
vietnam medical journal n01 - MARCH - 2020
50
V. KẾT LUẬN
Với kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm
hình ảnh học u tuyến ức có nhược cơ tại Bệnh
viện Quân y 103 trong thời gian từ 6 năm, chúng
tôi nhận thấy rằng: cắt lớp vi tính lồng ngực và
cộng hưởng từ tuyến ức là các xét nghiệm có giá
trị cao trong xác định các đặc điểm của u tuyến
ức có nhược cơ trước mổ. Chỉ số CSR có ý nghĩa
trong việc nâng cao giá trị chẩn đoán u tuyến ức,
nên được ứng dụng trong thực hành lâm sàng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Strollo DC., Rosado de Christenson ML., and
Jett JR. (1997). Primary mediastinal tumors. Part
1: tumors of the anterior mediastinum, Chest.
112(2): 511-22.
2. Marom EM. (2010). Imaging thymoma, J Thorac
Oncol. 5(10 Suppl 4): S296-303.
3. Nasseri F.,Eftekhari F. (2010). Clinical and
radiologic review of the normal and abnormal
thymus: pearls and pitfalls, Radiographics. 30(2):
413-28.
4. Priola AM., Priola SM. (2014). Imaging of
thymus in myasthenia gravis: from thymic
hyperplasia to thymic tumor, Clin Radiol. 69(5):
e230-45.
5. McErlean A., Huang J., Zabor E.C., et al.
(2013). Distinguishing benign thymic lesions from
early-stage thymic malignancies on computed
tomography, J Thorac Oncol. 8(7): 967-73.
6. Phạm Hữu Lư (2015), Nghiên cứu điều trị u
trung thất bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại
bệnh viện Việt Đức, Luận án Tiến sĩ y học, Trường
Đại học y Hà Nội.
7. Liu GB., Qu YJ., Liao MY., et al. (2012).
Relationship between computed tomography
manifestations of thymic epithelial tumors and the
WHO pathological classification, Asian Pac J Cancer
Prev. 13(11): 5581-5.
8. Mai Văn Viện (2004). Nghiên cứu một số chỉ
tiêu lâm sàng, cận lâm sàng có liên quan đến kết
quả điều trị ngoại khoa bệnh nhược cơ, Luận án
tiến sĩ y học, Học viện Quân Y.
KIỂM ĐỊNH BỘ CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TỚI THÓI QUEN THỞ MIỆNG Ở TRẺ 5 TUỔI
Ngô Vit Thnh*, Lê Thị Thu Hằng*, Mai Thu Quỳnh*
TÓM TẮT13
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện với
mục tiêu kiểm định bộ câu hỏi đánh giá các yếu tố liên
quan tới thói quen thở miệng trên một nhóm trẻ 5 tuổi
tại Thái Nguyên. Phỏng vấn trực tiếp phụ huynh của
354 trẻ theo bảng 44 câu hỏi của Issei Saitoh được
thực hiện tại 3 trường mầm non Quyết Thắng, Thịnh
Đán và Đồng Quang. Kết quả nghiên cứu đã xác định
tính tin cậy của bộ câu hỏi (Cronbach’s Alpha =
0,759); 11/44 số câu hỏi phù hợp để đánh giá các yếu
tố liên quan tới thói quen thở miệng với hệ số tương
quan biến – tổng lớn hơn 0,3 và được chia làm 3
nhóm yếu tố: ngạt mũi, khô môi, bệnh niêm mạc
miệng/ họng với tổng phương sai trích đạt yêu cầu
(54,98%). Kết luận: Bộ câu hỏi đánh giá các yếu tố
liên quan tới thói quen thở miệng của trẻ 5 tuổi tại
Thái Nguyên nên rút ngắn còn 11 câu hỏi và chia
thành 3 nhóm yếu tố: ngạt mũi, khô môi và bệnh
niêm mạc miệng/ họng.
Từ khóa:
Thói quen thở miệng, độ tin cậy, phân
tích nhân tố khám phá, 5 tuổi.
