BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
HÀ ĐỨC LONG
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
HÀ ĐỨC LONG
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử
Mã số : 62 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS, TS Nguyễn Vĩnh Thắng
2. PGS, TS Văn Đức Thanh
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu kết quả nêu trong luận
án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hà Đức Long
MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 5 10 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1
25
1.1.
25
1.2.
59
Chƣơng 2
77
2.1.
77
2.2.
THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH Thực chất phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh THỰC TRẠNG, XU HƢỚNG VÀ YÊU CẦU CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH Thực trạng phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Xu hướng và yêu cầu cơ bản phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
101
119
3.1.
119
3.2.
135
3.3.
Chƣơng 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của chính trị viên nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Xây dựng môi trường công tác thuận lợi và tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
153 169
KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
171 172 182
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số thứ tự Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
01 Chính trị viên CTV
02 Chính trị quốc gia CTQG
03 Công tác đảng, công tác chính trị CTĐ, CTCT
04 Hà Nội H
05 Hạ sĩ quan, chiến sĩ HSQ, CS
06 Học viên đào tạo chính trị viên HVĐTCTV
07 Nhà xuất bản Nxb
08 Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN
09 Tư tưởng Hồ Chí Minh TTHCM
10 Xã hội chủ nghĩa XHCN
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài: “Phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, được tiếp cận nghiên cứu dưới góc
độ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Vấn đề nghiên cứu của đề tài được tác giả ấp ủ, say mê nghiên cứu từ
nhiều năm nay, điều này được thể hiện từ các luận văn tốt nghiệp ở các bậc
học đại học, cao học, cũng như nhiều bài báo khoa học tác giả đã công bố đều
đề cập về TTHCM ở nhiều góc độ khác nhau, song điểm nhấn là TTHCM về
xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị; về nhân cách và phát triển nhân
cách đội ngũ cán bộ, đảng viên và người chính trị viên trong QĐNDVN.
Nội dung đề tài tập trung làm rõ: thực chất và những nhân tố cơ bản quy
định quá trình phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM; đánh giá thực trạng, chỉ ra xu hướng và yêu cầu cơ bản phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM; đề xuất hệ
thống những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Đề tài là một công trình khoa học độc lập,
mới mẻ, không có sự trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố.
2. Lý do lựa chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản lý luận quí báu của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta, là ngọn cờ lý luận đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
hành động” [11, tr.25]. TTHCM về chính trị viên và phát triển nhân cách chính
trị viên là một nội dung quan trọng trong tư tưởng quân sự, chính trị của Người.
Tư tưởng đó đã thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam, chỉ đạo xuyên
suốt quá trình xây dựng đội ngũ chính trị viên trong QĐNDVN, đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội trong mọi thời kỳ cách mạng.
6
Hiện nay, TTHCM về chính trị viên và phát triển nhân cách chính trị
viên đã được quán triệt vào trong Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị
(khóa IX) “Về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện
chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên
trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Theo tinh thần của Nghị quyết, chính trị
viên trong QĐNDVN được xác định: là người giữ cương vị chủ trì về chính trị,
chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động CTĐ, CTCT, đồng thời là bí thư tổ chức cơ
sở đảng ở các đơn vị phân đội. Chính trị viên vừa là sĩ quan chính trị của quân
đội, vừa là cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước được đào tạo chính quy để
phục vụ lâu dài trong quân đội. Với cương vị, chức trách được giao, phẩm chất,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên có ảnh hưởng
trực tiếp rất lớn đến các mặt công tác của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị thuộc
quyền. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra cần phải đào tạo, bồi dưỡng chính trị
viên có đủ phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác đáp ứng
yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính
trị (khóa IX) và Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương, các
cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội đã lãnh đạo,
chỉ đạo, triển khai nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực nhằm xây dựng đội
ngũ chính trị viên đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ trong thời kỳ
mới. Vì vậy, về cơ bản đại bộ phận chính trị viên đã có phẩm chất, năng lực và
phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu thực tiễn thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trên thực tiễn phẩm chất, năng lực
và phương pháp, tác phong công tác của một bộ phận chính trị viên ở các đơn
vị còn có có những hạn chế, khuyết điểm chưa thực sự ngang tầm với cương
vị, chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm.
Trong bối cảnh thời cơ và thách thức đan xen như hiện nay, sự nghiệp
xây dựng QĐNDVN cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
7
trong thời kỳ mới, đòi hỏi rất cao về chất lượng toàn diện, trên cơ sở vững
mạnh về chính trị đã và đang chịu sự tác động của nhiều nhân tố với cả thuận lợi
và khó khăn, thách thức, nhiều mâu thuẫn đang đặt ra cần phải giải quyết. Chính
vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ cán bộ chính trị, đặc
biệt là chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là rất cần thiết và có ý nghĩa
thực tiễn cao. Mặt khác, từ khi có Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị
(khóa IX), đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu khá sâu sắc về
chính trị viên ở nhiều phương diện khác nhau. Nhưng việc làm rõ lý luận, thực
tiễn và đề xuất các giải pháp một cách có hệ thống, toàn diện về phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM dưới góc độ
triết học thì có rất ít công trình khoa học đề cập đến.
Từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Phát triển nhân cách
chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh”, làm đề tài nghiên cứu của luận án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Góp phần nâng cao hiệu quả phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm
vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát TTHCM về nhân cách, nhân cách chính trị viên và phát
triển nhân cách chính trị viên. Từ đó, làm rõ hệ thống khái niệm công cụ của
đề tài, tập trung phân tích luận giải phạm trù trung tâm đề tài của luận án là:
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Chỉ ra
những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát triển nhân cách chính trị viên
trong QĐNDVN theo TTHCM.
- Dựa vào khung lý luận đã xác định để khảo sát, đánh giá đúng thực
trạng, phân tích xu hướng và chỉ ra yêu cầu cơ bản phát triển nhân cách chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
8
- Trên cơ sở khung lý thuyết và thực trạng, đề xuất hệ thống giải pháp
cơ bản nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu bản chất và những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát
triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển nhân cách chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM ở các đơn vị chủ lực binh chủng hợp
thành, số liệu khảo sát từ năm 2006 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, TTHCM về
nhân cách và nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN, đường lối, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác
phong công tác của người cán bộ, đảng viên nói chung, chính uỷ - chính trị
viên trong QĐNDVN nói riêng.
* Cơ sở thực tiễn:
Luận án dựa vào các báo cáo tổng kết CTĐ, CTCT của các đơn vị cơ
sở, kết quả điều tra, khảo sát và những vấn đề thực tế liên quan tới phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cũng như số
liệu của các công trình khoa học đã công bố.
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài của luận án vận dụng hệ thống phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp tiếp cận giá trị
nghiên cứu các vấn đề đặt ra. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như : phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ
9
thống - cấu trúc, lô gích - lịch sử, điều tra xã hội học, phỏng vấn trực tiếp, quan
sát, so sánh, phương pháp nghiên cứu các tài liệu và phương pháp chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
Làm rõ thực chất và những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát
triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM; đánh giá đúng
thực trạng, chỉ ra xu hướng và yêu cầu cơ bản phát triển nhân cách chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM; đề xuất một số giải pháp cơ
bản, đồng bộ, có tính khả thi nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lý luận của luận án:
Kết quả thu được của đề tài góp phần bổ sung, phát triển một số vấn đề
về cơ sở lý luận của quá trình phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
* Ý nghĩa thực tiễn của luận án:
Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu khoa học, giảng dạy, học tập và bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ
chính trị, trong đó có chính trị viên có đủ phẩm chất, năng lực và phương
pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu thực hiện cương vị, chức trách,
nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
8. Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án gồm: Mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu có
liên quan đến đề tài, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoa
học đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
10
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển
nhân cách con ngƣời mới xã hội chủ nghĩa và ngƣời cán bộ, đảng viên
theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển
nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Bàn về phát triển nhân cách con người mới XHCN theo TTHCM, đã có
rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu đề cập đến. Tiêu biểu như: Đại
tướng Võ Nguyên Giáp với bài viết chuyên khảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh quá
trình hình thành và nội dung cơ bản”, trong bài viết đề cập về nội dung phát
triển nhân cách con người mới XHCN theo TTHCM, Đại tướng chỉ rõ: “Con
người mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng, bồi dưỡng phải là con
người có đạo đức, phẩm chất tốt đẹp, lại phải có năng lực trí tuệ đáp ứng yêu
cầu của sự phát triển đất nước, thời đại” [22, tr.45].
TS Nguyễn Khắc Điều (chủ nhiệm), đề tài “Tìm hiểu tư tưởng triết
học Hồ Chí Minh - một số vấn đề lý luận và vận dụng vào quân sự hiện nay”,
đã nghiên cứu tổng thể, rõ ràng nhiều nội dung về TTHCM. Trong đó đề cập
về phát triển nhân cách con người mới theo TTHCM, đề tài nhận định: “Mô
hình nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh khái quát
tức là đức và tài (phẩm chất và năng lực)... Phẩm chất và năng lực con người
mới gắn với nhiệm vụ cách mạng ở từng giai đoạn lịch sử” [19, tr.77].
TS Nguyễn Hữu Công với công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển con người toàn diện”, đã làm rõ cơ sở lý luận, nội dung cơ bản của
TTHCM về phát triển con người toàn diện. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh:
Với quan niệm và cách nhìn nhận con người toàn diện như là một thể
thống nhất, sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố, các mặt thể lực, trí tuệ, trình
độ thẩm mỹ, đạo đức cách mạng…Hồ Chí Minh cho rằng phát triển con
người toàn diện trước hết phải tập trung phát triển tất cả các bộ phận cấu
thành nên chỉnh thể đó [4, tr.79].
11
Đề cập ở nội dung này, còn có các bài viết của: GS Đặng Xuân Kỳ
“Quan điểm Hồ Chí Minh về con người và bản chất con người”[30]; GS, TS
Nguyễn Văn Tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố
con người”[97]; GS, TS Phạm Minh Hạc “Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục và tâm lý học nhân cách” [24]; PGS, TS Lê Sĩ Thắng “Mấy vấn đề
về “Trồng người” trong tư tưởng Hồ Chí Minh” [101]; PGS, TS Trịnh Doãn
Chính “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” [3]; PGS, TS Hoàng Chí Bảo
“Vài nét chung về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh” [2]; TS Đức Uy
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách” [114]; TS Vũ Kim Thanh “Tìm hiểu tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhân cách” [98]... Các tác giả đã có sự thống
nhất phát triển nhân cách con người mới XHCN theo TTHCM, là con người
phát triển toàn diện, với sự thống nhất chặt chẽ giữa đức và tài, lấy đức làm
gốc và một trong yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển nhân cách con
người là con đường giáo dục và tự giáo dục, thông qua hoạt động thực tiễn
của con người. Trong đó, GS, TS Nguyễn Văn Tài nhận định theo TTHCM:
“mục tiêu của giáo dục - đào tạo phải là nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, đào tạo nhân tài trên cơ sở phát triển nhân cách con người Việt Nam
vừa “hồng”, vừa “chuyên” [97, tr.14]. PGS, TS Lê Sĩ Thắng chỉ rõ: “Hồ Chí
Minh đã không bàn luận dài dòng về vấn đề “tính người là thiện hay ác”. Điều
mà Người quan tâm và nhấn mạnh là vai trò có tính chất quyết định của giáo
dục đối với “tính người”. “Tính ấy”, phần nhiều do giáo dục mà nên và gắn
liền với hoạt động của con người” [101, tr.33].
1.2. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển
nhân cách người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Quán triệt sâu sắc TTHCM, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Do đó, ở mọi giai
đoạn cách mạng, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, luôn
12
luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà
nước. Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười có bài viết “Những vấn đề trọng yếu
trong chiến lược cán bộ hiện nay”, đã chỉ rõ: “Trong giai đoạn cách mạng
hiện nay…Chung quy lại, người cán bộ phải có phẩm chất và năng lực, có
đức và tài, trong đó “đức là cái gốc của người cán bộ” như Bác Hồ từng nhấn
mạnh” [85, tr. 4 -5].
Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu có bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh
soi sáng con đường Đảng ta và nhân dân ta tiến vào thế kỷ XXI”, đã làm rõ cơ
sở quá trình hình thành TTHCM, khẳng định những đóng góp to lớn của Người
đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đồng thời, bàn về phát
triển nhân cách người cán bộ, đảng viên theo TTHCM, tác giả chỉ rõ:
Cán bộ, đảng viên của Đảng nhất định phấn đấu và phải phấn đấu để làm
người và làm người cộng sản như Bác Hồ đã dạy: trung thành và kiên định với
đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; gìn giữ phẩm chất và đạo đức
cách mạng, đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, đi sát cơ sở, không tham
nhũng, không bao che cho hiện tượng quan liêu, tham nhũng và tiêu cực; trau
dồi kiến thức, nâng cao năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn, đủ sức
đảm đương nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới [90, tr.34].
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài “Phát biểu bế mạc Hội nghị
lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI”, đã hết sức nhấn mạnh
đến biện pháp để mỗi người cán bộ, đảng viên rèn luyện, phấn đấu phát triển
nhân cách của mình, chính là sự nêu cao tinh thần thực hiện tự phê bình và
phê bình, chủ động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, để
“mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng luôn thật lòng vì nước, vì dân, vì Đảng; thật
sự là người cộng sản” [107, tr.16].
GS Đặng Xuân Kỳ với công trình nghiên cứu: “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đã đi vào phân tích thực trạng và những
tác động trong đời sống xã hội nước ta hiện nay đến phát triển nhân cách, đạo
13
đức của người cán bộ, đảng viên và khái quát những tiêu chí chuẩn mực nhân
cách người cán bộ, đảng viên theo TTHCM được thể hiện ở 4 phẩm chất chủ
yếu, đó là: “Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người; Cần kiệm
liêm chính chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng” [31, tr.11].
Đề cập ở nội dung này, còn có các bài viết của: GS, TS Tô Huy Rứa
“Giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [94]; GS,
TS Đỗ Nguyên Phương “Bồi dưỡng tư tưởng đạo đức nhân văn Hồ Chí Minh
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay”[91]; PGS, TS
Nguyễn Quang Uẩn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức nhân cách
người cán bộ cách mạng” [113]... Các tác giả đã phân tích vị trí, vai trò người
cán bộ, đảng viên và phát triển nhân cách của họ theo TTHCM trong điều
kiện kinh tế thị trường hiện nay. Đồng thời, chỉ ra sự phát triển nhân cách
người cán bộ, đảng viên hiện nay cần phải tiếp tục thực hiện những yêu cầu,
chuẩn mực nhân cách như: Trung với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, gương mẫu trong lời nói và việc làm, nâng cao năng lực
công tác, tác phong sâu sát, gần gũi với quần chúng, nêu cao tình thần đấu
tranh phê bình và tự phê bình, ham học hỏi, cầu thị tiến bộ.
Tiếp tục đề cập về phát triển nhân cách người cán bộ, đảng viên của
Đảng theo TTHCM, gần đây có các bài viết tiêu biểu như: PGS, TS Phạm
Viện “Bàn về đạo đức và rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay” [115]; PGS, TS Nguyễn Văn
Thế:“Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và việc xây dựng đạo đức của cán bộ,
đảng viên hiện nay” [103]... Các tác giả đã đi vào luận giải và chỉ ra những
phẩm chất nhân cách của người cán bộ, đảng viên và sự cần thiết phải phát
triển nhân cách của họ theo TTHCM. Đồng thời, chỉ rõ: theo TTHCM, cán
bộ, đảng viên muốn có điều kiện làm việc và toàn tâm, toàn ý, nêu cao tình
thần trách nhiệm phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân Dân, phụng sự Đảng, thì chỉ
khi hội tụ đầy đủ phẩm chất “đức” và “tài” của người cán bộ cách mạng.
14
TS Nguyễn Văn Thanh “Rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên hiện nay theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Đảng ta là
đạo đức, là văn minh”, đã chỉ ra sự cần thiết và những vấn đề cơ bản cần phải
rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay theo TTHCM về
“Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và đây cũng là điểm cốt lõi trong phát triển
nhân cách cán bộ, đảng viên hiện nay. Tác giả nhận định: “Tư tưởng “Đảng ta
là đạo đức, là văn minh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh” là sự khái quát một giá
trị với các yêu cầu, chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa to lớn đối với xây dựng
Đảng ta và giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên.” [100, tr.17].
2. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển
nhân cách đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam và liên quan trực
tiếp đến phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
2.1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển
nhân cách đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ
Chí Minh
Đề cập ở vấn đề này có rất nhiều các công trình nghiên cứu, tiêu biểu
như: Đại tướng Võ Nguyên Giáp với bài viết chuyên khảo “Tư tưởng Hồ Chí
Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta”, đã luận giải
hết sức sâu sắc năm nội dung lớn của TTHCM đối với quá trình trưởng thành
và chiến thắng của QĐNDVN. Bàn về xây dựng và phát triển nhân cách đội
ngũ cán bộ QĐNDVN theo TTHCM, Đại tướng chỉ rõ: “Người coi việc đặt
quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng là vấn đề nguyên tắc, việc chăm
lo giáo dục đảng viên, cán bộ về phẩm chất cách mạng để phát huy vai trò tiền
phong gương mẫu của cán bộ, của đảng viên trong quân đội là nhân tố có ý
nghĩa quyết định để đánh thắng kẻ thù” [23, tr.35].
TS Nguyễn Quang Phát (chủ biên), công trình “Quan điểm tư tưởng Hồ
Chí Minh về đức - tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội”, đã đi vào làm
15
rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề ra giải pháp nhằm nâng cao đạo đức,
phát triển tài năng của đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay theo TTHCM. Công
trình nhận định: “Người cán bộ tốt là người có phẩm chất toàn diện về mọi mặt,
có phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống, cả trình độ hiểu biết, chuyên môn,
nghiệp vụ. Những phẩm chất nhân cách đó được Hồ Chí Minh khái quát ngắn
gọn trong hai chữ “đức” và “tài” [88, tr.99].
PGS, TS Lại Ngọc Hải (chủ biên), công trình “Định hướng giá trị nhân
cách đội ngũ sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, đã làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn, đề ra yêu cầu và giải pháp cơ bản định hướng giá trị
nhân cách đội ngũ sĩ quan trẻ QĐNDVN hiện nay. Công trình nhấn mạnh:
“Những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, của Quân đội nhân dân
Việt Nam, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đội ngũ sĩ quan
trẻ tiếp thu, kế thừa và phát triển trong giai đoạn cách mạng mới” [25, tr.77].
PGS, TS Phạm Xuân Hảo (chủ biên), công trình “Bồi dưỡng lối sống xã
hội chủ nghĩa cho sĩ quan trẻ hiện nay”, đã nhận định: “Bồi dưỡng cho đội
ngũ sĩ quan quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng về phẩm chất và
năng lực...giữ vai trò cực kỳ quan trọng và cấp thiết. Lối sống là một yếu tố cấu
thành phẩm chất chính trị, đạo đức, giữ vai trò quan trọng trong hành vi chính
trị, đạo đức của sĩ quan trẻ” [27, tr.168].
TS Phạm Văn Nhuận (chủ biên), công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội”, đã tập trung làm rõ lý luận và
thực tiễn TTHCM về đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội và đề xuất
phương hướng, nội dung nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ quân
đội hiện nay dưới ánh sáng TTHCM. Công trình nhấn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí
Minh “luôn đòi hỏi ở mỗi cán bộ quân đội những phẩm chất nhân cách tốt đẹp,
có đủ cả đức và tài, trong đó đức phải là gốc” [86, tr.147].
PGS, TS Nguyễn Vĩnh Thắng (Chủ biên) công trình “Nghiên cứu giữ
vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới”, nay đã
16
được xuất bản thành bộ sách gồm 7 tập: tập 1 đi vào phân tích, đánh giá luận
giải “Những vấn đề cơ bản về giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ
Hồ” trong tình hình mới”; từ tập 2 đến tập 7 đề cập đến những nội dung cụ
thể của việc: Giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình
hình mới. Công trình thực sự có giá trị khoa học to lớn trong định hướng việc
giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cho mọi cán bộ, chiến sĩ
trong quân đội. Trong tập 1 của công trình chỉ rõ: “Phẩm chất “Bộ đội Cụ
Hồ” là hệ thống giá trị văn hóa - chính trị - đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản
ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam” [102, Tr.12].
2.2. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan trực tiếp đến
phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam
hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề cập về nội dung này, đã có rất nhiều công trình khoa học bàn đến,
tiêu biểu như: Đại tướng Chu Huy Mân (Chủ biên), công trình “Người chính
ủy Quân đội nhân dân Việt Nam”, đã làm rõ những vấn đề cơ bản về người
chính ủy QĐNDVN, đồng thời, đăng tải kiến nghị của: Đại tướng Võ Nguyên
Giáp, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng
Nguyễn Quốc Thước đề nghị với Bộ Chính trị khôi phục lại chế độ chính ủy,
chính trị viên và một số bài viết của lãnh đạo, chỉ huy trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đề cập đến nhân cách người chính
ủy, chính trị viên công trình chỉ rõ: “Vấn đề xây dựng người chính ủy, chính
trị viên phải thực sự là những con người vừa có “Đức” vừa có “Tài” và hiện
nay cần chú trọng công tác bồi dưỡng cán bộ về các mặt chính trị, tư tưởng,
phẩm chất đạo đức, năng lực và tác phong công tác, bám sát cuộc sống xã hội
và hoạt động thực tiễn của quân đội, sâu sát đơn vị, dân chủ tập thể, đoàn kết
đấu tranh tự phê bình và phê bình” [40, tr.63].
PGS,TS Lê Duy Chương và PGS,TS Bùi Quang Cường (đồng chủ
biên), công trình “Quan điểm V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính ủy,
17
chính trị viên”, đã hệ thống những quan điểm cơ bản của V.I.Lênin về chính
ủy trong Hồng quân và TTHCM về chính ủy, chính trị viên trong QĐNDVN;
chỉ ra vấn đề quán triệt quan điểm của V.I.Lênin và TTHCM trong xây dựng
đội ngũ chính ủy, chính trị viên hiện nay. Công trình nhận định:
Quan điểm của V.I.Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chức năng, nhiệm
vụ, vai trò, vị trí, phẩm chất, năng lực, phong cách làm việc, đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ chính ủy, chính trị viên là cơ sở tư tưởng, lý luận, kim chỉ nam
cho công tác xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên của quân đội ta theo
tinh thần Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị khóa IX [7, tr.151].
TS Nguyễn Quang Phát với công trình “Xây dựng đội ngũ chính ủy,
chính trị viên trong quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, đã đi vào
luận giải từ cơ sở hình thành phát triển, những nội dung cơ bản và chỉ ra quá
trình xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị của QĐNDVN theo TTHCM qua các
thời kỳ cách mạng; đồng thời đánh giá tình hình đội ngũ cán bộ chủ trì về
chính trị và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị hiện nay. Khi bàn về
nhân cách đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong quân đội hiện nay theo
TTHCM, tác giả chỉ rõ: “Theo Hồ Chí Minh, chính ủy, chính trị viên phải là
người thật sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng... năng lực toàn diện, đáp ứng
yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy mọi mặt ở đơn vị... sự mẫu mực về phong cách, tác
phong công tác, lời nói đi đôi với việc làm [89, tr.39 - 46].
TS Hoàng Văn Thanh (Chủ biên), công trình “Bồi dưỡng nhân cách
chính trị viên cho đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội hiện nay”, đã luận
giải về lý luận, thực tiễn, chỉ ra yêu cầu và đề xuất giải pháp bồi dưỡng nhân
cách chính trị viên cho đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội hiện nay. Công
trình nhận định:
Bồi dưỡng nhân cách chính trị viên cho đội ngũ cán bộ chính trị cấp
phân đội là toàn bộ hoạt động của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người
18
chỉ huy, cơ quan chính trị và các tổ chức trong đơn vị tác động vào hệ thống
phẩm chất nhân cách người cán bộ chính trị cấp phân đội làm cho nó không
ngừng phát triển, hoàn thiện đáp ứng, yêu cầu, nhiệm vụ, chức trách trên
cương vị được giao [99, tr.30].
TS Nguyễn Tiến Quốc (Chủ biên), công trình “Nâng cao phẩm chất,
năng lực của đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay”, đã luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và chỉ ra yêu cầu, đề
xuất giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ chính ủy, chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay. Công trình chỉ rõ: “Phẩm chất, năng lực
của chính ủy, chính trị viên trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng
và phát huy sức mạnh của tổ chức và con người trong đơn vị, đến kết quả
thực hiện nhiệm vụ được giao” [93, tr.5].
TS Tô Xuân Sinh (Chủ biên), công trình “Chế độ chính uỷ, chính trị
viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đã làm rõ những vấn đề cơ bản và
sự hình thành phát triển của chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội từ
ngày thành lập đến nay; khái quát những bài học kinh nghiệm thực hiện chế
độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội ta. Từ đó, khẳng định: “Suy cho
cùng chế độ chính ủy, chính trị viên chỉ được thực hiện có hiệu lực khi có một
đội ngũ chính ủy, chính trị viên có phẩm chất, năng lực, phong cách công tác
ngang tầm với vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của họ” [96, tr.146].
PGS, TS Đỗ Mạnh Tôn (Chủ biên), công trình “Uy tín của chính trị
viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đã luận giải những vấn đề lý luận
về uy tín của người lãnh đạo, quản lý và uy tín của chính trị viên trong quân
đội, đồng thời làm rõ bản chất, nội dung, các yếu tố quy định, những biểu
hiện, thực trạng và những con đường, biện pháp nâng cao uy tín của chính trị
viên trong điều kiện hiện nay. Công trình nhận định: “Uy tín của chính trị
viên được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa “đức” và “tài”; “hồng” và
19
“chuyên”; “phẩm chất” và “năng lực”, đã trở thành nét đặc trưng của người
cán bộ chính trị, cán bộ lãnh đạo của Đảng trong truyền thống của quân đội
ta” [106, tr.63].
PGS, TS Phạm Văn Nhuận (Chủ biên), công trình “Phẩm chất đạo đức
của chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đã làm rõ
phẩm chất đạo đức và phẩm chất đạo đức của chính ủy, chính trị viên trong
quân đội ta; đồng thời, định hướng giải pháp bồi dưỡng phẩm chất đạo đức
của chính ủy, chính trị viên trong thời kỳ mới. Công trình chỉ rõ:
Phẩm chất đạo đức của chính ủy, chính trị viên trong quân đội ta là
một tiêu chí quan trọng hàng đầu trong nhân cách đức - tài của người cán bộ
chủ trì về chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị trong quân
đội, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng
viên, quân nhân cách mạng, có sức cảm hóa, thuyết phục, hướng dẫn nhận
thức và hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền vươn lên hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, nhân dân giao phó [87, tr.39].
Tác giả Đào Huy Tín (Luận án tiến sĩ), “Biện chứng của quá trình
hình thành nhân cách người sĩ quan chính trị cấp phân đội trong Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay” [104], đã xác định nhân cách người sĩ quan
chính trị cấp phân đội trong QĐNDVN hiện nay bao gồm “đức” và “tài”.
Trong đó, xác định đức là tư tưởng, đạo đức, lối sống; tài là trình độ tri thức,
năng lực hoạt động thực tiễn; đức và tài là tổng hòa những phẩm chất xã hội
của cá nhân thu nhận được trong hoạt động và giao tiếp xã hội, phản ánh
những giá trị xã hội của cá nhân trong cộng đồng.
Đề cập về phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM còn có bài viết của các tác giả như: PGS Lê Hồng Quang “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về người chính trị viên - Lịch sử và hiện thực ” [92]; PGS, TS
Ngô Minh Tuấn “Những phẩm chất nhân cách cơ bản của người cán bộ chính
20
trị, theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [109]; TS Tô Xuân Sinh “Về vị trí, vai trò
của chính uỷ, chính trị viên trong các đơn vị quân đội theo tinh thần Nghị
quyết 51 của Bộ Chính trị” [95]; TS Dương Văn Lượng “Tiếp cận người cán
bộ chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện
nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” [36]; TS Phan Trọng Hào “Đổi
mới phong cách làm việc của người cán bộ chính trị cấp phân đội theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” [26]; TS Ngô Minh Tuấn “Nhân cách người cán bộ
chính trị đơn vị cơ sở” [108]... Theo các tác giả, quán triệt TTHCM về phát
triển nhân cách chính trị viên cần hướng vào rèn luyện cả về phẩm chất, năng
lực và phong cách, tác phong công tác của người cán bộ chủ trì về chính trị,
chỉ đạo và tổ chức tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT ở các đơn vị phân đội.
Gần đây, nhân dịp Kỷ niệm 65 năm Chủ tich Hồ Chí Minh gửi thư cho
Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ hai (3/1948 - 3/2013), Trường sĩ
quan Chính trị đã tổ chức hội thảo và xuất bản “Kỷ yếu hội thảo “Thư gửi hội
nghị chính trị viên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh giá trị lịch sử và hiện thực”
[110]. Trong Kỷ yếu, có các bài viết tiêu biểu của các nhà lãnh đạo, chỉ huy,
nhà khoa học như: PGS, TS Phạm Quốc Trung “Thư gửi hội nghị chính trị
viên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị lịch sử và hiện thực”; PGS, TS Vũ
Quang Đạo “Nét đặc sắc trong quan điểm Hồ Chí Minh về tư cách người
chính trị viên nhân đọc lại “Thư gửi hội nghị chính trị viên” của Người”;
PGS, TS Nguyễn Minh Khải “Vị trí, vai trò của chính trị viên theo tinh thần
“Thư gửi hội nghị chính trị viên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; PGS, TS
Phùng Văn Thiết “Thư Bác Hồ gửi Hội nghị chính trị viên và tư cách chính
trị viên của “Bộ đội Cụ Hồ”; Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn “Thư gửi hội
nghị chính trị viên” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với xây dựng đội ngũ chính
ủy, chính trị viên trong quân đội hiện nay”… Nội dung các bài viết của các
tác giả đăng trong Kỷ yếu, đã đề cập khá sâu sắc, toàn diện những giá trị cơ
21
bản của TTHCM về vị trí, vai trò, những phẩm chất nhân cách cơ bản và con
đường, biện pháp bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên. Qua đó khẳng định giá
trị lý luận và thực tiễn của TTHCM trong “Thư gửi hội nghị chính trị viên”
đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng chính trị viên trong quân đội hiện nay.
3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
3.1. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã công bố
Từ tổng quan các công trình khoa học liên quan gián tiếp và trực tiếp
đến phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM cho thấy, với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau các công trình
nghiên cứu đã làm rõ nhiều vấn đề cơ bản có giá trị về lý luận và thực tiễn
liên quan đến đề tài của luận án, cụ thể là:
Thứ nhất, tất cả các công trình khoa học đã công bố đã tiếp cận quá
trình phát triển nhân cách con người mới XHCN và người cán bộ, đảng viên
theo TTHCM ở nhiều phương diện khác nhau. Song, điểm nhấn của các công
trình đều xoay quanh trục xuyên suốt là hai yếu tố cơ bản “Đức” và “Tài” cần
phải có trong nhân cách con người mới XHCN, đặc biệt là người cán bộ, đảng
viên của Đảng theo TTHCM.
Thứ hai, khi bàn về nhân cách và sự phát triển nhân cách đội ngũ cán
bộ quân đội nói chung, người chính trị viên nói riêng theo TTHCM, các công
trình khoa học đã tập trung làm rõ nhiều vấn đề trong đó, các công trình tập
trung nhấn mạnh đến các yếu tố: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung; cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư v.v.. của người cán bộ quân đội theo TTHCM.
Đặc biệt, đề cập đến sự phát triển nhân cách người chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM các công trình khoa học đã tập trung làm rõ về phẩm
chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, năng lực và phong cách, tác phong của
22
người cán bộ chính trị nói chung, người chính trị viên nói riêng theo TTHCM.
Cụ thể là phải hội tụ đầy đủ những phẩm chất nhân cách cơ bản như: sự kiên
định vững vàng về lập trường, quan điểm; mẫu mực về đạo đức, lối sống; có
năng lực thiết lập và xử lý tốt các mối quan hệ; năng lực giáo dục, tổ chức và
hướng dẫn bộ đội hành động. Đồng thời, điểm nhấn của các tác giả, yêu cầu
quan trọng nhất đặt ra là chính trị viên phải làm kiểu mẫu trong mọi việc, chịu
trách nhiệm chủ yếu về quán triệt quan điểm, đường lối chính trị - tư tưởng
của Đảng trên mọi lĩnh vực xây dựng, hoạt động và giải quyết các mối quan
hệ chính trị - xã hội ở các đơn vị phân đội, luôn luôn xứng đáng là người lãnh
đạo, chỉ huy, người anh, người chị và người bạn của đội viên.
Kết quả của các công trình khoa học đã công bố là cơ sở lý luận cho
luận án kế thừa, tiếp thu và giải quyết những vấn đề mới theo mục đích,
nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án đã xác định.
3.2. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Quá trình khảo cứu các công trình khoa học nghiên cứu đã công bố
liên quan tới đề tài, nhìn tổng thể về hướng nghiên cứu, nội dung triển khai
thì phần lớn các công trình nghiên cứu chưa đi vào làm rõ có tính chất cơ
bản, hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề lý luận và thực tiễn, cũng như đề
xuất hệ thống giải pháp phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM. Do đó, những vấn đề luận án tập trung giải quyết:
Một là, làm rõ thực chất và những nhân tố cơ bản quy định quá trình
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Từ nghiên cứu các công trình khoa học tiêu biểu đã công bố liên quan
đến đề tài luận án cho thấy, mặc dù các công trình khoa học đã đề cập tương
đối toàn diện, sâu sắc đến nhân cách con người mới XHCN, người cán bộ,
đảng viên trong và ngoài quân đội hiện nay theo TTHCM. Nhưng việc đi sâu
nghiên cứu làm rõ thực chất và những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát
triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, một
23
cách sâu sắc, toàn diện dưới góc độ triết học thì hầu như chưa có công trình
khoa học nào đề cập đến. Hơn nữa, trong những công trình khoa học đã công
bố, rất ít công trình khoa học đề cập đến phát triển nhân cách theo TTHCM ở
một đối tượng xác định, nhất là đối với một đối tượng đặc thù như chính trị
viên trong QĐNDVN, mà đa phần các công trình nghiên cứu việc phát triển
nhân cách theo TTHCM vào những lớp đối tượng chung như: đội ngũ cán bộ
quản lý; đội ngũ cán bộ quân đội; đội ngũ cán bộ, đảng viên; đội ngũ chính
ủy, chính trị viên nói chung.
Hai là, đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra xu hướng, yêu cầu cơ bản
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính
trị khóa IX “Về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện
chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên
trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đến nay đại đa số chính trị viên đã có
phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong thực tiễn phẩm
chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác của một bộ phận chính trị
viên còn bộc lộ hạn chế, khuyết điểm chưa tương xứng với cương vị, chức
trách, nhiệm vụ mà chính trị viên đảm nhiệm, điều đó đã tác động, ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của chính trị viên và đơn vị.
Trong khi đó, các công trình khoa học đã công bố, phần lớn chỉ tập trung đưa
ra đánh giá thực trạng và chỉ ra những yêu cầu, nguyên tắc trong xây dựng,
bồi dưỡng phát triển nhân cách theo TTHCM vào những lớp đối tượng chung
như: đội ngũ cán bộ, đảng viên; đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội;
hoặc đội ngũ cán bộ chính trị... Chưa đi vào đánh giá một cách toàn diện, hệ
thống về thực trạng, chỉ ra xu hướng và yêu cầu phát triển nhân cách ở một
đối tượng đặc thù là chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
24
Ba là, đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân cách chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM
Phần lớn các công trình khoa học đã công bố, chỉ tập trung luận
chứng và đưa ra nhiều hệ thống giải pháp toàn diện, có chiều sâu, mang tính
khả thi đối với quá trình xây dựng, bồi dưỡng, phát triển, hoàn thiện nhân
cách theo TTHCM ở các lớp đối tượng như: con người Việt Nam XHCN; đội
ngũ cán bộ, đảng viên; đội ngũ cán bộ, sĩ quan QĐNDVN; đội ngũ cán bộ
chính trị hoặc đội ngũ chính ủy, chính trị viên. Tuy nhiên, các công trình khoa
học đã công bố chưa tập trung, chuyên sâu đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản
mang tính toàn diện nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM. Nếu có đề cập tới vấn đề này thì mới chỉ dừng lại ở
những vấn đề mang tính gợi mở, định hướng chung cho cả đội ngũ chính ủy,
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay.
25
Chƣơng 1
THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1. Thực chất phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội
nhân dân Việt Nam theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách, nhân cách chính trị
viên và phát triển nhân cách chính trị viên
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị viên
Lịch sử ra đời, phát triển của quân đội trên thế giới cho thấy, bất cứ
giai cấp, nhà nước nào khi tổ chức ra quân đội cũng đều chú trọng xây dựng
đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy nhằm làm cho quân đội ấy phục tùng và bảo vệ
quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình. Tuy nhiên, chỉ từ khi có quân
đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản ra đời thì trong hệ thống lãnh đạo,
chỉ huy mới có một loại cán bộ đặc thù - chính ủy, chính trị viên. V.I Lênin,
lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới, người sáng lập, lãnh đạo giáo
dục và rèn luyện Hồng quân công nông đã khẳng định: “Không có các chính
uỷ, chúng ta sẽ không có Hồng quân” [34, tr.179].
Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về người chính ủy, chính trị
viên, thấu hiểu những bài học kinh nghiệm trong xây dựng Hồng quân công
nông, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, xuất phát từ điều kiện
nước ta một nước thuộc địa nửa phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát
triển làm phong phú thêm lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về cán bộ chính trị
nói chung, chính trị viên nói riêng của quân đội cách mạng. Cụ thể, tư tưởng
của Người về chính trị viên được thể hiện ở những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, vị trí, vai trò của chính trị viên
Vị trí, vai trò của chính trị viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định
rõ: Chính trị viên là người giữ phương hướng chính trị của toàn đơn vị, người
26
có tầm ảnh hưởng rộng lớn, là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đơn vị, có vai
trò quan trọng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của QĐNDVN.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính trị là vận mệnh của quân
đội cách mạng”, “con đường chính trị là cái kim chỉ nam của đội, chính trị
viên là người nắm cái kim chỉ nam ấy” [84, tr.52]. Chính trị viên là “người
nắm cái kim chỉ nam của đội”, bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị
dù trong hoàn cảnh, tình huống nào cũng đi đúng đường lối chính trị, quân sự
của Đảng, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm
vụ mà Đảng và nhân dân giao cho. Người nhấn mạnh: “Tư cách chính trị viên
có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy
tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”
[53, tr.392]. Vì vậy, “Trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính
trị viên phải phân định rõ ràng. Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong
mọi việc” [53, tr.393]. Thực tế khi chiến đấu “người chính trị viên phải ở trước
mặt trận”, để lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động chỉ huy tác chiến. Người chỉ rõ:
“Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc” [60, tr.319]. Với ý
nghĩa đó, cùng với người chỉ huy, chính trị viên có vai trò quan trọng trong việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của QĐNDVN trong mọi tình huống.
Thứ hai, về nhiệm vụ của chính trị viên
Nhiệm vụ của chính trị viên, được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Vô luận ở cấp nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính:
Đối với bộ đội,
Đối với nhân dân,
Đối với quân địch.
1. Đối với bộ đội, chính trị viên phải săn sóc luôn luôn đến sinh hoạt
vật chất của họ...Về mặt tinh thần, phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ
hóa, phát triển văn hóa, và đường lối chính trị trong bộ đội... phải biết rõ và
báo cáo cho cấp trên rõ chất lượng và số lượng của bộ đội mình. Khen thưởng
27
người tốt, trừng phạt người xấu.... phải thân thiết như một người chị, công
bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn.
2. Đối với nhân dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Chính
trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội...Muốn như thế, thì
phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc.
3. Đối với quân địch, gồm cả binh lính Pháp cùng những người ngoại
quốc và người Việt Nam trong quân đội Pháp, chính trị viên phải biết cách
tuyên truyền khôn khéo, thiết thực để giác ngộ họ, lôi kéo họ về phía ta [53,
tr. 392 - 393].
Khái quát trên đã biểu đạt một cách sâu sắc và tinh tế sự kết hợp
giữa tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân với giá trị truyền thống
quan hệ đối xử tốt đẹp trong gia đình, xã hội, và lòng nhân ái khoan dung
với kẻ thù của dân tộc Việt Nam được hội tụ trong người chính trị viên
Đồng thời, không chỉ khẳng định vị trí xã hội to lớn của chính trị viên mà
còn là cơ sở đúng đắn để hiểu rõ và phân định đúng cương vị, chức trách,
nhiệm vụ của chính trị viên trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng.
