìm kiếm lợi ích trong phạm vi kiểm soát được của pháp luật. Không
thể có tài chính tự do hoá hoàn toàn ở bất kỳ một tổ chức hay quốc gia nào. Cách
thức, trình tự, mức độ tiến hành tự do hóa tài chính ở các quốc gia là khác nhau, phụ
thuộc vào xuất phát điểm, điều kiện của mỗi nước song về cơ bản thì nội dung tự do
hóa tài chính là giống nhau.
Tự do hóa tài chính có thể chia theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Theo chiều
dọc, tự do hóa tài chính có thể chia thành tự do hóa trên thị trường tiền tệ và tự do
hóa trên thị trường vốn. Theo chiều ngang thì tự do hóa tài chính được chia thành tự
do hóa tài chính trong nước và tự do hóa tài chính quốc tế.
1.1. Tự do hóa tài chính trong nước
Mục đích chính của tự do hóa tài chính trong nước là có được một thị trường
tài chính tự do. Nội dung của tự do hóa tài chính trong nước là tự do hóa lãi suất,
bãi bỏ kiểm soát tín dụng.
1.1.1. Tự do hóa lãi suất
Tự do hóa lãi suất được hiểu là nhà nước cho phép các ngân hàng, các tổ
chức tài chính được quyền tự do xác định các mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay
cũng như tự do ấn định các mức phí đối với hoạt động dịch vụ tài chính của mình.