SUMMARY
ASSESSMENT OF THE QUESTIONNAIRE OF
THE FACTORS AFFECTING MOUTH BREATHING
*Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Chịu trách nhiệm chính: Ngô Việt Thành
Email: bs.ngovietthanh@gmail.com
Ngày nhận bài: 6/1/2020
Ngày phản biện khoa học: 23/1/2020
Ngày duyệt bài: 12/2/2020
HABIT IN 5 YEARS OLD CHILDREN
A cross-sectional study was conducted in order to
examine the questionnaire of the factors affecting
mouth breathing habit in 5 years old children in Thai
Nguyen. 354 parents of 5 years old children were face
to face interviewed based on the questionnaire of Issei
Saitoh at 3 kindergartens named Quyet Thang, Thinh
Dan and Dong Quang. The results indentifiled that the
questionnaire was reliable (Cronbach’s Alpha =
0.759). 11 of 44 questions were selected (the
corrected item total correlation > 0.3) and were
classified into 3 factors: nasal congestion, dry lips and
condition of oral mucosa/throatwith cumulative
extraction sums of squared loadings was 54.98%.
Conclusion:The questionnaire of the factors affecting
mouth breathing habit in 5 years old children in Thai
Nguyen should be consist 11 questions and classify
into 3 factors: nasal congestion, dry lips and condition
of oral mucosa/throat.
Keywords:
Mouth breathing habit, reliability,
exploratory factor analysis, 5 years old.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thở miệng là một trong những thói quen răng
miệng xấu có ảnh hưởng rất lớn, không chỉ tới
sự phát triển của hệ thống sọ mặt mà còn tới
sức khỏe toàn thân [1,2,4]. Trẻ có thói quen thở
miệng nếu không được điều trị và kiểm soát kịp
thời sẽ gặp phải những vấn đề nghiêm trọng cả
về thẩm mỹ và chức năng, ảnh hưởng tới chất
lượng sống và đòi hỏi những điều trị phức tạp và
lâu dài [2,3,6]. Chính vì vậy, việc xác định được

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2020
51
nguyên nhân và các yếu tố liên quan tới thói
quen này vô cùng quan trọng, đóng góp không
nhỏ tới hiệu quả điều trị và phòng bệnh. Tuy
nhiên, do đối tượng nghiên cứu là trẻ em và thở
miệng là thói quen đa yếu tố nên việc xác định
chính xác và phân loại các yếu tố nguy cơ gặp
nhiều khó khăn.
Năm 2018, Issei S và cộng sự đã thực hiện
nghiên cứu trên 380 trẻ em Nhật Bản từ 6-12
tuổi dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 44 câu
hỏi tự trả lời [5]. Nghiên cứu đã chỉ ra 7 yếu tố
liên quan tới thói quen thở miệng: trạng thái môi
ở tư thế nghỉ, bệnh mũi họng, thói quen ăn
uống, hơi thở hôi, rối loạn chức năng nhai/nuốt,
bệnh lý về răng/lợi và khô môi. Đây là bộ công
cụ có độ tin cậy cao, dễ thực hiện tại cộng đồng
nhưng chưa được kiểm định tính phù hợp khi áp
dụng cho trẻ 5 tuổi tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu thường chỉ tập
trung đánh giá hậu quả của thói quen thở miệng
mà chưa tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới thói
quen này. Mặt khác, 5 tuổi là dấu mốc quan
trọng, đánh dấu sự thay đổi không chỉ về mặt
tâm lý, hành vi mà còn là bước ngoặt trong sự
phát triển của bộ răng, xương hàm và cả hệ
thống sọ mặt. Bất kỳ những tác động nào ảnh
hưởng tới trẻ trong độ tuổi này đề có thể gây
nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ thống
nhai nếu không được can thiệp kịp thời. Vì
những lý do trên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề
tài này với mục tiêu kiểm định bộ câu hỏi đánh
giá các yếu tố liên quan tới thói quen thở miệng
của Issei S để áp dụng cho trẻ 5 tuổi.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng. Trẻ 5 tuổi tại trường mầm non
Quyết Thắng, Thịnh Đán và Đồng Quang, tỉnh
Thái Nguyên. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng gồm
những trẻ hợp tác, phụ huynh đồng ý, tự nguyện
tham gia nghiên cứu. Những trẻ có dị tật bẩm
sinh vùng miệng, hàm mặt; đã/đang điều trị chỉnh
hình răng mặt hay kiểm soát thói quen thở miệng
bị loại trừ. 354 trẻ cùng phụ huynh thỏa mãn các
tiêu chuẩn chọn mẫu đã được lựa chọn.
2. Phương pháp. Nghiên cứu được tiến
hành tại 3 trường mầm non ở tỉnh Thái Nguyên,
năm 2019 với thiết kế mô tả cắt ngang.