Từ các vấn đề trên cho thấy, TTHCM về chính trị viên được thể hiện ở
những luận điểm hết sức sâu sắc về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của chính trị viên ở
các đơn vị trong các lực lượng vũ trang cách mạng. Trong thực tiễn, TTHCM về
chính trị viên đã thực sự là nền tảng tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây
dựng người chính trị viên trong QĐNDVN ở mọi thời kỳ cách mạng.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách
Khái niệm nhân cách là một vấn đề khá phức tạp, tùy theo góc độ
tiếp cận để có sự quan niệm về nhân cách. Chẳng hạn:
Dưới góc độ tiếp cận của tâm lý học, trong “Từ điển tâm lý học” do
GS, TS Vũ Dũng (chủ biên) viết:
Nhân cách là một hệ thống chức năng vận động, tự điều chỉnh gắn liền
với các thuộc tính quan hệ và hành động tương hỗ với nhau, tích lũy trong quá
28
trình phát sinh cá thể của con người. Cấu tạo cốt yếu của nhân cách là sự tự
đánh giá, được xây dựng trên cơ sở những đánh giá về cá nhân bởi những
người người khác và đánh giá của người khác. Ở nghĩa rộng mang tính truyền
thống, nhân cách là cá nhân mang tính chủ thể của các mối quan hệ xã hội và
hoạt động có ý thức. Ở nghĩa hẹp, nhân cách là những phẩm chất có tính hệ
thống của cá nhân được quy định bởi việc tham gia vào các mối quan hệ xã
hội và được hình thành trong hoạt động chung và giao tiếp [9, tr.542].
Dưới góc độ tiếp cận của triết học, trong “Giáo trình triết học Mác -
Lênin” đề cập: “nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội -
sinh lý - tâm lý của cá nhân tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý
thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình”
[29, tr.476]. Từ các các góc độ tiếp cận trên, cho thấy các quan niệm đề cập
về nhân cách đều thống nhất ở vấn đề: nhân cách chỉ có ở con người,
nhưng không phải là con người nói chung mà ở từng cá nhân. Vì vậy, có
thể hiểu khái niệm nhân cách gắn liền với khái niệm con người và khái
niệm cá nhân. Sự khác nhau của những khái niệm này là do việc tiếp cận
con người theo những góc độ khác nhau.
Theo đó, có thể hiểu, nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá
nhân, là sự tổng hợp các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng
riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân
theo cách riêng của mình. Mỗi cá nhân tiếp thu những giá trị phổ biến của
văn hóa xã hội và qua sự lọc bỏ, tự tiếp nhận của cá nhân để hình thành các
giá trị định hướng của nhân cách. Các giá trị như lý tưởng, niềm tin, quan
hệ lợi ích, nhận thức và hành động được mỗi cá nhân lựa chọn để xác lập
các hành vi cụ thể, hình thành nhân cách trong quan hệ xã hội. C.Mác chỉ
rõ: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa
các quan hệ xã hội” [37, tr.11].
29
Trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại” [15, tr.123]. Như vậy, từ quan điểm của Đảng, có thể suy ra
TTHCM về nhân cách là sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo, có chọn
lọc các tư tưởng tinh hoa của các học giả trong lịch sử quan niệm về nhân
cách. Nhưng trực tiếp và cốt lõi nhất là tư tưởng của các nhà kinh điển triết
học Mác - Lênin quan niệm về nhân cách vào điều kiện cụ thể đất nước,
con người Việt Nam.
Quá trình nghiên cứu cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem xét
con người trong các mối quan hệ với cộng đồng, xã hội và trong những
điều kiện lịch sử cụ thể. Con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tồn tại
với tư cách một cá nhân, vừa là thành viên của gia đình, của cộng đồng, có
cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa phong phú. Người khái
quát: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa
rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người” [56, tr.644]. Theo lôgíc
phát triển tư tưởng ấy, khái niệm “con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
cận gắn với khái niệm “giai cấp vô sản cách mạng”, con người vừa là mục
tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực
của chính sự nghiệp đó.
Từ hướng tiếp cận trên, nhân cách mà Hồ Chí Minh đề cập đến là
nhân cách con người mới XHCN. Đó là, con người phát triển toàn diện, vừa
“hồng” vừa “chuyên”, vừa “đức” vừa “tài”, trong đó “đức” là gốc, nền tảng
tạo nên nhân cách con người mới XHCN. Người chỉ rõ: “Người cách mạng
phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ
cách mạng vẻ vang” [75, tr.283]. Hiển nhiên, yếu tố tài năng Chủ tịch Hồ Chí
30
Minh cũng không coi nhẹ, theo Người đạo đức phải đi đôi, gắn liền với tài
năng, thiếu một trong hai mặt đó đều là khiếm khuyết, Người khẳng định:
Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi
nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã
hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt
không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người [74, tr.172].
Mặt khác, khi đề cập về nhân cách, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề
cập đến mô hình nhân cách theo từng đối tượng cụ thể:
Đối với cán bộ, đảng viên của Đảng, ngay từ năm 1925, trong tài liệu
giảng cho lớp huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên của Đảng tại Trung
Quốc, sau này in thành tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), ở phần mở đầu
tác phẩm Người đã nêu lên 23 điều tư cách của một người cách mệnh, phản
ánh ở ba khía cạnh: thái độ đối với bản thân; thái độ đối với người khác và
thái độ đối với công việc. Đến năm 1949, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc”, Người chỉ ra 12 điều “Tư cách của Đảng chân chính cách mạng” và “6
điều tư cách, 6 điều bổn phận của người đảng viên” [55, tr.266]. Trước lúc đi
vào cõi vĩnh hằng, trong bản “Di chúc”, Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và
cán bộ phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí
công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người
lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [82, tr.504].
Đối với các tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân đến bộ đội, công
an, kĩ sư, bác sĩ, giáo viên, đoàn viên, thanh niên và tận các cháu thiếu niên,
nhi đồng, cùng với việc chỉ ra những chuẩn mực nhân cách cần phải có ở mỗi
đối tượng. Người còn chỉ rõ:
Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động
của một người trong xã hội có thể chia ra làm 3 mặt:
1. Mình đối với mình. Chớ tự kiêu, tự đại...Luôn cầu thị tiến bộ…Luôn
tự kiểm điểm, tự phê bình.., phải hoan nghênh người khác phê bình mình.
31
2. Mình đối với người…Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít
thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những
người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ…Phải thực hành bác - ái.
3. Mình đối với công việc. Phải để công việc nước lên trên, trước việc
tư, việc nhà…Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không?
Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm [56, tr.643 - 645].
Từ các vấn đề trên có thể hiểu nhân cách Hồ Chí Minh đề cập: là tổng
hòa hệ thống phẩm chất và năng lực theo chuẩn mực chung của xã hội, được
hình thành trong hoạt động nhận thức, cải tạo xã hội và thể hiện bản chất của
mỗi người trong quá trình giải quyết các mối quan hệ xã hội và chính bản
thân mình. Như vậy, nhân cách theo Hồ Chí Minh gắn với một cá nhân con
người cụ thể, được hình thành, phát triển và bộc lộ ra trong quan hệ xã hội và
tự ý thức về hành vi nhân cách của mỗi cá nhân con người, nó vừa có những
chuẩn mực nhân cách riêng, vừa mang những chuẩn mực nhân cách chung
của hệ thống các quan hệ xã hội, trong sự thống nhất biện chứng giữa cái
chung với cái đặc thù và cái riêng.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách của chính trị viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc” [55, tr.269], muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc
kém. Với ý nghĩa đó, “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí,
dũng, nhân, tín, liêm, trung” [52, tr.479]. Đối với chính trị viên, Chủ tịch Hồ
Chí Minh càng yêu cầu cao về nhân cách của họ. Chính trị viên không chỉ hội
tụ đầy đủ những đức tính trên, mà họ còn là người tiêu biểu thực sự về phẩm
chất, năng lực và phong cách, tác phong công tác của người lãnh đạo, chỉ huy,
người anh, người chị, người bạn của đội viên.
Thứ nhất, phẩm chất của chính trị viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Đạo đức cách mạng là quyết tâm
suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất” [75,
tr.281]. Điều chủ chốt nhất trong đạo đức cách mạng cũng là nét đặc trưng
32
bản chất nhất và là tiêu chuẩn hàng đầu của chính trị viên là phải: “Trung với
Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc,
vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt
qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [81, tr.349]. Do đó, Người yêu cầu: “Chính
trị viên phải là người giác ngộ cách mạng sâu sắc, nhận thức cách mạng vững
vàng, lý luận cách mạng khá. Đồng thời phải là người có kinh nghiệm chính
trị dồi dào” [84, tr.56].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi chính trị viên phải thực sự gương mẫu
trong sinh hoạt và công tác, nêu gương sáng về; “cần, kiệm, liêm chính, chí
công vô tư” về; “nhân , lễ, trí, dũng, liêm, trung”, thực hiện: “lo hoàn thành
nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần,
không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” [75, tr.284], luôn chăm lo
lợi ích cho đội viên, Người căn dặn: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được
kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ
đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt” [63, tr.207].
Thứ hai, năng lực của chính trị viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý xây dựng đồng bộ và hệ thống các
yếu tố cấu thành nhân cách người cán bộ cách mạng, trong đó có chính trị
viên, đó là: “đức” và “tài”. Người không bao giờ tuyệt đối hóa, hoặc coi nhẹ,
xem thường một yếu tố nào. Vai trò quan trọng của mỗi phẩm chất và mối
quan hệ mật thiết giữa đức và tài trong lĩnh vực quân sự được người chỉ rõ:
Nói về súng, đạn, xe tăng, máy bay thì có cái ta không có. Nhưng tại
sao nói ta mạnh hơn? Vì thế của ta mạnh hơn. Nói về người lính. Tinh thần
anh lính đứng đằng sau khẩu đại bác của địch rất thấp, nên đại bác chỉ là một
cục sắt. Còn bộ đội ta chỉ có tiểu liên nhưng biết vì ai mà đánh, đánh như thế
nào, nên tin ở kháng chiến nhất định thắng lợi, tin vào lực lượng tinh thần của
dân ta, cái gì cũng làm được [68, tr.113].
Với chính trị viên là người có vị trí, vai trò quan trọng trên các mặt
công tác, trên nhiều lĩnh vực, trong các hoạt động với nhiều đối tượng khác
33
nhau. Vì vậy, hơn ai hết “Người chính trị viên phải có rất nhiều tư cách lãnh
đạo, rất nhiều năng lực. Công việc chính trị viên phức tạp chừng nào thì cần
họ có đủ năng lực chừng ấy” [84, tr.56]. Năng lực của người chính trị viên
bao hàm cả năng lực nhận thức và năng lực hành động thể hiện trình độ trí tuệ
cao và trình độ tổ chức thực tiễn giỏi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên:
“Học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối
với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến
của chủ nghĩa Mác - Lê nin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực
tiễn ở nước ta” [75, tr.292]. Theo tinh thần ấy, chính trị viên phải là người có
trình độ hiểu biết sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan
điểm của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước và có năng lực vận
dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn công tác của mình.
Cùng với người chỉ huy, chính trị viên là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ
huy đơn vị. Do đó, Người căn dặn chính trị viên: “Các chú phải học tư tưởng
chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ
huy chiến đấu, v.v…Tóm lại là học để nâng cao trình độ của người chỉ huy”
[60, tr.319]. Theo đó, chính trị viên không chỉ có kiến thức chuyên sâu, vững
vàng về chính trị, mà phải có kiến thức quân sự và khả năng tổ chức chỉ huy
các hoạt động quân sự, cũng như phải có kiến thức về khoa học kỹ thuật, về
văn hóa giáo dục v.v.. Có như vậy, chính trị viên mới hoàn thành được cương
vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thứ ba, phong cách, tác phong công tác của chính trị viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn: “Người chính trị viên
không phải một ông quan suốt ngày ngồi bàn giấy viết thông báo và chỉ thị”
mà phải “nhúng tay vào mọi việc để do đó dìu dắt người khác” [84, tr.56]. Vì
vậy, chính trị viên phải có phong cách, tác phong khoa học, mẫu mực; phải
34
giáo dục, thuyết phục bằng lẽ phải, bằng nêu gương tốt việc tốt, bằng chính sự
gương mẫu của mình, phải có tác phong quần chúng, dân chủ, tập thể sâu sát.
Người căn dặn chính trị viên phải: “Từ trong quần chúng ra, trở lại nơi
quần chúng…Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt” [55, tr.291] và “phải chân đi,
mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ” [57, tr.711]. Làm người kiểu
mẫu, “từ công việc nhỏ đến công việc to đều như thế, gặp lúc gay go, nguy
hiểm chừng nào thì người lãnh đạo càng xông pha bước trước chừng ấy” [84,
tr.57], có như vậy, chính trị viên mới cảm hóa, lôi cuốn được bộ đội hăng hái
tham gia vào thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của đơn vị.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nhân cách của chính trị viên
Tiếp cận từ phương pháp luận triết học, TTHCM về phát triển là sự
tiếp thu, kế thừa, có chọn lọc các tư tưởng tinh hoa của các nhà tư tưởng
triết học trong lịch sử nhân loại, nhưng trực tiếp, cốt lõi nhất là quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm về phát triển. Vì vậy, TTHCM về
phát triển có sự thống nhất với quan điểm phát triển của chủ nghĩa Mác -
Lênin, nhưng mang sắc thái đặc sắc Hồ Chí Minh.
Thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin phát triển là tất
yếu khách quan, là quá trình tích lũy dần dần về lượng, dẫn đến sự chuyển
hóa về chất của sự vật và quá trình phát triển này diễn ra quanh co, phức tạp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính cam go, gian khổ, quyết liệt trong
sự phát triển của xã hội và mỗi bản thân con người. Người chỉ rõ: “Sự phát
triển của lịch sử là quy luật không ai ngăn cản được” [78, tr.20], sự phát triển
trong đời sống xã hội và bản thân mỗi con người là: “Phải kinh qua cuộc đấu
tranh giữa cái cũ và cái mới trong bản thân mình: một cuộc đấu tranh gay go,
gian khổ và liên tục. Nhưng ta kiên quyết thì cái mới nhất định thắng cái cũ
và chính tâm nhất định thành công” [70, tr.216].
Thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nguồn gốc
động lực của sự phát triển nằm ngay bên trong mỗi sự vật, hiện tượng, là quá
35
trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến
quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa cái tích cực và cái tiêu cực,
giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa thiện và ác, giữa
chính và tà.., trong đời sống xã hội và mỗi bản thân con người. Người chỉ rõ:
“Một chế độ này biến thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu tranh gay go,
kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái
thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển. Kết quả là
cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng” [78, tr.20].
Thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin phát triển có
tính kế thừa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải rõ sự kế thừa trong quá trình
xây dựng xã hội mới và con người mới XHCN, đó là:
Không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì
cũ mà xấu, thì phải bỏ…Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải
sửa đổi lại cho hợp lý…Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…Cái gì mới
mà hay, thì phải làm [51, tr.94 - 95].
Từ góc độ tiếp cận trên, TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị
viên được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, phát triển nhân cách của chính trị viên là tất yếu khách quan,
là quá trình tiếp nhận và giải quyết mâu thuẫn giữa hiện trạng phẩm chất,
năng lực và phong cách, tác phong công tác của mỗi chính trị viên, với yêu
cầu cao về các chuẩn mực nhân cách đó của chính trị viên trong thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Riêng các chú chính trị biểu hiện ra
trong lúc đánh giặc” và “Người chính trị viên tốt thì bộ đội ấy tốt, người chính
trị viên không làm tròn nhiệm vụ thì bộ đội ấy không tốt”. Như vậy, tính
khách quan của việc phát triển nhân cách chính trị viên được quy định từ
chính nhiệm vụ của người chính trị viên đảm nhiệm. Người nhấn mạnh theo
36
quy luật chung: “Sự hiểu biết phát sinh, phát triển cũng là vô cùng. Cứ tiến
lên mãi, thì sự hiểu biết cũng sâu sắc thêm mãi. Sự biến đổi trong thế giới
không bao giờ hết, cho nên sự hiểu biết trong thực hành cũng không bao giờ
hết” [61, tr.248]. Với tinh thần đó, đặt ra yêu cầu người chính trị viên cần phải
luôn luôn giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu rất cao về nhân cách của người
lãnh đạo, chỉ huy, người anh, người chị, người bạn của đội viên với hiện trạng
phẩm chất, năng lực và phong cách, tác phong công tác của mỗi chính trị
viên. Chính giải quyết được mâu thuẫn này, đưa đến kết quả trong thực tiễn
nhân cách chính trị viên ngày càng phát triển, củng cố vững chắc nâng lên nấc
thang mới về nhân cách, đáp ứng chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, phát triển nhân cách của chính trị viên là một quá trình tự
giác, thông qua tác động tích cực của các chủ thể giáo dục, bồi dưỡng, rèn
luyện nhân cách và khả năng tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nhân cách ở
mỗi chính trị viên nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và phong cách, tác
phong công tác của họ, đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc
của Đảng”. Do đó, Người yêu cầu:
Các cơ quan cần phải rất chú ý đến việc huấn luyện cán bộ…Những
người lãnh đạo cần tham gia việc dạy…Nhưng phải tùy theo hoàn cảnh mà
bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác, để cho họ phát
triển năng lực và sáng kiến của họ, đúng với đường lối của Đảng…Luôn luôn
tìm cách cho họ học thêm lý luận và cách làm việc, làm cho tư tưởng, năng
lực của họ ngày càng tiến bộ [55, tr. 275, 276].
Đồng thời, Người cũng chỉ ra: “Không phải chỉ ở tại nhà trường, có
lên lớp, mới học tập tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo được. Trong mọi hoạt
động cách mạng, chúng ta đều có thể và đều phải học tập, tự cải tạo” [75,
tr.284]. Với ý nghĩa đó, phát triển nhân cách chính trị viên không phải là tự
37
phát mà là quá trình tự giác. Quá trình đó thể hiện ở sự tác động tích cực của
các chủ thể giáo dục, rèn luyện nhân cách và khả năng tự giáo dục, tự bồi
dưỡng, tự rèn luyện nhân cách của từng chính trị viên nhằm phát triển, hoàn
thiện các yếu tố cấu thành nhân cách theo các chuẩn mực nhân cách chung
của người chính trị viên cần phải có. Vì vậy, Người đòi hỏi mỗi chính trị viên:
Phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng, củng cố lập trường giai cấp
công nhân, nâng cao trình độ chính trị và quân sự, phát huy truyền thống tốt
đẹp của quân đội ta; Phải tuyệt đối chấp hành đường lối, chính sách của Đảng
và chính phủ, hết sức gần gũi và đoàn kết chặt chẽ với chiến sĩ. Dù ở cương vị
nào, các đồng chí phải luôn luôn gương mẫu, luôn luôn xứng đáng là người
đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân [79, tr.275].
Thứ ba, phát triển nhân cách của chính trị viên là quá trình chuyển
hóa phẩm chất, năng lực và phong cách, tác phong công tác của chính trị viên
vào thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Nhân cách của chính trị viên phải được thể hiện ra ở kết quả công
việc, sự tận tâm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ cụ thể của mỗi người
trong mọi công việc, đặc biệt là trong chiến đấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ: “Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà
không biết đánh giặc thì vô dụng [60, tr.318]. Như vậy, phát triển nhân
cách chính trị viên không chỉ dừng lại ở vấn đề giải quyết mâu thuẫn, ở
việc chủ thể giáo dục, rèn luyện nhân cách và khả năng tự giáo dục, tự bồi
dưỡng, tự rèn luyện phát triển nhân cách của từng chính trị viên, mà sự
phát triển đó còn phải được thể hiện thông qua sự chuyển hóa các yếu tố
cấu thành nhân cách chính trị viên vào thực tiễn thực hiện cương vị, chức
trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thực hành là kích thước của sự
thật, là nền tảng của hiểu biết” [61, tr.254]. Từ đó cho thấy, quá trình chính trị
38
viên chuyển hóa những giá trị nhân cách vào thực tiễn thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ thì phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong
công tác của họ được thực tiễn kiểm chứng. Bản thân họ nhận thức được, thấy
được cái tốt, cái xấu, cái phù hợp, cái không phù hợp, cái tiến bộ, cái lạc hậu
trong nhân cách của mình và tự mình có sự điều chỉnh bổ sung những cái
thiếu hụt, phát huy các mặt tích cực, tiến bộ trong nhân cách của mình, hiển
nhiên nhân cách chính trị viên không ngừng phát triển.
Từ các luận điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể hiểu: Phát
triển nhân cách của chính trị viên là quá trình tự giác tiếp nhận giải quyết
mâu thuẫn và chuyển hóa không ngừng, nâng lên một trình độ mới về phẩm
chất năng lực và phong cách, tác phong công tác của người chính trị viên,
thông qua sự tác động tích cực của các chủ thể giáo dục, bồi dưỡng, rèn
luyện nhân cách và tinh thần khả năng tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện
nhân cách của người chính trị viên đáp ứng yêu cầu thực tiễn thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
1.1.2. Quan niệm chính trị viên và nhân cách chính trị viên trong
Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Quan niệm chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM
Trong quá trình xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị, sự quan
tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
trong quân đội, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị nói chung, chính
trị viên nói riêng. Do đó, Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói chỉ đạo chuyên
sâu đối với chính trị viên tiêu biểu như: “Cuốn sách của chính trị viên”, “Thư gửi
hội nghị chính trị viên”, “Bài nói chuyện tại Trường Chính trị Trung cấp quân
đội”... Nhưng, điều độc đáo Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một quan niệm
có tính kinh điển về chính trị viên trong QĐNDVN. Song, qua nghiên cứu các
bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính trị viên đã hàm chứa nhiều
vấn đề sâu sắc, được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
39
Thứ nhất, chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là một bộ phận
cán bộ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm đại biểu của Đảng bên cạnh
người chỉ huy ở các đơn vị phân đội.
Điều quan trọng hàng đầu của quân đội cách mạng là phải có con
đường chính trị đúng, coi đó là điểm khác biệt về bản chất giữa quân đội cách
mạng với quân đội của giai cấp bóc lột. Ngay từ những ngày đầu của cách
mạng, khái niệm “đại biểu Đảng” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
xác định trong “Nghị quyết về đội tự vệ” tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng
(3/1935) là: “Trong các ban chỉ huy tự vệ ở cấp trung đội và đại đội bên cạnh
đội trưởng và phó đội trưởng có một đại biểu của Đảng” [10, tr.67]. Hội nghị
lần thứ Tám của Trung ương Đảng (5/1941), do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì
đã định ra “Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”, trong đó nêu rõ:
Mỗi trung đội, đại đội và liên đội tiểu tổ du kích có đội trưởng, đội phó chỉ
huy quân sự, còn về mặt chính trị có một ủy viên chính trị chỉ huy. Cuối năm
1941, đội du kích tập trung đầu tiên được thành lập tại Cao Bằng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh trực tiếp chỉ đạo xây dựng chi bộ, lựa chọn cấp ủy, lựa chọn đội
trưởng và chính trị viên. Trong cuốn “Chiến thuật du kích”, Người chỉ rõ: “về
mặt chính trị cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách
mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm” [46, tr.472].
Tháng 12 năm 1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền
thân của Quân đội ta ngày nay được thành lập. Trong chỉ thị thành lập Đội,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “chính trị trọng hơn quân sự” và “tổ chức
của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo” [47, tr.507]. Trước yêu
cầu phát triển mạnh mẽ của các đơn vị vũ trang, ngày 4 tháng 6 năm 1945,
Trung ương Đảng đã quyết định: “đặt chính trị viên trong quân đội”, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trực tiếp bồi dưỡng, biên soạn “Cuốn sách của chính trị viên”
trong quân đội. Đây là tài liệu đầu tiên xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của
người chính trị viên trong QĐNDVN.
40
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời. Đáp ứng với sự phát triển của cách mạng nước ta,
ngày 22/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 71/SL đổi tên Vệ
quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam (nay là QĐNDVN). Trong sắc
lệnh quy định: “Từ cấp trung đội trở lên, bên cạnh người chỉ huy quân sự, có
chính trị viên” và chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính trị viên.
Từ đó đến nay, ở các đơn vị trong quân đội (lúc đầu từ cấp trung đội, sau từ
đại đội, tiểu đoàn và tương đương) bên cạnh người chỉ huy quân sự, bao giờ
cũng có người cán bộ chính trị - người tiêu biểu cho đường lối chính trị, quân
sự của Đảng, chịu trách nhiệm chủ yếu trước Đảng về bản chất cách mạng
trong các đơn vị được phân công.
Trong các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cán bộ chính trị
trong quân đội được gọi là “chính trị phái viên”, “chính trị chỉ đạo viên”,
“chính trị ủy viên” và sau đó gọi là “chính trị viên”. Bởi theo Người, chính trị
viên là một bộ phận cán bộ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự
tiêu biểu cho ngọn cờ chính trị, tư tưởng của Đảng, vững vàng trên lập trường
giai cấp công nhân, thấu suốt và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Họ là người đại biểu của Đảng bên
cạnh người chỉ huy, hơn ai hết họ là người giữ nghiêm kỷ luật Đảng, nắm vững,
thực hiện tốt các nguyên tắc của Đảng, thật sự tiêu biểu cho sự đoàn kết thống
nhất trong tổ chức đảng và trong toàn đơn vị.
Thứ hai, chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là người chủ trì về
chính trị ở các đơn vị phân đội, có nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết các mối
quan hệ chính trị - xã hội với bộ đội, với nhân dân và với quân địch.
Theo TTHCM “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc,
vô dụng lại có hại” [60, tr.318]. Nội dung chính trị ở đây là sự giác ngộ mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu, là thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản hoà quyện
với bản sắc của con người Việt Nam, là đạo đức mới, là tinh thần, ý chí quyết
41
chiến, quyết thắng của người quân nhân cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ rõ: “Chính trị viên là linh hồn của đội. Công việc chính trị viên rất nhiều
và nặng” [84, tr.52]. Ở các đơn vị đảm nhiệm, chính trị viên chịu trách nhiệm
chủ yếu về công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, xây dựng nhân tố
chính trị tinh thần ở các đơn vị phụ trách bảo đảm cho mọi hoạt động của đơn
vị theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng.
Ở phạm vi lãnh đạo, quản lý của chính trị viên được xác định là ở các
đơn vị phân đội, nhưng vai trò và nhiệm vụ của họ không chỉ khuôn lại trong
giải quyết mối quan hệ với bộ đội, mà họ còn có chức trách, nhiệm vụ quan
trọng trong giải quyết mối quan hệ với nhân dân và với quân địch. Theo
TTHCM “Vô luận ở cấp bậc nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính: 1. Đối với
bộ đội; 2. Đối với nhân dân; 3. Đối với quân địch”.
Đối với bộ đội, Người đề cập: “Về mặt chính trị, việc chuẩn bị tinh thần
là quan trọng nhất, phải chuẩn bị cho đội viên hiểu rõ nhiệm vụ của mình, phải
đề cao tinh thần hy sinh chiến đấu” [84, tr.50]. Do đó, “Chính trị viên phải làm
thế nào cho ý chí của mình thành ý chí của toàn đội, hành động của mình thành
hành động của toàn đội và cả đội đoàn kết chung quanh mình như một người”
[84, tr.56]. Vì vậy, đòi hỏi chính trị viên cần phải thường xuyên quan tâm
chăm sóc bộ đội từ ăn, mặc, nghỉ, luyện tập, công tác, sức chiến đấu; nâng cao
kỷ luật, nắm chắc số lượng, chất lượng của bộ đội mình; khen thưởng kịp thời
người tốt, trừng phạt nghiêm khắc người xấu. Đặc biệt, Người nhấn mạnh
chính trị viên: “Phải săn sóc họ, làm sao cho họ đủ ăn, đủ mặc… phải làm thế
nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến
chiến sĩ” [65, tr.514], bảo đảm cho bộ đội ăn no, đánh thắng.
Đối với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn chính trị viên:
“bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà đó là cái đích của anh em; trung
với nước, hiếu với dân” [50, tr.239]. Do đó, phải thực hành dân chủ tốt, kỷ luật
42
nghiêm, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Trọng trách của “Chính trị viên
phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Phải làm sao cho bộ đội được
dân tin, dân phục, dân yêu”.
Đối với quân địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, giáo
dục “chính trị viên phải biết cách tuyên truyền khôn khéo, thiết thực, để giác ngộ
họ, lôi kéo họ về phía ta”, còn đối với địch hàng ta phải khoan dung độ lượng.
Đó là, việc làm thể hiện rõ tính nhân đạo, nhân văn cao cả của người cách mạng
và cũng là nhiệm vụ của chính trị viên.
Cùng với ba nhiệm vụ chính, nhiệm vụ của chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM còn được xác định: “Người chính trị viên phải ở
trước mặt trận để trông nom bộ đội thi hành đúng kế hoạch đã định... Trong lúc
chiến đấu nếu không may người chỉ huy quân sự bị thiệt mạng thì người chính
trị viên chỉ định người thay, hay tự mình đứng lên thay cũng được” [84, tr.56].
Như vậy, chính trị viên là những cán bộ lãnh đạo đồng thời là thành viên của
bộ máy chỉ huy, họ có trách nhiệm tham gia công tác chỉ huy, quản lý, điều
hành, duy trì kỷ luật, kiểm tra đôn đốc mọi hoạt động của đơn vị.
Thứ ba, chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM không chỉ giữ vai
trò là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, mà còn là người anh, người chị và
người bạn của đội viên.
Hệ thống chỉ huy, cán bộ chỉ huy là một thành tố quan trọng cấu
thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, một bộ phận rất quan trọng
trong tổ chức của quân đội. Trong đó, chính trị viên tham gia công tác chỉ huy,
quản lý chủ yếu và trước hết với tư cách người cán bộ Đảng, người chủ trì về
chính trị, người đảm nhiệm công tác tư tưởng, công tác tổ chức của Đảng ở các
đơn vị phân đội. Trên cương vị của mình, chính trị viên phải hướng dẫn mọi
hoạt động của đơn vị đi đúng đường lối, quan điểm của Đảng, bảo đảm cho
mọi người, mọi tổ chức trong đơn vị không ngừng trưởng thành vững mạnh, đủ
sức hoàn thành mọi nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài. Người chỉ rõ: “Trách
43
nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng.
Chính trị viên phải làm kiểu mẫu trong mọi việc”. Với tinh thần đó, là thành
viên của bộ máy chỉ huy, chính trị viên và người chỉ huy phải là hạt nhân lãnh
đạo, trung tâm đoàn kết của các tổ chức đảng và đơn vị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không
có quần chúng thì không làm gì được” [63, tr.207], cán bộ dù ở cương vị nào
“cũng chỉ là người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận. Lúc ra trận, việc đặt
mìn, phá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm” [60, tr.320]. Do đó, Người đòi
hỏi chính trị viên phải quan tâm xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa cán
bộ với chiến sĩ trong đơn vị mình đảm nhiệm, trên cơ sở ở sự thống nhất mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Người ví cán bộ như “đầu óc”, đội viên
như “chân tay” trong một cơ thể thống nhất. Tuy nhiên, bên cạnh sự thống nhất,
giữa cán bộ và chiến sĩ có điểm khác nhau: cán bộ là chủ thể lãnh đạo, quản lý,
chỉ huy; chiến sĩ là đối tượng của sự lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đó. Vì vậy, trong
mối quan hệ đó, đội ngũ cán bộ, nhất là chính trị viên có trách nhiệm chính và
phải ý thức rõ vai trò to lớn của chiến sĩ.
Hơn nữa, nước ta vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên thói
quen lạc hậu và tư tưởng gia trưởng còn ảnh hưởng nặng nề, nhất là trong môi
trường quân sự càng dễ nảy sinh bệnh quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, quân
phiệt.., trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, Người thường xuyên nhắc nhở:
“Cán bộ phải thương yêu đội viên”; “Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì
đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt” với “người chính trị viên phải là người
anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết
nhiệm vụ [59, tr.109]. Là “người anh”, “người chị”, “người bạn” của đội viên,
chính trị viên không chỉ thể hiện trách nhiệm cao của mình với đội viên thuộc
quyền, mà còn mà còn biểu lộ thái độ, tình cảm chân tình, thân thiết như những
người “máu mủ” trong cùng một gia đình.
44
Từ các nội dung trên, bước đầu có thể quan niệm: Chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM là một bộ phận cán bộ chính trị của Đảng Cộng sản
Việt Nam, làm đại biểu của Đảng bên cạnh người chỉ huy ở các đơn vị phân
đội, giữ cương vị chủ trì về chính trị, có nhiệm vụ quan trọng trong giải quyết
các mối quan hệ chính trị - xã hội với bộ đội, với nhân dân, với quân địch, họ
không chỉ là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, mà còn là người anh, người
chị, người bạn của đội viên.
Hiện nay, trên cơ sở Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa
IX), xác định: “Ở mỗi cấp có chính ủy (hoặc chính trị viên) là người chủ trì về
chính trị và cơ quan chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị của
đơn vị, hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo hướng dẫn của cấp ủy, cơ quan
chính trị, chính ủy (hoặc chính trị viên) cấp trên và sự lãnh đạo trực tiếp của cấp
ủy cùng cấp” [1, tr.3]. Chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay đã được chính
thức ghi trong Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; là một chức danh cán
bộ nhà nước được các cấp có thẩm quyền bổ nhiệm theo đúng pháp luật định.
Trong quy định Luật Sĩ quan và các quy định, hướng dẫn của Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng xác định: “Từ cấp đại đội và tương đương đến cấp tiểu
đoàn và tương đương có chính trị viên” [21, tr.71], những người được bổ nhiệm
vào cương vị chính trị viên các cấp phải là những sĩ quan, sĩ quan chính trị được
đào tạo, bồi dưỡng có đủ phẩm chất, năng lực và đáp ứng các điều kiện cần thiết.
Trong “Từ điển Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân
Việt Nam” viết:
Chính trị viên là người chủ trì về chính trị, chịu trách nhiệm trước cấp
trên, cấp ủy cấp mình về toàn bộ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị
trong các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam ở cấp trung đội (đến năm
1950), ở cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn (từ 10/1948 gọi là chính ủy) theo
chức trách, nhiệm vụ; cùng người chỉ huy chịu trách nhiệm về toàn bộ các
45
mặt hoạt động của đơn vị; cùng người chỉ huy tổ chức, xây dựng đơn vị vững
mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao [111, tr.73].
Theo tinh thần Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa
IX); Quyết định số 85/QĐ-ĐUQSTW của Thường vụ Đảng ủy Quân sự
Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương). Tổng cục Chính trị đã ban hành
Quyết định số 1723/QĐ-CT về chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay. Đồng thời, tại điều 27, Điều lệ Công tác đảng,
công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (2007), đã xác định
rất cụ thể 3 nội dung chức trách và 13 nhiệm vụ của người chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay [21, tr.71 - 75]. Theo các văn bản trên chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay được xác định: Là những sĩ quan chính trị
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ cương vị
chính trị viên các đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn và tương đương phù hợp
với quy định về tổ chức biên chế của các đơn vị; là người chủ trì về chính
trị, đảm nhiệm toàn bộ hoạt động CTĐ, CTCT cùng người chỉ huy tổ chức
thực hiện kế hoạch công tác chung của đơn vị; là một trong hai người có
trách nhiệm và quyền hạn cao nhất trong đơn vị, hoạt động dưới sự lãnh
đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy, cơ quan chính trị, chính ủy, chính trị
viên, người chỉ huy cấp trên và sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cùng cấp .
Với sự xác định trên cho thấy, quan niệm về chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay đã thể hiện rõ sự nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng
tạo, bổ sung, phát triển, hoàn thiện sâu sắc thêm TTHCM về chính trị viên và
chính trị viên trong QĐNDVN, phù hợp quá trình xây dựng và chiến đấu của
quân đội, xây dựng cán bộ chính trị, chính trị viên trong thời kỳ mới.
* Quan niệm nhân cách của chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam theo TTHCM
Theo TTHCM một vấn đề mang tính tất yếu, để trở thành chính trị viên
trong QĐNDVN, thì trước hết phải là những công dân ưu tú, được tổ chức,
46
đoàn thể lựa chọn, huấn luyện, đào tạo và tự bản thân mỗi người phải tự phấn
đấu, rèn luyện để trở thành cán bộ, đảng viên của Đảng hoạt động trong lĩnh
vực quân sự. Do đó, nội dung nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM có sự thống nhất với hai yếu tố cơ bản đức và tài (phẩm chất và
năng lực) cấu thành nhân cách con người mới XHCN và hội tụ đầy đủ hệ thống
phẩm chất, năng lực và phong cách, tác phong công tác người cán bộ, đảng
viên của Đảng, người cán bộ của quân đội. Nhưng mang sắc thái nhân cách đặc
thù người cán bộ chính trị của Đảng hoạt động trong quân đội. Vì vậy, nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM không chỉ phản ánh
nhân cách của người giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy đơn vị mà còn thể hiện
nhân cách của người anh, người chị, người bạn của đội viên.
Thứ nhất, về phẩm chất chính trị, đạo đức
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ… phải hiểu phong triều thế
giới” [42, tr.522]. Ở góc độ là nhà lãnh đạo chính trị, Người đòi hỏi phẩm
chất nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN, trước hết là người tiêu
biểu về phẩm chất chính trị, sự kiên định vững vàng về lập trường, quan điểm.
Bởi, “con đường chính trị là cái kim chỉ nam của đội, chính trị viên là người
nắm cái kim chỉ nam ấy”, đòi hỏi chính trị viên phải đứng về mặt chính trị mà
xem xét, đo lường cân nhắc lợi, hại trước khi làm. Họ phải hướng mọi hoạt
động của bộ đội, của đơn vị đi đúng phương hướng, đường lối chính trị của
Đảng và thật sự hiểu rõ, thấm nhuần mọi đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân,
không ngại hy sinh, gian khổ, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Đặc biệt, Người nhấn mạnh trong chiến đấu, gặp bước gay go nguy
hiểm đòi hỏi chính trị viên “phải hết sức ngăn cản sự hoảng hốt chán nản, nâng
cao tinh thần và ý chí chiến đấu của bộ đội để chiến thắng quân thù” [84, tr.51].
Trong khoảnh khắc cam go, ác liệt đó, sự kiên định, vững vàng về lập trường,
47
quan điểm của chính trị viên có ý nghĩa quyết định đến tinh thần, ý chí chiến
đấu cho cán bộ, chiến sĩ của đơn vị. Vì thế, đòi hỏi điều chủ chốt nhất chính trị
viên phải luôn nhận rõ phải, trái, giữ vững lập trường, tận trung với nước, tận
hiếu với dân, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng.
Theo TTHCM, chính trị viên trong QĐNDVN phải thực sự sự nêu
gương sáng mẫu mực về đạo đức, lối sống. Người căn dặn: “Trước mặt quần
chúng, không phải cứ viết lên trán chữ cộng sản mà ta được họ yêu mến.
Quần chúng chỉ quí mến những người có tư cách đạo đức”. Theo đó, sự mẫu
mực về đạo đức, lối sống là phẩm chất quan trọng hàng đầu trong nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN. Vì với họ, chỉ cần một “vết” nhỏ là có thể
đã gây nên những băn khoăn, nghi ngờ của các quân nhân trong đơn vị, từ đó
hiệu quả lãnh đạo đơn vị, giáo dục, cảm hóa bộ đội sẽ giảm đi. Người nhấn
mạnh: “Một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên
truyền” [41, tr.263]. Vì vậy, chính trị viên phải thực sự gương mẫu về mọi mặt,
nêu gương sáng về phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư” của người cán bộ, đảng viên của Đảng; về phẩm chất “trí, dũng,
nhân, tín, liêm, trung” của người cán bộ quân đội; trong cuộc sống không thu
vén lợi ích cá nhân, lấy của công làm của tư, luôn chăm lo lợi ích cho bộ đội.
Với tinh thần: Bộ đội chưa ăn cơm, chưa đủ áo mặc, chưa đủ chỗ ở, cán bộ
không được kêu mình đói, mình rét, mình mệt.
Phẩm chất nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM
còn biểu hiện ở lòng yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa. Tình yêu
thương con người của chính trị viên là phải có lòng tin vào sức mạnh của bộ
đội, phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi quân nhân thuộc quyền.
Bản thân chính trị viên phải luôn nghiêm khắc với mình, sống độ lượng, thực
sự tiêu biểu là người sống có tình có nghĩa, tôn trọng và coi đội viên như chân
tay của mình, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi người quân nhân,
hướng mọi quân nhân tu dưỡng, rèn luyện đến cái chân, cái thiện và cái mỹ.
48
Thứ hai, về năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có tài phải có đức. Có tài không có
đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi
trong chùa, không giúp ích gì được ai” [71, tr.184]. Chính trị viên là người
giữ vị trí, vai trò quan trọng trên các mặt công tác, trên nhiều lĩnh vực và hoạt
động với nhiều đối tượng khác nhau. Đòi hỏi năng lực tổ chức thực hiện
nhiệm vụ của họ phải ở trình độ trí tuệ cao, trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt
và trình độ tổ chức, giáo dục, chỉ huy bộ đội giỏi.
Năng lực của chính trị viên trong thực hiện nhiệm vụ, được Người khái
quát thành luận điểm kinh điển cho lớp lớp chính trị viên lấy đó làm tiêu chí ,
rèn luyện, phấn đấu đó là: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc
đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu
mà không biết đánh giặc thì vô dụng”. Để chính trị được biểu hiện ra trong
lúc đánh giặc đòi hỏi chính trị viên phải có sự hiểu biết những tri thức khoa
học chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kĩ thuật và khả năng tổ chức chỉ huy
các hoạt động quân sự v.v.. nhằm nâng cao trình độ của người chỉ huy, chứ
không sẽ rơi vào lý luận chính trị suông, giáo điều, sách vở. Người nhấn
mạnh: “Chính trị viên phải có nhiều năng lực lãnh đạo, năng lực này phải đủ
mọi mặt quân sự lẫn chính trị, năng lực về tuyên truyền, tổ chức, sắp xếp kế
hoạch, năng lực giải quyết vấn đề cấp bách cũng như vấn đề sinh hoạt hàng
ngày về chính trị hay vật chất” [84, tr.22] và “Người chính trị viên phải ở
trước mặt trận để trông nom bộ đội thi hành đúng kế hoạch đã định... Trong lúc
chiến đấu nếu không may người chỉ huy quân sự bị thiệt mạng thì người chính
trị viên chỉ định người thay, hay tự mình đứng lên thay cũng được”. Đó là tiêu
chí phản ánh năng lực của chính trị viên trong công tác lãnh đạo, chỉ huy và
hướng dẫn bộ đội hành động trong thực tiễn thực hiện nhiệm vụ.
Theo TTHCM năng lực của chính trị viên còn được thể hiện ở việc xử
lý tốt các mối quan hệ trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình. Đó là,
49
năng lực xử lý tốt các mối quan hệ; “Đối với bộ đội; Đối với nhân dân; Đối
với quân địch”. Đây không chỉ xác định đúng chức trách, nhiệm vụ của chính
trị viên ở các đơn vị quân đội, mà còn là yêu cầu bắt buộc rất đặc biệt trong
nhân cách chính trị viên cần phải có. Vì vậy, trong thiết lập, xử lý các mối
quan hệ: Đối với bộ đội, chính trị viên không chỉ là cách ứng xử của người
lãnh đạo, quản lý, chỉ huy mà điều cốt yếu chính trị viên phải thể hiện cách
ứng xử của người cùng “máu mủ”, “ruột thịt” đối với đội viên của mình - đó
là sự cư xử của người anh, người chị và người bạn của đội viên; Đối với nhân
dân, chính trị viên phải thể hiện cách ứng xử của người con đối với người
cha, người mẹ của mình, vì “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội” [49,
tr.393]. Do đó, chính trị viên phải luôn gần gũi, quan hệ mật thiết với nhân
dân, kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân, thực sự là tấm gương sáng trong
quan hệ với nhân dân, để bộ đội noi theo học tập; Đối với quân địch, chính trị
viên phải tỏ rõ phẩm chất khoan hồng, độ lượng với địch hàng; tuyên truyền,
giác ngộ làm cho “địch” hiểu rõ tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh
mà nhân dân ta tiến hành, cảm hóa họ đi theo cách mạng.
Thứ ba, về phương pháp, tác phong công tác
Theo TTHCM, người chính trị viên trong QĐNDVN phải là người có
phương pháp, tác phong công tác khoa học. Bởi vì, hoạt động chủ yếu của
chính trị viên là hoạt động lãnh đạo, phương pháp công tác chủ yếu là giáo
dục, thuyết phục, thông qua hoạt động trực tiếp hàng ngày mà tác động và xây
dựng nhân cách quân nhân thuộc quyền, bảo đảm cho mỗi quân nhân và toàn
thể đơn vị“đi đúng con đường chính trị”, hăng hái thực hiện thắng lợi mọi
nhiệm vụ được giao. Người yêu cầu: “Chính trị viên lãnh đạo đội vũ trang hay
đội du kích bằng lời nói chưa đủ, phải lãnh đạo bằng hành động nữa. Mình
chủ trương cho đội làm việc gì thì mình phải làm trước, làm đúng, hết sức làm
hơn ai hết.” [84, tr.57]. Vì vậy, chính trị viên phải là người luôn thấu triệt
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm, sâu sát cơ sở,
50
cụ thể, tỉ mỉ; có trọng tâm, trọng điểm, không chung chung, dàn trải; biết lựa
chọn phương pháp, cách thức hợp lý để tiến hành công việc, kế hoạch đã đề ra
phải thực hiện nghiêm túc. Lối làm việc này hoàn toàn đối lập với tính luộm
thuộm, được chăng hay chớ, thiếu tính chủ động, máy móc rập khuôn, xa rời
thực tiễn, hay theo kiểu “đánh trống, bỏ dùi”, “đầu voi, đuôi chuột”.
Phương pháp, tác phong công tác của người chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM còn biểu hiện ở sự kết hợp chặt chẽ tính cách mạng
và khoa học trong quá trình thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được
giao. Theo TTHCM nhiệt tình cách mạng chỉ đem lại hiệu quả thiết thực
trong công tác khi nó kết hợp chặt chẽ với tri thức khoa học, tôn trọng và tuân
theo quy luật khách quan. Do đó, yêu cầu chính trị viên phải giải quyết tốt
mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, phải thực hành dân chủ rộng rãi, làm cho
bầu không khí dân chủ trong đơn vị được giữ vững. Tuy nhiên, trong những
thời điểm then chốt liên quan đến sự thành, bại của đơn vị, đòi hỏi chính trị
viên phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Khác hẳn những hiện
tượng coi thường tập thể, hoặc dựa dẫm, ỷ lại tập thể không dám quyết đoán,
không nêu cao tinh thần trách nhiệm cá nhân. Người nhấn mạnh:
Không phải vấn đề gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người vẫn có thể giải
quyết được, cũng cứ đưa ra bàn - mới là tập thể lãnh đạo…Những việc bình
thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận
giải quyết đi. Những việc quan trọng mới cần tập thể quyết định [54, tr.505].
Sự kết hợp chặt chẽ tính cách mạng và khoa học của chính trị viên còn
được thể hiện trong công tác đấu tranh phê bình và tự phê bình có lý, có tình.
Người căn dặn chính trị viên: “Khó hơn nữa không may gặp người đội trưởng
khó tính hoặc có tính ương ngạnh, hoặc có tính hay làm bừa, mình phải hết sức
ăn ở rất khéo làm cho người ta tín nhiệm và do đó sửa chữa dần cho người ta”
[84, tr.56]. Cho nên, đòi hỏi chính trị viên phải có tính điềm đạm, chân tình,
51
cởi mở trong ứng xử, biết phát huy điểm mạnh và thế mạnh của mỗi người, biết
hạn chế và khắc phục những nhược điểm của mỗi quân nhân, nhất là với đội
ngũ cán bộ, đảng viên trong đơn vị của mình.
Từ những nội dung cơ bản trên, có thể hiểu: Nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM là tổng hòa phẩm chất chính trị, đạo đức,
năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ và phương pháp, tác phong công tác của
người lãnh đạo, chỉ huy, người anh, người chị, người bạn của bộ đội, được
hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn thực hiện
chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; đồng thời, phản ánh giá trị xã
hội, uy tín và vai trò của chính trị viên trong đơn vị quân đội.
Quan niệm trên cho thấy, nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM là một kiểu nhân cách mới, vừa thống nhất với nhân cách người
cán bộ, đảng viên của Đảng, người cán bộ hoạt động trong môi trường quân
sự, vừa mang tính đặc trưng nhân cách người cán bộ chủ trì về chính trị, tổ
chức tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT ở các đơn vị phân đội trong quân đội.
1.1.3. Quan niệm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội
nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “theo” được diễn đạt theo nhiều
nghĩa khác nhau như: Làm đúng như, theo gương những người tiên tiến; tin
vào hướng suy nghĩ của mình phù hợp với một tổ chức nào đó; làm như người
khác làm; dựa vào căn cứ và căn cứ vào… [112, tr.931]. Tất cả các nghĩa này
dù là bắt chước, hay làm đúng như.., thì đều đòi hỏi phải có sự nhận thức
đúng, vận dụng sáng tạo đáp ứng với thực tiễn đòi hỏi. Do đó, có thể hiểu
“theo tư tưởng Hồ Chí Minh” là sự nhận thức đúng đắn, vận dụng sáng tạo
TTHCM phù hợp với sự đòi hỏi của thực tiễn.
Từ định hướng trên bước đầu có thể hiểu: Phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là sự nhận thức đúng đắn, vận
52
dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nhân cách chính trị viên
trong sự tương tác hợp quy luật giữa các chủ thể với người chính trị viên làm
chuyển hóa về chất và nâng lên một một nấc thang mới về phẩm chất chính
trị, đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ và phương pháp, tác phong
công tác của chính trị viên đáp ứng cương vị, chức trách, nhiệm vụ của họ
theo yêu cầu sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội.
Từ quan niệm trên có thể cụ thể hóa phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM là một quá trình “tự thân” chính trị viên nhận thức, chuyển hóa
TTHCM về mô hình nhân cách của chính trị viên thành nhân cách riêng của
họ đáp ứng yêu cầu thực tiễn cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Theo TTHCM về sự phát triển đều “phải kinh qua cuộc đấu tranh giữa
cái cũ và cái mới trong bản thân mình” [70, tr.216]. Theo đó, phát triển nhân
cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là một quá trình “tự thân”
giải quyết mâu thuẫn nội tại, đó là một quá trình đấu tranh giữa yêu cầu cao
về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ và
phương pháp, tác phong công tác của mỗi chính trị viên cần phải có của người
lãnh đạo, chỉ huy, người anh, người chị và người bạn của đội viên, với hiện
trạng phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
phương pháp, tác phong công tác của mỗi chính trị viên chưa thực sự bền
vững, cũng như với mọi yếu tố cản trở đến quá trình phát triển này. Quá trình
này, đòi hỏi chính trị viên phải tích cực, chủ động, tự giác tiếp nhận, kịp thời
phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong học tập, rèn luyện,
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao, cũng như mâu thuẫn giữa
hiện trạng phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và phương pháp, tác phong
công tác của mình với những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn thực hiện cương
53
vị, chức trách, nhiệm vụ. Có như vậy, mới tạo ra được sự tích lũy dần dần
những nhân tố tích cực, loại bỏ những gì không còn phù hợp với yêu cầu nhiệm
vụ đòi hỏi, tạo ra sự chuyển hóa về nhân cách của mỗi chính trị viên.
Mặt khác, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM là một quá trình “tự thân” còn được thể hiện ở sự phát triển nhân
cách đi từ nấc thang nhân cách ban đầu của người chính trị viên mới được tích
lũy trong quá trình đào tạo tại trường, đến nấc thang nhân cách đạt độ bền
vững đáp ứng yêu cầu thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của
chính trị viên ở từng đơn vị công tác. Trong thực tiễn cho thấy, ở giai đoạn
đầu các yếu tố cấu thành nhân cách của chính trị viên còn tỏ ra non yếu, chưa
thật sự vững vàng, chưa thực sự chuyển hóa nhuần nhuyễn thành hành vi,
hành động của một chủ thể nhân cách chính trị viên thực thụ. Vì vậy, trong
thực tiễn gặp phải những tình huống có vấn đề trong công tác lãnh đạo, chỉ
huy, hoặc những tác động từ tình hình thực tiễn chính trị - xã hội phức tạp,
người chính trị viên có thể còn lúng túng, thiếu tính quyết đoán trong giải
quyết các vấn đề nảy sinh. Nếu giải quyết được về cương vị, chức trách thì
chưa đạt tầm về nhân cách của người cán bộ về chính trị và ngược lại nếu tỏ
rõ được nhân cách của mình thì chưa đạt đến chiều sâu về thực hiện chức
trách, nhiệm vụ được giao. Theo đó, phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN theo TTHCM không chỉ là phát triển trình độ, năng lực, bản
lĩnh, cũng không chỉ là sự mở rộng phương pháp, kỹ năng hoạt động lãnh đạo,
chỉ huy v.v.. đã được hình thành, phát triển trong giai đoạn đào tạo ở nhà
trường, điều chủ chốt là phải đáp ứng với cương vị, chức trách, nhiệm vụ của
chính trị viên đảm nhiệm trong thực tiễn.
Thứ hai, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM là kết quả tương tác giữa các chủ thể với chính trị viên trong quá
trình thực hiện phát triển nhân cách chính trị viên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
54
Mục đích phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM là tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tất cả các khâu, các bước
của quá trình xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm cho các yếu tố cấu thành
nhân cách chính trị viên ngày càng tốt hơn, cao hơn. Cho nên, Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Theo đó,
chủ thể tác động đến quá trình phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM, bao gồm một hệ thống từ Trung ương xuống cơ sở,
với vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể khác nhau; có chủ
thể đóng vai trò lãnh đạo; chủ thể quản lý, điều hành, chỉ đạo, hướng dẫn và
trực tiếp tiến hành các hoạt động phát triển, trong đó:
Chủ thể lãnh đạo, có vai trò quyết định hàng đầu đối với quá trình phát
triển này là hệ thống cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp từ Quân ủy Trung ương
đến các cấp ủy, chi bộ ở các cơ quan, đơn vị, cơ sở đào tạo chính trị viên
trong quân đội. Chủ thể quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, điều hành và trực tiếp
tiến hành các hoạt động phát triển là hệ thống cán bộ các cấp từ Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng đến cán bộ chủ trì các cấp, các cơ quan chức năng, các đơn vị và
hệ thống các cơ sở đào tạo chính trị viên, có trách nhiệm trực tiếp quản lý, chỉ
đạo điều hành và tổ chức hoạt động phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM đúng phạm vi, quyền hạn được giao.
Cơ quan chức năng, trước hết là Tổng cục Chính trị, cơ quan chính trị
các cấp có trách nhiệm giúp cấp ủy, cán bộ chủ trì chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát các hoạt động thực hiện quá trình phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Đội ngũ cán bộ, giảng viên các cơ sở
đào tạo chính trị viên là những chủ thể giữ vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết
định đến chất lượng, hiệu quả ban đầu của quá trình phát triển nhân cách của
chính trị viên, thông qua các hoạt động sinh động trong quá trình giáo dục -
đào tạo tại các nhà trường đào tạo chính trị viên.
55
Lực lượng tham gia vào quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM là các tổ chức đoàn thể, các cơ quan tham
mưu, hậu cần kỹ thuật, và mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng ở các cơ quan,
đơn vị, các cơ sở đào tạo chính trị viên trong toàn quân.
Đối tượng phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM là bản thân mỗi chính trị viên đảm nhiệm cương vị, chức trách,
nhiệm vụ tại các đơn vị phân đội (đại đội, tiểu đoàn và tương đương) trong
toàn quân. Sự phân định chủ thể, lực lượng và đối tượng chỉ mang tính tương
đối, trong mối quan hệ này là chủ thể, nhưng trong mối quan hệ khác có thể là
đối tượng hoặc là lực lượng và ngược lại.
Về nội dung phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM, là trên cơ sở bám sát vào mô hình nhân cách của chính trị viên
mà TTHCM đã chỉ ra, cần gắn với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ
của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay. Theo đó, nội dung phát triển về
phẩm chất chính trị, đạo đức của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM
cần tập trung vào phát triển: lòng trung thành tuyệt đối “tận trung với Đảng”,
“tận hiếu với dân”, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc,
vì chủ nghĩa xã hội; có tinh thần triệt để cách mạng, bản lĩnh chính trị kiên
định, vững vàng, không ngả nghiêng dao động, hành động dũng cảm, kiên
quyết chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân trong mọi tình
huống; có nhãn quan chính trị nhạy bén, sắc sảo phân biệt rõ đối tác và đối
tượng; chủ động, tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận
bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm
của Đảng, chống mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch, mọi biểu hiện tiêu cực, cơ hội trong nội bộ, giữ gìn sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng, trong quân đội và đơn vị.
Tập trung phát triển phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư; nhân, lễ, trí, tín, liêm, trung; hết lòng, hết sức phụng sự
56
Đảng, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân; có tình thương yêu đồng chí,
đồng đội, đoàn kết, gắn bó với bộ đội như ruột thịt, không thu vén cá nhân,
luôn đặt lợi ích của Đảng, tập thể đơn vị lên trên, lên trước; trung thực, thẳng
thắn, khiêm tốn, nếp sống trong sạch, lành mạnh, cầu thị tiến bộ và tinh thần
trách nhiệm cao trong đấu tranh phê bình và tự phê bình; có trí anh minh, tâm
trong sáng, sống có nghĩa, có tình thực sự là tấm gương sáng, mô phạm về
đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị học tập, noi theo.
Nội dung phát triển về năng lực tổ chức, thực hiện nhiệm vụ của chính
trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM, cần tập trung vào: trau dồi kiến thức
toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật nhất là các
kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, các kiến thức chuyên sâu về CTĐ,
CTCT; bồi dưỡng, nâng cao phát triển về năng lực chủ trì về chính trị, năng
lực lãnh đạo, tổ chức hoạt động CTĐ, CTCT và năng lực chỉ huy, quản lý, tổ
chức thực hiện các kế hoạch công tác chung của đơn vị. Do đó, đặc biệt coi
trọng phát triển năng lực tư duy lý luận gắn với năng lực tổ chức thực tiễn
thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người chính trị viên, nhất là năng lực tổ
chức các hoạt động xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ
chức quần chúng trong đơn vị; năng lực tổ chức tiến hành các hoạt động tư
tưởng, tổ chức, chính sách và chỉ đạo, tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT trong
từng nhiệm vụ, hoàn cảnh cụ thể; năng lực tham gia xây dựng và giữ vững
định hướng chính trị trong các kế hoạch công tác chung của đơn vị; coi trọng
bồi dưỡng phát triển kiến thức khoa học nghệ thuật quân sự, năng lực chỉ huy,
quản lý đơn vị của chính trị viên ngang tầm với chức trách, nhiệm vụ.
Nội dung phát triển về phương pháp, tác phong công tác của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM, cần tập trung phát triển về: phương
pháp, tác phong công tác khoa học, mẫu mực, dân chủ, sâu sát thực tế, nói đi
đôi với làm, giữ vững tính đảng, tính khoa học, nguyên tắc nói và làm theo
đúng đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của
57
quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, quy định của đơn vị; coi trọng phát
triển tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm, tác phong lãnh đạo, chỉ đạo tỉ mỉ, cụ thể, sâu sát với quần
chúng và công việc; nâng cao kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm trong giáo dục,
thuyết phục và nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành công tác vận
động quần chúng trong đơn vị; rèn luyện tác phong làm việc có kế hoạch,
khoa học, chính xác, kỷ luật nghiêm.
Sự phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM là quá trình chuyển hóa biện chứng phức tạp, tính phức tạp đó được
thể hiện ở cả một đường truyền dẫn từ những yêu cầu khách quan của xã hội,
của quân đội thành đòi hỏi bên trong của mỗi tập thể và mỗi chính trị viên; lại
từ sự nhận thức hệ thống các yếu tố cấu thành nhân cách chuyển thành tình
cảm, động cơ bên trong, thành các biểu hiện nhân cách cụ thể của mỗi chính
trị viên trong thực tiễn thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình. Vì vậy,
phương thức thực hiện sự tác động của các chủ thể, lực lượng tới quá trình
phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM thông
qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như: Thông qua việc tuyển chọn,
quy hoạch, kiện toàn, sắp xếp, bổ nhiệm cương vị chính trị viên ở các đơn vị;
Thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chính trị viên tại các học viện
nhà trường, các hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn, tập huấn chuyên môn, nghiệp
vụ CTĐ, CTCT của các cơ quan chức năng; Thông qua hoạt động lãnh đạo,
quản lý, giáo dục, rèn luyện thực hiện phát triển nhân cách chính trị viên của
các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị và lãnh đạo, chỉ huy các
cấp trong từng đơn vị.
Đặc biệt, là thông qua chính vai trò, khả năng tự giáo dục, tự rèn luyện
và thực hiện sự chuyển hóa những yếu tố cấu thành nhân cách vào thực tiễn
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mỗi chính trị viên. Ở đây thể
hiện nét độc đáo, chính trị viên vừa là đối tượng phát triển nhân cách, vừa là
58
chủ thể phát triển nhân cách cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền trong đơn vị. Vì
thế, sự phát triển nhân cách của họ luôn có sự đòi hỏi cao, gắn với những đặc
điểm, yêu cầu cụ thể trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng với sự
nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội.
Thứ ba, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM là quá trình chính trị viên chuyển hóa phẩm chất, năng lực và
phương pháp, tác phong công tác vào hoạt động thực tiễn hoàn thành tốt chức
trách, nhiệm vụ được giao.
Đặc trưng nhân cách của chính trị viên theo TTHCM là sự thống nhất
giữa các yếu tố cấu thành nhân cách của chính trị viên cần phải có với hiệu
quả thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, phát triển
nhân cách của chính trị viên không chỉ thông qua việc thường xuyên bồi
dưỡng, rèn luyện mà còn trực tiếp thông qua quá trình chính trị viên chuyển
hóa phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác của mình vào
hoạt động thực tiễn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời
sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố.
Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [75, tr.293].
Vì vậy, vấn đề hiển nhiên, quá trình chính trị viên chuyển hóa những giá trị
nhân cách trong thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ, thì phẩm
chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên được
thực tiễn kiểm chứng. Qua đó, giúp chính trị viên nhận thức được, thấy được
cái gì đúng, cái gì sai, cái phù hợp hoặc không phù hợp, cái tiến bộ hay lạc
hậu trong các yếu tố cấu thành nhân cách của mình. Từ đó, tự mỗi chính trị
viên có sự điều chỉnh bổ sung những cái thiếu hụt, phát huy các nhân tố tích
cực, tiến bộ trong nhân cách của mình đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách
mình đảm nhiệm. Thông qua quá trình này nhân cách của chính trị viên không
chỉ được củng cố, phát triển vững chắc mà còn góp phần bổ sung, làm phong
phú thêm nhân cách người cán bộ, đảng viên trong và ngoài quân đội.
59
1.2. Những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát triển nhân
cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh
1.2.1. Phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc vào chất lượng giáo dục,
đào tạo và bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên
Cũng như quá trình phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới
khách quan, quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM cũng luôn bị chi phối bởi nhiều nhân tố tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp tới quá trình đó. Song, chất lượng giáo dục, đào tạo luôn là nhân tố cơ
bản nền tảng hàng đầu quy định quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Vấn đề này đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ:
Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên. [45, tr.203]
Như vậy, theo TTHCM nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
không phải là tự có, đã có sẵn trong mỗi con người chính trị viên mà trước hết
phải do công tác giáo dục, đào tạo. Bởi, theo TTHCM công tác giáo dục, chính
là công việc Huấn luyện con người nhằm mục đích phụng sự Tổ quốc, phục
sự nhân dân. Mà đã huấn luyện là “Phải huấn và luyện. Huấn là dạy dỗ, luyện
là rèn giũa”. Dạy dỗ, giáo dục làm phát triển hoàn toàn những phẩm chất,
năng lực sẵn có, để mỗi người vừa có đức, vừa có tài. Rèn giũa để mọi người
nâng cao khả năng và tẩy rửa khuyết điểm, quá trình này đòi hỏi phải có thời
gian, phải trường kỳ gian khổ, vì đó là một cuộc cách mạng trong mỗi con
người. Theo đó, chất lượng giáo dục, đào tạo trực tiếp nâng cao nhận thức cho
chính trị viên thấy rõ, vấn đề phát triển nhân cách của họ là một đòi hỏi tất
yếu khách quan, từ yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên.
60
Theo TTHCM chất lượng giáo dục, đào tạo còn tác động trực tiếp trau
dồi tri thức, tình cảm, niềm tin, xây dựng động cơ và ý chí quyết tâm của
chính trị viên trong phát triển nhân cách của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Dạy và học phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước” [73,
tr.138]. Theo đó, chất lượng giáo dục, đào tạo thiết thực trang bị cho chính trị
viên hệ thống tri thức về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; pháp luật của Nhà
nước; khoa học xã hội - nhân văn; khoa học quân sự; khoa học cơ bản; tri
thức khoa học chuyên ngành CTĐ, CTCT v.v.. Những tri thức đó chính trị
viên lĩnh hội được trong quá trình giáo dục, đào tạo sẽ là nền tảng vững chắc
cho bản thân chính trị viên nâng cao tình cảm, niềm tin, động cơ, thái độ và ý
chí quyết tâm phấn đấu trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách của
mình ngang tầm với cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Hơn nữa, theo TTHCM chất lượng giáo dục, đào tạo còn trực tiếp tác
động đến việc định hình phương hướng, yêu cầu sự phát triển nhân cách của
chính trị viên. Người chính trị viên là cán bộ chính trị của Đảng hoạt động
trong quân đội, đảm nhiệm chủ trì về chính trị ở đơn vị, người được trao nắm
ngọn cờ lãnh đạo trong đơn vị, được coi là “đảng viên số 1” trong cấp ủy, tổ
chức Đảng, có trách nhiệm rất lớn trong công tác lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Họ
phải thực sự là người tiêu biểu về nhân cách người cán bộ của Đảng trong
quân đội. Vì vậy, quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên là rất quan
trọng và sự giúp họ trong quá trình này chính là vai trò của công tác giáo dục,
đào tạo. Bởi, chỉ có thông qua công tác giáo dục, đào tạo mới tạo cho chính trị
viên có được phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm
vụ, phương pháp, tác phong công tác cần thiết của người lãnh đạo, chỉ huy,
người anh, người chị, người bạn của mọi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Theo TTHCM chất lượng giáo dục, đào tạo còn góp phần trực tiếp tạo
ra cơ chế, con đường, biện pháp giúp chính trị viên chuyển hóa những yếu tố
cấu thành nhân cách chung cần phải có của người chính trị viên, thành nhân
61
cách riêng của mỗi chính trị viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Vấn
đề này được thể hiện ở việc thông qua chất lượng giáo dục, đào tạo giúp chính
trị viên thấy được cách thức trong phát triển nhân cách là đi từ sự tích lũy dần
dần về lượng, dẫn đến sự chuyển hóa các yếu tố cấu thành nhân cách; từ sự
giải quyết các mâu thuẫn giữa nhân cách cần phải có của người chính trị viên
với khả năng hiện có của mỗi người. Con đường phát triển nhân cách là đi từ
thấp đến cao, theo hướng phát triển là đi lên, là quá trình đấu tranh gay go,
quyết liệt giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái tích
cực và cái tiêu cực, loại bỏ yếu tố lỗi thời nhưng kế thừa những yếu tố phẩm
chất nhân cách tốt đẹp. Cũng thông qua chất lượng giáo dục, đào tạo giúp
chính trị viên nhận thức và thực thi nhiều biện pháp đa dạng và phong phú
trong phát triển nhân cách như: thực hiện lời nói đi đôi với việc làm; nêu
gương sáng về nhân cách; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, đặc biệt là
đấu tranh chống “chủ nghĩa cá nhân” trong quá trình phát triển nhân cách.
Tính logíc của vấn đề thực tiễn muốn có những “mẻ thép” tốt, phải qua
“lò luyện” tốt, người cán bộ có tài năng, đức độ, có phẩm chất nhân cách phát
triển là kết quả của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố hàng đầu thuộc về công
tác giáo dục, đào tạo. Song, dừng ở lại đó thì chưa đủ mà cần phải thấu triệt
lời dạy của Bác Hồ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do
đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc
càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Theo đó, quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM, không chỉ dừng
lại ở chất lượng giáo dục, đào tạo mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bồi
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên. Hay nói cách khác,
đây là nhân tố góp phần quan trọng trực tiếp đến quá trình phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Thực tiễn cho thấy, quá trình học tập, rèn luyện, tích lũy những phẩm chất
nhân cách của chính trị viên ở các nhà trường đào tạo, mới chỉ là “điểm đầu”. Vì
tại thời điểm này chính trị viên mới chỉ dừng lại ở việc lĩnh hội hệ thống kiến
62
thức và các phẩm chất nhân cách nói chung cần phải có của người chính trị viên
đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ sau này. Còn việc chuyển hóa nó
thành các yếu tố phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong riêng của mỗi
chính trị viên thì lệ thuộc rất lớn vào công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị
viên tại các đơn vị công tác.
Do đó, công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên tại các đơn vị là khâu
tiếp nối, là “điểm diện” trong quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trường huấn luyện đã giúp anh em biết
phương hướng, biết nhắm mục đích mà đi…rồi sau anh em còn phải học nữa,
học mãi trong khi đi làm việc” [48, tr.101]. Đồng thời, “Phải ra sức bồi dưỡng
cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, cũng
như trình độ chiến thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác”
[67, tr.13]. Như vậy, hoạt động bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên tại các đơn
vị, gắn với quá trình phát triển nhân cách của họ là tất yếu khách quan. Bởi
chỉ có thông qua quá trình này, thì phẩm chất nhân cách của họ mới ngày
càng được củng cố vững chắc; kịp thời bổ sung những kiến thức mới và
phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên ngày càng phát triển, hoàn
thiện đáp ứng cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: thực tiễn là cơ
sở, động lực, mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý; mọi sự
biến đổi của nhận thức suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của
thực tiễn và chính thực tiễn có vai trò là tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những tri
thức đã đạt được trong nhận thức, bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và
hoàn thiện nhận thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực hành là kích thước
của sự thật, là nền tảng của hiểu biết”. Với ý nghĩa đó, chỉ có thông qua quá
trình bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong thực tiễn mới giúp chính trị
viên nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn, đầy đủ và toàn diện hơn vai trò, vị trí của
mình. Bởi theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực hành, hiểu biết, lại
63
thực hành, lại hiểu biết nữa. Cứ đi vòng như thế mãi, không bao giờ ngừng. Và
nội dung của thực hành và hiểu biết lần sau cao hơn lần trước. Đó là nội dung
vấn đề hiểu biết trong duy vật biện chứng. Đó là quan điểm biết và làm thống
nhất của duy vật biện chứng” [61, tr.256].
Vì vậy, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên của Đảng là: “Muốn biết
lý luận đúng hay không, thì phải dùng nó vào thực hành, xem nó có đạt được
mục đích đã định hay không” [61, tr.254]. Do đó, công tác bồi dưỡng, rèn luyện
chính trị viên trong hoạt động thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ
ở đơn vị, không chỉ giúp chính trị viên củng cố, phát triển, hoàn thiện phẩm chất,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác của mỗi chính trị viên, mà còn
trực tiếp góp phần vào quá trình thực hiện nhiệm vụ của chính trị viên trong
thực tiễn. Vì vậy, cùng với công tác giáo dục, đào tạo, vấn đề bồi dưỡng, rèn
luyện chính trị viên chính là nhân tố góp phần quan trọng trực tiếp đến sự phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Không ai có thể tự cho mình đã biết
đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến
bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”[70,
tr.430]. Theo đó, công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong thực tiễn
phải hướng vào việc thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị
viên và trước hơn hết là sự hoàn thiện, phát triển nhân cách của người lãnh
đạo, người chỉ huy và người anh, người chị, người bạn của bộ đội. Người căn
dặn chính trị viên: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh
giặc”. Do đó, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM diễn ra trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu và trước hết là thực hiện
hoạt động chủ trì về chính trị, chỉ đạo và tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT
trong đơn vị mình đảm nhiệm. Hoạt động này được thể hiện trong tất cả các
nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn
64
luyện kỷ luật, lao động sản xuất, công tác dân vận, công tác xây dựng đơn vị
về chính trị, tư tưởng và tổ chức v.v.. Chính quá trình thực hiện hoạt động
CTĐ, CTCT trong thực hiện nhiệm vụ của người chính trị viên, đòi hỏi họ
phải nắm vững đặc điểm và yêu cầu của từng nhiệm vụ. Đây chính là những
hoạt động thực tiễn sinh động của chính trị viên ở đơn vị, bắt buộc họ phải tập
trung, phát huy cao độ khả năng, từ trình độ nhận thức, ý thức trách nhiệm,
lập trường, quan điểm, tư tưởng, tình cảm, ý chí đến trí thông minh sáng tạo,
tri thức về nhiều mặt; từ kinh nghiệm sống, chiến đấu đến sự rèn luyện thể lực
thích nghi với mọi điều kiện khắc nghiệt. Nói cách khác chính thông qua các
hoạt động trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình ở đơn vị mà chính trị
viên bộc lộ những ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm về chất nhân cách của họ
cần phải khắc phục. Vì vậy, công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên góp
phần trực tiếp vào điều chỉnh nội dung và xác định các biện pháp phù hợp
giúp chính trị viên kịp thời khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về phẩm
chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác, theo đó nhân cách của
chính trị viên ngày một phát triển.
1.2.2. Phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc vào nhân tố chủ quan - tự
thân của chính trị viên.
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, khi nói về nhân tố chủ quan
đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách đã có rất nhiều các nhà tư
tưởng đề cập đến. Tiêu biểu như: Khổng Tử đã khuyên mọi người quân tử
muốn “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thì trước hết phải “tu thân”, phải “sửa
mình”, Khổng Tử nhấn mạnh: “Muốn xứng đáng là người trị dân thì phải tu
thân, mà muốn tu thân thì phải học” [35, tr.147]; C.Mác chỉ rõ: “Phát triển
phong phú bản chất con người coi như là một mục đích tự thân” [39, tr.42];
V.I.Lênin khẳng định: “Không tự mình bỏ ra một công phu nào đó, thì không
65
thể tìm ra sự thật trong bất cứ một vấn đề hệ trọng nào cả và hễ ai sợ tốn công
sức thì không bao giờ tìm ra sự thật” [32, tr.130]. Như vậy, Khổng Tử và các
nhà kinh điển triết học Mác - Lênin, tuy sống ở các thời đại khác nhau và lập
trường, phương pháp tiếp cận, luận giải khác nhau, nhưng đều có chung sự
thống nhất quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người phụ thuộc rất
lớn vào nhân tố chủ quan của chính họ.
Kế thừa, có chọn lọc các quan điểm trong lịch sử và đặc biệt sự vận
dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhân tố
chủ quan, cũng như kinh nghiệm trong cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra quá trình hình thành và phát triển nhân
cách con người mới XHCN nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng
nói riêng trong đó có chính trị viên trong QĐNDVN phụ thuộc có tính quyết
định trực tiếp vào nhân tố chủ quan - tự thân của chính trị viên. Tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện cô đọng, rõ ràng, minh triết:
Gạo đem vào giã, bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông.
Sống ở trên đời người cũng vậy:
Gian nan rèn luyện mới thành công. [44, tr.350].
Thực tế, cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một quá trình tự giáo
dục, tự đào tạo và hoạt động cách mạng. Từ lúc bôn ba khắp năm Châu, bốn
Biển tìm con đường cứu dân, cứu nước cho dân tộc, đến khi trên cương vị
Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước và tận lúc cuối đời, Người vẫn luôn tâm niệm:
“Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học…không học thì không theo
kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau” [80, tr.465].
Người luôn căn dặn mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, đoàn thể và cả
bản thân người dạy và người học: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học.
Học tập ở trường của Đoàn thể không phải như các trường lối cũ, không phải
có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập” [58, tr.50].
66
Theo đó, để tự động trong học tập, rèn luyện phát triển nhân cách của
mình, đòi hỏi chính trị viên phải huy động tối đa hệ thống các tiềm năng phẩm
chất, năng lực, tri thức, tình cảm, ý chí quyết tâm của mình vào thực hiện tự
động trong học tập, rèn luyện phát triển nhân cách. Đồng thời, quá trình này
thường gắn rất chặt với việc thực hiện hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của
chính trị viên ở từng đơn vị. Từ đó chính trị viên mới tự mình thấy được phẩm
chất nhân cách mình đã có cần phải tiếp tục phát huy, tỏa sáng và những thiếu
hụt về phẩm chất nhân cách cần phải được bổ sung, hoàn thiện, củng cố. Thực
tiễn cho thấy, địa vị của chính trị viên chỉ được khẳng định thông qua hệ thống
phẩm chất, năng lực thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ ở từng đơn vị. Đòi
hỏi mỗi chính trị viên phải luôn luôn tự mình rèn luyện, phẩm chất nhân cách
suốt đời, gắn với mọi hoạt động thực hiện nhiệm vụ, sinh hoạt cộng đồng và xử
lý mọi mối quan hệ của mình để cho cái hay, cái tốt, cái thiện, cái tích cực
thường xuyên nảy nở, phát triển.
Theo TTHCM xuất phát từ cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính
trị viên là người chủ trì về chính trị, tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT của đơn
vị; “linh hồn”, “điểm tựa”, “chất keo” kết dính sự đoàn kết thống nhất trong
đơn vị nhất là lúc khó khăn gian khổ. Đòi hỏi chính trị viên phải thực sự là
người tiêu biểu về nhân cách, có như vậy họ mới hoàn thành tốt cương vị,
chức trách, nhiệm vụ của mình. Do đó, không có con đường nào khác là phải
tổ chức giáo dục, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, rèn luyện họ, phải phát huy
tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình phát triển nhân cách
của mỗi chính trị viên. Bởi, chỉ có nêu cao tinh thần chủ động, tích cực, tự
giác, sáng tạo trong tự giáo dục, đào tạo, tu dưỡng, rèn luyện thì nhân cách
chính trị viên mới ngày một phát triển, hoàn thiện. Vì chính trong quá trình tự
giáo dục, đào tạo, tu dưỡng, rèn luyện sẽ trực tiếp giúp cho mỗi chính trị viên
có nhận thức đúng về mục đích, nội dung, ý nghĩa của quá trình phát triển,
hoàn thiện nhân cách của mình.
67
Người đã chỉ rõ mục đích học tập của đội ngũ cán bộ, đảng viên của
Đảng, trong đó có người chính trị viên là; học để làm người, làm cán bộ, học
để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, là công bộc của nhân dân. Cho nên,
Người đã đòi hỏi: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học…Phải biết tự động
học tập” [58, tr.50], để sửa chữa tư tưởng, để tu dưỡng đạo đức cách mạng, để
tin tưởng đoàn thể, tin tưởng nhân dân, tin tưởng dân tộc, tin tưởng cách mạng
và học để hành. Với ý nghĩa đó, để có được kết quả cao của việc phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM, thì điều căn cốt hàng
đầu là chính trị viên phải có được sự nhận thức đúng về mục đích, nội dung, ý
nghĩa của quá trình này.
Vai trò nhân tố chủ quan - tự thân của chính trị viên đối với quá trình
phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM còn
được thể hiện ở việc: trực tiếp giúp cho mỗi chính trị viên tự mình trau dồi
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; nâng cao trình độ tri thức mọi mặt, rèn
luyện kĩ năng nghề nghiệp, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện bản lĩnh,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác; thực sự là người cán bộ chính
trị của Đảng trong quân đội vừa “hồng” vừa “chuyên”, vừa “đức” vừa “tài”
đáp ứng cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo không chỉ đóng vai trò là yếu
tố nội lực bên trong thôi thúc sự chuyển hóa nhận thức thành động cơ, thái độ,
ý chí quyết tâm phấn đấu trong tiếp nhận và chuyển hóa mô hình nhân cách
chính trị viên theo TTHCM thành phẩm chất riêng có của mỗi chính trị viên,
mà còn là biện pháp tự thân giúp cho mỗi chính trị viên thực hiện quá trình
phát triển nhân cách của mình. Người chỉ rõ: “Muốn thành công ắt phải: Đặt
mức 10 phần, phải có biện pháp 15 phần và phải cố gắng 20 phần” [76,
tr.264]. Với ý nghĩa đó, quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM thuận lợi hay khó khăn phụ thuộc rất lớn vào nhân
tố chủ quan - tự thân chính trị viên. Chính vì thế, việc nêu cao tính tích cực,
68
chủ động, tự giác, sáng tạo của chính trị viên chính với mục đích là tạo ra sức
mạnh nội lực từ bên trong giúp cho họ có được nhận thức đúng, tình cảm chân
thành, tốt đẹp, niềm tin son sắt, mãnh liệt, động cơ trong sáng, lành mạnh, ý
chí quyết tâm cao và tìm ra con đường, biện pháp phù hợp thực hiện quá trình
phát triển nhân cách của mình.
Quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM, với mục đích cao nhất là làm cho mỗi chính trị viên có đủ phẩm chất,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác đáp ứng cương vị, chức trách,
nhiệm vụ được giao. Nhưng sự chuyển hóa phẩm chất, năng lực và phương
pháp, tác phong công tác của chính trị viên vào trong quá trình thực tiễn thực
hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ phụ thuộc rất lớn vào nhân tố chủ quan của
mỗi chính trị viên. Trong thực tiễn cho thấy, thông thường kết quả thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên có tỷ lệ thuận với trình độ nhận
thức và phẩm chất; năng lực; phương pháp, tác phong công tác của mỗi chính trị
viên. Nhưng không hoàn toàn như vậy, trong thực tiễn có nhiều trường hợp trình
độ nhận thức và năng lực có hạn nhưng họ lại có động cơ, thái độ, ý chí quyết
tâm phấn đấu cao vẫn đáp ứng được cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Trong trường hợp này chính là tự bản thân chính trị viên đã phát huy cao nhất nỗ
lực khả năng của mình trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở: “việc gì khó mấy, quyết tâm làm
thì làm chắc được” [42, tr.522]. Theo tinh thần đó kết quả của quá trình thực
hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ trong thực tiễn của chính trị viên là không
ngang bằng nhau, phụ thuộc rất lớn vào lăng kính chủ quan của mỗi cá nhân
chính trị viên. Đó là, sự phụ thuộc vào năng lực, ý chí, tri thức, tình cảm, cùng sự
trải nghiệm cuộc sống và sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện, tự bù đắp, tự hoàn thiện,
củng cố các yếu tố cấu thành nhân cách của mỗi chính trị viên, theo đó nhân
cách của mỗi chính trị viên ngày càng phát triển.
69
Quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo
TTHCM đòi hỏi mỗi chính trị viên phải thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Phải học tập, học tập trong việc làm hàng ngày, trong việc
lớn cũng như việc nhỏ, việc cao cũng như việc thấp” [69, tr. 61]. Cho nên,
cùng với việc đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong
thực tiễn. Bản thân mỗi chính trị viên phải toàn tâm, toàn ý ra sức tự mình
nâng cao tinh thần, ý thức, trách nhiệm trong việc thực hiện phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
1.2.3. Phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc vào môi trường công tác
của chính trị viên và cơ chế, chính sách đối với họ
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, con người vừa là
chủ thể vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, C.Mác khẳng định: “Con người tạo ra
hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh sáng tạo ra con người đến mức đó” [38,
tr.55]. Từ luận điểm của C.Mác cho thấy không bao giờ có con người tách
khỏi xã hội, khỏi giai cấp và các điều kiện sống của nó. Vì vậy, nhân cách con
người không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành và phát triển phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó môi trường xã hội là yếu tố tác động to lớn
đến sự hình thành, phát triển nhân cách con người, thông qua sự tác động biện
chứng của gia đình, nhà trường và xã hội đối với mỗi cá nhân.
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
theo TTHCM giữa con người với môi trường công tác và cơ chế, chính sách
luôn có quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Sự phát triển của nhân
cách con người nói chung, nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN nói
riêng không tách rời mà phụ thuộc vào sự chi phối mạnh mẽ của chính những
điều kiện, hoàn cảnh môi trường sống và cơ chế, chính sách. Nói cách khác,
theo TTHCM, môi trường công tác và cơ chế, chính sách là nhân tố có ảnh
70
hưởng quan trọng không nhỏ đến quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN.
* Tác động của môi trường công tác đến sự phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Đề cập tới môi trường gồm có môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội. Ở góc độ triết học môi trường được hiểu là toàn bộ các điều kiện tự nhiên
và xã hội tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người. Trong phạm vi
đề tài chúng tôi đề cập đến môi trường công tác của chính trị viên.
Theo TTHCM, môi trường có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
nhân cách của chính trị viên. Người nhấn mạnh: “Môi trường tạo nên nhân
cách”, nên quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM cũng chịu sự tác động, chi phối của môi trường “rộng” và môi
trường “hẹp”. Môi trường “rộng” chính là điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, nhiệm vụ xây dựng và
chiến đấu của quân đội v.v.. Môi trường “hẹp” chính là nơi người chính trị
viên công tác thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Sự tác
động của cả hai môi trường đó diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau trực tiếp hay
gián tiếp, nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của người chính
trị viên trong QĐNDVN.
Tuy nhiên, trong sự tác động tổng thể của môi trường xã hội, thì môi
trường công tác là nhân tố tác động trực tiếp nhất đến sự phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Ở đây cần thống nhất trên
hai góc độ: Thứ nhất, môi trường công tác của chính trị viên ở góc độ chung,
chính là toàn bộ môi trường Quân đội; Thứ hai, môi trường công tác của chính
trị viên ở góc độ phạm vi cụ thể là môi trường đơn vị nơi chính trị viên đang
hằng ngày, hằng giờ thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Hay
có thể nói môi trường công tác của người chính trị viên chính là toàn bộ các
yếu tố vật chất và tinh thần hợp thành một chỉnh thể trong không gian và thời
71
gian xác định có quan hệ trực tiếp với họ. Được biểu hiện cụ thể ra chính là hệ
thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng, các hoạt động quân sự,
chính trị, lao động, công tác của đơn vị. Với những mối quan hệ bao gồm: quan
hệ cấp trên và cấp dưới; quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ; quan hệ đồng chí,
đồng đội; quan hệ giữa đơn vị với nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân.
Theo TTHCM, môi trường công tác tác động trực tiếp đến nhận thức,
động cơ, thái độ, tình cảm, niềm tin và ý chí quyết tâm của chính trị viên thực
hiện quá trình phát triển nhân cách. Sự hiển nhiên, trong cuộc sống mỗi cá
nhân con người không thể tách mình ra khỏi môi trường công tác của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thời đại của chúng ta là thời đại văn minh,
thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã
hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập
thể, trong xã hội” [75, tr.282]. Từ đó cho thấy, sự tác động của môi trường
công tác đến sự phát triển nhân cách của chính trị viên thông qua các mối
quan hệ xã hội - quân sự đa dạng và phong phú, các quan hệ xã hội - quân sự
như là các cầu nối giữa môi trường với người chính trị viên, nhờ đó môi
trường công tác phát huy được vai trò của mình, thường xuyên tác động đến
sự hình thành và phát triển nhân cách của chính trị viên.
Theo TTHCM, môi trường công tác không chỉ tác động đến phương
thức hoạt động, lối sống mà còn trực tiếp điều chỉnh nhân cách của chính trị
viên theo yêu cầu của quân đội cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập:
“Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật
nghiêm” [66, tr.560]. Theo tư tưởng đó đòi hỏi mỗi quân nhân, trong đó có
chính trị viên phải tuân theo chế độ, quy định của tổ chức mà họ là thành
viên. Tính đặc thù của tổ chức quân sự, đó là kỷ luật quân sự. Kỷ luật quân sự
không phải là yếu tố đối lập với nhân cách của chính trị viên, mà ngược lại nó
là một yếu tố quan trọng cấu thành nhân cách của chính trị viên. Do đó, tác
động của môi trường công tác làm cho các yếu tố kỷ luật quân sự thấm sâu
vào nhận thức và hành động của chính trị viên, trở thành yếu tố bền vững
72
trong phẩm chất nhân cách của họ, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ, đạo đức,
lối sống, phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên cho phù hợp với
yêu cầu khách quan của tổ chức quân đội cách mạng.
Tác động của môi trường công tác đến sự phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM được diễn ra với nhiều phương
thức đặc trưng và hình thức hoạt động đa dạng, phong phú không ngang bằng
nhau. Theo TTHCM, trong sự tác động này trực tiếp nhất là chủ trương, nội
dung, biện pháp lãnh đạo, hoạt động lãnh đạo, cơ chế lãnh đạo của tổ chức
đảng các cấp, hoạt động của cơ quan chính trị, hoạt động của cán bộ, chiến sĩ,
cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động CTĐ, CTCT và các tình huống nảy sinh
trong quá trình hoạt động của người chính trị viên. Những yếu tố đó vừa là cơ
sở, vừa là động lực kích thích tính tích cực, phấn đấu vươn lên của chính trị
viên vừa là thành tố quan trọng của quá trình phát triển nhân cách của họ.
Trong sự thống nhất biện chứng, chính trị viên cùng với người cán bộ
quân sự đóng vai trò chủ thể của người chủ trì thiết kế xây dựng môi trường
công tác của đơn vị, nhưng sau đó cũng là người trực tiếp “tiếp nhận” các tác
động từ môi trường công tác đến quá trình phát triển nhân cách của họ. Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi
việc sẽ tốt. Cho nên các cô, các chú phải quan tâm đến việc xây dựng chi bộ,
phải làm cho chi bộ trở thành “bốn tốt” và “chi bộ tốt, mới có đảng viên tốt”
[83, tr.213]. Điều đó cho thấy, nếu môi trường công tác tốt là điều kiện thuận
lợi, tác động tích cực đến phát triển nhân cách của chính trị viên - ngược lại,
môi trường không tốt là điều kiện không thuận lợi tác động tiêu cực, gây cản
trở đến phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Nhưng trong thực tiễn cho thấy, sự tác động của môi trường công tác
đến mỗi người quân nhân nói chung, trong đó có chính trị viên ở mức độ
“nông”, “sâu” lại phụ thuộc rất lớn vào lăng kính chủ quan của mỗi chính trị
viên. Trong thực tiễn cho thấy, có những chính trị viên mặc dù công tác ở môi
73
trường không mấy thuận lợi, nhưng họ biết vượt lên trên hoàn cảnh, luôn trau
dồi phẩm chất nhân cách của người cán bộ chính trị, “miễn dịch” mọi tác
động tiêu cực từ môi trường, thực hiện tốt cương vị, chức trách, nhiệm vụ
được giao qua đó phẩm chất nhân cách của họ không ngừng phát triển. Đúng
với, sự khắc họa hình tượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn” [72, tr.140].
* Tác động của cơ chế, chính sách đến sự phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Cơ chế, chính sách đối với người quân nhân nói chung, với chính trị
viên nói riêng là thể hiện sự quan tâm, tôn vinh của Đảng, Nhà nước, Nhân dân
và Quân đội đối với sự cống hiến của mọi quân nhân, trong đó có người chính
trị viên đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, công tác trong quân đội.
Sinh thời, mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm sao
có một cơ chế, chính sách phù hợp đảm bảo cho sự thống nhất ý chí trong toàn
quân và quyền lợi về vật chất và tinh thần cho mọi quân nhân. Đặc biệt, đối với
đội ngũ cán bộ của Đảng, trong đó có chính trị viên, Người nhấn mạnh: “Cách
đối với cán bộ là một điều trọng yếu trong sự tổ chức công việc. Cách đối với
cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc: “vấn đề cán bộ
quyết định mọi việc” [55, 284]. Với tinh thần đó, cho thấy cơ chế, chính sách
là nhân tố tác động, có ảnh hưởng trực tiếp mang tính động lực đến sự phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Cụ thể là:
Ở góc độ cơ chế, chính sách phù hợp, và thực hiện đúng trong thực tiễn
sẽ tác động theo chiều hướng tích cực tới quá trình phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Bởi, cơ chế, chính sách phù hợp
và thực hiện đúng trong thực tiễn thì trực tiếp tác động tích cực đến nhận
thức, động cơ, thái độ, tình cảm, niềm tin và ý chí quyết tâm phấn đấu của
chính trị viên trong quá trình phát triển nhân cách của mình. Cũng như, kích
thích mỗi bản thân chính trị viên tìm tòi, sáng tạo con đường, biện pháp hữu
74
hiệu nhất đem lại hiệu quả cao đối với quá trình phát triển nhân cách của
mình. Đồng thời, cổ vũ sự nhiệt tình, toàn tâm, toàn ý vào quá trình hiện thực
hóa nhân cách của chính trị viên trong hoạt động công tác, thực hiện cương
vị, chức trách, nhiệm vụ và cuộc sống sinh hoạt đời thường của họ. Vì cơ chế,
chính sách là vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích và trách nhiệm cá nhân cả
về chính trị và quyền lợi vật chất mà họ được hưởng.
Khi đề cập đến nhân cách của chính trị viên, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân của họ đối với cương vị, chức
trách, nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt trách nhiệm cá nhân là một chuẩn
mực nhân cách của người chính trị viên. Chuẩn mực giá trị này không có điều
gì mới mẻ đối với chính trị viên trong QĐNDVN. Nhưng điều đáng nói ở chỗ
hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp thì chuẩn mực đó sẽ được xác định một
cách rõ ràng, cụ thể hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tách rời chính sách
ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và
nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai
lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng,
để làm tròn nhiệm vụ” [64, tr.346].
Hơn nữa, cơ chế, chính sách phù hợp sẽ khắc phục được cách xem xét,
đánh giá thái độ, trách nhiệm của chính trị viên một cách chung chung, trừu
tượng. Đồng thời, làm cho “đức” và “tài” gắn bó với nhau, hòa quyện vào nhau,
đòi hỏi có nhau. Nói đến nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM
là nói đến hai thành tố cơ bản “đức” và “tài”, trong đó “đức” là gốc. Nhưng có
“đức” mà không có “tài”, không đủ năng lực điều hành công việc, hoặc không
phấn đấu nâng cao năng lực để đáp ứng nhu cầu của công việc thì sớm muộn cũng
bị tổ chức đào thải. Điều đó cho thấy cơ chế, chính sách là công cụ hữu hiệu trực
tiếp ngăn ngừa những người không có động cơ trong sáng, chủ nghĩa cá nhân
trong công việc. Từ đó cho thấy, tác động từ cơ chế, chính sách đến sự phát triển
nhân cách của chính trị viên theo TTHCM được thể hiện ở việc cơ chế, chính
sách phù hợp sẽ làm cho động cơ phấn đấu và hiệu quả công việc thực hiện cương
75
vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên gắn liền với nhau, thống nhất với nhau
là một chuẩn mực giá trị nhân cách không thể thiếu của người chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM.
Ở góc độ cơ chế, chính sách không phù hợp hoặc có phù hợp nhưng
thực hiện trong thực tiễn có sự lệch lạc sẽ tác động tiêu cực đến quá trình phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Đó là,
không kích thích sự tìm tòi sáng tạo của người chính trị viên trong nâng cao
năng lực công tác, trau dồi phẩm chất nhân cách của mình. Người chính trị
viên nhụt ý chí, động cơ phấn đấu, tinh thần trách nhiệm thấp, thái độ thờ ơ,
thiếu chí tiến thủ, hiệu quả công tác thấp, thậm chí không làm tròn cương vị,
chức trách, nhiệm vụ được giao. Với tinh thần đó, nếu cơ chế, chính sách
không phù hợp, hoặc đã phù hợp nhưng việc tổ chức thực hiện của lãnh đạo,
chỉ huy các cấp thiếu sự công tâm, tắc trách, không phản ánh đúng cơ chế,
chính sách ban hành thì sẽ kìm hãm tới quá trình phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Vì vậy, để tránh sự tác động
tiêu cực từ cơ chế, chính sách không phù hợp và từ việc thực hiện trong thực
tiễn không đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Sao cho đối đãi đúng với mọi người? Đó là một vấn đề rất trọng yếu.
Vì vậy, chúng ta cần phải chú ý mấy việc dưới đây:
Hiểu biết cán bộ,
Khéo dùng cán bộ,
Cất nhắc cán bộ,
Thương yêu cán bộ,
Phê bình cán bộ. [55, tr.277]
Từ các vấn đề trên cho thấy, môi trường công tác và cơ chế, chính sách
là một trong những nhân tố quan trọng không thể thiếu, thường xuyên tác
động ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN theo TTHCM.
76
Kết luận chƣơng 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”
và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấm nhuần sâu sắc lời
dạy của Người, Đảng ta đặc biệt quan tâm công tác cán bộ và xây dựng đội
ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực “vừa hồng vừa chuyên” đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng. Do đó, vấn đề nghiên cứu phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là cần thiết và có
ý nghĩa thực tiễn cao.
Ở phạm vi của chương 1, luận án tập trung đề cập đến những tư tưởng cơ
bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính trị viên, nhân cách, nhân cách của chính
trị viên và phát triển nhân cách của chính trị viên. Trên cơ sở đó luận giải các
khái niệm công cụ như: quan niệm về chính trị viên và nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Theo đó, làm rõ phạm trù trung tâm của
luận án, quá trình nghiên cứu bước đầu luận án quan niệm: Phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM là sự nhận thức đúng đắn, vận
dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nhân cách chính trị viên
trong sự tương tác hợp quy luật giữa các chủ thể với người chính trị viên làm
chuyển hóa về chất và nâng lên một một nấc thang mới về phẩm chất chính
trị, đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ và phương pháp, tác phong
công tác của chính trị viên đáp ứng cương vị, chức trách, nhiệm vụ của họ
theo yêu cầu sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội. Đồng thời, luận
giải những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM.
Có thể khẳng định rằng toàn bộ những nội dung của chương 1, là cơ sở
lý luận nền tảng, để luận án đi vào khảo sát thực trạng, chỉ ra xu hướng và yêu
cầu, cũng như đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
77
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG, XU HƢỚNG VÀ YÊU CẦU CƠ BẢN PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
2.1. Thực trạng phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
V.I.Lênin chỉ rõ: “Một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử
như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào
và đứng trên quan điểm phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành như
thế nào” [33, tr.78]. Theo đó, căn cứ vào khung lý luận ở chương 1 đã được
xác định, thì vấn đề thực chất đánh giá thực trạng phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là: đi từ việc làm rõ sự
nhận thức và chuyển hóa nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách chính trị
viên của các chủ thể thành nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện phát triển
nhân cách chính trị viên ở đơn vị phân đội hiện nay, đến đánh giá đúng thực
trạng nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay đã và đang diễn
ra như thế nào (cả mặt ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó), làm cơ sở
thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
2.1.1. Thực trạng nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển
nhân cách chính trị viên của các chủ thể hiện nay
Chính trị viên ở các đơn vị phân đội hiện nay, hầu hết được đào tạo cơ
bản, có trình độ học vấn tương đối cao, đồng đều, “trên 90% chính trị viên có
trình độ cao đẳng và đại học” [93, tr.84]. Đại đa số chính trị viên có kiến thức
toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, khoa
học nghệ thuật quân sự v.v.. đặc biệt là kiến thức lý luận và kiến thức về
CTĐ, CTCT của họ không ngừng được nâng cao.
Theo số liệu cung cấp của Phòng đào tạo - Trường Sĩ quan Chính trị
cho biết: Tính trung bình cộng trong 5 năm (2008 - 2013) của đối tượng học
78
viên đào tạo cơ bản, tổng số học viên tốt nghiệp 1530 đồng chí, trong đó tỉ lệ
học viên tốt nghiệp đạt loại giỏi 1,43%, loại khá 72,28%, loại trung bình khá
24,50% và loại trung bình 1,23%. Tính trung bình cộng trong 4 năm (2009 -
2013): với đối tượng học viên đào tạo theo hình thức chuyển loại, tổng số học
viên tốt nghiệp 566 đồng chí, trong đó tỉ lệ học viên tốt nghiệp đạt loại giỏi
0%, loại khá 51,04%, loại trung bình khá 43,47% và loại trung bình 4,26%;
với đối tượng học viên đào tạo theo hình thức 801 tổng số học viên tốt nghiệp
520 đồng chí, trong đó tỉ lệ học viên tốt nghiệp đạt loại giỏi 0,19%, loại khá
42,08%, loại trung bình khá 33,98% và loại trung bình 1,15%; với đối tượng
học viên đào tạo từ chuyên môn kỹ thuật, tổng số học viên tốt nghiệp 608
đồng chí, trong đó tỉ lệ học viên tốt nghiệp đạt loại giỏi 0,98%, loại khá
76,91%, loại trung bình khá 20,50% và loại trung bình 1,31% [phụ lục 6].
Từ số liệu trên cho thấy, kết quả giáo dục, đào tạo chính trị viên trong
những năm qua về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đào tạo chính trị
viên trong thời kỳ mới, là cơ sở nền móng hết sức thuận lợi cho việc nhận
thức TTHCM về phát triển nhân cách chính trị viên.
Đánh giá nhận thức của các chủ thể hiện nay về giá trị và sự cần thiết
của TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên đối với quá trình phát
triển nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị phân đội hiện nay. Qua trao đổi
với lãnh đạo, chỉ huy ở các đơn vị và khảo sát thực tiễn với câu hỏi: Theo
đồng chí chính trị viên ở các đơn vị phân đội hiện nay lấy mô hình nhân cách
chính trị viên theo TTHCM đã xác định làm tiêu chí phấn đấu, rèn luyện phát
triển nhân cách của mình như thế nào. Kết quả có 75,48% cho rằng luôn bám
sát mô hình nhân cách chính trị viên mà TTHCM đã xác định làm tiêu chí
phấn đấu, rèn luyện phát triển nhân cách [phụ lục 1.1].
Kết quả trên phản ánh phần lớn chính trị viên ở các đơn vị phân đội
hiện nay luôn lấy các tiêu chí về: phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tổ
chức thực hiện nhiệm vụ, phương pháp, tác phong công tác của người chính
79
trị viên mà TTHCM đã xác định làm tiêu chí để rèn luyện, phấn đấu, làm
thước đo phát triển nhân cách của mình. Đồng thời, qua kết quả này cũng cho
thấy, đại đa số chính trị viên đã có sự nhận thức đúng đắn giá trị và sự cần
thiết của TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên đối với quá trình
phát triển nhân cách của bản thân mỗi chính trị viên ở đơn vị hiện nay.
Nhận thức về vai trò của bản thân chính trị viên đối với quá trình phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Phát triển nhân cách của chính trị viên là một quá trình tự giác, thông qua tác
động tích cực của các chủ thể giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nhân cách, trong
đó tinh thần khả năng tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nhân cách ở mỗi
chính trị viên, nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác
phong công tác của họ, đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ được
giao, luôn là yếu tố giữ vai trò trực tiếp quyết định, qua khảo sát, điều tra xã
hội học cho thấy: 85,26% đồng ý với nhận định này [phụ lục 1.5].
Thực trạng nhận thức TTHCM về phương thức (cơ chế, con đường,
biện pháp) phát triển nhân cách chính trị viên của chính trị viên ở các đơn vị
phân đội hiện nay. Qua khảo sát điều tra về vấn đề trên cho thấy: 88,64% số
người được phỏng vấn nhận định cơ chế phát triển nhân cách của chính trị
viên là tuân thủ quy luật; 87,2% số người được phỏng vấn đánh giá con
đường phát triển nhân cách của chính trị viên là phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh của quân đội, từng đơn vị và khả năng của mỗi chính trị viên; 85,88% số
người được phỏng vấn cho rằng chính trị viên đã có sự nhận thức đúng về
biện pháp thực hiện phát triển nhân cách là phải thực thi nhiều biện pháp đa
dạng, phong phú có tính chủ động của mỗi chính trị viên [phụ lục 1.2].
Kết quả trên đã phản ánh, đại đa số chính trị viên đã có sự nhận thức
đúng TTHCM về quá trình phát triển nhân cách là phải tuân thủ quy luật
khách quan của sự phát triển là đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ sự tích lũy dần dần các yếu tố cấu thành nhân cách, đến sự hoàn
80
thiện nhân cách của chính trị viên. Đi từ sự giải quyết mâu thuẫn giữa hệ
thống giá trị, phẩm chất nhân cách cần phải có với khả năng của chính trị
viên. Chủ động, tích cực trong phát hiện mâu thuẫn nảy sinh từ thực tiễn
học tập, công tác, rèn luyện phát triển nhân cách một cách phù hợp với khả
năng của mỗi người, điều kiện, hoàn cảnh của từng đơn vị, quân đội và
những điều kiện từ thực tiễn xã hội đặt ra. Thực trạng này cũng đã cho
thấy, đại đa số các chủ thể đã đánh giá tương đối sát thực nhận thức của đội
ngũ chính trị viên ở các đơn vị phân đội đối với biện pháp phát triển nhân
cách của chính trị viên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập. Cũng như, mỗi
chính trị viên ở các đơn vị phân đội đã có sự nhận thức khá tốt về biện
pháp nhằm thực hiện việc phát triển nhân cách của họ.
Khảo sát nhận thức của các chủ thể về những nhân tố cơ bản quy định
quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM. Theo kết quả điều tra xã hội học có: 83,36% cho rằng chất
lượng giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng, rèn luyện là nhân tố cơ bản hàng đầu;
82,36% nhất trí vai trò nhân tố chủ quan - tự thân của chính trị viên là nhân tố
quyết định trực tiếp; 87,10% tán thành môi trường công tác và cơ chế, chính
sách nhân tố ảnh hưởng quan trọng [phụ lục 1.3]. Từ các thông số khảo sát
cho thấy, chính trị viên có nhận thức khá đầy đủ, toàn diện về những nhân tố
cơ bản quy định quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Đây là cơ sở giúp cho các chủ thể trong
quân đội khi tác động đến phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM cần quan tâm thỏa đáng, để có chủ trương,
hình thức, biện pháp phù hợp tạo động lực cho mỗi chính trị viên thực hiện
quá trình phát triển nhân cách của họ theo TTHCM đạt hiệu quả cao.
Khảo sát nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên
ở các nhóm đối tượng chính trị viên tại các đơn vị hiện nay cho thấy: Nhóm
đối tượng chính trị viên 2 năm đầu đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ
81
thì trình độ nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên của
họ ở mức độ tốt là 68,90%, khá 24,68%, trung bình 3,44%, yếu 1,8%, khó trả
lời 1,18%; Nhóm đối tượng chính trị viên đảm nhiệm cương vị, chức trách,
nhiệm vụ từ 3 đến 5 năm trở lên trình độ nhận thức của họ ở mức độ tốt là
73,82%, khá 22,40%, trung bình 2,12%, yếu 0,98% , khó trả lời 0,68%; Nhóm
đối tượng chính trị viên đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ từ 5 năm
trở lên trình độ nhận thức của họ ở mức độ tốt 80,12%, khá 16,76%, trung
bình 1,80%, yếu 0,98, khó trả lời 0,34% [phụ lục 1.4].
Qua hệ thống số liệu trên cho thấy, trình độ nhận thức của chính trị viên
ở các đơn vị hiện nay đối với TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị
viên phụ thuộc rất lớn vào thực tiễn công tác của họ. Điều đó, phản ánh thực
tiễn cọ xát trực tiếp trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao thì chính
trị viên mới ngày một chuyển hóa kiến thức được trang bị trong quá trình đào
tạo tại trường, thành kiến thức thực tiễn ngày một tốt hơn. Chính trong hoạt
động thực tiễn giúp chính trị viên nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc, thiết thực
hơn về giá trị và sự cần thiết của TTHCM về phát triển nhân cách của chính
trị viên đối với quá trình phát triển nhân cách của họ. Ở đây cũng đặt ra đối
với các chủ thể trong quá trình tác động đến phát triển nhân cách cho chính trị
viên hiện nay theo TTHCM, cần phải hết sức chú trọng đến thực tiễn, tránh
nóng vội và có cách nhìn nhận đúng đắn trình độ nhận thức giữa các nhóm
đối tượng chính trị viên. Từ đó có cách thức, biện pháp tác động phù hợp có
hiệu quả tới phát triển nhân cách của chính trị viên QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM cho từng đối tượng chính trị viên ở đơn vị.
Khảo sát nhận thức về vai trò tác động của các chủ thể là cấp ủy đảng,
người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp, (nhất là cấp phân đội và cấp
trên trực tiếp phân đội) đối với quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên các ở đơn vị hiện nay. Qua khảo sát về vấn đề này, có 75,26% đánh giá
giữ vai trò trực tiếp có ý nghĩa quyết định; 16,14% đánh giá mức quan trọng;
82
7,92% đánh giá ở mức gián tiếp không quan trọng và 0,68% có phương án
khó trả lời [phụ lục 1.5]. Với hệ thống số liệu cho thấy, xét ở bình diện chung
nhận thức về vai trò tác động của các chủ thể đối với việc phát triển nhân cách
chính trị viên các ở đơn vị hiện nay là tương đối tốt. Trong thực tiễn các chủ
thể này luôn có nhận thức đúng về giá trị và sự cần thiết lấy TTHCM về mô
hình phát triển nhân cách chính trị viên làm tiêu chí, thước đo đánh giá sự
phát triển nhân cách của chính trị viên ở đơn vị thuộc quyền của mình.
Biểu hiện nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể ở đơn vị về phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo tiêu chí mô
hình nhân cách mà TTHCM đã xác định, được thể hiện trên các hoạt động
như: trong các nghị quyết lãnh đạo, các bản tổng kết từng quý, năm ở các đơn
vị đều có nội dung lãnh đạo, công tác bồi dưỡng cán bộ nói chung, phát triển
nhân cách cho đội ngũ chính trị viên nói riêng; trong kế hoạch công tác tháng,
quý, năm của các đơn vị đều có nội dung bồi dưỡng cán bộ chính trị, trong đó
coi vấn đề phát triển nhân cách là nội dung trọng tâm của kế hoạch CTĐ,
CTCT. Trong các văn bản đều có chung chủ trương là phát triển phẩm chất,
năng lực và xác định việc: “bồi dưỡng nhân cách chính trị viên cho đội ngũ
cán bộ chính trị cấp phân đội là việc làm thường xuyên, liên tục, công phu và
là trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi cá nhân, song trước hết thuộc về cấp ủy
đảng, người chỉ huy và chính ủy, phó chính ủy, cơ quan chính trị” [99, tr.50].
Đây cũng chính là phương hướng chung mà các chủ thể ở đơn vị đã và đang
xác định trong quá trình thực hiện phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Khảo sát về quy trình phát triển nhân cách chính trị viên hiện nay ở các
đơn vị, các chủ thể đều cho rằng đây là khâu tiếp nối của quá trình đào tạo
chính trị viên tại trường, giai đoạn tiếp tục hoàn thiện nhân cách, thông qua
giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, rèn luyện. Quan niệm của các chủ thể đã
83
phản ánh mức độ quan tâm, chăm lo đến bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ chính
trị viên ở đơn vị. Đây là khuynh hướng nhận thức đúng, tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình chuyển hóa thành hành động của các chủ thể tác động vào
quá trình phát triển nhân cách chính trị viên ở đơn vị hiện nay.
Ở góc độ nội dung phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM, được các chủ thể ở đơn vị xác định khá phong phú, cụ
thể, thiết thực. Về cơ bản, các đơn vị đã vận dụng sáng tạo mô hình nhân cách
của chính trị viên theo TTHCM phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ của đơn vị
và quân đội. Với mục tiêu của nội dung phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay ở đơn vị được xác định là phát triển toàn diện, hệ
thống phẩm chất nhân cách của người lãnh đạo, chỉ huy, người anh, người chị
và người bạn của bộ đội.
Qua trao đổi với các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy ở các đơn vị cho biết
các đơn vị đã tập trung vào những nội dung chủ yếu như: tập trung bồi dưỡng,
nâng cao về chức trách, nhiệm vụ, mối quan hệ của chính trị viên và năng lực,
phương pháp, tác phong của người chủ trì về chính trị trong đơn vị; nâng cao
nhận thức chính trị và bản lĩnh chính trị gắn với năng lực chủ trì về chính trị,
tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT; bồi dưỡng kiến thức quân sự và năng lực
chỉ huy, quản lý đơn vị. Một nội dung khá nổi trội trong thời gian qua được
các chủ thể đơn vị chú tâm, là bồi dưỡng, phát triển cho chính trị viên về năng
lực tổ chức các hoạt động của đơn vị như: thi tìm hiểu, diễn đàn, trò chơi
chiến sĩ, giao lưu, kết nghĩa v.v.. Đặc biệt, quan tâm xây dựng phương pháp,
tác phong khoa học, hòa mình với quần chúng, nói đi đôi với làm, sâu sát, cụ
thể, tỉ mỉ, dân chủ, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Đánh giá chung, từ sự phân tích đánh giá nhận thức của các chủ thể
hiện nay đối với TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên cho thấy:
đại bộ phận chính trị viên có nhận thức tương đối tốt TTHCM về phát triển
nhân cách của chính trị viên. Đồng thời, với những phân tích trên cũng cho
84
thấy, nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên đối với các
chủ thể - là cấp ủy đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp, (nhất
là cấp phân đội và cấp trên trực tiếp phân đội) là khá tốt, theo xu hướng
chuyển biến tích cực, ngày càng đi vào thực chất có chiều sâu.
Tuy nhiên, từ các đánh giá cũng cho thấy, nhận thức TTHCM về phát
triển nhân cách của chính trị viên đối với quá trình phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay của một bộ phận chủ thể còn hạn chế,
bất cập. Biểu hiện ở kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy, một bộ phận đáng kể
chính trị viên chưa thực sự lấy mô hình nhân cách chính trị viên mà TTHCM
đã xác định làm tiêu chí phấn đấu, rèn luyện phát triển nhân cách, ở vấn đề
này theo kết quả điều tra xã hội học còn 16,62% chưa thực sự bám sát mô
hình, 6,42% không lấy mô hình làm tiêu chí phấn đấu, rèn luyện phát triển
nhân cách và 1,48% khó trả lời [phụ lục 1.1].
Trong thực tiễn, bộ phận chính trị viên này đã không nhận thức đúng
giá trị, sự cần thiết của TTHCM về phát triển nhân cách chính trị viên đối với
quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay.
Nên, bộ phận này, còn chưa thật sự “thấm nhuần” và bám sát các giá trị chuẩn
mực, mô hình nhân cách TTHCM đã xác định làm tiêu chí rèn luyện, phấn
đấu, làm thước đo nhân cách của mình trong quá trình thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ được giao; chưa chủ động, tích cực trong phát hiện và
giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn nảy sinh từ thực tiễn một cách phù hợp với
khả năng của chính trị viên và điều kiện, hoàn cảnh của từng đơn vị, điều kiện
từ thực tiễn xã hội đặt ra. Đồng thời, vai trò của các chủ thể trong quá trình
tác động đến sự phát triển nhân cách của chính trị viên vẫn còn những hạn
chế, bất cập. Đó là, một bộ phận các chủ thể ở một vài đơn vị có biểu hiện
tình trạng “thái quá”, cho rằng đội ngũ chính trị viên hiện nay còn nhiều yếu
kém, nên phải thường xuyên “kèm cặp”, dẫn đến thái độ, phương pháp chưa
thật đúng, cách thức bồi dưỡng, rèn luyện còn mang tính áp đặt, gò ép. Hoặc
85
chỉ quan tâm đến việc sử dụng chính trị viên theo ý muốn của mình, vấn đề
bồi dưỡng, rèn luyện nhân cách cho họ chưa được chú trọng thỏa đáng.
Thực trạng hạn chế trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nổi
lên là một số nguyên nhân cơ bản sau: từ công tác tuyên truyền, giáo dục về
giá trị, ý nghĩa và sự cần thiết của TTHCM về phát triển nhân cách chính trị
viên đối với quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay còn có mặt bất cập; ảnh hưởng của mô hình nhân cách cấp phó phụ
trách về chính trị còn tương đối nặng nề, cũng như việc cụ thể thể hóa mô
hình nhân cách mà TTHCM đã xác định, xây dựng thành tiêu chí mô hình
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay chậm được triển khai,
thiếu tính thống nhất; do ý thức, trách nhiệm không cao, động cơ lệch lạc của
một bộ phận chính trị viên về phát triển nhân cách hiện nay của mình; do một
bộ phận chủ thể, nhất là chủ thể là cấp ủy đảng, người chỉ huy, chính ủy,
chính trị viên ở cấp phân đội và cấp trên trực tiếp phân đội, chưa đề cao trách
nhiệm, thiếu quan tâm đến hoạt động phát triển nhân cách cho chính trị viên ở
đơn vị thuộc quyền của mình.
2.1.2. Thực trạng chuyển hóa nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển nhân cách chính trị viên của các chủ thể thành nội dung kế
hoạch tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay
Chuyển hóa nhận thức là giai đoạn tiếp theo của quá trình nhận thức.
Giai đoạn này đòi hỏi bản thân chính trị viên phải có động cơ, thái độ, tình cảm
và ý chí quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi lực cản của quá trình chuyển hóa.
Theo số liệu khảo sát, điều tra cho thấy: 78,50% số người được hỏi nhận định
chính trị viên ở đơn vị phân đội có động cơ tốt; 80,74% tán thành có thái độ
tốt; 82,68% nhất trí có tình cảm tốt; và 83,12% đồng ý có ý chí quyết tâm cao
[phụ lục 2.1]. Với các thông số khảo sát, điều tra trên cho thấy: đại đa số
chính trị viên đã thể hiện động cơ, thái độ, tình cảm và ý chí quyết tâm trong
chuyển hóa nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách chính trị viên thành
86
nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện thực hiện phát triển nhân cách chính trị
viên hiện nay là tương đối tốt, có tính khả quan cao cần phải được phát huy.
Trong thực tiễn bộ phận chính trị viên này luôn tin tưởng tuyệt đối vào
hệ thống giá trị, chuẩn mực nhân cách người chính trị viên trong quân đội mà
TTHCM đã xác định; luôn có ý chí quyết tâm cao trong học tập, công tác, rèn
luyện, khắc phục mọi khó khăn và những tác động tiêu cực từ bên ngoài xã
hội để chuyển hóa TTHCM về phát triển nhân cách thành nội dung kế hoạch
tu dưỡng, rèn luyện đối với quá trình phát triển nhân cách của mình.
Thực trạng chuyển hóa nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách của
chính trị viên ở các đơn vị thành nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện phát
triển nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay. Trao đổi với các
đồng chí giữ cương vị lãnh đạo, chỉ huy ở một số cơ quan, đơn vị đều thống
nhất cho rằng: thiết lập nội dung kế hoạch là yêu cầu bắt buộc mà chính trị
viên phải thực hiện trong quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ
mọi mặt của chính trị viên ở các đơn vị. Xét tổng thể trong kế hoạch về tu
dưỡng, rèn luyện của chính trị viên thì cơ bản đã tạo thành những dự định, kế
hoạch phấn đấu hàng năm, với nội dung công việc được cụ thể đến từng ngày,
tuần, tháng, quí, năm và việc cân đối thời gian cho từng nội dung công việc đã
có sự sắp xếp tương đối hợp lý.
Kết quả khảo sát bước chuyển từ nhận thức TTHCM về phát triển nhân
cách của chính trị viên đến hành động thực hiện nội dung kế hoạch tu dưỡng,
rèn luyện của chính trị viên nhằm phát triển nhân cách của họ hiện nay cho
thấy: Tự đánh giá về mình, có 19,2% chính trị viên cho rằng hạn chế về khả
năng chuyển nhận thức thành hành động thực hiện nội dung, kế hoạch rèn
luyện; 28,8% đề cập đến hạn chế về nhận thức bản chất TTHCM về phát triển
nhân cách chính trị viên; 52,0% hạn chế năng lực xử lý các tình huống phát
sinh [phụ lục 2.2]. Như vậy, với số liệu thu được cho thấy, đại đa số chính trị
87
viên đều có ý thức tích cực thực hiện nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện,
phấn đấu nhằm phát triển nhân cách của họ. Đồng thời, đại bộ phận chính trị
viên đã gắn quá trình thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình với
quá trình hoàn thiện phát triển nhân cách.
Kết quả điều tra xã hội học việc chuyển hóa TTHCM về phát triển
nhân cách của chính trị viên vào thực tiễn tu dưỡng, rèn luyện của chính trị
viên tại các đơn vị hiện nay có: 22,74% đánh giá tự tu dưỡng, rèn luyện của
chính trị viên ở mức tốt; 59,06% ở mức khá; 13,12% mức trung bình; 4,24%
mức yếu và 0,84% khó trả lời [phụ lục 2.3]. Như vậy, có thể nhận định sự
đánh giá của các chủ thể ở các đơn vị là những người trực tiếp công tác, quản
lý, giáo dục, rèn luyện chính trị viên khá sát thực với tình hình thực tế tu
dưỡng, rèn luyện của chính trị viên hiện nay. Đồng thời, sự đánh giá này cũng
chính là kết quả phản ánh mức độ hoàn thành và chất lượng thực hiện nội
dung kế hoạch tự tu dưỡng, rèn luyện của chính trị viên ở đơn vị là khá tốt.
Kết quả khảo sát việc chuyển hóa TTHCM về phát triển nhân cách của
chính trị viên thành nội dung kế hoạch tự tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân
cách và thực hiện nội dung kế hoạch đó giữa các đối tượng chính trị viên ở
các đơn vị hiện nay có sự chênh lệch khác nhau giữa các nhóm chính trị viên:
Nhóm đối tượng 2 năm đầu đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ
thì chất lượng lập và thực hiện nội dung kế hoạch của họ về tu dưỡng, rèn
luyện ở mức độ tốt 36,92%; khá 47,68%; trung bình 11,80%, yếu 3,10%, khó
trả lời 0,50%; Nhóm đối tượng đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ
được 3 đến 5 năm của họ thì chất lượng lập và thực hiện nội dung kế hoạch
của họ về tu dưỡng, rèn luyện ở mức độ tốt là 47,64%, khá 41,82%, trung
bình 9,20%, yếu 1,0%, khó trả lời 0,34%; Nhóm đối tượng đảm nhiệm cương
vị chức trách, nhiệm vụ từ 5 năm trở lên chất lượng lập và thực hiện nội dung
kế hoạch của họ ở mức độ tốt là 57,91%, khá 38,25%, trung bình 3,34%, yếu
88
0,5%, khó trả lời 0,0% [phụ lục 2.4]. Với kết quả này, phản ánh chính trị viên
có kinh nghiệm thực tiễn càng nhiều thì chất lượng lập và thực hiện nội dung
kế hoạch phát triển nhân cách tỉ lệ ở mức độ tốt và khá ngày càng cao, tỉ lệ
trung bình và yếu ngày càng giảm phản ánh đúng quy luật của sự phát triển.