Bộ câu hỏi phỏng vấn phụ huynh để xác định
các yếu tố liên quan tới thói quen thở miệng [5]
được dịch sang tiếng Việt với ngôn ngữ dễ hiểu,
gồm 44 câu hỏi với cách trả lời có/không.
Thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp phụ
huynh bằng bộ 44 câu hỏi.
3. Xử lý số liệu. Kiểm định độ tin cậy thang
đo Cronbach’s Alpha được sử dụng để loại bỏ
biến số rác trước khi tiến hành phân tích nhân
tố. Kiểm định độ tin cậy của các câu hỏi dựa vào
hệ số kiểm định Cronbach’s Alpha. Các câu hỏi
có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn 0,3 bị
loại. Một bộ câu hỏi tốt khi hệ số Cronbach’s
Alpha biến thiên trong khoảng [0,70 – 0,80].
Nếu Cronbach’s Alpha > hoặc = 0,60 là thang đo
có thể chấp nhận được về mặt tin cậy [7]. Phân
tích EFA được sử dụng để xác định các nhóm
tiêu chí đánh giá thang đo. Phương pháp phân
tích EFA thuộc nhóm phân tích đa biến phụ
thuộc lẫn nhau, nghĩa là không có biến phụ
thuộc và biến độc lập mà nó dựa vào mối tương
quan giữa các biến với nhau. EFA dùng để rút
gọn một tập k biến quan sát thành một tập F (F <
k) các nhân tố ý nghĩa hơn. Cơ sở của việc rút
gọn này dựa vào mối quan hệ tuyến tính của các
nhân tố với các biến số quan sát. Số lượng các
nhân tố cơ sở tùy thuộc vào mô hình nghiên cứu,
trong đó chúng ràng buộc nhau bằng cách xoay
các vector trực giao nhau để không xảy ra hiện
tượng tương quan.
4. Đạo đức nghiên cứu. Nghiên cứu đã được
Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
trường Đại học Y Dược Thái Nguyên phê duyệt (số
238A/QĐ-ĐHYD ngày 28 tháng 02 năm 2019)
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong tổng số 354 trẻ được chọn vào nghiên
cứu, có 46% trẻ nam và 54% trẻ nữ thuộc các
dân tộc Kinh (68,9%), Tày (15,5%), Nùng
(10,2%), Dao (1,7%) và các dân tộc khác (3,7%).
1. Đánh giá độ tin cậy ca bộ câu hỏi
Kết quả kiểm định độ tin cậy bộ câu hỏi với
hệ số Cronbach’s Alpha, hệ số tin cậy của toàn
bộ 44 câu hỏi là 0,717 (lớn hơn mức yêu cầu
0,6). Xét hệ số tương quan biến – tổng (hiệu
chỉnh) của các câu hỏi, 11/44 câu hỏi đạt yêu
cầu > 0,30. Do đó, 33 câu hỏi còn lại bị loại và
tiếp tục phân tích EFA cho 11 câu hỏi được chọn.
Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của bộ 11 câu hỏi
chọn là 0,759.
Bảng 1. Phân tích biến – tổng của từng câu hỏi
Tương quan biến –
tổng (hiệu chỉnh)
Cronbach’s Alpha
(nếu loại biến)
Dễ bị mệt hay nhanh bị mệt sau khi vận động?
0,233
0,711
Có thói quen thức dậy sớm vào buổi sáng?
0,124
0,717

vietnam medical journal n01 - MARCH - 2020
52
Thường xuyên tập thể dục?
0,133
0,716
Mất ngủ/ ngủ không ngon giấc?
0,237
0,710
Bị gù (vai thấp và đưa ra trước)?
0,191
0,714
Hay bị ngạt mũi vào ban ngày?
0,458
0,696
Hay bị ngạt mũi trong lúc ngủ?
0,453
0,697
Hay bị hắt xì?
0,435
0,697
Hay bị chảy mũi?
0,396
0,699
Hay bị chảy máu cam?
0,210
0,712
Thường xuyên bị đau họng?
0,358
0,702
Bị viêm Amyldan?
0,225
0,711
Nghe kém?
0,204
0,713
Ngáy khi ngủ?
0,241
0,710
Thường xuyên bị khô miệng?
0,315
0,707
Hơi thở hôi vào buổi sáng?
0,113
0,719
Hơi thở hôi trong ngày?
0,146
0,715
Miệng thường xuyên há vào ban ngày?
0,371
0,707
Há miệng khi ngủ?
0,358
0,705
Có thể ngậm kín hai môi trên 1 phút?
0,091
0,720
Răng cửa hàm trên bị chìa ra trước (vẩu)?
0,214
0,713
Bị cắn ngược (răng cửa hàm dưới nằm phía ngoài
răng cửa hàm trên khi hai hàm cắn chặt)?
-0,066
0,719
Bị cắn hở vùng răng cửa (răng cửa hàm trên và
hàm dưới không chạm nhau khi hai hàm cắn chặt)?
0,183
0,714
Phát âm rõ ràng?
0,005
0,724
Thường xuyên bị khô môi?
0,324
0,706
Môi dày?
0,108
0,716
Môi trên đưa ra trước?
0,161
0,715
Khi môi bình thường, răng lộ ra giữa hai môi?
0,240
0,710
Môi rủ xuống (môi mềm quá mức)?
0,089
0,717
Thường xuyên bị nẻ môi?
0,314
0,706
Thường xuyên bị viêm lợi?
0,212
0,712
Lợi dễ bị nhiễm màu?
0,054
0,717
Răng dễ bị nhiễm màu?
0,185
0,713
Hay bị nhiệt miệng/loét miệng?
0,364
0,702
Có cao răng?
0,157
0,714
Hay ăn vặt/ ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày?
0,216
0,711
Thích ăn đồ ăn mềm?
0,194
0,713
Uống nước/ chan canh trong bữa ăn?
0,102
0,719
Thời gian ăn một bữa nhanh?
-0,015
0,733
Kén ăn (chỉ ăn một vài món quen thuộc)?
0,169
0,715
Nhai thức ăn tốt?
-0,110
0,725
Phát ra tiềng ồn khi ăn?
0,232
0,712
Khép kín hai môi khi con ăn?
0,112
0,718
Hay bị rơi, vãi cơm ra khỏi miệng khi ăn?
0,159
0,714
2. Phân tích nhân tố khám phá. Sau khi
từng câu hỏi trong bộ câu hỏi phỏng vấn phụ
huynh để xác định các yếu tố liên quan tới thói
quen thở miệng được đánh giá sơ bộ độ tin cậy
với hệ số Cronbach’s Alpha, có 11/44 câu hỏi đạt
yêu cầu cho phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Phép trích nhân tố được sử dụng là phép Phân
tích thành phần chính (Principal Component
Analysis) với phépxoay vuông góc (Varimax). Kết
quả cho thấy hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO)
đạt mức có ý nghĩa thích hợp phân tích nhân tố
(KMO = 0,795). Giá trị kiểm định Bartlett có ý
nghĩa thống kê (α < 0,001) với ý nghĩa các câu
hỏi có mối tương quan với nhau trong tổng thể,
số nhóm câu hỏi được trích là 3 nhóm với tổng
sai trích đạt yêu cầu (54,98%). Kết quả phân
tích EFA cho thấy 11 câu hỏi đều có trọng số
nhân tố đạt yêu cầu và có ý nghĩa thực tiễn.
Bảng 2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá
Nhóm nhân tố

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 488 - THÁNG 3 - SỐ 1 - 2020
53
Ngạt
mũi
Khô
môi
Bệnh niêm
mạc miệng/
họng
Hay bị ngạt mũi
trong lúc ngủ?
0,792
Hay bị ngạt mũi
vào ban ngày?
0,787
Hay bị hắt xì?
0,766
Hay bị chảy mũi?
0,731
Há miệng khi ngủ?
0,500
Thường xuyên bị
khô môi?
0,791
Thường xuyên bị
nẻ môi?
0,741
Thường xuyên bị
khô miệng?
0,606
Miệng thường xuyên
há vào ban ngày?
0,508
Hay bị nhiệt
miệng/loét miệng?
0,773
Thường xuyên bị
đau họng?
0,444
IV. BÀN LUẬN
Thở miệng là thói quen răng miệng xấu
thường gặp, gây nên những hậu quả nghiêm
trọng tới sự hài hòa khớp cắn, sự phát triển cả
về thể chất lẫn tinh thần của trẻ em. Rất nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực
của thói quen này và luôn khuyến cáo các bác sĩ
lâm sàng tìm hiểu nguyên nhân, các yếu tố liên
quan để kiểm soát có hiệu quả, phòng biến
chứng và điều trị tích cực. Những rối loạn về
đường thở thường là đa nguyên nhân nên kiểm
soát gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy, việc xác
định các yếu tố liên quan là vô cùng quan trọng
và tốt nhất là ở thời điểm sớm khi chưa có ảnh
hưởng tới hệ thống nhai quan sát được trên lâm
sàng. Vì những lý do trên, nhóm nghiên cứu
quyết định nghiên cứu trên 354 trẻ 5 tuổi, được
lựa chọn từ 3 trường mầm non ở những khu vực
địa lý khác nhau ở tỉnh Thái Nguyên, có sự khác
biệt về điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc
và đại diện được cho trẻ 5 tuổi tại Thái Nguyên.