Đánh giá chung, thực trạng chuyển hóa nhận thức TTHCM về phát
triển nhân cách của chính trị viên thành nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn
luyện phát triển nhân cách chính trị viên hiện nay cho thấy: về cơ bản từ nhận
thức đúng đắn của các chủ thể, chính trị viên đã có bước chuyển thành hành
động cụ thể, thiết thực đạt hiệu quả tương đối tốt; đại đa số chính trị viên ở
các đơn vị phân đội hiện nay có động cơ trong sáng, lành mạnh, không có tính
chất cơ hội chủ nghĩa; có thái độ khát vọng đúng đắn, cầu thị tiến bộ; có tình
cảm chân thành, thực sự trong phấn đấu, rèn luyện phát triển nhân cách và
niềm tin tuyệt đối, ý chí quyết tâm cao trong chuyển hóa TTHCM về phát
triển nhân cách của chính trị viên thành nội dung kế hoạch tự tu dưỡng, rèn
luyện thực hiện phát triển nhân cách của mình. Đồng thời, việc lập và thực
hiện nội dung kế hoạch tự tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của phần
lớn chính trị viên ở các đơn vị hiện nay được thể hiện khá phong phú đem lại
hiệu quả thiết thực trong việc phát triển nhân cách của họ.
Tuy nhiên, ở nội dung này vẫn còn một bộ phận chính trị viên kể cả
chính trị viên có thâm niên nhiều năm công tác tại các đơn vị, thì khâu lập kế
hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch của bộ phận này còn có những hạn chế,
bất cập. Theo kết quả điều tra xã hội học việc chuyển hóa TTHCM về phát
triển nhân cách của chính trị viên vào thực tiễn tự tu dưỡng, rèn luyện của
chính trị viên tại các đơn vị hiện nay tỉ lệ trung bình 13,12% và tỉ lệ yếu vẫn
còn ở mức 4,24% [phụ lục 2.3]. Biểu hiện trong thực tiễn: việc xây dựng kế
hoạch và thực hiện kế hoạch của bộ phận chính trị viên này còn chưa phù
hợp; kế hoạch chưa có sự tính toán một cách hợp lý mối quan hệ giữa các
nhân tố trong kế hoạch; tính chủ thể trong xây dựng kế hoạch còn chưa cao,
89
kế hoạch chưa rõ ràng cụ thể, mới chỉ dừng lại ở việc kể đầu công việc hoặc
xen kẽ với các kế hoạch công tác chung của đơn vị; chất lượng trong thực
hiện kế hoạch còn thấp, chưa gắn quá trình rèn luyện phát triển nhân cách của
mình với việc thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên, là do một bộ phận chính trị
viên chưa nhận thức rõ bản chất TTHCM về phát triển nhân cách chính trị
viên, năng lực chuyển hóa nhận thức thành hành động còn có mặt hạn chế,
đồng thời chưa thật sự nêu cao tinh thần trách nhiệm, động cơ, ý chí quyết
tâm trong thực hiện chuyển hóa nhận thức TTHCM về phát triển nhân cách
chính trị viên thành nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện nội
dung kế hoạch đó nhằm phát triển nhân cách của mình.
Công tác kiểm tra của các chủ thể lãnh đạo, chỉ huy các cấp, nhất là
cấp trên trực tiếp phân đội chưa thường xuyên, thiếu những biện pháp cụ thể;
một số đơn vị có lúc đặt ra những yêu cầu về tu dưỡng, rèn luyện chính trị
viên chưa cao, chưa toàn diện đối với quá trình phát triển nhân cách của họ,
thậm chí còn có biểu hiện nhận thức lệch lạc cho rằng chính trị viên đã được
giáo dục, đào tạo cơ bản tại trường là đã hội tụ đủ phẩm chất nhân cách
không cần phải bồi dưỡng, giáo dục thêm; ngay trong các nghị quyết lãnh
đạo, các bản tổng kết hàng năm của một số đơn vị cũng chưa xác định rõ nội
dung, biện pháp cụ thể nhằm tác động đến quá trình phát triển nhân cách cho
chính trị viên ở đơn vị mình.
Nhiệm vụ ở các đơn vị cơ sở hiện nay liên tục tăng lên trước yêu cầu
đòi hỏi xây dựng QĐNDVN trong thời kỳ mới. Trong khi biên chế chính trị
viên phó ở nhiều đơn vị còn thiếu, đưa đến tình trạng cường độ lao động của
chính trị viên đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ trong thực tiễn là hết
sức nặng nề. Vì vậy, hoạt động tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ chính trị viên ở
các đơn vị sẽ bị chi phối, chất lượng thực hiện nội dung kế hoạch tu dưỡng,
rèn luyện của chính trị viên chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
90
2.1.3. Thực trạng nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đánh giá thực trạng nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải đứng vững trên lập trường
thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, quán triệt và vận dụng tốt các nguyên tắc, phương pháp của phép biện
chứng duy vật và nhận thức xã hội để đánh giá. Do đó, thực chất đánh giá
thực trạng nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM là làm rõ sự vận động, biến đổi, phát triển của tất cả các yếu tố cấu
thành nhân cách của họ ở giai đoạn hiện nay và đối chiếu với mô hình nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM, để từ đó chỉ ra cả mặt
tích cực, hạn chế và nguyên nhân của nó. Vì vậy, từ các yếu tố cấu thành nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM mà luận án đã xác
định, có thể đánh giá thực trạng nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM ở những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, về phẩm chất của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay theo TTHCM.
Đánh giá một cách tổng thể, chính trị viên hiện nay luôn là người tiêu
biểu về phẩm chất chính trị - tư tưởng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ
quốc và nhân dân. Theo kết quả điều tra xã hội học cho thấy: 87,68% số
người được hỏi đánh giá về phẩm chất chính trị - tư tưởng của chính trị viên
hiện nay thực sự vững vàng, kiên định [phụ lục 3.1]. Trong thực tiễn: đại đa
số chính trị viên ở đơn vị có trình độ giác ngộ chính trị cao, bản lĩnh chính trị
vững vàng; họ luôn tiêu biểu về phẩm chất chính trị - tư tưởng, tận trung với
Đảng, tận hiếu với dân, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và triển
vọng phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; nắm vững bản chất
cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
cương lĩnh chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, luật pháp
91
của Nhà nước; có ý thức cảnh giác cách mạng cao, tỉnh táo, sáng suốt trong
phân tích, đánh giá tình hình, xác định đúng đối tác, đối tượng, không hoang
mang, dao động trước những vấn đề nhạy cảm; kiên định quan điểm có tính
nguyên tắc của Đảng, tích cực đi đầu đấu tranh phê phán các quan điểm sai
trái, thù địch, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chính trị, luôn nói, viết và làm theo
đúng cương lĩnh, đường lối của Đảng v.v.. Sự kiên định, vững vàng của chính
trị viên ở các đơn vị hiện nay, đã thực sự trở thành “điểm tựa” vững chắc
củng cố lý tưởng, niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ đối với Đảng, với chế độ
XHCN ở nước ta hiện nay.
Khảo sát thực tiễn cho thấy, đại bộ phận chính trị viên hiện nay luôn
mẫu mực về đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật, thực sự là trung tâm đoàn
kết và có tín nhiệm cao trong tổ chức đảng và đơn vị. Theo kết quả điều tra xã
hội học cho thấy, có 89,12% nhận định chính trị viên ở các đơn vị hiện nay
hiện nay mẫu mực về đạo đức, lối sống [phụ lục 3.1]. Trong thực tiễn, trước
sự tác động nhiều mặt của cơ chế thị trường, của sự giao lưu, hội nhập quốc tế
hiện nay: đa số chính trị viên luôn giữ vững và phát huy được phẩm chất đạo
đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “nhân, lễ, trí, dũng, liêm, trung”;
có tình yêu nghề nghiệp, tận tụy gắn bó với công việc, công tâm, khách quan
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa trách nhiệm và nghĩa vụ, giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích tập thể, luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết;
nêu gương sáng, đi đầu trong việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”; có lối sống lành mạnh, trung thực, thẳng thắn, giản dị, cầu thị
tiến bộ, kiên quyết đấu tranh, phê phán, chấn chỉnh những nhận thức sai trái,
lệch lạc và những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, tư tưởng
của quân nhân thuộc quyền.
Trong giải quyết mối quan hệ với bộ đội, với nhân dân, đại bộ phận
chính trị viên ở đơn vị hiện nay luôn là người có thái độ đúng mực, sống chan
hòa, giàu tình nghĩa, gương mẫu trong lời nói và việc làm, theo số liệu điều
92
tra: 90,74% đánh giá chính trị viên có thái độ đúng mực trong giải quyết các
mối quan hệ [phụ lục 3.1]. Trong thực tiễn, trước sự tác động mạnh mẽ của
các tiêu cực, tệ nạn xã hội và thử thách nghiệt ngã của kinh tế thị trường
nhưng đại đa số chính trị viên vẫn trung kiên, giữ gìn và thực hiện tốt những
phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” và tình đồng chí, đồng đội trong sáng,
đúng nguyên tắc, thực sự xứng đáng là người anh, người chị, người bạn với
cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị; gắn bó mật thiết, kính trọng và giúp đỡ nhân
dân theo đúng chuẩn mực nhân cách của chính trị viên mà TTHCM xác định.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, phẩm chất của chính trị viên
ở các đơn vị hiện nay vẫn còn bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm cần phải
khắc phục, đó là: Qua khảo sát, điều tra về phẩm chất chính trị - tư tưởng của
chính trị viên ở các đơn vị hiện nay, vẫn còn 8,99% đánh giá chính trị viên
còn thiếu sự nhạy bén; 2,17% đánh giá chính trị viên có lúc còn dao động,
hoài nghi [phụ lục 3.1]. Trên thực tế, hạn chế của bộ phận chính trị viên này
là ở trình độ nhận thức chính trị còn có mặt chưa đáp ứng yêu cầu cao của
tình hình, nhiệm vụ; có biểu hiện tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động,
phai nhạt niềm tin, lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, nhiệt tình cách mạng;
thiếu yên tâm gắn bó với đơn vị, làm việc cầm chừng, “ngại khó, ngại khổ”,
làm ngơ hoặc thiếu mạnh dạn đấu tranh với những hiện tượng sai trái trong
đơn vị; lúng túng, thụ động trong đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái,
phản động và luận điệu chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch.
Hạn chế về đạo đức, lối sống của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay
đó là, một bộ phận chính trị viên chịu ảnh hưởng của tư tưởng cá nhân chủ
nghĩa, lối sống cơ hội thực dụng, suy thoái về đạo đức, lối sống và vi phạm kỷ
luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Kết quả khảo sát, điều tra có 7,72% đánh
giá phẩm chất đạo đức, lối sống của chính trị viên còn chưa thực sự mẫu mực
về đạo đức; và điều đáng lo ngại là 0,36% đánh giá chính trị viên còn vi phạm
vào các chuẩn mực đạo đức [phụ lục 3.1]. Trong thực tiễn, bộ phận chính trị
93
viên này có hành vi biểu hiện: thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, sống buông thả,
xu nịnh, bợ đỡ cấp trên, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, vi phạm
kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước; vi phạm nguyên tắc quy định trong giải
quyết các mối quan hệ; chưa thực sự là trung tâm đoàn kết, chỗ dựa tinh thần
vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị; có hành vi kéo bè, kéo cánh,
quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí quân phiệt, lăng mạ cấp dưới, họ
chưa thực sự là mẫu hình nhân cách về đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ
thuộc quyền học tập, noi theo.
Thứ hai, về năng lực của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay theo TTHCM.
Qua khảo sát điều tra xã hội học, với câu hỏi: Theo đồng chí kết quả
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên tại các đơn vị
phân đội hiện nay ở mức độ nào. Kết quả đánh giá 50,44% đánh giá ở mức độ
tốt; 44,60% đánh giá ở mức độ khá [phụ lục 3.4]. Theo đó, có thể đánh giá,
tuyệt đại đa số chính trị viên hiện nay có kiến thức và năng lực khá tốt, đáp
ứng với cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình. Được biểu hiện cụ thể trên
những mặt công tác cơ bản như:
Năng lực chủ trì về chính trị.
Điểm mạnh khá nổi bật hiện nay đại đa số chính trị viên ở đơn vị phân
đội là đã biết phát huy vị trí chủ trì về chính trị, đứng đầu cấp ủy, tổ chức
đảng, trong mọi hoạt động của chính trị viên đã luôn giữ vững và tỏa sáng
“ngọn lửa” của lòng nhiệt tình cách mạng cho mọi quân nhân trong đơn vị.
Qua khảo sát, điều tra có: 72,87% đánh giá năng lực chủ trì về chính trị của
chính trị viên ở mức độ tốt; 22,64%% đánh giá mức độ khá [phụ lục 3.2]. Với
số liệu trên cho thấy đa số chính trị viên ở các đơn vị đã thực hiện khá tốt vai
trò chủ trì về chính trị của mình. Bộ phận chính trị viên này đã thực sự giữ
vững ngọn cờ lãnh đạo của Đảng trong đơn vị, hướng mọi hoạt động của đơn
vị theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà
nước. Dưới sự hướng dẫn, trực tiếp của chính ủy, cơ quan chính trị cấp trên,
94
chính trị viên đã nắm được chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy cấp trên, hướng dẫn
của cơ quan chính trị các cấp, tình hình và nhiệm vụ của đơn vị; biết tổ chức
xây dựng và triển khai thực hiện nghị quyết lãnh đạo của chi bộ, của đảng ủy
trong các kỳ đại hội, tháng, quý, năm và các mặt công tác của tổ chức đảng
như công tác kiểm tra, giám sát, phát triển đảng viên mới, công tác xây dựng
chi bộ đại đội, đảng ủy tiểu đoàn trong sạch vững mạnh toàn diện. Thực hiện
đúng vai trò chủ trì về chính trị đối với mọi mặt công tác của đơn vị mình phụ
trách. Cũng như, mọi hoạt động CTĐ, CTCT trong đơn vị như: công tác xây
dựng đảng, công tác tuyên huấn, công tác cán bộ, công tác dân vận, công tác
kiểm tra, giám sát đảng viên v.v..
Qua trao đổi với lãnh đạo, chỉ huy ở một số đơn vị cũng đều nhất trí
cho rằng, đại bộ phận chính trị viên ở đơn vị hiện nay có năng lực chủ trì về
chính trị khá toàn diện, đáp ứng với cương vị, chức trách đảm nhiệm. Vấn đề
này còn được thể hiện ở uy tín của chính trị viên là người chủ trì về chính trị
trong tổ chức đảng, trong đơn vị và trong xã hội ngày một tăng. Qua các kỳ
đại hội gần nhất, hầu hết chính trị viên được bầu là bí thư đảng cấp mình,
nhiều đồng chí là ủy viên cấp ủy cấp trên, các quyết định của họ đưa ra đã
được cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị thực hiện nghiêm túc có hiệu quả, họ luôn
được cấp trên đánh giá cao, bạn bè, đồng nghiệp mến phục, đoàn thể, chính
quyền và nhân dân địa phương yêu mến, tin cậy.
Năng lực tổ chức tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT.
Trong thời gian gần đây, trình độ, khả năng tổ chức, tiến hành các hoạt
động công tác tư tưởng, công tác tổ chức và khả năng điều hành, quản lý đơn
vị của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay đã có nhiều chuyển biến tiến bộ và
đạt được kết quả hết sức khả quan. Theo kết quả điều tra: 68,84% cho rằng
năng lực tổ chức tiến hành CTĐ, CTCT của chính trị viên ở các đơn vị hiện
nay đạt mức độ tốt; 23,72% nhận định ở mức độ khá [phụ lục 3.2].
Số liệu trên có thể thấy, năng lực tổ chức tiến hành CTĐ, CTCT của
chính trị viên ở các đơn vị hiện nay là khá tốt. Trên thực tế đại đa số chính trị
95
viên đã biết vận dụng đúng đắn, sáng tạo những kiến thức, kinh nghiệm vào
thực hiện công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên và xây dựng chi bộ,
đảng bộ theo chức trách, nhiệm vụ; có năng lực quản lý, nắm bắt tình hình tư
tưởng, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ; có tư duy độc lập, sáng tạo, biết tiến hành
các hoạt động CTĐ, CTCT, trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu,
huấn luyện, diễn tập khắc phục hậu quả thiên tai và thực hiện các nhiệm vụ
khác; thực hiện tương đối tốt các buổi thông báo thời sự, tổ chức các ngày
chính trị văn hóa - tinh thần và các hoạt động trong ngày nghỉ cuối tuần cho
bộ đội; biết triển khai xây dựng và tổ chức hoạt động của phòng Hồ Chí
Minh, tổ chức khá tốt các hoạt động phong trào của đơn vị như hoạt động văn
hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, diễn đàn thanh niên, giao lưu kết nghĩa, công
tác dân vận, có kỹ năng nói, viết tương đối khá; nhiều đồng chí chính trị viên
đã đạt giải cao trong các kỳ thi tuyên truyền viên trẻ, thi kể chuyện về tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh, thi bí thư chi bộ giỏi, cán bộ đoàn giỏi.
Năng lực chỉ huy, quản lý và hạt nhân đoàn kết trong đơn vị.
Chính trị viên ở các đơn vị hiện nay đã biết phát huy vị trí chủ trì về
chính trị, là một trong hai người có trách nhiệm và quyền hạn cao nhất trong
đơn vị vào thực hiện chức trách chỉ huy, quản lý đơn vị mình đảm nhiệm. Do
đó, đại đa số chính trị viên hiện nay đã hoàn thành được chức trách chỉ huy,
quản lý đơn vị trong điều kiện không có những biến động lớn về biên chế và
tổ chức, đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, tiến hành các hoạt động tập trung,
diễn ra chủ yếu trong doanh trại. Theo kết quả điều tra có: 71,26% đánh giá
năng lực chỉ huy, quản lý đơn vị của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay đạt
mức độ tốt; 23,30% ở mức độ khá [phụ lục 3.2].
Kết quả trên có thể nhận định rằng, năng lực chỉ huy, quản lý đơn vị
của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay ở mức độ khá tốt. Trong thực tiễn đại
đa số chính trị viên đã có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm trước đơn vị
là một phẩm chất đang được từng bước khẳng định của chính trị viên ở các
96
đơn vị hiện nay, phần lớn chính trị viên không có tâm lý tự ty, rụt rè, ngại
quản lý, chỉ huy như những năm trước đây. Đồng thời, tuyệt đại đa số chính
trị viên hiện nay luôn giữ vững là “hạt nhân” đoàn kết trong đảng bộ, chi bộ
và đơn vị, được đảng ủy, chi bộ tín nhiệm bầu giữ chức bí thư đảng ủy, bí thư
chi bộ, bộ phận chính trị viên này đã thực sự có sức cảm hóa cao và tạo được
tình cảm yêu mến, tin tưởng, ủng hộ của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị; họ đã
biết khai thác, phát huy sức mạnh của các tổ chức quần chúng và năng lực của
mọi cán bộ, chính trị vào thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của đơn vị.
Song, đánh giá một cách khách quan, năng lực của chính trị viên ở các
đơn vị hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập. Theo số liệu khảo sát, điều
tra cho thấy đánh giá việc thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính
trị viên tại các đơn vị hiện nay có: 3,32% đánh giá ở mức độ trung bình,
1,64% đánh giá ở mức độ yếu [phụ lục 3.4]. Đi vào khảo sát, điều tra ở một số
mặt công tác đặc trưng của chính trị viên tại các đơn vị hiện nay như: năng
lực chủ trì về chính trị của chính trị viên ở mức trung bình là 3,15%, mức yếu
0,98%; năng lực tổ chức, tiến hành CTĐ, CTCT của chính trị viên ở mức
trung bình là 4,45%, mức yếu 2,32%; năng lực quản lý, chỉ huy của chính trị
viên ở mức trung bình là 3,80%, mức yếu 1,64% [phụ lục 3.2].
Với các số liệu trên đã phần nào phản ánh trình độ kiến thức, năng lực
của một bộ phận chính trị viên hiện nay chưa tương xứng với cương vị, chức
trách, nhiệm vụ được giao. Trên thực tế, bộ phận chính trị viên này: năng lực
tư duy lý luận không cao, khả năng nắm bắt thực tiễn và vận dụng lý luận vào
giải quyết những vấn đề thực tiễn nảy sinh còn nhiều bất cập; năng lực chủ trì
về chính trị, năng lực chỉ đạo và tiến hành CTĐ, CTCT hạn chế, thiếu tính
chủ động, sáng tạo, còn biểu hiện tính giáo điều, rập khuôn, máy móc kinh
nghiệm, không nắm vững chức trách, nhiệm vụ, thụ động, dựa dẫm cấp trên, ỷ
lại người chỉ huy. Một bộ phận chính trị viên, nhất là chính trị viên đại đội
còn: lúng túng trong xây dựng nghị quyết và duy trì sinh chi bộ, chưa thực sự
97
nắm vững quy trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, kết nạp đảng viên
mới; có chính trị viên còn rất lúng túng trong tổ chức thực hiện công tác xây
dựng đảng, thậm chí thực hiện không đúng nguyên tắc, quy định; trong giảng
bài chính trị, thông báo thời sự tính thuyết phục không cao; tổ chức các hoạt
động phong trào, cổ động thao trường, diễn tập còn kém hiệu quả; năng lực
chỉ huy, quản lý đơn vị còn hạn chế, không nắm chắc tình hình mọi mặt của
đơn vị, lúng túng trong chỉ huy đơn vị thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.
Thứ ba, về phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên ở các đơn vị hiện
nay là kết quả của quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm
trong hoạt động thực tiễn và phản ánh phẩm chất, năng lực của chính trị viên.
Kết quả điều tra xã hội học cho thấy, 89,15 đánh giá chính trị viên hiện nay có
phương pháp, tác phong công tác thực sự khoa học [phụ lục 3.3]. Trên thực tế,
chính trị viên đã nắm vững cương vị, chức trách, nhiệm vụ, có phương pháp,
tác phong công tác phù hợp, hiệu quả, thể hiện ở sự thống nhất cao giữa tính
đảng, tính nguyên tắc với tính năng động, sáng tạo và sự nhạy cảm với cái
mới; có phong cách làm việc trung thực, khách quan, khoa học, có sự thống
nhất cao giữa tính dân chủ, tôn trọng tập thể, phục tùng tổ chức với ý thức tổ
chức, kỷ luật cao và tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách
nhiệm; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập
thể trước khi ra các quyết định, nghị quyết, chỉ thị, không có thái độ cảm tính,
gia trưởng, cá nhân chủ nghĩa, độc đoán, chuyên quyền; phần lớn chính trị
viên thể hiện tác phong làm việc khoa học, gắn lý luận với thực tiễn, có kế
hoạch công tác phù hợp, chính xác, cụ thể tỉ mỉ, sâu sát với quần chúng, thống
nhất giữa lời nói và việc làm; thực hiện nghiêm chế độ công tác, giải quyết tốt
các mối quan hệ với cấp trên, cấp dưới và mối quan hệ giữa lãnh đạo, chỉ huy
đơn vị và cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương nơi đóng quân; chú trọng
phương pháp giáo dục thuyết phục, nêu gương để cán bộ, chiến sĩ noi theo.
98
Bên cạnh những ưu điểm trên, phương pháp, tác phong công tác của
chính trị viên ở các đơn vị hiện nay vẫn còn nổi lên những hạn chế, bất cập.
Phản ánh qua kết quả, điều tra, khảo sát ở các đơn vị cho thấy, 7,70% đánh
giá phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên hiện nay còn chưa
khoa học [phụ lục 3.3]. Thể hiện trong thực tiễn công tác một bộ phận chính
trị viên phương pháp, tác phong công tác chưa thực sự khoa học, mẫu mực
còn biểu hiện: giáo điều, dập khuôn máy móc trong quán triệt, triển khai và tổ
chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; chưa thể hiện sự thống nhất
cao tính Đảng, tính nguyên tắc và tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong công
tác, còn ỷ lại cấp trên, tùy tiện, giản đơn, xa rời quần chúng, chưa thực sự chú
trọng phương pháp giáo dục, thuyết phục, nêu gương, nặng về hành chính,
mệnh lệnh; còn chưa thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa nhận thức và
hành động, nói nhiều làm ít; chưa kết hợp chặt chẽ và giải quyết tốt mối quan
hệ giữa tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, thiếu tính quyết đoán
trong công việc, cá biệt có chính trị viên không dám thừa nhận cái sai của
mình, đổ trách nhiệm cho cấp dưới.
Đánh giá chung: Từ thực trạng nhân cách của chính trị viên trong Quân
đội nhân dân Việt Nam hiện nay, được thể hiện ở những ưu điểm và hạn chế
về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên
ở các đơn vị như đã đề cập ở trên cho thấy: đại đa số chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay đã có nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo TTHCM
về mô hình nhân cách chính trị viên vào phát triển, hoàn thiện phẩm chất,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác của mỗi chính trị viên đáp ứng
yêu cầu thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm được
giao. Nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay có sự phát triển toàn
diện mới, vừa theo các chuẩn mực về mô hình nhân cách chính trị viên mà
TTHCM đã xác định, vừa bổ sung những yếu tố mới trong hệ thống phẩm
chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác đáp ứng với sự phát triển
chung của xã hội và cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong
99
thời kỳ mới. Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập về phẩm chất, năng lực và
phương pháp, tác phong công tác của một bộ phận chính trị viên hiện nay là
vấn đề đáng lo ngại, cần phải được khắc phục kịp thời trong thời gian tới.
Đồng thời, những hạn chế này, cũng phản ánh nhân cách của một bộ phận
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay, còn chưa tương xứng với mô hình
nhân cách của chính trị viên mà TTHCM đã xác định và yêu cầu thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới.
Sở dĩ có được kết quả về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác
phong công tác của chính trị viên hiện nay là do bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân, trong đó nổi lên là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị là
nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của đội ngũ cán bộ
quân đội nói chung, sự phát triển, hoàn thiện nhân cách chính trị viên nói
riêng. Đồng thời, sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trách nhiệm của cấp
ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp trong công tác giáo dục, bồi
dưỡng phát triển nhân cách chính trị viên ở các đơn vị hiện nay. Cũng như,
nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện phát triển
nhân cách chính trị viên từng bước được đổi mới, thiết thực, hiệu quả. Điểm
nhấn nguyên nhân có tính quyết định trực tiếp là do đại đa số chính trị viên
hiện nay có tinh thần, trách nhiệm và ý chí, quyết tâm phấn đấu cao trong tự
học tập, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của mình.
Từ cơ sở đánh giá của các cấp ủy đảng trong các nghị quyết và báo
cáo của các cơ quan chức năng, kết hợp với điều tra, nghiên cứu, khảo sát ở
các đơn vị cho thấy, hạn chế về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác
phong công tác của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay, bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân khác nhau, nhưng tựu chung lại ở một số nguyên nhân chủ yếu
sau: Do sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và tác động
tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta
100
hiện nay là nguyên nhân khách quan khá cơ bản gây cản trở đến sự phát triển
nhân cách của chính trị viên hiện nay. Chất lượng nguồn đào tạo, nội dung,
chương trình, quy trình đào tạo và các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho
hoạt động bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên còn có mặt
hạn chế, bất cập. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở
chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ và chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
đúng mức việc bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên trong
đơn vị thuộc quyền. Sự bất cập của cơ chế, chính sách đối với chính trị viên
chậm được khắc phục, cũng như vấn đề xây dựng môi trường công tác và vận
dụng cơ chế, chính sách mới đối với chính trị viên ở một số đơn vị chưa thật
sự được quan tâm thỏa đáng, nên đã tác động không nhỏ đến động lực phấn
đấu, rèn luyện nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay. Một bộ
phận chính trị viên ý thức, trách nhiệm, tính tự giác kém trong tự tu dưỡng,
rèn luyện và thực hiện chức trách, nhiệm vụ là nguyên nhân chủ yếu trực tiếp
dẫn đến những hạn chế về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong
công tác của chính trị viên hiện nay.
Cùng với các nguyên nhân chủ yếu trên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến
những hạn chế trong nhân cách của chính trị viên hiện nay là do chưa nhận
thức và vận dụng đúng đắn, sáng tạo TTHCM về phát triển nhân cách chính
trị viên. Những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính trị viên trong
QĐNDVN, hàm chứa nhiều vấn đề sâu sắc nhưng chưa được nghiên cứu quán
triệt đầy đủ. Cụ thể, trong một thời gian dài hơn 20 năm chúng ta xác định
chức danh, nhìn nhận vị trí, vai trò, xem xét chức năng, nhiệm vụ của chính
trị viên có những biểu hiện đơn giản, lệch lạc. Chúng ta bỏ chức danh “chính
trị viên”, xác lập chức danh “phó chỉ huy về chính trị”, chức danh này không
phản ánh đúng ý nghĩa như tên gọi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cho
chính trị viên trước đây. Ba nhiệm vụ chính của chính trị viên mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh khái quát: “đối với bộ đội; đối với nhân dân; đối với quân địch”,
cũng được nhìn nhận khác, vì người chủ trì về chính trị lại nằm trong hệ thống
101
chỉ huy với cương vị “cấp phó” - từ địa vị người đại biểu của Đảng bên cạnh
người chỉ huy thành người cấp dưới giúp việc cho người chỉ huy. Trong thực
tiễn hiện nay, hậu quả của nó vẫn chưa được khắc phục triệt để, vì thế ở một
số đơn vị chưa có sự đồng thuận, thống nhất cao trong việc nhận thức và vận
dụng sáng tạo TTHCM về nhân cách của chính trị viên đối với việc hoàn
thiện phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay.
2.2. Xu hƣớng và yêu cầu cơ bản phát triển nhân cách chính trị viên
trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
2.2.1. Xu hướng phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo từ điển Tiếng Việt: “Xu hướng là sự thiên về một hướng nào đó
trong quá trình hoạt động nào đó có ý nghĩa lâu dài” [112, tr.1118]. Theo đó,
vấn đề xác định xu hướng phát triển nhân cách của người chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, chính là phải thấy rõ được xu hướng phát
triển nhân cách của họ diễn ra theo chiều hướng nào? Đã đáp ứng được hay
chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ
của chính trị viên trong thời kỳ mới. Đây là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực
cho sự lựa chọn con đường, biện pháp nhằm thúc đẩy có hiệu quả quá trình
phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM. Quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, có thể rút ra xu hướng phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay như sau:
Thứ nhất, xu hướng phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM đã đáp ứng với yêu cầu thực tiễn thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới.
Thực chất của xu hướng này là các chủ thể tác động phát triển nhân
cách và bản thân chính trị viên có sự nhận thức đúng đắn, vận dụng sáng tạo
TTHCM về phát triển nhân cách chính trị viên vào quá trình phát triển, hoàn
thiện nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay. Cụ thể là, quá
102
trình phát triển nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay đã bám sát
vào TTHCM về mô hình nhân cách chính trị viên và có sự bổ sung, phát triển,
hoàn thiện những thành tố mới trong các yếu tố cấu thành nhân cách của họ.
Kết quả khảo sát, điều tra cho thấy: 83,40% số người được hỏi [phụ
lục 4.1] nhất trí xu hướng phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM đã đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ
của chính trị viên trong thời kỳ mới là xu hướng chính, giữ vai trò chủ đạo.
Trong thực tiễn, xu hướng này đã phản ánh đúng tính khách quan của quá
trình phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM. Thể hiện ở đại bộ phận chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay,
nhân cách của họ không chỉ hội tụ đầy đủ các chuẩn mực về phẩm chất, năng
lực và phương pháp, tác phong công tác của người chính trị viên theo
TTHCM đã xác định mà nhân cách của họ đã được bổ sung thêm những yếu
tố mới về tư tưởng, quan niệm sống, quan điểm chính trị, sự nhận thức đúng,
sai các vấn đề thực tiễn nảy sinh v.v.. theo đúng tinh thần Nghị quyết số 769 -
NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương “Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội
giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Vì vậy, nhân cách của bộ
phận chính trị viên này đã thực sự đáp ứng với yêu cầu thực tiễn thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ của người chính trị viên trong thời kỳ mới. Họ
thực sự xứng đáng là người lãnh đạo, người chỉ huy, người anh, người chị và
người bạn của bộ đội.
Việc nhận định xu hướng trên còn được dựa trên những cơ sở sau:
Đất nước ta đã và đang bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới tư duy lý luận của Đảng, nên
chúng ta đã có sự nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về giá trị của TTHCM đối
với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Do đó, việc giữ vững định hướng của các
chủ thể về vấn đề phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM ngày càng có chiều sâu, vững chắc. Qua khảo sát, điều tra có:
85,03% số người được hỏi nhất trí với nhận định này [phụ lục 4.2].
103
Vấn đề quán triệt và tổ chức thực hiện việc “học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang đi vào chiều sâu cuộc sống của mọi
tầng lớp nhân dân và quân đội; sự nhận thức của các chủ thể về Nghị quyết số
51/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 513/NQ - ĐUQSTW của Quân ủy
Trung ương bước đầu đã có sự đồng thuận và thống nhất trong đời sống xã
hội và toàn quân. Thực tiễn gần 10 năm tổ chức triển khai các nghị quyết này
đã và đang đạt được hiệu quả, khẳng định tính đúng đắn của các nghị quyết là
nhân tố quyết định phương hướng chính trị, mục tiêu, phương châm chỉ đạo
toàn bộ các hoạt động công tác và xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị, trong đó
có chính trị viên. Gần đây, sự ra đời Nghị quyết số 769 - NQ/QUTW của
Quân ủy Trung ương “Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 -
2020 và những năm tiếp theo”, là cơ sở mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đảm
bảo cho quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh về mọi mặt,
cũng chính là cơ sở vững chắc định hướng chính trị cho quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Các khâu, các bước của quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN theo TTHCM được nghiên cứu có tính khoa khọc, phù
hợp và được quy chuẩn hóa, pháp quy hóa ngày càng cao; đồng thời, trình độ
nhận thức, tổ chức quán triệt của đại bộ phận chủ thể đối với TTHCM về phát
triển nhân cách của chính trị viên ngày một nâng cao; bản thân đại đa số chính
trị viên ngày càng ý thức sâu sắc về cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình,
vì vậy, họ càng nhận thức sâu sắc hơn sự cần thiết việc phát triển nhân cách
của mình theo TTHCM về mô hình nhân cách của chính trị viên.
Từ những cơ sở trên có thể nhận định, xu hướng phát triển nhân cách
của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh đáp ứng được yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính
trị viên trong thời kỳ mới là xu hướng chính, giữ vai trò chủ đạo, đã và đang
được giữ vững, từng bước xã hội hóa đi vào chiều sâu và bền vững, phản ánh
đúng tính tất yếu khách quan của sự phát triển.
104
Thứ hai, xu hướng phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn thực
hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới.
Theo kết quả điều tra cho thấy, ngoài đại bộ phận các chủ thể thừa
nhận xu hướng phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị
viên trong thời kỳ mới là xu hướng chính, giữ vai trò chủ đạo, thì vẫn còn
12,84% cho rằng xu hướng phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn thực
hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới [phụ
lục 4.1]. Thực chất của xu hướng này, phản ánh tình trạng một bộ phận các
chủ thể tác động phát triển nhân cách và chính trị viên nhận thức, vận dụng
TTHCM về phát triển nhân cách chính trị viên vào quá trình phát triển nhân
cách của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay không đúng, chưa đầy đủ và
thiếu tính sáng tạo. Cũng như, sự chuyển hóa những giá trị mô hình nhân cách
chung cần phải có của người chính trị viên theo TTHCM, thành phẩm chất,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác riêng của mỗi chính trị viên còn
chưa phù hợp, có sự lệch lạc.
Xu hướng này phản ánh tính tiêu cực có tính tự phát của một hiện
trạng phát triển nhân cách mà chính trị viên không làm chủ, không kiểm duyệt
được quá trình thực hiện phát triển nhân cách của mình đúng với chuẩn mực
nhân cách của chính trị viên theo TTHCM đáp ứng với yêu cầu cương vị,
chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới. Với đặc điểm đó,
xu hướng này thể hiện sự kém hiệu quả luôn cản trở xu hướng tích cực của
quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM. Nếu không nhận thức được xu hướng này thì không chủ động
ngăn chặn, nắn chỉnh sự lệch lạc và hiệu quả phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM sẽ không cao.
105
Xu hướng phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM chưa đáp ứng với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm
vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới, có cơ sở khách quan và chủ quan của
nó, nhưng nổi bật cơ sở trực tiếp của xu hướng này là:
Việc nghiên cứu quán triệt, học tập Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ
Chính trị và các nghị quyết, quy định, hướng dẫn của Đảng ủy Quân sự Trung
ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và
Tổng cục Chính trị ở nhiều nơi chưa sâu, chưa kỹ, nên nhận thức của một bộ
phận cán bộ, đảng viên chưa thống nhất, chưa đúng và chưa đầy đủ với nội
dung Nghị quyết số 51/NQTW của Bộ Chính trị. Không ít chủ thể ở các đơn
vị còn nhận thức chưa thật đầy đủ, tính thống nhất không cao về cương vị,
chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của chính trị viên và mối quan hệ giữa chính
trị viên với người chỉ huy, dẫn đến còn có biểu hiện nhận thức không đúng sự
cần thiết thực hiện việc phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM.
Chính trị viên tuy trình độ học vấn tương đối đồng đều, thực hiện
cương vị, chức trách giống nhau nhưng do kinh nghiệm, vốn sống, hoàn cảnh
gia đình, động cơ, ý chí, tình cảm v.v.. còn có sự chênh lệch nên quan niệm
của họ về giá trị và phản giá trị không tập trung thống nhất như trước, mà có
sự phân hóa khá lớn. Song, điểm nhấn là do chính từ sự non kém về bản lĩnh,
lười học tập, rèn luyện, thiếu chí tiến thủ của một bộ phận chính trị viên nên
việc thực hiện phát triển nhân cách hiện nay của họ theo TTHCM còn có sự
lệch lạc, chưa đáp ứng với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của người
chính trị viên trong thời kỳ mới.
Mặt khác, chính trị viên cũng là một tập hợp người liên tục được tiếp
nối bởi các thế hệ khác nhau. Hàng năm có một lớp bổ sung mới vào quá trình
đào tạo để trở thành chính trị viên tương lai, rồi lớp đã được đào tạo xong bổ
sung về các đơn vị thực hiện trực tiếp cương vị, chức trách của người chính trị
106
viên tại các đơn vị phân đội và cũng có một bộ phận chính trị viên phát triển
lên các cương vị mới. Do đó, ở một thời gian cụ thể luôn có lớp chính trị viên
mới và lớp chính trị viên cũ (đã được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn),
nên trình độ nhận thức, sự trải nghiệm thực tiễn của các lớp chính trị viên là
khác nhau. Vì vậy, xét trong một thời gian cụ thể luôn tồn tại khoảng cách
nhất định về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác ở các
lớp chính trị viên. Tính lặp lại của đặc điểm trên phản ánh tính quy luật của
quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM, cần phải được nhận thức đầy đủ và khắc phục kịp thời.
Hai xu hướng trên song song tồn tại như hai mặt của một mâu thuẫn
biện chứng xuyên suốt quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Vì vậy, nhận thức đúng nội dung, tính chất
của hai xu hướng này là cơ sở để cho các chủ thể lãnh đạo, chỉ huy, các cơ
quan chức năng, đặc biệt bản thân chính trị viên chủ động làm chủ quá trình
phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
2.2.2. Yêu cầu cơ bản phát triển nhân cách chính trị viên trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM là hoạt động in đậm dấu ấn nỗ lực chủ quan của các chủ thể và đối
tượng, diễn ra thường xuyên, liên tục trong những điều kiện, hoàn cảnh khác
nhau, với sự phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, biện pháp, liên
quan đến nhiều lực lượng và những điều kiện đảm bảo cho quá trình này. Vì
vậy, trên cơ sở lý luận và thực trạng quá trình phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM và tư tưởng chỉ đạo của Đảng
về công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ chính trị viên trước yêu cầu,
nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới. Cũng như, từ đặc điểm của đội ngũ
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay được hình thành từ nhiều nguồn
107
khác nhau, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có sự đa dạng về cơ cấu
cấp cấp bậc, trình độ học vấn, tuổi quân, tuổi đời, dân tộc, vùng miền và sự
không đồng đều về trình độ, kinh nghiệm công tác v.v.. Trong khi đó, chính
trị viên hiện nay còn bị ảnh hưởng, chi phối về nhận thức, phương pháp, tác
phong công tác của cơ chế 07 và 27 để lại.
Từ những vấn đề trên, đòi hỏi quá trình phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM cần quán triệt và thực hiện
tốt các yêu cầu cơ bản sau:
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng, trực tiếp là
các Nghị quyết của Quân ủy Trung ương liên quan trực tiếp đến quá trình
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Phát triển nhân cách của chính trị viên nhằm góp phần trực tiếp thực
hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị do Đảng
ta xác định và lãnh đạo. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó Đảng phải
lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác, đặc biệt khâu có ý nghĩa then
chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị vững mạnh toàn diện. Do đó, việc
tiếp tục quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng, trực tiếp là các Nghị
quyết của Quân ủy Trung ương liên quan trực tiếp đến quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là yêu
cầu hàng đầu. Đó là một trong những nhân tố quyết định đảm bảo cho hoạt
động đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra. Không nắm chắc và không xuất
phát từ các Nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội
ngũ cán bộ quân đội nói chung, thì mọi hoạt động phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM sẽ bị chệch khỏi quỹ
đạo và không đạt được kết quả như mong muốn.
Với tinh thần đó, cần phải chú trọng nắm chắc quan điểm của Đảng về
tiêu chuẩn của người cán bộ, đảng viên của Đảng; về giáo dục, đào tạo; chiến
lược xây dựng đội ngũ cán bộ; về công tác tư tưởng lý luận; về tiêu chí con
người mới Việt Nam XHCN được đề cập trong các Nghị quyết Đại hội của
108
Đảng, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư, trong đó tập trung vào: Nghị quyết Trung ương ba (khóa VIII), bàn về
tiêu chuẩn cán bộ; Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII), bàn về xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết Trung ương bốn
(khóa XI), một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, và Nghị quyết
Trung ương lần thứ chín (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Quán triệt
thực hiện: Nghị quyết Đại hội đại biểu quân đội lần thứ IX; đặc biệt là chỉ thị
số 06 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI), về việc tiếp tục đẩy mạnh và thực
hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”;
điểm nhấn trực tiếp nhất hiện nay là tiếp tục tập trung quán triệt và thực hiện
tốt Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX), “Về việc tiếp tục
hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn
với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐNDVN”.
Quá trình tổ chức thực hiện phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN theo TTHCM cần bám sát tư tưởng chỉ đạo của các Nghị
quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội trong thời kỳ mới; Nghị quyết số
513/NQ-ĐUQSTW về: “Lãnh đạo triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết số
51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh
đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ
chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; Nghị quyết số
769 - NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng đội ngũ cán bộ
quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Nội dung các nghị
quyết trên là sự vận dụng sáng tạo TTHCM và cụ thể hóa quan điểm tư tưởng
của Đảng về vấn đề cán bộ trong quân đội, đã và đang là cơ sở nền tảng chỉ
đạo, có tác dụng trực tiếp, ý nghĩa chiến lược trong xây dựng đội ngũ cán bộ
quân đội, bao gồm cả hoạt động phát triển nhân cách của chính trị viên hiện
nay theo TTHCM. Việc tiếp tục quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết đó
nhằm đưa vào nội dung, hình thức, biện pháp phát triển nhân cách của chính
109
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là trách nhiệm của tất cả các
lực lượng có liên quan. Đồng thời, quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng
không dừng lại ở các nghị quyết đã ban hành mà còn được cụ thể hóa và tiếp
tục phát triển ở các nghị quyết trong thời gian tới. Vì vậy, quá trình phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, đòi hỏi các
chủ thể có liên quan phải thường xuyên cập nhật sự phát triển mới về sự lãnh
đạo, chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương và vận dụng vào
thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt.
Hai là, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng,
kết hợp chặt chẽ vai trò của tổ chức và mỗi cá nhân.
Một trong những bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình lãnh đạo
cách mạng của Đảng là phải luôn biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Bài học này đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo
cho mọi cấp, mọi ngành, trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là cơ sở để khẳng định vấn đề có tính
nguyên tắc việc phát huy được sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, kết hợp
chặt chẽ vai trò của tổ chức và mỗi cá nhân trong thực hiện mục tiêu phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM không phải là việc riêng của cơ quan chức năng, của người chính ủy,
chính trị viên mà liên quan đến trách nhiệm của nhiều lực lượng. Các lực
lượng có vị trí, vai trò, trách nhiệm khác nhau nhưng cùng chung một mục
đích, nhiệm vụ phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM. Sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tác động vào quá
trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM phụ thuộc vào sức mạnh của từng lực lượng cụ thể. Nếu quá trình
phối hợp thiếu nhịp nhàng, không ăn khớp thì việc thực hiện mục tiêu đề ra là
hết sức khó khăn. Do đó, cùng với sự phân cấp phải có sự phối hợp chặt chẽ
110
giữa các lực lượng có liên quan. Vì vậy, cần phải phát huy sự nỗ lực chủ quan
của từng lực lượng, với vai trò của công tác tổ chức chặt chẽ để tạo nên sự
thống nhất cao nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thực tiễn hiện nay đã và đang đặt ra yêu cầu rất cao sự nỗ lực chủ quan
của từng lực lượng, và sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các lực lượng liên
quan trực tiếp đến phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM. Đó là sự định hướng, hướng dẫn của cơ quan Tổng
cục Chính trị phải đảm bảo được tính thường xuyên, liên tục mang tính hệ
thống, thống nhất, nhất quán trong toàn quân đối với phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Trên cơ sở đó từng
quân khu, quân đoàn, sư đoàn vận dụng sự định hướng, hướng dẫn của cơ
quan Tổng cục Chính trị vào định hướng cho các đơn vị cơ sở của mình một
cách đúng đắn, phù hợp, sát với tình hình, đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị.
Sự định hướng, hướng dẫn của cơ quan phòng chính trị các đơn vị
quân khu, quân đoàn, sư đoàn, trực tiếp nhất là cấp trung đoàn phải bám sát
chặt chẽ thực tiễn và những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, từ đó có kế
hoạch chỉ đạo, bồi dưỡng, phát triển nhân cách của chính trị viên một cách
phù hợp, sát, đúng, trúng với từng đơn vị phân đội thuộc quyền.
Đối với cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy ở từng cơ quan đơn vị phân đội cần
có sự thống nhất nhận thức, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong định hướng,
hướng dẫn chính trị viên thuộc quyền trong thực hiện phát triển nhân cách của
họ theo TTHCM. Thực hiện phương châm chính trị viên cần gì, thiếu gì, yếu
gì thì tập trung định hướng, hướng dẫn cái đó. Vì vậy, trên cơ sở bám sát thực
tiễn, xem xét kỹ lưỡng, đánh giá cụ thể tình hình nhiệm vụ của đơn vị và trình
độ, khả năng nhận thức, tình cảm, thái độ chính trị, hành vi đạo đức, nguyện
vọng v.v.. của chính trị viên, cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chủ động lựa
chọn nội dung, xác định đúng trọng tâm và khâu đột phá, chọn hình thức và
111
phương pháp thích hợp để định hướng, hướng dẫn việc phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM đạt hiệu quả thiết
thực đáp ứng mục đích đã đề ra. Đối với các nhà trường có chức năng đào tạo,
bồi dưỡng chính trị viên phải sâu sát hơn với thực tiễn yêu cầu cương vị, chức
trách, nhiệm vụ của chính trị viên, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cơ sở để
có sự điều chỉnh chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
chính trị viên tại trường, cũng như có kế hoạch giúp đỡ các đơn vị cơ sở trong
bồi dưỡng tại chức cho chính trị viên theo yêu cầu của đơn vị.
Yêu cầu quan trọng đặt ra đối với các chủ thể đóng vai trò tác động đến
phát triển nhân cách của chính trị viên cần nêu cao tính chủ động, nhạy bén
trong tổ chức thực hiện, tránh khuynh hướng dựa dẫm, ỷ lại, kịp thời phát
hiện những vấn đề mới nảy sinh, có giải pháp hữu hiệu thực hiện ngày càng
tốt hơn sự kết hợp giữa tổ chức, các lực lượng và chính trị viên trong thực
hiện mục tiêu phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM. Song, vấn đề đặt ra ở đây, dù các chủ thể, các lực lượng,
các tổ chức dù có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển nhân cách của
chính trị viên đến mức độ nào, cũng không thể làm thay vai trò có tính quyết
định trực tiếp của chính bản thân chính trị viên trong quá trình thực hiện phát
triển nhân cách. Do đó, mọi nỗ lực của các chủ thể, các tổ chức, các lực lượng
tác động tới quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên chỉ có thể đạt
được hiệu quả cao khi mỗi chính trị viên có tinh thần tích cực, chủ động, tự
giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của mình.
Ba là, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM phải thường xuyên, liên tục, từ thấp đến cao, có chiều sâu,
chống hình thức chủ nghĩa, với nhiều hình thức, biện pháp, thông qua nhiều
nội dung giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện thực hiện phát triển nhân cách.
Thực tiễn cho thấy, việc phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM không thể chia cắt theo định lượng, định
tính về thời gian và càng không thể có điểm dừng. Bởi, thực tiễn luôn vận
112
động, biến đổi không ngừng, yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nói chung, sự
nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị ngày càng đòi hỏi cao.
Cùng với đó là tính biến động ngay từ môi trường công tác của chính trị viên
và nội tâm bên trong của chính mỗi chính trị viên cũng luôn vận động. Do
vậy, việc phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM không thể giải quyết một lần, hay một vài lần là kết thúc mà
phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Gắn với các hoạt động công tác
lãnh đạo, chỉ huy của chính trị viên và mọi hoạt động của đơn vị để rèn luyện
từng phẩm chất, hành vi biểu hiện nhân cách của chính trị viên.
Tính thường xuyên, liên tục ở đây là sự xuyên suốt, không có sự gián
đoạn, một quá trình công phu bền bỉ, gian khổ, hằng ngày, hằng giờ, ở mọi
lúc, mọi nơi, mọi thời điểm và dù trong điều kiện hoàn cảnh thuận lợi, cũng
như khó khăn. Đòi hỏi mọi chủ thể có liên quan phải thường xuyên chỉ đạo và
tổ chức tốt các hoạt động trong quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên và từng chính trị viên phải luôn luôn nêu cao tinh thần “gian nan” tu
dưỡng, rèn luyện kiên trì, bền bỉ như một quá trình “giã gạo” có như vậy, mới
thực hiện tốt mục tiêu phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM, đáp ứng chức trách, nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Việc phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM là một quá trình từ cảm tính đến lý tính, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện, từ tự phát đến tự giác, từ nhận thức đến hành động, từ lý luận đến
thực tiễn. Do đó, quá trình phát triển này là đi từ thấp đến cao, từ sự tích lũy dần
dần các thuộc tính trong phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công
tác của chính trị viên, đến sự hoàn thiện các chuẩn mực nhân cách đó theo
TTHCM, với yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm được tính chiều sâu của sự phát
triển nhân cách. Nghĩa là, trong việc phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM phải đảm bảo được tính hệ thống các giá trị
nhân cách chung của người cán bộ quân đội với các chuẩn mực nhân cách của
113
chính trị viên - nhân cách của người lãnh đạo, người anh, người chị và người
bạn của bộ đội. Do vậy, đòi hỏi các chủ thể và từng chính trị viên trong tổ chức
thực hiện quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình từ thấp đến cao, vừa có
tính hệ thống vừa có chiều sâu, tránh sự nóng vội, hay chạy theo hình thức
chung chung không có tính hiệu quả.
Quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM không dừng lại ở một hình thức, biện pháp cụ thể nào và
cũng không mang tính đơn điệu về nội dung, mà cần phải đa dạng về hình
thức, biện pháp, phong phú về nội dung. Tính quy luật trong hoạt động thực
tiễn của con người cho thấy, để thực hiện bất kỳ một mục tiêu, nhiệm vụ ở
một hoạt động cụ thể nào, cũng đều phải tiến hành nhiều hình thức và biện
pháp đa dạng với nội dung phong phú, sinh động. Sinh thời, Bác Hồ luôn
nhắc nhở cán bộ, đảng viên đặt ra định mức một, thì phương pháp tiến hành
phải mười lăm, hai mươi. Theo đó quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là một nhiệm vụ khó khăn, phức
tạp, càng đòi hỏi cao về tính năng động trong việc áp dụng, tìm tòi các hình
thức, biện pháp và nội dung giáo dục, bồi dưỡng phát triển nhân cách của cả
chủ thể tác động và chính trị viên.
Cụ thể về hình thức, biện pháp cần phải thể hiện sự phong phú, đa
dạng, tránh tình trạng cứng nhắc, máy móc, khô khan. Trên cơ sở những hình
thức, biện pháp theo cơ quan Tổng cục Chính trị đã quy định cho toàn quân,
đòi hỏi, mỗi đơn vị căn cứ vào tình hình, đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị mình
mà có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo sao cho hình thức, biện pháp trong việc
phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM phải gắn với các hoạt động công tác sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện,
lao động sản xuất của đơn vị, cũng như đảm bảo cho sự phấn đấu, tu dưỡng,
114
rèn luyện của chính trị viên ở từng đơn vị. Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa
công tác tư tưởng với công tác tổ chức; giữa công tác giáo dục và tự giáo dục;
giữa khen thưởng, động viên kịp thời với kỷ luật nghiêm minh; giữa các biện
pháp giáo dục, rèn luyện trong quân đội với các biện pháp giải quyết khó
khăn, cải thiện đời sống gia đình chính trị viên nhằm huy động mọi khả năng
điều kiện của quân đội và đơn vị nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM đạt được hiệu quả cao nhất.
Là người cán bộ của Đảng chủ trì về chính trị và trực tiếp chỉ đạo và
tiến hành CTĐ, CTCT trong các đơn vị quân đội. Nên chính trị viên phải làm
cho chính trị can dự vào tất cả mọi hoạt động của đơn vị, từ hoạt động CTĐ,
CTCT đến quân sự, hậu cần, kỹ thuật và trong tất cả các trạng thái huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, lao động sản xuất v.v.. Cho nên,
chính trị viên phải là người có hiểu biết toàn diện, giỏi về chuyên ngành của
mình, có như vậy, mới đáp ứng được yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ
được giao. Vì vậy, quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM tùy theo điều kiện hoàn cảnh, môi trường
công tác, tính chất thực hiện nhiệm vụ và khả năng của chính trị viên mà đưa
vào những nội dung giáo dục, bồi dưỡng cho phù hợp. Nhưng về cơ bản
chính trị viên phải được trang bị và nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội; nhiệm vụ của quân đội, của
mỗi đơn vị thuộc phạm vi cương vị, quyền hạn của chính trị viên; bảo đảm
cho chính trị viên đạt trình độ cần thiết về kiến thức khoa học xã hội và nhân
văn quân sự, có trình độ chỉ huy - tham mưu, kiến thức quân sự ngang với cán
bộ quân sự cùng cấp; có hiểu biết chung về khoa học cơ bản, công nghệ thông
tin, sử dụng thành thạo các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ chính trị tại đơn vị. Đặc biệt là, trong nội dung giáo dục, bồi
dưỡng phải thực sự giúp chính trị viên có được bản lĩnh chính trị - tư tưởng
vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; phương pháp,
115
tác phong công tác khoa học, mẫu mực; giỏi về kiến thức chuyên ngành CTĐ,
CTCT đáp ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên ở
các đơn vị phân đội hiện nay.
Bốn là, phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: trong mỗi con người bao giờ
cũng tồn tại đan xen hai mặt đối lập nhau giữa tốt và xấu, đúng và sai, thiện
và ác, chúng ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như
hoa mùa Xuân, và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng.
Theo đó, vấn đề phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM nhất thiết phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và
“chống”, trong đó: lấy xây là chính, nền tảng; chống là quan trọng xuyên suốt
quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên QĐNDVN hiện nay.
Với mục đích cao nhất “xây” tốt, để “chống” tốt và “chống” tốt, để
“xây” càng tốt hơn. Xây là chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện cho chính trị viên
những chuẩn mực, giá trị nhân cách cao đẹp, làm cho những chuẩn mực, giá
trị nhân cách chung của chính trị viên trở thành phẩm chất nhân cách của mỗi
chính trị viên. Đây là quá trình công phu bền bỉ, đòi hỏi sự nỗ lực giáo dục
của tổ chức, tập thể đối với chính trị viên, đồng thời là kết quả của quá trình
tự tu dưỡng, rèn luyện của từng chính trị viên. Vì vậy, phải bằng những hình
thức, biện pháp chuyển tải các chuẩn mực giá trị nhân cách ngày càng đầy đủ,
phong phú, sâu sắc tới chính trị viên. Đồng thời, “chống” là chống sự hình
thức chung chung, không thường xuyên, hoặc làm theo phong trào chiếu lệ,
“đầu voi”, “đuôi chuột” của việc phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Đặc biệt, phải kiên quyết chống chủ nghĩa
cá nhân và sự tha hóa, biến chất về chính trị tư tưởng, lệch lạc về nhân cách
của chính trị viên hiện nay.
Trước đây, khi còn thực hiện Nghị quyết 27/NQ-TW, nhiều cán bộ cho
rằng, chính trị viên bị hạ thấp vai trò cương vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền
116
hạn vì cơ chế. Nhưng hiện nay, mặc dù đã thực hiện cơ chế mới theo nội dung
Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX), được gần 10 năm nhưng
trong thực tế một bộ phận chính trị viên vẫn thực sự chưa khẳng định được
mình. Do đó, vấn đề đặt ra là không thể đổ lỗi hết cho cơ chế, mà vấn đề suy
cho cùng chính là phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác
công tác của chính trị viên vấn là nhân tố đóng vai trò quyết định vị thế và uy
tín của chính trị viên trên thực tế. Thiếu tướng, PGS, TS Phùng Văn Thiết,
Phó Hiệu trưởng Trường sĩ quan Chính trị nhận định: “Thực tế lịch sử đã cho
thấy, dù ở bất cứ vị thế nào - là người có “quyền tối hậu quyết định”, là phó
chỉ huy về chính trị, hay là người chủ trì về chính trị như hiện nay - thì bên
cạnh tuyệt đại đa số chính trị viên có tư cách tốt vẫn luôn có một bộ phận
trong số họ “không làm tròn nhiệm vụ” [105, tr.81]. Vì vậy, việc phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM phải gắn
với việc xây dựng đồng bộ hệ thống phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác
phong công tác của chính trị viên đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ của
họ và sự nghiệp xây dựng, chiến đấu của quân đội trong thời kỳ mới.
Trong điều kiện hiện nay thực hiện giữa “xây” và “chống” trong quá
trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM có tầm quan trọng như nhau, không thể chú trọng mặt này mà xem
nhẹ mặt kia. Nếu đơn vị nào đề cao “chống”, xem nhẹ “xây” và ngược lại thì
sẽ không đạt được mục tiêu trong quá trình phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Để thực hiện tốt giữa “xây” và “chống” của quá trình phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cần phải thực
hiện tốt việc định hướng giá trị nhân cách cho mọi quân nhân và chính trị viên
ở các đơn vị. Tập trung vào việc tạo cho chính trị viên có thái độ trách nhiệm
cao, động cơ trong sáng, lành mạnh, không cơ hội, vụ lợi, có ý chí quyết tâm
vượt lên chính mình, khắc phục mọi khó khăn, chiến thắng mọi tác động tiêu
cực ngoại cảnh trong việc phát triển nhân cách của mình theo TTHCM. Điều
117
quan trọng là phải phát hiện sớm những hiện tượng lệch lạc về nhân cách,
hướng người chính trị viên ở các đơn vị vào cuộc đấu tranh cho sự lành mạnh
và sự phát triển nhân cách. Hơn nữa, cần phải thấy trước những vấn đề xảy ra
để đề phòng ngăn chặn, phải đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện trái với
đạo đức cách mạng như tham nhũng, lãng phí, kiêu ngạo, bè phái, quan liêu,
hống hách v.v.. trong đội ngũ cán bộ và chính trị viên ở các đơn vị hiện nay.
Tựu chung lại cần phải kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng chính trị viên
không có cái “tâm”, cái “tầm”, không lấy lợi ích của Đảng, của nhân dân, chỉ
vì lợi ích của cá nhân mình. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta hiện nay, việc thực hiện giữa “xây” và “chống” là một trong những
yêu cầu cơ bản trong phát triển nhân cách đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng
và chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Các yêu cầu trên phản ánh tính toàn diện, chỉnh thể thống nhất, có quan
hệ chặt chẽ và bổ xung cho nhau, cùng chi phối đến mục tiêu, nội dung, biện
pháp nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM, đáp ứng cương vị, chức trách, nhiệm vụ của người chính trị
viên trong thời kỳ mới.
118
Kết luận chƣơng 2
Thực trạng phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM, được thể hiện cụ thể trên các mặt: từ nhận thức
TTHCM về phát triển nhân cách của chính trị viên của các chủ thể, đến
chuyển hóa nhận thức của họ thành nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện
phát triển nhân cách của chính trị viên theo TTHCM; cũng như thực trạng
nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị hiện nay. Đánh giá tổng thể thực
trạng phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM đã và đang có những chuyển biến tích cực. Nhân cách của chính trị
viên hiện nay có sự phát triển toàn diện mới, vừa theo các chuẩn mực về mô
hình nhân cách của chính trị viên mà TTHCM đã xác định, vừa bổ sung
những yếu tố mới trong hệ thống phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác
phong công tác đáp ứng với xu hướng phát triển chung của xã hội và cương
vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, nghiên cứu thực trạng phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cũng cho thấy, bên cạnh mặt ưu
điểm, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần phải được kịp thời khắc phục trong
thời gian tới. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập có nhiều, nhưng chủ
yếu là do một bộ phận chính trị viên chưa nhận thức đúng đắn TTHCM về
phát triển nhân cách chính trị viên; chưa khắc phục triệt để thói quen “làm cấp
phó” trước đây. Đặc biệt, ở bộ phận chính trị viên này ý thức, trách nhiệm
kém, lười học tập, ngại rèn luyện, thiếu chí tiến thủ v.v..
Mặt khác, từ thực trạng phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cho thấy vẫn còn tồn tại hai xu hướng
trong quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM, trong đó xu hướng phát triển theo hướng tích cực luôn giữ
vai trò chủ đạo, ngày càng đi vào chiều sâu, bền vững. Đồng thời, luận án đã
chỉ ra các yêu cầu cơ bản có tính chỉ đạo xuyên suốt quá trình phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
119
Chƣơng 3
GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH
TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
3.1. Nâng cao chất lƣợng giáo dục, đào tạo và bồi dƣỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 3.1.1. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo chính trị viên nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, tạo cơ sở nền tảng của việc
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Một trong những vấn đề có tính quy luật đối với quá trình phát triển, hoàn
thiện nhân cách của mỗi cá nhân con người không phải là quá trình tự phát mà
là quá trình tự giác. Quá trình này, trước hết và chủ yếu thông qua chất lượng
giáo dục, đào tạo và tự giáo dục, đào tạo. Bởi vì, thông qua giáo dục, đào tạo,
con người lĩnh hội các giá trị xã hội, hình thành và phát triển toàn diện hệ
thống phẩm chất nhân cách đúng hướng theo giá trị nhân cách chung của xã
hội và tính chất nghề nghiệp cần phải có. Thực tiễn phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là hợp quy luật của quá
trình nhận thức chân lý. Hay nói cách khác, thông qua quá trình giáo dục, đào
tạo chính trị viên, trực tiếp giúp cho họ lĩnh hội, tiếp nhận kiến thức, rèn luyện
phát triển nhân cách theo mô hình nhân cách chính trị viên cần phải có, đáp
ứng yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của họ sau này.
Từ thực tiễn trong những năm qua cho thấy chất lượng giáo dục, đào
tạo chính trị viên ở các nhà trường quân đội, trong đó trọng tâm là Trường Sĩ
quan Chính trị đã đạt được kết quả hết sức khả quan, phần lớn học viên đào
tạo chính trị viên tốt nghiệp ra trường đều đạt từ mức khá và giỏi. Nhưng
cũng còn không ít học viên đào tạo chính trị viên tốt nghiệp ra trường đạt ở
mức trung bình, thậm chí là yếu [phụ lục 6]. Như vậy, chất lượng khởi điểm
120
của một bộ phận chính trị viên là tương đối thấp, theo đó sự phát triển nhân
cách của bộ phận chính trị viên này trong thực tiễn sẽ gặp không ít khó khăn.
Do đó, vấn đề đặt ra ở đây, cần phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo
dục, đào tạo chính trị viên ở các nhà trường đào tạo chính trị viên hiện nay.
Quá trình này, cần phải thực hiện đồng bộ, nhiều nội dung, biện pháp trong tất cả
các khâu, các bước của quá trình nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nhằm
phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM,
trong đó cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đổi mới nâng cao chất lượng tuyển chọn đào tạo chính trị
viên tạo cơ sở nền móng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo chính trị
viên nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM.
Tuyển chọn nguồn đào tạo chính trị viên là khâu hết sức quan trọng
nhằm thu hút, phát hiện những người có tâm huyết, có trí tuệ và năng lực thực
tiễn, đủ điều kiện đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo để trở thành chính trị
viên sau này. Vì vậy, việc phát hiện, tuyển chọn, thu hút đúng đối tượng đào
tạo nguồn chính trị cần phải quán triệt và tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quy định của quân đội trong công
tác tuyển chọn nguồn đào tạo chính trị viên.
Công tác tuyển chọn nguồn đào tạo chính trị viên ở các nhà trường đào
tạo chính trị viên hiện nay phải được: công khai, dân chủ, bình đẳng, tránh
cách thức tuyển chọn chủ quan, phiến diện, áp đặt có tính chất bắt buộc; khắc
phục tình trạng hành chính hoá, thiếu công khai, minh bạch trong các khâu
tuyển chọn; cần dựa vào khả năng thực của đối tượng để lựa chọn đào tạo
chính trị viên vừa bảo đảm quy trình chặt chẽ, nghiêm túc, vừa kết hợp được
việc đánh giá các phẩm chất chính trị, đạo đức của họ thông qua thăm dò tín
nhiệm; có chính sách mở rộng, “chiêu hiền, đãi sĩ” và đa dạng hoá đối tượng và
hình thức tuyển chọn nguồn đào tạo chính trị viên, lấy chất lượng làm chính,
121
không chạy theo số lượng đơn thuần, chú trọng tuyển chọn người có đức, có
tài thực sự. Do đó, đòi hỏi những người được tuyển chọn đào tạo để trở thành
chính trị viên không chỉ có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe tốt mà còn
phải có tư chất, năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của người cán bộ chính trị.
Các nhà trường đào tạo chính trị viên cần phải có chiến lược, chủ
trương, chính sách, kế hoạch, nội dung, chương trình, biện pháp đối với công
tác tuyển chọn nguồn đào tạo chính trị viên phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ
của từng trường và đối tượng được tuyển chọn ở từng vùng, miền. Phải có kế
hoạch cụ thể, có sự lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện hết sức chu đáo,
chặt chẽ, nghiêm túc của cấp uỷ đảng, chỉ huy các cấp và các cơ quan chức
năng đối với công tác tuyển chọn nguồn đào tạo chính trị viên, tránh hiện
tượng chạy theo số lượng làm ảnh hưởng đến chất lượng dẫn đến tình trạng
“vừa thừa, vừa thiếu” trong đào tạo chính trị viên. Vì vậy, đổi mới nâng cao
chất lượng tuyển chọn đào tạo chính trị viên là cơ sở nền móng, điều kiện
thuận lợi cho quá trình nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo chính trị viên ở
các nhà trường sĩ quan cũng như bồi dưỡng, rèn luyện, phát triển hoàn thiện
nhân cách của chính trị viên ở các đơn vị cơ sở sau này.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa mô hình, mục tiêu giáo dục, đào
tạo với hướng phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM.
Vấn đề này cần phải tạo ra được sự thống nhất, đồng thuận trong nhận
thức và quá trình tổ chức thực hiện của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng từ
Bộ Quốc phòng, cấp Tổng cục đến các nhà trường đào tạo chính trị viên. Vì
thế, đòi hỏi các nhà trường đảm nhiệm công tác giáo dục, đào tạo chính trị
viên, trọng tâm là Trường Sĩ quan Chính trị - trung tâm chính của quân đội
đào tạo chính trị viên cần phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện
đúng đắn Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết
122
513/NQ-ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương vào thực tiễn công tác giáo dục,
đào tạo. Theo đó, phải đảm bảo cho người học bước đầu có được hệ thống
kiến thức, năng lực và phẩm chất nhân cách của người cán bộ chủ trì về chính
trị, chỉ đạo và tổ chức hoạt động CTĐ, CTCT ở đơn vị cấp phân đội sau này.
Các chủ thể tham gia giáo dục, đào tạo phải đi sâu phân tích, đánh giá
những ưu điểm và hạn chế của mô hình, mục tiêu giáo dục, đào tạo chính trị
viên từ khi có Nghị quyết 51/NQ của Bộ Chính trị và Nghị quyết 513/NQ-
ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương đến nay. Từ đó khẳng định rõ và phát
huy những thành tựu đã đạt được, chỉ ra được những hạn chế, bất cập cần phải
được khắc phục, chấn chỉnh. Trong đánh giá đòi hỏi các cấp lãnh đạo, các cơ
quan chức năng phải có thái độ khách quan, khoa học, “nhìn thẳng vào sự
thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh” [17, tr.27],
để thấy hết được những hạn chế của mô hình, mục tiêu đã và đang tác động
không nhỏ đến chất lượng giáo dục, đào tạo chính trị viên với hướng phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Trong việc hoàn thiện, chuẩn hóa mô hình, mục tiêu giáo dục, đào tạo
đáp ứng yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính
trị viên hiện nay, cần tập trung xây dựng hệ thống tiêu chí và cụ thể hóa về:
bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống; trình độ
tư duy lý luận, năng lực chủ trì về chính trị, tiến hành CTĐ, CTCT và phương
pháp, tác phong công tác của chính trị viên theo TTHCM, đáp ứng cương vị,
chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong thời kỳ mới. Đồng thời, chỉ rõ
mối quan hệ giữa đào tạo chính trị viên với đào tạo chính ủy, giữa chính trị
viên được đào tạo cơ bản đúng chuyên ngành với các đối tượng đào tạo chính
trị viên ở các hình thái khác. Từ đó hoàn thiện, chuẩn hóa mục tiêu giáo dục,
đào tạo cho từng đối tượng bảo đảm tính liên thông, kế thừa, phát triển, tránh
trùng lặp hoặc tính chất cào bằng, phiến diện.
123
Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo chính
trị viên với hướng phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM.
Nội dung, chương trình đổi mới chuẩn xác, khoa học sẽ là một trong
những nhân tố tác động trực tiếp đến nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
chính trị viên ở các nhà trường đào tạo chính trị viên hiện nay. Vì vậy, việc
đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo chính trị viên phải bám sát
mục tiêu giáo dục, đào tạo đã xác định, tạo ra sự đồng bộ giữa mục tiêu,
chương trình và nội dung đào tạo.
Yêu cầu chung của việc đổi mới nội dung, chương trình đào tạo chính
trị viên là vừa tiếp cận với trình độ khoa học tiên tiến, vừa coi trọng kinh
nghiệm truyền thống của quân đội ta, đồng thời phải thích ứng yêu cầu thực
tiễn xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đặc biệt, phải bám
sát sự phát triển của lý luận chính trị quân sự và cập nhật quán triệt những
Nghị quyết mới nhất của Đảng vào nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo.
Nhằm tạo ra chương trình, nội dung thiết thực, phù hợp với từng loại hình đào
tạo chính trị viên được tổ chức bố trí, sắp xếp hợp lý, tạo nền tảng cơ sở pháp
lý cho mọi hoạt động dạy và học của người học viên đào tạo chính trị viên.
Việc đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo chính trị viên
bao gồm nhiều vấn đề, nhưng quan trọng nhất là việc chuẩn hóa về tỉ lệ các
thành phần cấu trúc của nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với từng loại
hình đào tạo chính trị viên. Đó là, tỉ lệ giữa kiến thức cơ bản với kiến thức cơ
sở của chuyên ngành và kiến thức chuyên ngành; tỉ lệ giữa hệ thống kiến thức
với hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp CTĐ, CTCT, kinh nghiệm hoạt
động sáng tạo, giá trị và chuẩn mực đạo đức của chính trị viên trong thời kỳ
mới. Điều đáng chú ý là cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội dung, chương
trình đào tạo theo chức danh với yêu cầu chuẩn hóa quốc gia về mặt kiến thức
bậc đại học. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tính toán cân đối quỹ thời gian,
phân phối thời lượng cho phù hợp với kết cấu nội dung, chương trình đổi mới
124
trong các nhà trường đào tạo chính trị viên; theo hướng ưu tiên phát triển các
tri thức về mặt khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quân sự, coi trọng việc
nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, quan điểm của Đảng. Đặc biệt, cần tăng cường khối kiến thức
chuyên ngành và kỹ năng tiến hành các hoạt động CTĐ, CTCT theo mô hình,
mục tiêu đã xác định đào tạo chính trị viên - người chủ trì về chính trị và tổ
chức các hoạt động CTĐ, CTCT ở các đơn vị phân đội sau này.
Thứ tư, đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo và phát huy tính độc lập,
sáng tạo của học viên đào tạo chính trị viên với hướng phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Với phương châm kết hợp chặt chẽ giữa dạy kiến thức và dạy phương
pháp, hình thành kỹ năng, phong cách cán bộ chủ trì về chính trị. Muốn vậy,
phải bồi dưỡng cho người học phương pháp học tập có tính chất nghiên cứu,
chủ động, sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức. Thực tiễn cho thấy,
kiến thức của chính trị viên tiếp thu được trong quá trình đào tạo ở nhà trường
có thể theo thời gian sẽ bị mai một hoặc lạc hậu so với sự phát triển của thực
tiễn nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội. Song, một khi đã được định
hình vững chắc về phương pháp tự học, tự nghiên cứu họ sẽ có đủ điều kiện,
khả năng tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, năng lực công tác, trau dồi
phẩm chất đạo đức, hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác của mình.
Cần đưa hình thức người học tự đánh giá về nhận thức, tư tưởng, phong
cách vào trong chương trình dạy học. Theo hướng này, việc đổi mới phương
pháp giáo dục, đào tạo chính trị viên đặt ra phải giải quyết đồng bộ tất cả các
khâu, các bước, phát huy được tính năng động, sáng tạo, sự nỗ lực, toàn tâm,
toàn ý của tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo chính
trị viên hiện nay. Một vấn đề hết sức quan trọng trong đổi mới phương pháp
giáo dục, đào tạo chính trị viên hiện nay là phải quán triệt nguyên tắc quan
trọng bậc nhất trong phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM đó là: “Học phải đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với
125
đơn vị, với chiến trường”; gắn chặt giữa lý thuyết với thực hành, giữa giáo
dục chính trị với huấn luyện, giữa “dạy chữ” và “dạy người”. Phương thức đó
kích thích người chính trị viên tương lai phát huy năng lực tư duy sáng tạo,
góp phần vào việc bồi dưỡng năng lực hành động thực tiễn.
Cho nên, trong đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo chính trị viên,
cần chú trọng hơn nữa đến các hình thức sau bài giảng, tăng thời gian cho
thực hành, thực tập, hoạt động ngoại khóa, “các môn học cần phải có ít nhất
60% thời gian cho các hình thức sau bài giảng” [93, tr.202]. Với mục đích cao
nhất trong đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo là tất các môn học phải tạo
tiền đề vững chắc trực tiếp góp phần phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, đáp ứng yêu cầu thực tiễn thực hiện cương
vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên ở các đơn vị phân đội sau này.
Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tăng cường đầu tư
và khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạy học nhằm
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo chính trị viên theo chức vụ và
trình độ học vấn hiện nay, người dạy không chỉ có trình độ học vấn theo quy
định, mà cần trải nghiệm qua thực tiễn chức vụ đó, phải đứng trên cương vị
chính trị viên cấp trên hoặc người đi trước để truyền thụ kiến thức cho học
viên, cũng như hình mẫu mô phạm cho học viên học tập. Do đó, một trong
những vấn đề có ý nghĩa then chốt trong nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo chính trị viên cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, với tăng
cường đầu tư và khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học,
hệ thống giảng đường, thư viện, thao trường, bãi tập. Đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên, đồng thời chủ động
biên soạn, hoàn thiện hệ thống giáo trình đồng bộ, thống nhất, trên cơ sở phân
cấp rõ ràng cho các nhà trường đào tạo chính trị viên. Các nhà trường đào tạo
chính trị viên cố gắng bảo đảm những đầu sách, đầu tài liệu cơ bản để cung
126
cấp hoặc bán cho học viên với giá trợ giúp khi họ có nhu cầu. Tăng cường
đưa công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng vào phục vụ nâng cao chất lượng
dạy học, nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên, học viên ở các nhà
trường đảm nhiệm công tác giáo dục, đào tạo chính trị viên.
Ngoài các nội dung, biện pháp trên việc nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM cần đổi mới và nâng cao chất lượng các hình thức hoạt động: thực
tập làm cán bộ tự quản, kiêm chức tại đơn vị; tổ chức hành quân dã ngoại;
tham quan các địa phương, đơn vị có phong trào tốt, kinh nghiệm hay để trao
đổi học tập, hoặc đến các địa phương, đơn vị có những diễn biến phức tạp để
lắng nghe trực tiếp, sau đó cùng phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp
khắc phục; tổ chức tốt các đợt diễn tập cuối khóa, thực tập tại các đơn vị trước
khi học viên thi tốt nghiệp quốc gia v.v.. Với việc thực hiện đồng bộ các nội
dung, biện pháp trên, sẽ tạo ra hiệu quả thiết thực trong nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo chính trị viên hiện nay, góp phần trực tiếp vào phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, đáp ứng yêu
cầu xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị, chính trị viên trong thời kỳ mới.
3.1.2. Nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên
trong hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin, sự hình thành và phát
triển nhân cách phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó môi trường xã hội là yếu
tố quyết định thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường và
xã hội đối với mỗi cá nhân. Từ đó cho thấy, quá trình phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, không chỉ diễn ra
trong giai đoạn học tập tại nhà trường đào tạo, mà còn tiếp tục phát triển hoàn
thiện thông qua việc bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực
tiễn. Bởi, những yếu tố cấu thành nhân cách (phẩm chất, năng lực và phương
127
pháp, tác phong công tác) chính trị viên được hình thành trong quá trình đào
tạo ở nhà trường mới chỉ là nền tảng, tiềm năng, “điểm đầu”. Mức độ phát
triển, độ bền vững của các yếu tố này còn phải được tiếp tục bồi dưỡng, rèn
luyện trong hoạt động thực tiễn của chính trị viên thực hiện cương vị, chức
trách, nhiệm vụ của mình và đây chính là điểm “diện” của quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thực tiễn cho thấy, chỉ có thông qua bồi dưỡng, rèn luyện chính trị
viên trong hoạt động thực tiễn công tác là điều kiện tốt nhất để: rèn luyện bản
lĩnh, củng cố lập trường, trau dồi đạo đức cách mạng; bổ xung kiến thức, nâng
cao năng lực; hoàn thiện phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên,
đáp ứng yêu cầu thực tiễn thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được
giao. Đồng thời, bản thân chính trị viên mới có điều kiện nhìn nhận, đánh giá
đúng mình, thấy được những gì mình còn khiếm khuyết về nhân cách, từ đó
tìm ra con đường, biện pháp hữu hiệu nhằm tiếp tục hoàn thiện phát triển
nhân cách của mình. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện
chính trị viên trong hoạt động thực tiễn là giải pháp hết sức quan trọng mang
tính đột phá, có ý nghĩa trực tiếp nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Do đó, để thực hiện có hiệu quả giải
pháp này, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các chủ thể
đối với việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong
hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Hoạt động thực tiễn bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên là quá trình
hoạt động có tổ chức, có chủ đích của các chủ thể tác động và tính tự giác của
chính trị viên trong quá trình phát triển nhân cách. Do đó, một trong những
vấn đề then chốt là phải dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn của các chủ thể
trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn bồi dưỡng, rèn luyện phát triển
128
nhân cách chính trị viên. Bởi, theo quy luật khách quan trong hoạt động thực
tiễn của con người, có nhận thức đúng mới có hành động đúng và nhận thức
không đúng thì sẽ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm, thất bại. Vì vậy, việc
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các chủ thể đối với việc nâng
cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn
là một trong những nội dung, biện pháp quan trọng mang tính đột phá nhằm
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Vấn đề tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các chủ thể đối
với việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt
động thực tiễn, qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau. Trong đó, thông qua
các đợt sinh hoạt chính trị, đẩy mạnh công tác đấu tranh phê bình và tự phê
bình là kênh truyền dẫn tác động trực tiếp và đem lại hiệu quả cao, thiết thực
đối với nhận thức của mọi chủ thể về nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn
luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Bởi, thông qua các đợt
sinh hoạt chính trị, đẩy mạnh công tác đấu tranh phê bình và tự phê bình sẽ
trực tiếp giúp cho các chủ thể thấy được sự cần thiết phải nâng cao chất lượng
bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn nhằm phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Trong các đợt sinh hoạt chính trị phải thực sự gắn chặt giữa quán
triệt các quan điểm, đường lối của Đảng với liên hệ kiểm điểm trách nhiệm
của từng cấp, từng ngành, từng chủ thể trong xây dựng đội ngũ chính trị viên.