Trên thế giới, một số thang đo đã được sử
dụng để đánh giá các yếu tố liên quan tới thói
quen thở miệng, phổ biến như của Sano M [8]
và Issei S [5]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng bộ câu hỏi của Issei S vì tương đối đơn
giản, dễ phỏng vấn và có thể thực hiện hoàn
toàn tại cộng đồng thay vì phải có những thông
tin bắt buộc phải thu thập thông qua khám lâm
sàng tại cơ sở y tế. Bộ câu hỏi của Issei S gồm
44 câu được dịch sang tiếng Việt, sử dụng ngôn
ngữ dễ hiểu với phụ huynh của trẻ và đã được
thẩm định về ý nghĩa.
Trong nghiên cứu này, hệ số tin cậy của
Cronbach’s Alpha của tổng các biến số đạt mức
tốt (Cronbach’s Alpha = 0,759). Tuy nhiên, số
lượng câu hỏi đạt yêu cầu cho phân tích nhân tố
khám phá là 11/44, kết quả này thấp hơn so với
nghiên cứu của Issei S là 26/44 [5]. Sự khác biệt
này có thể do sự khác nhau về độ tuổi của đối
tượng nghiên cứu (Issei S nghiên cứu trên trẻ 6-
12 tuổi), sự khác biệt giữa kinh tế, văn hóa giữa
Việt Nam và Nhật Bản.
Kết quả phép trích nhân tố trong nghiên cứu
cho thấy 11 câu hỏi được trích làm 3 nhóm yếu
tố: ngạt mũi, khô môi và bệnh niêm mạc miệng/
họng với tổng sai trích đạt yêu cầu (54,98%)
(KMO = 0,795; giá trị kiểm định Bartlett α <
0,001). Kết quả này cũng khác biệt so với nghiên
cứu của Issei với 7 nhóm yếu tố: trạng thái môi
ở tư thế nghỉ, bệnh mũi họng, thói quen ăn
uống, hơi thở hôi, rối loạn chức năng nhai/nuốt,
bệnh lý về răng/lợi và khô môi. Các câu hỏi khảo
sát về các yếu tố: trạng thái môi ở tư thế nghỉ,
chức năng nhai/ nuốt phụ thuộc khá nhiều vào
sự quan tâm và hiểu biết của phụ huynh đối với
trẻ. Mặt khác, với trẻ 5 tuổi, để phụ huynh đánh
giá chính xác tình trạng môi, chức năng nhai/
nuốt của con mình cũng gặp nhiều khó khăn. Xét
về nhóm yếu tố thói quen ăn uống, trẻ 5 tuổi có
chế độ ăn và cách thức ăn gần như giống nhau ở
cả trường mầm non và tại nhà nên các câu hỏi
thuộc nhóm này có hệ số tương quan biến –
tổng khá thấp, không được đưa vào phân tích
nhân tố khám phá.
V. KẾT LUẬN
Bộ câu hỏi đánh giá các yếu tố liên quan tới
thói quen thở miệng của trẻ 5 tuổi tại Thái
Nguyên nên rút ngắn còn 11 câu hỏi và chia
thành 3 nhóm yếu tố: ngạt mũi, khô môi và
bệnh niêm mạc miệng/ họng.
VI. KIẾN NGHỊ
Cần tiếp tục hoàn thiện bộ câu hỏi để đánh
giá các yếu tố liên quan tới thói quen thở miệng,
phù hợp với trẻ 5 tuổi tại Thái Nguyên. Nghiên
cứu cần được mở rộng hơn ở các vùng miền
khác để đánh giá toàn diện hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ankita J., et al. Mouth breathing: A menace to
developing dentition. Journal of Contemporary
Dentistry. 2014;3:145-151.
2. Basheer B., et al. Influence of mouth breathing
on the dentofacial growth of children: A
cephalometric study. Journal of International Oral
Health. 2014: 6(6):50 –55.
3. Conti P. B., et al. Assessment of the body posture