Chỉ rõ căn nguyên của những khuyết điểm, tư tưởng lệch lạc, đồng thời chỉ ra
phương hướng, biện pháp cụ thể nhằm đấu tranh khắc phục. Tiến hành phê
bình và tự phê bình phải thực hiện đúng phương châm: nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, khách quan, công tâm, không nể nang, né tránh, phê
bình việc làm chứ không phải phê bình người. Phát huy những mặt tốt và
129
những nhân tố tích cực để đấu tranh với những biểu hiện sai trái, nhận thức
lệch lạc về việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong
hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM.
Thứ hai, nêu cao tinh thần trách nhiệm của các chủ thể đối với việc nâng
cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn
nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM.
Từ bản chất, nhiệm vụ CTĐ, CTCT trong quân đội đã quy định, mỗi
cán bộ, đảng viên trong quân đội là một chủ thể CTĐ, CTCT. Mỗi cán bộ, đảng
viên thực hiện sự lãnh đạo của Đảng theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn của
mình, không bao giờ là nhà quân sự, nhà chuyên môn đơn thuần như Bác Hồ
đã dạy. Dù ở cấp nào, ngành nào, làm việc gì, mọi cán bộ, đảng viên phải nhận
thức sâu sắc mình là chủ thể, tích cực, năng động của hoạt động CTĐ, CTCT.
Do đó, trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính
trị viên trong hoạt động thực tiễn phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, không phải chỉ thuộc về các tổ chức đảng,
cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp, mà cán bộ chỉ huy, cơ quan tham
mưu và các tổ chức quần chúng cũng đóng vai trò trách nhiệm rất quan trọng
đối với việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong
hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của họ theo TTHCM. Vì vậy,
cần tập trung xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào nâng cao
chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn, từ đó
nêu cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với hoạt động này, cụ thể là:
Đối với tổ chức đảng: là chủ thể trực tiếp lãnh đạo toàn bộ hoạt động
của đơn vị, trong đó có trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng mọi mặt cho cán bộ,
chiến sĩ và sự phát triển nhân cách của chính trị viên. Qua khảo sát thực tiễn ở
các loại hình đơn vị phân đội những năm gần đây đã cho thấy, việc nâng cao
chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn nhằm
130
phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM chỉ
đạt được chất lượng, hiệu quả cao khi có sự quan tâm thường xuyên, tích cực
của tổ chức đảng các cấp, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở đơn
vị về phẩm chất nhân cách và phương pháp, tác phong công tác.
Đối với chính ủy, chính trị viên: với tư cách là chủ thể chủ trì về chính
trị, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động CTĐ, CTCT trong đơn vị, nên
chính ủy, chính trị viên đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với hoạt động
nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực
tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay theo TTHCM. Để
phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình, chính ủy, các cấp, nhất là cấp phân
đội và cấp trên trực tiếp phân đội phải luôn luôn tích cực, chủ động, thực hiện
nhiều biện pháp trong việc tổ chức triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chỉ
thị, hướng dẫn của cấp trên và cấp mình có liên quan đến công tác bồi dưỡng,
rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên thuộc quyền.
Đối với cơ quan chính trị: với chức năng là cơ quan tham mưu cho lãnh
đạo, chỉ huy về các hoạt động CTĐ, CTCT nói chung trong đó có hoạt động
nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực
tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM. Vì thế yêu cầu đặt ra đối với cơ quan chính trị cần xây dựng kế
hoạch sát, đúng, trúng, phù hợp với từng đặc điểm nhiệm vụ của từng đơn vị.
Đồng thời, là cơ quan giữ vai trò trực tiếp triển khai thực hiện toàn bộ nội
dung, kế hoạch theo đúng ý định của cấp trên, của người chỉ huy, theo dõi
toàn bộ tiến trình của hoạt động này, tổng hợp rút kinh nghiệm phục vụ cho
việc nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác này diễn ra thường xuyên,
liên tục trong đơn vị.
Đối với cơ quan tham mưu và người chỉ huy các cấp: với tư cách là chủ
thể trực tiếp quản lý, giáo dục các đối tượng thuộc quyền trong đơn vị, chủ
thể trực tiếp bồi dưỡng năng lực chỉ huy, quản lý bộ đội, kinh nghiệm xử lý
các tình huống trong hoạt động quân sự, bồi dưỡng về kiến thức quân sự, điều
131
lệnh, điều lệ…cho chính trị viên ở các đơn vị phân đội. Vì vậy, cùng với tổ
chức đảng, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp, họ giữ vị trí rất quan
trọng đối với hoạt động nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị
viên trong hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Ngoài ra, cần phải phát huy sức mạnh của các tổ chức quần chúng như:
Tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội đồng quân nhân ở các
đơn vị phân đội trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị
viên trong hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thứ ba, công tác bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động
thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM cần phải có kế hoạch và tiến hành thường xuyên, liên tục.
Thực tiễn hoạt động của con người cho thấy, mỗi chủ thể muốn có
được kết quả cao trong thực hiện một công việc gì, trước hết phải có kế hoạch
và toàn tâm, toàn ý, thường xuyên, kiên trì, liên tục thực hiện kế hoạch đã
định. Do đó, muốn nâng cao chất lượng bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân
cách của chính trị viên cần phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện phát
triển nhân cách chính trị viên thật sự khoa học, sát với từng đối tượng, phù
hợp với tình hình thực tiễn của quân đội và của từng đơn vị.
Trong xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong
hoạt động thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, phải trên cơ sở quán triệt các nghị quyết,
chỉ thị, hướng dẫn của Đảng; của Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị
về công tác cán bộ trong thời kỳ mới; về kế hoạch học tập, bồi dưỡng cho cán
bộ, đảng viên của Đảng, bồi dưỡng, học tập tại chức chính trị hàng năm của
cơ quan Tổng cục Chính trị đối với đội ngũ cán bộ quân đội nói chung, đội
ngũ chính trị viên nói riêng; bám sát tình hình, nhiệm vụ của từng đơn vị, và
thực trạng phát triển nhân cách của chính trị viên để xây dựng kế hoạch bồi
132
dưỡng, rèn luyện sát, đúng, phù hợp. Trên cơ sở đó, có thể xây dựng thành kế
hoạch riêng từng tháng, từng quí, từng năm, hoặc có thể xây dựng lồng ghép
kết hợp với chương trình, kế hoạch CTĐ, CTCT của từng cấp. Kế hoạch bồi
dưỡng, rèn luyện phải được lãnh đạo, chỉ huy đơn vị thông qua và cấp có
thẩm quyền phê duyệt, cơ quan chính trị phổ biến, quán triệt đến mọi tổ chức,
lực lượng tham gia bồi dưỡng, rèn luyện, phân công giao nhiệm vụ cụ thể và
triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, thống nhất. Với sự phân
công, phân cấp bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên cũng
cần phải có sự rõ ràng, cụ thể, khắc phục tình trạng chồng chéo, không rõ
ràng, hoặc đùn đẩy trách nhiệm, phó thác cho cơ quan chính trị, cán bộ chính
trị của đơn vị. Do vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần
quán triệt nắm vững và thực hiện tốt Quy chế công tác cán bộ trong quân đội
được ban hành theo Quyết định số 269/QĐĐU, ngày 23/7/2009 của Quân ủy
Trung ương, để phân rõ trách nhiệm cho từng tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy đơn
vị trong việc bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên.
Kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng theo lớp tập huấn nghiệp vụ hàng
năm, hàng quí với bồi dưỡng kèm cặp trực tiếp của cán bộ chính trị và cơ
quan chính trị cấp trên. Chuẩn bị thật tốt nội dung, chương trình học tại chức
do cấp trên quy định, chú trọng bồi dưỡng những tri thức mới về quân sự, chính
trị, khoa học nghệ thuật quân sự, tăng cường rèn luyện phương pháp, tác phong
công tác, kinh nghiệm tiến hành CTĐ, CTCT, đặc biệt giúp chính trị viên biết
tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi nhiệm vụ.
Thực tế trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân
đội và thực tiễn ở các đơn vị hiện nay cho thấy, qua những hình thức giáo dục,
bồi dưỡng, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn ở các đơn vị đã giúp cho trình
độ, năng lực của chính trị viên từng bước được nâng lên, phẩm chất và phương
pháp, tác phong của họ ngày càng phát triển vững chắc đáp ứng tốt hơn yêu cầu
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cần khắc phục, phê phán quan
niệm, suy nghĩ của một số cá nhân cho rằng: nhân cách chính trị viên đã hình
133
thành, phát triển trong nhà trường đào tạo là đủ, từ đó không chú ý, quan tâm
đúng mức tới việc tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính
trị viên trong quá trình công tác.
Thứ tư, thực hiện việc đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên trong hoạt động thực
tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay
theo TTHCM.
Trước hết, cần tập trung nâng cao chất lượng xây dựng, biên soạn nội
dung bồi dưỡng, rèn luyện chặt chẽ, thống nhất, tạo ra các hình thức mới,
phong phú, sinh động, phát huy sức mạnh tổng hợp của các hình thức, phương
pháp trong công tác bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị
viên trong hoạt động thực tiễn. Quá trình này, cấp ủy, cán bộ chính trị và cơ
quan chính trị các cấp cần bám sát thực tiễn, dự báo sự phát triển của tình
hình nhiệm vụ chính trị, tình hình đội ngũ chính trị viên, rà soát những nội
dung còn phù hợp, những nội dung cần bổ sung, tập trung vào các khâu yếu,
mặt yếu nhất trong việc phát triển nhân cách của chính trị viên.
Trong tình hình hiện nay, nội dung cần chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện
cho chính trị viên theo những nội dung đã xác định trong quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên hiện nay theo TTHCM. Song, cần tập trung, chú
trọng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên về chính trị - tư tưởng, niềm tin thế
giới quan và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, mục tiêu, lý tưởng của cách
mạng của Đảng, về đạo đức cách mạng, lối sống vì tập thể, hết lòng chăm lo
và thương yêu bộ đội; năng lực chủ trì về chính trị, năng lực tiến hành các
hoạt động CTĐ, CTCT, năng lực quản lý, chỉ huy đơn vị, năng lực nắm bắt
dư luận và phương pháp, tác phong công tác khoa học để họ thực sự xứng
đáng là người lãnh đạo, chỉ huy, người anh, người chị, người bạn của bộ đội.
Việc tạo ra các hình thức, phương pháp mới, phong phú, sinh động,
phát huy sức mạnh tổng hợp của các hình thức, phương pháp trong công tác
bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên trong hoạt động thực
134
tiễn, yêu cầu cao nhất là phải kết hợp và bố trí khéo léo các hình thức, phương
pháp thành một hệ thống, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong hoạt động bồi
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên. Do đó, cần phải lựa chọn
các hình thức, phương pháp bồi dưỡng, rèn luyện phù hợp với hoàn cảnh thực
tiễn của từng đơn vị. Sao cho vừa nâng cao được chất lượng các hình thức,
phương pháp bồi dưỡng, rèn luyện hiện có, vừa tìm tòi các hình thức, phương
pháp mới, thấy hết được thế mạnh của từng hình thức, để tiến hành thực hiện
đạt hiệu quả cao nhất, tránh coi trọng và hạ thấp bất cứ hình thức nào.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, trong hệ thống các hình thức, phương
pháp bồi dưỡng, rèn luyện nhân cách của chính trị viên cần tập trung vào thực
hiện các hình thức, phương pháp cụ thể như: hình thức học tập lý luận chính
trị tại chức; nâng cao hiệu quả các hoạt động lãnh đạo cấp ủy, chỉ huy đơn vị
của chính trị viên; tập huấn và tổ chức hội thi chính trị viên, bí thư cấp ủy
giỏi; cấp trên bồi dưỡng trực tiếp cho cấp dưới; bồi dưỡng, rèn luyện thông
qua sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng; qua các đợt
sinh hoạt chính trị trong đơn vị quán triệt các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng;
các phong trào thi đua nói lời hay làm việc tốt v.v.. Đặc biệt hiện nay cần đẩy
mạnh và thực hiện tốt việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”; sinh hoạt chính trị phê bình và tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng. Đó là các kênh truyền dẫn tác động trực
tiếp và đem lại hiệu quả cao, thiết thực trong việc nâng cao chất lượng bồi
dưỡng, rèn luyện nhân cách chính trị viên trong hoạt động thực tiễn nhằm
phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay theo TTHCM.
Ngoài các nội dung, biện pháp chủ yếu trên, vấn đề nâng cao chất
lượng bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong hoạt động thực tiễn nhằm phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM,
cần phải tiến hành nội dung, biện pháp như: kết hợp chặt chẽ công tác tư
tưởng với công tác tổ chức, đánh giá đúng kết quả bồi dưỡng, rèn luyện chính
135
trị viên trong hoạt động thực tiễn; kết hợp kiểm tra thường xuyên với kiểm tra
đột xuất về việc thực hiện nội dung, kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện chính trị
viên; phối hợp chặt chẽ với cơ quan, đơn vị bạn, các cơ quan chức năng cấp
trên trong trao đổi, rút kinh nghiệm, học tập vận dụng những kinh nghiệm hay
vào bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên.
Để thực hiện có hiệu quả các nội dung, biện pháp nâng cao chất lượng
bồi dưỡng, rèn luyện chính trị viên trong thực tiễn nhằm phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, đòi hỏi phải tạo
nên sức mạnh tổng hợp, đề cao được trách nhiệm của mọi chủ thể và chính trị
viên. Muốn vậy, phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành
động của mọi người, tạo nên sự chuyển biến tích cực, đồng bộ, thống nhất ở
trong từng cơ quan, đơn vị và toàn quân trên tất cả các khâu, các bước, các
hình thức, biện pháp đối với hoạt động bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
3.2. Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của chính trị viên nhằm
phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam
hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
3.2.1. Phát huy tính tích cực, sáng tạo của chính trị viên trong tự
giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách chính trị viên
trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đây là giải pháp cơ bản mang ý nghĩa quyết định nền tảng đến phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Bởi, chính trị viên là chủ thể trực tiếp của quá trình nhận thức, rèn luyện, hình
thành, phát triển nhân cách của mình, đáp ứng yêu cầu thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, phát huy tính tích cực, chủ động của
chính trị viên trong tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, thực chất là
quá trình phát huy tính tích cực, chủ động của chính trị viên trong việc tiếp
136
nhận, chuyển hoá những phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công
tác cần phải có của chính trị viên thành những giá trị nhân cách riêng ở mỗi
chính trị viên đáp ứng yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Do đó, tính tích cực, chủ động của chính trị viên trong tự giáo dục, tu
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách là quá trình nỗ lực, tự giác của họ nhằm
tổ chức, tự điều khiển, điều chỉnh sự hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ
thống các yếu tố cấu thành nhân cách của mình. Nhờ có tự giáo dục, đào tạo
mà chính trị viên từ chỗ là đối tượng của giáo dục, đào tạo đã trở thành chủ
thể của quá trình giáo dục, đào tạo. Họ tiếp nhận những tác động của nhà giáo
dục một cách chủ động, tích cực, sáng tạo và làm chủ quá trình phát triển,
hoàn thiện nhân cách của mình.
Vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động của chính trị viên trong tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, đòi hỏi cần phải có phương hướng đúng,
biện pháp thích hợp. Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả giải pháp này, cần tập
trung thực hiện các nội dung, biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của bản thân chính trị viên về hoạt động
tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Một nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của con người, tư tưởng có
thông thì việc làm mới đem lại hiệu quả cao. Vì vậy, cần tập trung nâng cao
nhận thức cho mỗi chính trị viên có sự hiểu biết đúng đắn về hoạt động tự
giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Theo đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp
mà trực tiếp nhất là cấp ủy đảng, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy ở các đơn vị nơi
chính trị viên công tác, học tập phải thường xuyên quán triệt, giáo dục vai trò
to lớn của hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách
người cán bộ quân đội cách mạng trong đó có chính trị viên. Kết hợp giữa tổ
chức giáo dục với đề cao khuyến khích tinh thần tự giáo dục, tôn vinh những
137
tấm gương vượt khó khăn trong học tập nâng cao trình độ nhận thức. Khơi
dậy và phát huy tính tích cực của chính trị viên trong tự nhận thức về vai trò
của hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của mình.
Để mỗi chính trị viên tự mình chuyển hóa việc phát triển nhân cách thành nhu
cầu tự thân, nội lực bên trong thúc đẩy tính tích cực, tự giác phấn đấu rèn
luyện và tự bản thân họ ý thức được nếu không tích cực, chủ động trong tự
giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện thì sẽ không theo kịp sự phát triển yêu cầu,
nhiệm vụ của quân đội, không đáp ứng sự đòi hỏi phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Nâng cao nhận thức cho chính trị viên về vai trò của hoạt động tự giáo
dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, để mỗi chính trị viên có thể vượt qua được
chính mình, hình thành, phát triển được những phẩm chất cần thiết, đẩy lùi,
loại bỏ được những thói hư, tật xấu hoặc những thói quen, hành vi không phù
hợp với nhân cách của chính trị viên. Đồng thời, mỗi chính trị viên cần nhận
thức sâu sắc hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách
của mình phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bền bỉ, kiên trì, nhẫn
lại, vất vả như quá trình “Giã gạo” hết sức đau đớn, gian nan thì mới thành
công. Muốn vậy phải xây dựng ý thức tự giác, bồi dưỡng ý chí, quyết tâm tự
phấn đấu cao trong tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi chính trị viên
trong thực hiện việc phát triển nhân cách của mình.
Thứ hai, tập trung xây dựng động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn cho
mỗi chính trị viên trong hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tạo điều kiện cho mỗi chính trị viên nhận
thức được mục đích của việc mình làm, có nhu cầu và ý chí vươn lên mãnh
liệt, yêu mến, gắn bó với nghề nghiệp, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Chính
trị viên luôn coi việc tích cực, chủ động, tự giác trong tự giáo dục, tu dưỡng,
138
rèn luyện phát triển phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác
của mình là thể hiện trách nhiệm chính trị của bản thân đối với Đảng, với sự
nghiệp xây dựng quân đội về chính trị và xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị
của Đảng trong quân đội. Quá trình xây dựng động cơ, thái độ, trách nhiệm
trong hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị
viên phải gắn với đấu tranh khắc phục với những chính trị viên có biểu hiện
tư tưởng trung bình chủ nghĩa, không quan tâm đúng mức hoạt động tự giáo
dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của mình.
Việc xây dựng động cơ, thái độ, trách nhiệm trong hoạt động tự giáo
dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên theo TTHCM,
cần luôn chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học tập, tự tu dưỡng, thói quen
tự rèn luyện cho mỗi chính trị viên. Thực tiễn cho thấy, động cơ, thái độ, trách
nhiệm và phương pháp là những thành tố có quan hệ chặt chẽ, cùng chi phối
đến chất lượng tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của
chính trị viên. Tính quan hệ chi phối lẫn nhau được thể hiện ở chỗ khi mỗi
chính trị viên có động cơ tốt, thái độ đúng và trách nhiệm cao, thì họ sớm xác
định cho mình phương pháp tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện một cách khoa
học trong phát triển nhân cách của mình. Ngược lại, khi chính trị viên sớm
xác định cho mình phương pháp tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phù hợp, là
điều kiện để chính trị viên có động cơ tốt, thái độ đúng và trách nhiệm cao
trong phát triển nhân cách của mình.
Mỗi chính trị viên cũng cần ý thức sâu sắc rằng bản thân mình cũng
chính là những nhà giáo dục nhân cách cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị
thuộc quyền. Đồng thời, nhân cách của mình đã có sự phát triển đến trình độ
cho phép có thể tự ý thức sâu sắc, đầy đủ nhu cầu tự hoàn thiện mình, có ý chí
vượt qua chính những thói quen, hành vi không phù hợp với nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN theo TTHCM. Vì vậy, tự mỗi chính trị viên
cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tự giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện các
139
thói quen, hành vi tốt đẹp, lối sống trong sáng, lành mạnh, phương pháp, tác
phong công tác khoa học, mẫu mực v.v.. nhằm tạo nên nền tảng vững chắc
cho việc hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách cần thiết của người
chính trị viên. Thực chất của vấn đề này là sự tích lũy kinh nghiệm sống, cách
ứng xử đúng đắn và tự mình tập luyện, “khổ luyện” để hình thành những thói
quen, hành vi chuẩn mực của người cán bộ chính trị, phù hợp với chuẩn mực
nhân cách người lãnh đạo, người anh, người chị, người bạn của bộ đội được
xã hội, quân đội tôn vinh. Vì thế, đòi hỏi mỗi chính trị viên phải tự mình rèn
luyện, trau dồi các đức tính, thói quen, hành vi tốt như: tôn trọng và yêu
thương con người, sống giản dị, chan hòa, gần gũi, không quan liêu, hách
dịch; kiên quyết không khoan nhượng trước cái xấu và cái ác, khiêm tốn, chịu
khó, kiên trì học hỏi, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm; nhiệt tình, trách nhiệm,
linh hoạt, sáng tạo, quyết đoán trong công việc v.v.. tạo ra cơ sở để hình
thành, phát triển những phẩm chất nhân cách tiêu biểu của người chính trị
viên trong QĐNDVN mà TTHCM đã xác định, đáp ứng yêu cầu cương vị,
chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thứ ba, tổ chức đảng các cấp và lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cần thường
xuyên chỉ đạo, theo dõi và kiểm tra, đánh giá công tác lập kế hoạch và tổ chức
thực hiện kế hoạch của chính trị viên trong hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng,
rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM.
Thực tiễn cho thấy, muốn nâng cao chất lượng tự giáo dục, tu dưỡng,
rèn luyện phát triển nhân cách chính trị viên, nhất thiết phải có sự chỉ đạo,
theo dõi và kiểm tra, đánh giá thường xuyên của tổ chức đảng các cấp và lãnh
đạo, chỉ huy trong đơn vị đối với công tác lập kế hoạch và tổ chức thực hiện
kế hoạch hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của
chính trị viên thuộc quyền lãnh đạo, quản lý, chỉ huy của mình.
140
Vì vậy, trong nghị quyết lãnh đạo hàng tháng, hàng quý của các cấp ủy,
tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là cấp ủy, chi bộ đại đội, tiểu đoàn và đảng ủy
trung đoàn phải có nội dung lãnh đạo phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác
của chính trị viên trong hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển
nhân cách, đồng thời xác định đó là một nội dung kiểm tra, đánh giá, bình xét
chính trị viên theo định kỳ. Cần đưa nội dung hoạt động tự giáo dục, tu
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên thành một chỉ tiêu thi
đua bình xét khen thưởng, cân nhắc, đề bạt chính trị viên hàng năm. Trong
bình xét thi đua, phải phối hợp thống nhất giữa các tổ chức trong đơn vị, đánh
giá đúng tinh thần, thái độ, trách nhiệm hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn
luyện phát triển nhân cách của chính trị viên. Bản thân chính trị viên sau khi
có nghị quyết lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp và chỉ tiêu thi đua của đơn
vị, từng chính trị viên phải xây dựng kế hoạch và đăng ký chỉ tiêu phấn đấu.
Kế hoạch phải cụ thể, thiết thực, tránh hình thức, thể hiện rõ nội dung tự giáo
dục, tu dưỡng, rèn luyện trong phát triển nhân cách của mình.
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch là khâu quyết định chất lượng, hiệu
quả hoạt động tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính
trị viên. Thực tế thời gian qua, chính trị viên ở các đơn vị đều xây dựng kế
hoạch tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách nhưng phần lớn
kế hoạch của họ chưa thể hiện rõ những nội dung, yêu cầu và những công
việc cụ thể, còn nặng về lý thuyết, chỉ tiêu trong kế hoạch không sát với thực
tiễn yêu cầu phát triển nhân cách chính trị viên theo TTHCM, nên quá trình tổ
chức thực hiện, chất lượng, hiệu quả không cao. Vì thế, để nâng cao chất
lượng, hiệu quả thực hiện kế hoạch cần có sự phối hợp thống nhất nhận thức
và trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy cấp trên, người chỉ huy đơn vị và cơ
quan chính trị với người chính trị viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất và động
viên chính trị viên thực hiện nghiêm túc có hiệu quả kế hoạch đã xây dựng.
Cần thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự giáo dục, tu
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên là khâu rất quan
141
trọng, góp phần trực tiếp giúp chính trị viên thực hiện có hiệu quả kế hoạch,
khắc phục được bệnh hình thức trong thực hiện kế hoạch tự giáo dục, tu
dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên. Nội dung kiểm tra
phải dựa vào nội dung và tiến độ của kế hoạch đã xác định, tình hình thực tế
của đơn vị và kết quả lĩnh hội kiến thức, sự hình thành, phát triển những phẩm
chất nhân cách của chính trị viên được biểu hiện trong thực tiễn thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Quá trình đánh giá đòi hỏi các cấp
lãnh đạo, chỉ huy phải có thái độ khách quan, khoa học, dám nhìn thẳng vào
sự thật, thấy hết được những mặt hạn chế, yếu kém của chính trị viên hiện nay
và những nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến những hạn chế, yếu
kém đó. Khắc phục mọi biểu hiện xem xét, đánh giá thiếu khách quan, chỉ
nhấn mạnh một chiều ưu điểm hoặc hạn chế, và tính không toàn diện khi đề
cập về nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, khuyết điểm của chính trị viên.
Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và phát triển thế giới quan,
nhân sinh quan, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa với động viên, khuyến khích,
đề cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình của chính trị viên trong
tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thực tiễn cho thấy, chỉ khi người cán bộ quân đội nói chung, chính trị
viên nói riêng, có được một thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng cộng
sản chủ nghĩa thực sự thì họ mới phát huy tốt sức mạnh nội lực từ chính bản
thân họ để tự họ chiến thắng với cái “tôi” của chính mình và loại trừ, ngăn
chặn được sự xâm nhập của văn hóa đạo đức, lối sống thực dụng tư sản, tránh
được những “viên đạn bọc đường”, những cám dỗ lệch lạc nảy sinh từ mặt
trái cơ chế thị trường hiện nay.
Theo quan điểm của Đảng việc “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và
sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn
và tay nghề” [16, tr.109], là một trong những nhân tố quan trọng trực tiếp quyết
định việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng công cuộc
142
đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Với tinh thần đó, cần động viên được
nghị lực, tinh thần “khổ luyện”, “kiên nhẫn”, “bền bỉ” của chính trị viên trong
quá trình trau dồi cho mình những phẩm chất nhân cách cần thiết. Vì vậy, cần
chú trọng việc trang bị và sử dụng thường xuyên các phương pháp tự giáo
dục, đồng thời đề cao và sử dụng thường xuyên phương pháp tự thuyết phục.
Bởi, phương pháp tự thuyết phục là cách thức để mỗi chính trị viên tự mình
phân tích, so sánh, tranh luận với chính mình, tự thuyết phục mình bằng thế
giới quan khoa học và niềm tin cộng sản, gạt bỏ khỏi mình những động cơ cá
nhân, những quan niệm không đúng đắn trong tự giáo dục, tu dưỡng, rèn
luyện phát triển nhân cách của mỗi chính trị viên.
Cần đề cao và sử dụng vũ khí phê bình và tự phê bình trong quá trình
tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của chính trị viên. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh
khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không
biết kiên quyết sửa nó đi” [49, tr.166] và “Phê bình và tự phê bình là công
việc thường xuyên. Ngừng phê bình và tự phê bình tức là ngừng tiến bộ, tức
là thoái bộ” [62, tr.242]. Do đó, chính trị viên phải luôn luôn tự kiểm điểm, tự
phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển ưu
điểm, sửa đổi khuyết điểm của mình. Tự mình xem xét, tự mình đánh giá
những thái độ, hành vi, lối sống, tác phong của mình theo yêu cầu, tiêu chí về
nhân cách người cán bộ chính trị của Đảng trong quân đội. Việc tự phê bình
của chính trị viên chỉ đem lại hiệu quả, khi họ có được động cơ đúng đắn, thái
độ cầu thị tiến bộ, lòng trung thực, trách nhiệm cao và ý chí quyết tâm mạnh
mẽ của quá trình tự vươn lên hoàn thiện, phát triển nhân cách của mình.
Với việc thực hiện đồng bộ các nội dung, biện pháp trên sẽ tạo nên hiệu
quả thiết thực đối với việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của chính trị viên
trong tự giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện nhằm phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
143
3.2.2. Phát huy vai trò, trách nhiệm của chính trị viên trong thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao nhằm phát triển nhân cách chính trị
viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đây là giải pháp mang ý nghĩa then chốt quyết định trực tiếp đến chất
lượng, hiệu quả việc phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM. Bởi, quan hệ giữa việc phát triển nhân cách chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM với thực hiện cương vị, chức trách,
nhiệm vụ của chính trị viên trong thực tiễn là mối quan hệ tương tác biện chứng
luôn luôn tác động, chi phối trực tiếp lẫn nhau: chính trị viên muốn hoàn thành
tốt cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình trước hết họ phải là người phát
triển, hoàn thiện về nhân cách và thông qua thực tiễn thực hiện cương vị, chức
trách, nhiệm vụ, chính trị viên mới bộc lộ hết những ưu điểm, hạn chế, khuyết
điểm về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác của họ. Từ đó,
tự bản thân chính trị viên đề ra cách thức, con đường, biện pháp phù hợp nhằm
phát huy những ưu điểm về phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong
công tác, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, theo đó nhân cách của họ ngày
một phát triển đáp ứng với cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên
đảm nhiệm ở các đơn vị. Có thể nhận định, việc phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM không ngoài mục đích cao nhất
nhằm góp phần trực tiếp vào nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực tiễn
của chính trị viên thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao trong thời
kỳ mới. Với ý nghĩa đó, để thực hiện có hiệu quả giải pháp này cần tập trung vào
những nội dung, biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho chính trị viên về hiệu quả thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình trong thực tiễn nhằm phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Tính khoa học của mọi chân lý đều bắt nguồn từ thực tiễn và phải
được thực tiễn kiểm nghiệm. Trong thực tiễn sự phát triển nhân cách của mỗi
144
con người chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố và thông qua nhiều cách thức,
con đường, biện pháp khác nhau. Nhưng khi con người hiện thực hóa được
chuẩn mực nhân cách của mình vào trong cuộc sống, vào thực hiện cương vị
chức trách, nhiệm vụ mà xã hội phân công, thì chính là một sự kiểm nghiệm
khách quan, khoa học, đúng đắn nhất.
Trong bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội (năm
1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Riêng về các chú, chính trị biểu
hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực
hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”. Lời dạy của Người
đến nay còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong công tác chỉ đạo
mọi hoạt động của người cán bộ chính trị nói chung, đích cuối của sự phát
triển nhân cách nói riêng. Theo đó, nâng cao nhận thức cho chính trị viên về
hiệu quả thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của họ trong thực tiễn
nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM, không chỉ là đích cuối, mà còn là nội dung, biện pháp hữu hiệu tạo
nên nội lực nền tảng thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Để nâng cao nhận thức cho chính trị viên về hiệu quả thực hiện cương
vị, chức trách, nhiệm vụ của họ trong thực tiễn nhằm phát triển nhân cách
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM đạt hiệu quả cao. Đòi
hỏi cấp ủy các cấp, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị và các cơ quan chức năng tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo, đi sâu nghiên cứu, tìm tòi áp dụng một cách linh hoạt,
sáng tạo các hình thức, biện pháp trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo
dục nhằm thống nhất nhận thức cho mọi lực lượng và bản thân chính trị viên
về ý nghĩa, giá trị của vấn đề này. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các
tổ chức, các lực lượng ở đơn vị mà trước hết trực tiếp là các tổ chức đảng,
người lãnh đạo, chỉ huy ở các đơn vị cơ sở. Cũng như, cần kiên quyết đấu
tranh, phê phán những chủ thể có nhận thức không đúng và biểu hiện lệch lạc,
việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm trong các đơn vị hiện nay về vấn đề này.
145
Thứ hai, tăng cường chỉ đạo, tạo điều kiện về mọi mặt của các cấp ủy,
chỉ huy đơn vị đối với chính trị viên trong thực tiễn thực hiện cương vị, chức
trách, nhiệm vụ nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM.
Hoạt động của chủ thể chính trị viên trong thực tiễn thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ đối với quá trình phát triển nhân cách chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM không phải là tự phát mà là một quá
trình tự giác thông qua hoạt động thực tiễn hàng ngày của bản thân chính trị
viên thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao, dưới sự lãnh đạo
của tổ chức đảng, sự chỉ đạo của tổ chức chỉ huy và sự giám sát của các tổ
chức quần chúng. Quá trình này có nhiều lực lượng tham gia, nhiều chủ thể
tác động, song với vị trí là tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, cấp ủy, tổ chức đảng, tổ
chức chỉ huy các cấp phải đóng vai trò là lực lượng quan trọng nhất, chủ thể
tác động tích cực nhất tới chính trị viên trong nâng cao chất lượng thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên nhằm phát triển nhân cách
của chính trị viên hiện nay theo TTHCM. Vì vậy, tăng cường lãnh đạo của
cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp, đặc biệt là người chỉ huy tâm
huyết, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình bao giờ cũng có ý nghĩa
quyết định đến nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên nhằm phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Cần phát huy vai trò cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, cơ quan chính trị ở
đơn vị cơ sở đối với nâng cao chất lượng thực hiện cương vị, chức trách,
nhiệm vụ của chính trị viên nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Sự lãnh đạo của đảng ủy cơ sở là nhân tố
có ý nghĩa quyết định nhất trong trực tiếp lãnh đạo toàn diện các lực lượng,
các mặt công tác liên quan đến chất lượng thực hiện cương vị, chức trách,
nhiệm vụ của chính trị viên ở phạm vi đơn vị mình. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức
146
đảng các cấp cần quan tâm giúp đỡ chính trị viên biết cách vận dụng các
nguyên tắc tiến hành CTĐ, CTCT, biết xử lý các tình huống trong quá trình
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình. Cần bồi dưỡng, giúp
chính trị viên biết cách làm việc với những con người, biết giải quyết đúng các
mối quan hệ với cấp trên, với người chỉ huy đơn vị, với cán bộ, chiến sĩ thuộc
quyền, với nhân dân địa phương và với kẻ thù, thông qua đó để họ trau dồi
bản lĩnh chính trị, kỹ năng sống và phát triển những phẩm chất tốt đẹp, đặc
trưng của chính trị viên. Cùng với đó cấp ủy đảng các cấp cần có những chủ
trương, biện pháp lãnh đạo sát, đúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của công tác
tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách giúp chính trị viên thực hiện
tốt cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Với chính ủy các đơn vị cơ sở là người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm
CTĐ, CTCT, trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan chính trị và chính trị viên
tiến hành các hoạt động bồi dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách chính trị
viên cần căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết công tác cán bộ của cấp trên, tình hình
chính trị viên của đơn vị, chỉ đạo cơ quan chính trị lập kế hoạch bồi dưỡng
phát triển nhân cách chính trị viên. Thực hiện tốt chế độ học tập, rèn luyện về
phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong của chính trị viên và thường
xuyên, định kỳ kiểm tra, giúp đỡ việc thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm
vụ của chính trị viên thuộc quyền.
Cơ quan chính trị là cơ quan tham mưu và chỉ đạo, hướng dẫn theo dõi
kiểm tra đôn đốc quá trình thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính
trị viên ở các đơn vị phân đội. Để phát huy tốt vai trò của mình cơ quan chính
trị phải nắm chắc tình hình mọi mặt của đội ngũ chính trị viên, tình hình thực
tiễn của từng đơn vị để kịp thời phản ánh và tham mưu cho đảng ủy trung
đoàn để có những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đúng hoặc có sự
điều chỉnh bổ sung cho phù hợp giúp chính trị viên thực hiện tốt nhiệm vụ.
Đồng thời, chủ động với phòng tham mưu và các cơ quan có liên quan theo
147
dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, rút kinh nghiệm, đề xuất khen thưởng chính
trị viên trong quá trình thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Người chỉ huy các cấp phải coi việc thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm
vụ nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay theo TTHCM là việc
làm thường xuyên, nội dung trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình và là
một khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của
đơn vị. Vì vậy, chỉ huy các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi mọi mặt:
thời gian, lực lượng, phương tiện và kinh phí để chính trị viên thực hiện tốt
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Cần phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng
đối với việc thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên trong
thực tiễn nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM. Bởi, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng vừa là lực
lượng trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ hàng ngày ở đơn vị dưới sự lãnh đạo,
quản lý của cấp ủy, chỉ huy, vừa là lực lượng tham gia vào quá trình quản lý,
giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của cấp ủy và chính trị viên
trong đơn vị. Những ý kiến đóng góp của họ đối với cấp ủy, chính trị viên là
một trong những căn cứ quan trọng giúp cấp ủy, chính trị viên, người chỉ huy
đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của mình, từ đó có chủ trương, biện
pháp bồi dưỡng xây dựng phát triển nhân cách chính trị viên. Do đó, cấp ủy, tổ
chức đảng, chính trị viên cần thực hiện đúng, có hiệu quả chế độ sinh hoạt dân
chủ, lấy ý kiến của các quân nhân trong đơn vị tham gia vào việc tổ chức thực
hiện nhiệm vụ của đơn vị, phê bình sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, cán
bộ, đảng viên và hoạt động phát triển nhân cách chính trị viên theo TTHCM.
Hơn nữa, cần đề cao trách nhiệm và sự quan tâm của cấp ủy, chính
ủy, cơ quan chính trị cấp trên cơ sở trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều
kiện về mọi mặt cho chính trị viên thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ
nhằm phát triển nhân cách chính trị viên hiện nay theo TTHCM. Bởi, sự quan
148
tâm lãnh đạo, chỉ đạo của đảng ủy, chính ủy, cơ quan chính trị cấp trên là cơ
sở vững chắc, bảo đảm cho hoạt động giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phát
triển nhân cách chính trị viên đạt chất lượng hiệu quả cao. Để phát huy vai trò
của mình, đảng ủy, chính ủy, cơ quan chính trị cấp trên cơ sở phải thường
xuyên nắm vững tình hình mọi mặt các đơn vị, nắm chắc chất lượng đội ngũ
chính trị viên làm cơ sở chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng, rèn
luyện phát triển nhân cách chính trị viên. Định kỳ tổ chức các hội nghị tập
huấn, để kịp thời bồi dưỡng nghiệp vụ, bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ
chuyên môn, cập nhật thông tin và vận dụng kịp thời phương pháp, cách làm
mới cho chính trị viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Làm
tốt công tác kiện toàn đội ngũ chính trị viên luôn có cơ cấu hợp lý, bảo đảm đủ
về số lượng và có chất lượng ngày càng cao. Đồng thời, thường xuyên quan
tâm và tăng cường cán bộ có năng lực xuống kiểm tra, chỉ đạo, giúp đỡ, uốn
nắn, khắc phục những lệch lạc, sai sót quá trình thực hiện cương vị, chức
trách, nhiệm vụ của chính trị viên ở các đơn vị phân đội.
Thứ ba, từng chính trị viên cần phát huy ý thức, trách nhiệm, tích cực,
chủ động, tự giác trong việc nêu gương mẫu mực ở việc làm, hành động cụ
thể, thiết thực với đích cuối nhằm phát triển, hoàn thiện nhân cách của mình
theo TTHCM.
Thực tiễn cho thấy, dù sức mạnh tác động của mọi tổ chức, lãnh đạo,
chỉ huy các cấp đến chính trị viên trong việc thực hiện cương vị, chức trách,
nhiệm vụ cũng không thay thế được ý thức, trách nhiệm và ở chính sự nêu
gương của chính trị viên nhằm thực hiện phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNVN hiện nay theo TTHCM. Do đó, từng chính trị viên phải tự
mình nêu cao ý thức, trách nhiệm, tích cực, chủ động, tự giác trong việc nêu
gương mẫu mực ở việc làm, hành động cụ thể thiết thực trong thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, đòi hỏi trong thực hiện
nhiệm vụ, công tác, chính trị viên phải biết phân tích và xử lý tình huống một
149
cách đúng đắn, theo nhiều hình thức, phương pháp, biện pháp khác nhau và
bước đi phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ
thể, để hoàn thành tốt cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thấu triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “một tấm gương sống
còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Cho nên, mỗi chính trị
viên phát huy ý thức, trách nhiệm, tích cực, chủ động, tự giác trong việc nêu
gương sáng mẫu mực ở việc làm, hành động cụ thể, thiết thực với đích cuối
nhằm phát triển, hoàn thiện nhân cách của mình theo TTHCM, là phải bằng
chính sự nêu gương mẫu mực ở việc làm, hành động cụ thể thiết thực của
chính trị viên. Vì vậy, trong cuộc sống và thực tiễn công tác chính trị viên phải
thực sự là người tiêu biểu mẫu mực về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức,
tác phong công tác của người cán bộ chính trị của Đảng trong quân đội.
Với tinh thần ấy, đòi hỏi chính trị viên ở các đơn vị hiện nay, phải
thực sự là người có: lập trường, tư tưởng kiên định vững vàng, tận trung
với Đảng, tận hiếu với dân, quyết tâm phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ
quốc, vì chủ nghĩa xã hội; khắc phục mọi khó khăn hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ được giao; luôn nhạy cảm về chính trị, có khả năng nhận diện
đúng các quan điểm thù địch, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác -
Lênin, TTHCM, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước; giúp mọi quân nhân trong đơn vị biết định hướng đúng
trong tư tưởng, hành động và khả năng “miễn dịch” với các quan điểm thù
địch và cơ hội chính trị hiện nay.
Chính trị viên trong cuộc sống và thực tiễn công tác thực sự phải là
người tiêu biểu nêu gương sáng về: lời nói phải đi đôi với việc làm, nói như
thế nào thì làm như thế ấy, không được nói một đằng làm một nẻo, xa rời thực
tiễn, giáo điều, sách vở, làm tổn hại tới nhiệm vụ của đơn vị, hoen ố nhân
cách của mình; thực sự tiêu biểu nêu gương sáng về “cần, kiệm, liêm chính,
chí công vô tư”, về “ nhân, lễ, trí, dũng, liêm, trung”, đề cao tinh thần và thực
hiện chặt chẽ “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, luôn đặt lợi ích của Đảng,
150
của tập thể đơn vị lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình; nêu gương
về lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm, tinh thần tận tụy trong công việc, đoàn
kết nhất trí trong tập thể lãnh đạo, chỉ huy, không cá nhân, bè phái; không
thu vén cá nhân, lấy của công làm của tư, chăm lo lợi ích của quân nhân
dưới quyền, không được kêu mình đói, mình rét, mình mệt khi bộ đội chưa
ăn cơm, chưa đủ áo mặc, chưa đủ chỗ ở; không sống ích kỷ, theo kiểu “ăn
đi trước, lội nước đi sau”; không tranh công đổ lỗi, thắng lợi không nhận
hết công về mình, thất bại, vấp váp, dám nhận và chịu trách nhiệm, không
đổ lỗi cho cấp dưới; giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, tập trung dân
chủ, sâu sát với quần chúng, linh hoạt, sáng tạo mềm dẻo, kiên quyết chống
bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc quan liêu, gia
trưởng; không tham ô, hủ hóa, không mắc vào các tệ nạn xã hội mà phải
gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng,
lãng phí và các biểu hiện phản giá trị khác về nhân cách ở ngay chính địa
phương, cơ quan, đơn vị mình.
Chính trị viên phải thể hiện là người tiêu biểu về lòng yêu thương cán
bộ, chiến sĩ, sống có tình, có nghĩa, gắn bó mật thiết với bộ đội và quần chúng
nhân dân nơi đóng quân. Phải thể hiện rõ là người đóng vai trò trụ cột, trung
tâm đoàn kết trong đơn vị, sao cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị phải
tuyệt đối tin tưởng vào mình, thật sự là “chất keo” kết dính sự đoàn kết thống
nhất trong đơn vị. Đối với nhân dân, chính trị viên cần thể hiện rõ mình là sợi
dây kết nối quan hệ quân dân nơi đơn vị đóng quân, phải thực sự làm cho dân
phục, dân tin, dân yêu bộ đội. Vì vậy, cùng với người chỉ huy đơn vị, chính trị
viên phải chỉ đạo và thực hiện tốt công tác dân vận nơi đơn vị đóng quân, giúp
đỡ nhân dân, nhất là những lúc nhân dân gặp khó khăn hoạn nạn.
Thứ tư, kịp thời cổ vũ động viên ưu điểm và có biện pháp khắc phục
những hạn chế, khuyết điểm tạo động lực tinh thần trách nhiệm của chính trị
viên thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ nhằm phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
151
Thực chất của nội dung, biện pháp này là trong quá trình chính trị viên
thực hiện cương vị chức trách là người chủ trì về chính trị, trực tiếp chỉ đạo và
tiến hành CTĐ, CTCT và các nhiệm vụ cụ thể như: xây dựng kế hoạch và tổ
chức thực hiện các mặt công tác trong đơn vị; thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu, đề xuất để cấp ủy cấp mình quyết định chủ trương, biện pháp lãnh đạo
mọi hoạt động, các mặt công tác của đơn vị; chỉ đạo và trực tiếp tiến hành
công tác tuyên huấn, công tác xây dựng ở đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ,
công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận, chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần cho bộ đội và nhiều mặt công tác khác. Chắc chắn có nhiều nội
dung cụ thể mà theo cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình, chính trị viên
hoàn thành tốt, thậm chí là xuất sắc, nhưng sẽ có những nhiệm vụ chính trị
viên trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những hạn chế, khuyết
điểm. Cho nên, các cấp ủy, cơ quan chức năng, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cần
tiến hành công tác cổ vũ, động viên, khích lệ đúng lúc những thành tích mà
chính trị viên đã đạt được. Kịp thời uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm
chính trị viên mắc phải, phân tích kỹ càng nguyên nhân dẫn đến hạn chế,
khuyết điểm chính trị viên phạm phải trong quá trình thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ của họ. Định hướng cụ thể những biện pháp tích cực
giúp chính trị viên khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Tránh tình trạng thờ ơ, vô trách
nhiệm hoặc tư tưởng kì thị, ghen ghét, đối xử phân biệt không công bằng giữa
các chính trị viên thuộc quyền của mình.
Cần đánh giá khách quan công tâm những ưu điểm và chỉ rõ những hạn
chế, khuyết điểm trong cuộc sống, công tác của chính trị viên. Đặc biệt, nếu
phát hiện đúng hạn chế, khuyết điểm của họ thì cũng cần tiến hành công tác
phê bình kịp thời với phương châm phê bình việc làm khuyết điểm chứ không
phê bình con người. Trong phê bình phải có cái tâm trong sáng, phê bình cốt
để sửa đổi cách làm việc tốt hơn, đúng hơn, cốt để đoàn kết thống nhất nội bộ,
152
để giúp nhau cùng tiến bộ; không ngại va chạm, không sợ trù dập, hay sợ bị
hiểu lầm khi thực hiện phê bình và tự phê bình, miễn sao trong lòng chúng ta
trong sáng, thật lòng vì nước, vì dân, vì Đảng, vì sự tiến bộ của mình và của
mỗi người chính trị viên.
Bản thân mỗi chính trị viên cũng cần nhận thức nghiêm túc về những gì
mình đã làm được và chưa làm được trong quá trình thực hiện cương vị, chức
trách, nhiệm vụ của mình. Đặc biệt là sự thành khẩn tiếp thu những ý kiến
đóng góp của cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan chức năng, của anh em,
đồng chí, đồng đội trong đơn vị. Với tinh thần không sợ khuyết điểm và phải
thực sự kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, cầu thị tiến bộ, phấn đấu vươn lên
hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, quân đội và nhân dân giao phó.
Chính trị viên phải tự mình ý thức sâu sắc về cương vị, chức trách, nhiệm vụ
của mình trước đơn vị, từ đó có động cơ, tình cảm, ý chí quyết tâm cao trong
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, mỗi chính trị
viên phải tự mình cảm nhận được xã hội, quân đội, tập thể đơn vị luôn tạo
điều kiện, yêu cầu và cổ vũ ý thức trách nhiệm của bản thân mình đối với việc
thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ nhằm phát triển nhân cách của chính
trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Có sự cảm nhận này, chính
trị viên mới có khả năng tự chiến thắng những lực cản từ trong tâm lý, sức ỳ,
động cơ không lành mạnh, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng lạc hậu…để phấn đấu
vươn lên hoàn thành tốt cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Hơn nữa, mỗi chính trị viên phải tự chiến thắng mình trước sự cám dỗ
về lợi ích vật chất cá nhân để vươn lên là những chủ thể tiêu biểu về nhân
cách người cán bộ của Đảng trong quân đội. Phải tự vượt qua những cản trở
về tâm lý, sự lôi kéo có tính tiêu cực để xứng danh người chủ trì về chính trị,
“linh hồn” điểm tựa tinh thần của đơn vị. Chính trị viên phải tự mình tìm thấy
giá trị, ý nghĩa cuộc sống, hạnh phúc cá nhân trong hạnh phúc của cán bộ,
chiến sĩ trong đơn vị, trong sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh về chính
153
trị, trong hạnh phúc của nhân dân, dân tộc và công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước. Chính trị viên phải học tập những tấm gương sáng của các thế hệ đi
trước đã hy sinh xương máu, hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nền độc lập tự do
của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Đặc biệt, những tấm gương Anh hùng
liệt sĩ chính trị viên tiêu biểu như: Nguyễn Viết Xuân, Phan Đình Linh…đòi
hỏi chính trị viên phải luôn học tập, noi theo và làm theo trong thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, quân đội và nhân dân giao phó.
Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của chính trị viên trong thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao nhằm phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là vấn đề hết sức
trọng yếu. Có thể nói đây là “điểm nút” cuối cùng của quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Vì
vậy, cùng với sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp ủy đảng, cơ quan chức
năng, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, mỗi chính trị viên cần phát huy cao độ tính
tích cực, tự giác, chủ động và tinh thần trách nhiệm của mình trong thực
hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao nhằm phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
3.3. Xây dựng môi trƣờng công tác thuận lợi và tiếp tục hoàn thiện
cơ chế, chính sách nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân
đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
3.3.1. Xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân
cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh
Đây là giải pháp quan trọng tác động trực tiếp đến quá trình phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Tính
khách quan của quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người chỉ ra
môi trường tạo nên nhân cách. C.Mác đã chỉ ra: “Con người tạo ra hoàn cảnh
đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”. Chủ tịch Hồ
154
Chí Minh nhấn mạnh: “Chi bộ tốt mới có đảng viên tốt”. Do đó, việc xây
dựng môi trường công tác tốt sẽ là điều kiện thuận lợi không chỉ giúp chính trị
viên hoàn thành cương vị, chức trách, nhiệm vụ của mình mà còn tác động
trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của họ. Từ thực tiễn cho thấy việc phát
triển phát triển nhân cách chính trị viên hiện nay theo TTHCM chỉ có được
hiệu quả tốt chỉ khi có được một môi trường công tác tốt. Ở đó từ hệ thống
lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng đến mọi quân nhân và chính trị viên có
sự thống nhất cao trong quán triệt, tổ chức thực hiện tốt cương vị, chức trách,
nhiệm vụ được giao. Theo đó, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, chính trị viên ngày
một phát triển hoàn thiện.
Vấn đề xây dựng môi trường công tác thuận lợi phải gắn với điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể của xã hội, của quân đội và của từng tập thể đơn vị. Kế
hoạch tổng thể xây dựng môi trường công tác thuận lợi nơi chính trị viên công
tác, phải bám sát tình hình cụ thể ở đơn vị, những nhiệm vụ mà đơn vị đang
thực hiện; những thuận lợi, khó khăn và những mục tiêu trước mắt của đơn vị
cần phải phấn đấu thì mới có được tính khả thi, không bị động, phát huy được
sức mạnh từ môi trường đến sự phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Vì vậy, để thực hiện hiệu quả giải pháp
này cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thống nhất nhận thức của các chủ thể vị trí, tầm quan trọng
của việc xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Vấn đề tưởng chừng đơn giản, không có gì phải bàn thêm, bởi theo suy
nghĩ chung, ai cũng đều nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của việc xây
dựng môi trường công tác tốt đối với sự hình thành, phát triển nhân cách
chính trị viên. Song, trong thực tiễn không phải như vậy, hiện nay ở một bộ
phận cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị còn nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ, sai
lệch về vấn đề này. Hơn nữa, từ quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Đơn vị sản
155
xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường rèn luyện phong cách làm
việc có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, bồi đắp tình bạn, tình
đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người” [16, tr.76]. Do đó, cần tạo
ra sự thống nhất nhận thức của các chủ thể về vị trí, tầm quan trọng của việc xây
dựng môi trường công tác phù hợp nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Thực chất của vấn đề này là tạo sự
thống nhất cho các chủ thể ở các đơn vị thấy được việc xây dựng môi trường
công tác phù hợp là nhằm đảm bảo cho những thành tố vững chắc cả về phương
diện vật chất và tinh thần phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, nhiệm vụ của quân
đội nói chung, từng đơn vị cụ thể nói riêng. Vấn đề này được thực tiễn khẳng
định: đơn vị nào vững mạnh ở mọi phương diện thì mới bồi dưỡng, giáo dục
được nhiều cán bộ, chiến sĩ tốt. Ngược lại, có cán bộ, chiến sĩ tốt thì mới có đơn
vị cơ sở vững mạnh, các đơn vị cơ sở vững mạnh thì toàn quân mạnh, phản ánh
đúng mối quan hệ biện chứng giữa tác động từ môi trường công tác đến quá
trình phát triển nhân cách quân nhân, trong đó có người chính trị viên.
Để tạo được sự thống nhất nhận thức của các chủ thể vị trí, tầm quan
trọng của việc xây dựng môi trường công tác phù hợp nhằm phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cần đảm bảo
tính định hướng đúng đắn, tạo ra sự đồng thuận và kịp thời uốn nắn những
nhận thức lệch lạc của các chủ thể. Đồng thời, đề cao nhận thức và trách
nhiệm của các chủ thể về xây dựng môi trường công tác thuận lợi ở từng đơn
vị tạo điều kiện cho quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay
theo TTHCM. Do đó, cần tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục
làm cho các chủ thể trong đơn vị nắm vững ý nghĩa của việc xây dựng môi
trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách quân nhân và bản thân
chính trị viên, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể đối
với việc xây dựng môi trường công tác thuận lợi ở từng đơn vị hướng tới sự
phát triển nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” và nhân cách của chính trị viên.
156
Thứ hai, xây dựng tổ chức cơ sở đảng các cấp trong sạch vững mạnh,
làm nòng cốt trong xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Tổ chức đảng các cấp có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện mọi hoạt
động của đơn vị theo phạm vi, chức năng, quyền hạn được giao trong đó việc
xây dựng môi trường công tác ở các đơn vị là nhiệm vụ thường xuyên quan
trọng. Để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của mình, tổ chức đảng các cấp
phải thường xuyên nắm chắc chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, kỷ luật của quân đội, các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của cơ
quan cấp trên về chức trách, nhiệm vụ của mình. Đồng thời, nắm chắc tình
hình của từng đơn vị để đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn, sát,
đúng, trúng, mang lại hiệu quả cao, thiết thực với từng giai đoạn, từng nhiệm
vụ trong xây dựng môi trường công tác của từng đơn vị.
Để xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh, cần tiến hành
nhiều biện pháp cụ thể, phát huy được sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực
lượng. Trong đó, cần nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, nhất là sinh hoạt tự
phê bình và phê bình, thường xuyên lấy tiêu chí rèn luyện cán bộ, đảng viên
trong thực tiễn làm cơ sở phân tích chất lượng đảng viên. Đề cao tính tiền
phong gương mẫu, tính chiến đấu của mọi cán bộ, đảng viên nhất là các cán
bộ, đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, các vị trí chủ chốt
trong các tổ chức đảng. Đặc biệt, đối với tổ chức đảng ở các đơn vị phân đội,
chính trị viên là một đảng viên của chi bộ, đảng bộ phân đội, nhưng lại là người
chủ trì về chính trị của đơn vị, trong chi bộ, đảng bộ phân đội thường được tổ chức
đảng bầu giữ cương vị bí thư, do vậy trong xây dựng tổ chức đảng ở đơn vị mình
chính trị viên phải là người chịu trách nhiệm chính. Vì vậy, từng chính trị viên
phải thực sự là người tiền phong gương mẫu, đi đầu trong công tác xây dựng chi
ủy, chi bộ, đảng ủy nơi mình công tác trong sạch vững mạnh. Đồng thời, thường
xuyên đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra, uốn nắn các đảng viên thuộc quyền thực hiện
157
công tác xây dựng chi bộ, đảng ủy trong đơn vị mình trong sạch vững mạnh đủ
sức lãnh đạo và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của đơn vị mình công tác.
Thứ ba, xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh toàn diện tạo cơ sở
cho việc xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Với tổ chức Đoàn thanh niên đại biểu cho quyền lợi chính đáng của
đoàn viên, thanh niên trong đơn vị, là lực lượng xung kích thực hiện nhiệm vụ
chính trị của đơn vị. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn ảnh hưởng
trực tiếp chất lượng xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân
cách của mọi quân nhân trong đơn vị và người chính trị viên. Vì thế, để xây dựng
tổ chức Đoàn thanh niên vững mạnh toàn diện, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải
thường xuyên quan tâm kiện toàn và tích cực chỉ đạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ
chuyên môn cho ban chấp hành chi đoàn, đoàn cơ sở; tiến hành tốt công tác
giáo dục đoàn viên thanh niên về mục tiêu, lý tưởng, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, truyền thống vẻ
vang của dân tộc, của Đảng, của Đoàn; xây dựng ý thức tự giác, trách nhiệm
của đoàn viên thanh niên tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện, xung kích thực
hiện có hiệu quả nhiệm vụ nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Với tinh thần đó tổ
chức Đoàn thanh niên đã góp phần trực tiếp vào xây dựng môi trường công
tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách chính trị viên ở các đơn vị hiện nay.
Hội đồng quân nhân ở đơn vị là tổ chức đại diện cho mọi quân nhân để
thực hiện và phát huy dân chủ ở đơn vị. Để phát huy vai trò Hội đồng quân
nhân trong xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách
của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, chủ tịch và các uỷ
viên hội đồng quân nhân cần nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hình
thức hoạt động, chế độ sinh hoạt và mối quan hệ của hội đồng quân nhân với
các tổ chức và lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Phát huy trí tuệ, trách nhiệm của mọi
quân nhân trong tham gia thảo luận những vấn đề liên quan đến xây dựng và
158
hoạt động của đơn vị; có cơ chế kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của đơn vị
theo nề nếp, chế độ qui định, hoặc yêu cầu của tổ chức đảng, tổ chức chỉ
huy đơn vị. Hội đồng quân nhân tổ chức tốt sinh hoạt tập thể quân nhân
thực sự trung thực, thẳng thắn, trách nhiệm cao đóng góp cho lãnh đạo,
chỉ huy, cán bộ, đảng viên, quân nhân về nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
Đây chính là kênh truyền dẫn, tác động có hiệu quả đến quá trình phát
triển nhân cách của người chính trị viên.
Thứ tư, xây dựng tập thể quân nhân vững mạnh tạo nền tảng vững chắc
trong xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách của
chính trị viên trong QĐNDN hiện nay theo TTHCM.
Xây dựng tập thể quân nhân vững mạnh là yêu cầu khách quan, là nhân
tố cơ bản, trực tiếp tác động đến quá trình phát triển nhân cách quân nhân,
người chính trị viên ở đơn vị phân đội. Thực tiễn cho thấy, bầu không khí tâm
lý tích cực trong tập thể quân nhân tạo điều kiện thuận lợi để mọi quân nhân
không chỉ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình, mà còn là điều kiện lý
tưởng giúp họ phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện nhằm không ngừng hoàn thiện
nhân cách của người quân nhân cách mạng cần phải có. Do đó, trong việc xây
dựng tập thể quân nhân vững mạnh cần tập trung xây dựng mối quan hệ tốt
đẹp giữa người và người trong đơn vị. Ở các đơn vị phân đội có ba hệ thống
quan hệ cơ bản, giữ vị trí rường cột là: quan hệ lãnh đạo, chỉ huy - phục tùng;
quan hệ đồng chí đồng đội; quan hệ giữa đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo,
quản lý với tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương.
Trong đó cần quan tâm xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp trong đơn vị, nhất
là các mối quan hệ giữa đồng chí, đồng đội, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa
chính trị viên với người chỉ huy. Đây là vấn đề quan trọng, tạo nên sự tôn
trọng, tương thân, tương ái, học hỏi, đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau của
mọi quân nhân trong đơn vị cùng tiến bộ không chỉ trong nghề nghiệp chuyên
môn, mà cả trong cuộc sống hàng ngày, với đích cuối cùng nhau hoàn thành
159
tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong một tập thể quân nhân đầy tính nhân ái,
nhân văn sẽ nuôi dưỡng, bồi đắp tình cảm, ý chí, nghị lực lôi cuốn người
chính trị viên không ngừng phấn đấu vươn lên, tích cực, chủ động, tự giác
phát triển nhân cách của mình hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Theo đó, xây dựng trung đội, đại đội, tiểu đoàn thành những tập thể
quân nhân thực sự mẫu mực về chính trị, tư tưởng, tổ chức, về chấp hành
chế độ quy định của quân đội, điển hình cho phong trào thi đua ở từng đơn
vị cơ sở. Thông qua hoạt động xây dựng tập thể quân nhân vững mạnh mà
chính trị viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ
của mình, tự bản thân mình rèn luyện, tu dưỡng, gương mẫu chấp hành tốt
các chế độ, kỷ luật của người quân nhân giữ trọng trách lãnh đạo, chỉ huy
đơn vị. Từ đó, mỗi chính trị viên xây dựng kế hoạch, xác định nội dung, chỉ
tiêu, nhiệm vụ cần hoàn thành trong từng quý, từng tháng, từng tuần phù hợp
với nội dung chức trách, nhiệm vụ đảm nhiệm và tổ chức thực hiện tốt kế
hoạch đã đề ra, theo đó nhân cách của họ ngày càng phát triển.
Trong việc xây dựng tập thể quân nhân vững mạnh cần nâng cao chất
lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ,
chiến sĩ; xây dựng nề nếp chính quy và quản lý kỷ luật, nắm tình hình tư
tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ, quan tâm xây dựng bầu
không khí tâm lý tích cực và các mối quan hệ xã hội lành mạnh trong tập thể
quân nhân. Đồng thời, cần xây dựng nếp sống mới trong tập thể quân nhân,
điều này không chỉ được biểu hiện ở tính kỷ luật mà còn phải là nếp sống có
văn hóa. Nếp sống đó phải được biểu hiện ở trình độ văn hóa đạo đức cao
trong mọi hoạt động học tập, công tác, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của
mỗi người quân nhân. Bởi vậy, phải định hướng mọi quân nhân từ lời ăn,
tiếng nói đến cách thức chào hỏi, xưng hô và lễ tiết, tác phong của họ đúng
với điều lệnh quân đội, nhưng thể hiện nét đẹp của văn hóa, văn minh trong
quan hệ giữa người với người.
160
Thứ năm, phát huy dân chủ, tăng cường kỉ luật và nâng cấp cơ sở hạ
tầng phục vụ đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội trong xây dựng môi
trường công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thực tiễn từ các đơn vị cho thấy, việc phát huy dân chủ, tăng cường kỷ
luật và nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội,
là một trong những nội dung, biện pháp thiết thực trong xây dựng môi trường
công tác thuận lợi nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay theo
TTHCM. Vì vậy, đòi hỏi việc triển khai, tổ chức thực hiện hoạt động của đơn
vị phải luôn bám sát nhiệm vụ chính trị trung tâm, bảo đảm chặt chẽ nghiêm
túc, vừa tuân thủ nguyên tắc, chỉ thị, quy định, huấn luyện, vừa theo điều
lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội, phát huy tự do tư tưởng, tôn trọng sự tự do
sáng tạo của mọi quân nhân trong đơn vị. Đồng thời, cần phải xây dựng cơ sở
vật chất, cảnh quan môi trường góp phần thiết thực vào phát triển nhân cách
của người chính trị viên. Nâng cấp cơ sở hạ tầng, tạo dựng cảnh quan môi
trường đơn vị xanh, sạch, đẹp phải được coi là một nội dung cơ bản của xây
dựng môi trường công tác. Trên cơ sở đầu tư của Nhà nước, Bộ Quốc phòng
về xây dựng kết cấu hạ tầng hợp lý, đồng thời các đơn vị cần có quy hoạch cụ
thể nơi học tập, nghiên cứu, nơi ăn ở, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí v.v.. cho phù
hợp với điều kiện thực hiện nhiệm vụ của mọi quân nhân và bản thân người
chính trị viên. Đối với chỉ huy đơn vị, phải luôn đảm bảo đủ mọi tài liệu,
phương tiện để người chính trị viên có thể phát huy năng lực thực tiễn của
mình trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Làm tốt những vấn đề đó, có tác động
rất lớn đến chính trị viên, tạo cho họ sự thoải mái, hưng phấn, nhiệt tình thực
hiện thắng lợi chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thực hiện tốt các nội dung, biện pháp trên sẽ góp phần thiết thực tạo
nền tảng vững chắc trong xây dựng môi trường công tác thuận lợi nhằm phát
triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDN hiện nay theo TTHCM.
161
3.3.2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển nhân
cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh
Đây là giải pháp hết sức quan trọng, tạo động lực trực tiếp nâng cao
chất lượng, hiệu quả quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Xuất phát từ cơ chế, chính sách đối với
người quân nhân, trong đó có chính trị viên là một bộ phận trong hệ thống cơ
chế, chính sách cán bộ của Đảng, Nhà nước và của Quân đội ta. Thể hiện sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước, Quân đội đối với sự cống hiến của người
quân nhân và chính trị viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nó có vị trí
đặc biệt quan trọng đối với việc phát huy vai trò của mọi quân nhân, chính
trị viên trong thực hiện nhiệm vụ và phát triển hoàn thiện nhân cách.
Thực tiễn 70 năm xây dựng và chiến đấu của quân đội cho thấy, chỉ
khi nào có cơ chế đúng đắn, chính sách phù hợp và tổ chức, triển khai
nghiêm túc trong thực tiễn, thì mới tạo được sự nhiệt tình, say mê trong công
tác và ý chí, trách nhiệm quyết tâm cao của người quân nhân nói chung,
chính trị viên nói riêng trong thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được
giao. Trong điều kiện hiện nay, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách
nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM, thực chất là phải tạo ra được những điều kiện vật chất và tinh thần
nhằm kích thích, thúc đẩy, gia tăng mức độ, nhịp độ, quy mô biến đổi, phát
triển, hoàn thiện nhân cách của chính trị viên đáp ứng sự nghiệp xây dựng
quân đội trong thời kỳ mới. Vì vậy, để thực hiện tốt vấn đề này cần tập trung
thực hiện những nội dung, biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai nghiêm túc,
có hiệu quả Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị
quyết 513/NQ-ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương tạo cơ sở cho quá trình
hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp nhằm phát triển nhân cách chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
162
Đây là nội dung, biện pháp hết sức quan trọng tạo nền tảng cho quá
trình tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp nhằm phát triển nhân
cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Bởi vì, chỉ có
trên cơ sở tiếp tục giáo dục quán triệt nâng cao nhận thức cho mọi người, mọi
cấp, mọi ngành và tổ chức triển khai, nghiêm túc có hiệu quả Nghị quyết số
51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW của
Quân ủy Trung ương, mới trực tiếp định hướng đúng đắn quá trình hoàn thiện
cơ chế, đổi mới chính sách phù hợp nhằm phát triển nhân cách của chính trị
viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thực tiễn cho thấy, quá trình triển khai Nghị quyết số 51/NQ-TW của
Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW của Quân ủy Trung
ương đến nay đã được gần 10 năm, thực sự đã tạo ra được động lực, sinh khí
mới hết sức to lớn về chính trị, tư tưởng và tinh thần trong quân đội, củng cố
niềm tin vững chắc của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng đối với
quân đội. Đồng thời, đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức
của nhiều người về vị trí, vai trò chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay.
Tuy nhiên, trong thực tiễn ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân
đội vẫn nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực
hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị
viên trong QĐNDVN. Thậm chí có hiện tượng suy nghĩ hết sức giản đơn cho
rằng thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên chỉ là sự thay đổi về hình thức,
về tên gọi chức danh, chưa thấy được sự thay đổi về chất vị trí, vai trò, chức
trách, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của người chính ủy, chính trị viên
so với người phó chỉ huy về chính trị trước đây. Một vấn đề đáng lo ngại là
trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ cấp phân đội, trong
đó có cả cán bộ chính trị còn không dám thừa nhận, không dám khẳng định
chính ủy, chính trị viên là thủ trưởng, người chỉ huy về chính trị của đơn vị.
Thực trạng trên đòi hỏi cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần
163
tiếp tục phổ biến, hướng dẫn, quán triệt và tổ chức thực hiện đúng đắn Nghị
quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513/NQ-
ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương vào thực tiễn. Tạo ra sự thống nhất trong
toàn quân, sự đồng thuận trong nhận thức của mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi lực
lượng trong quân đội về vị trí, vai trò của người chính ủy, chính trị viên trong
quân đội ta hiện nay. Chỉ có như vậy, mới thấy được ý nghĩa, tầm quan trọng
của việc hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp nhằm phát triển nhân cách
chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Thứ, hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong bố trí, sử dụng,
đánh giá chính trị viên nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Quán triệt quan điểm của Đảng và TTHCM: “dùng người phải đúng
việc, lấy công việc để sắp xếp sử dụng con người”. Cho nên công tác bố trí,
sử dụng chính trị viên phải trên cơ sở đặc điểm, nhiệm vụ và thực tiễn
phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của bản thân chính trị viên để có sự
bố trí, sử dụng phù hợp đúng người, đúng việc, đúng khả năng sở trường,
có như vậy mới giúp họ phát huy tốt khả năng của mình trong thực hiện
nhiệm vụ, chức trách được giao. Đồng thời, phải có sự kết hợp bố trí đan
xen các lứa tuổi một cách hợp lý, vừa bảo đảm số và chất lượng công tác,
vừa bảo đảm nguồn đi đào tạo, phát triển lâu dài. Theo đó, thường xuyên
chủ động kế hoạch chuẩn bị nguồn thay thế kế tiếp, tránh sự hụt hẫng khi
có sự thay đổi, luân chuyển, điều động chính trị viên. Chú trọng giải quyết
tốt mối quan hệ giữa đào tạo, bồi dưỡng với bố trí, sử dụng, tránh hiện
tượng đào tạo không được sử dụng hoặc sử dụng không đúng chuyên môn,
vừa không phát huy được khả năng, sở trường của mỗi chính trị viên, vừa
làm cho họ thiếu yên tâm phấn đấu, tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm thực
tiễn, ảnh hưởng đến hiệu quả đơn vị. Nên điểm mấu chốt nhất trong bố trí,
sử dụng chính trị viên là phải tạo ra được sự ổn định lâu dài, để chính trị
viên có điều kiện, thời gian phát triển, hoàn thiện nhân cách của mình.
164
Thực tiễn đổi mới chính sách sử dụng, và quản lý chính trị viên cho
thấy, cần phải có cơ chế, quy chế, quy định để miễn nhiệm và đưa ra khỏi
cương vị chính trị viên ở mọi cấp những cán bộ kém về phẩm chất, năng
lực và phương pháp, tác phong công tác, không đảm đương được nhiệm vụ,
kiên quyết không điều chuyển cán bộ từ đơn vị này, vị trí này sang đơn vị
khác, vị trí khác nếu họ không phù hợp với nhiệm vụ được giao. Đồng thời,
thực tiễn những năm qua cho thấy, để sử dụng đúng và quản lý chặt chẽ
chính trị viên phải xây dựng cơ chế phát hiện, tuyển chọn, đề bạt và miễn
nhiệm theo một quy trình khoa học. Bố trí, sử dụng chính trị viên phải lấy
tiêu chuẩn và hiệu quả công việc làm thước đo, bảo đảm đúng nguyên tắc
tập trung dân chủ đúng quy định. Có những quy định bảo đảm cho việc bố
trí, sử dụng chính trị viên đúng người, đúng việc; bảo đảm đúng đắn mối
quan hệ giữa trách nhiệm và quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi cán bộ.
Mặt khác, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách trong đánh giá chính trị
viên. Đây chẳng những là khâu mở đầu quyết định để bố trí sử dụng đúng mà
còn liên quan đến sinh mệnh chính trị của cán bộ. Có hiểu và đánh giá đúng
chính trị viên mới biết rõ ai là người có đức, có tài, ai là cán bộ tốt, ai là
cán bộ kém, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí,
sử dụng cán bộ đúng. Muốn đánh giá chính trị viên đúng phải có quan điểm
và phương pháp thật sự khoa học, nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn người
chính trị viên đã được xác định trong Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ
Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương.
Việc đánh giá chính trị viên cần lấy hiệu quả công việc, việc làm trong thực
tiễn của bản thân họ làm thước đo đánh giá, tránh sự chủ quan, thiên vị, định
kiến, mà thực sự khách quan “công tâm” đúng người, đúng việc, khen, chê rõ
ràng. Có như vậy, mới tránh được mọi hiện tượng “tiêu cực” trong đánh giá
chính trị viên, không làm thui chột tài năng, phẩm chất của họ, kích thích họ
hăng hái, tận tụy, phát huy sở trường trong thực hiện nhiệm vụ và rèn luyện,
phát triển nhân cách của mình.
165
Thứ ba, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng tạo động lực nhằm phát triển
nhân cách của chính trị viên trong trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ quân đội,
người chính trị viên là một quá trình bao gồm tổng hoà những biện pháp
nhằm ưu đãi lao động đặc biệt, thiết lập công bằng xã hội, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người chính trị viên, tạo động lực thúc đẩy động cơ,
ý chí, quyết tâm của người chính trị viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ,
chức trách của mình. Thực chất là sự quan tâm chăm lo giải quyết tốt vấn đề
lợi ích cho đội ngũ cán bộ quân đội và người chính trị viên. Ở đây cần phải
thấy được hệ thống giá trị lợi ích đối với đội ngũ cán bộ quân đội và bản thân
người chính trị viên bao gồm những lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi
ích của bản thân, lợi ích gia đình phản ánh nguyện vọng, mong muốn của họ
được phục vụ quân đội lâu dài, có điều kiện học tập nâng cao trình độ lãnh
đạo, chỉ huy, chuyên môn nghiệp vụ, có được cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Do vậy, trong đãi ngộ luôn gắn việc bảo đảm quyền lợi, lợi ích cả về vật chất
và tinh thần, với chế độ thù lao chính đáng trong hoạt động của người chính
trị viên. Có quy định mức thưởng xứng đáng với những chính trị viên có
những thành tích xuất sắc phải xem đó là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn
để xét đề bạt, bổ nhiệm chức danh, phong quân hàm sĩ quan, phong tặng các
danh hiệu, tiêu chí quan trọng để bình xét khen thưởng, cấp đất, nhà ở, tuyển
chọn, bố trí công ăn việc làm cho vợ, con của chính trị viên trong thẩm
quyền, khả năng của đơn vị nơi chính trị viên công tác.
Trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ
quân đội, chính trị viên phải chấp nhận hy sinh thiếu thốn nhiều mặt, nhất là
ở những đơn vị đóng quân nơi biên giới, hải đảo, những khu vực kinh tế - xã
hội chưa phát triển, vùng khí hậu khắc nghiệt…thì đời sống của họ càng khó
khăn, thiếu thốn. Điều đáng nói ở chỗ là đội ngũ cán bộ quân đội và bản thân
chính trị viên vẫn phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích phù
166
hợp với chuẩn mực giá trị xã hội. Thực tế hiện nay, phần lớn đội ngũ cán bộ
quân đội, chính trị viên làm nhiệm vụ tại các đơn vị cơ sở rất ít có điều kiện
về thăm gia đình, và cũng chưa xây dựng được tổ ấm gia đình riêng. Vì thế,
như mọi công dân khác trong xã hội hiện nay luôn có suy tính trăn trở, so
sánh thiệt hơn về giá trị lợi ích, mong muốn có cuộc sống sung túc, gia đình
hạnh phúc, nhưng họ lại không có điều kiện để thực hiện mong muốn của
mình. Do đó, bên cạnh việc giáo dục, động viên về chính trị - tinh thần, cần
quán triệt và thực hiện tốt nội dung trong Nghị quyết 769 của Quân ủy Trung
ương về: “Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung hoàn thiện chế độ, chính sách
ưu đãi đối với cán bộ quân đội; thể chế hóa theo từng nhóm đối tượng lao
động đặc thù quân sự” [18, tr.13]. Thực hiện tốt vấn đề đó cũng chính là sự
đảm bảo công bằng, bình đẳng về lợi ích, nâng cao vị thế chính trị viên trong
quân đội và trong xã hội, là yếu tố tích cực tác động trực tiếp đến sự phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Song,
vấn đề đặt ra là dù trong mọi hoàn cảnh nào, người chính trị viên phải luôn
biết đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng, nhân dân và quân đội lên trên, lên
trước quyền lợi riêng của gia đình và cá nhân.
Thứ tư, tiếp tục giải quyết tốt chính sách hậu phương quân đội, chăm
lo, tạo điều kiện giúp đỡ gia đình chính trị viên khi gặp khó khăn, hoạn nạn.
Trong công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho mọi cán bộ,
chiến sĩ và chính trị viên không chỉ ngoài việc chăm lo cái ăn, cái mặc, nơi ở,
các cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống tinh thần của họ, mà còn phải có chính
sách hậu phương quân đội thỏa đáng. Có như vậy, mới tạo được động lực
thúc đẩy mọi quân nhân, và chính trị viên người an tâm công tác, rèn luyện,
phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do đó, chính sách hậu
phương quân đội cần phải được luật hóa thành các điều, khoản có tính pháp
lý, hiệu lực cao với toàn xã hội, thực hiện thống nhất trong cả nước, tránh tùy
tiện, áp đặt chủ quan của từng địa phương.
167
Cùng với thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và
Quân đội đối với cán bộ quân đội, chính trị viên, các đơn vị cần phát huy sự
năng động, sáng tạo của các cơ quan chức năng, các lực lượng trong việc tìm
kiếm, khai thác các nguồn hỗ trợ của cấp trên, mở các dịch vụ, tổ chức tăng gia,
sản xuất (nếu đơn vị nào có điều kiện), tạo nguồn thu nhập tại chỗ góp phần cải
thiện đời sống vật chất hàng ngày của đơn vị, hỗ trợ các gia đình cán bộ, chính
trị viên gặp lúc khó khăn, hoạn nạn với nhiều hình thức khác nhau nhưng phải
tạo ra được hiệu quả thiết thực như: cho vay vốn để gia đình phát triển kinh tế,
tạo nơi ở, việc làm, trợ cấp cho con ăn học, tặng quà nhân các dịp lễ tết v.v.. Các
việc làm này nếu thực hiện được một cách công khai, minh bạch, dân chủ, công
bằng thì có tác dụng rất lớn kích thích, đề cao tinh thần, trách nhiệm của mọi cán
bộ, chiến sĩ, chính trị viên trong thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ của
mình và như vậy tác động rất lớn đến quá trình phát triển nhân cách của họ.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, đổi mới chính sách là một động lực tác
động mạnh mẽ tới quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Nhưng cơ chế, chính sách dù có
hoàn thiện đến đâu cũng không thay thế được công tác giáo dục, bồi dưỡng,
rèn luyện và tính tích cực, chủ động, tự giác, ý thức, trách nhiệm của bản thân
mỗi chính trị viên trong việc phát triển nhân cách của mình. Bởi vậy, phải kết
hợp giữa công tác giáo dục, bồi dưỡng, phát huy cao độ sự nỗ lực của bản
thân mỗi chính trị viên với tiếp tục hoàn thiện cơ chế, đổi mới chính sách tạo
thành động lực thúc đẩy chính trị viên trong phát triển nhân cách của mình,
hoàn thành xuất sắc cương vị, chức trách, nhiệm vụ, được giao.
Với việc thực hiện tốt các nội dung, biện pháp trên sẽ góp phần thiết
thực trong việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo ra động lực trực tiếp
nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDN hiện nay theo
TTHCM.
168
Kết luận chƣơng 3
Hệ thống các giải pháp nhằm phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM là hệ quả tất yếu, hợp lo gích của
nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Ở đây, đề tài tiếp cận trên ba hướng giải pháp
cơ bản, mỗi hướng giải pháp giải quyết một mặt, một nội dung của quá trình
phát triển nhân cách của chính trị viên hiện nay theo TTHCM.
Để đạt được hiệu quả tốt việc phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cần phải tạo ra sức mạnh tổng hợp
của tất cả các chủ thể trong và ngoài quân đội. Song, trực tiếp nhất là ở đơn vị
phân đội và cấp trên trực tiếp đơn vị phân đội trong quân đội ta hiện nay. Có
chủ thể thuộc tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và có chủ thể lại chính là bản
thân chính trị viên. Mỗi chủ thể có vị trí, vai trò riêng, nhưng thống nhất với
nhau ở mục đích là hướng vào sự phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Nội dung, biện pháp cơ bản trong tất cả
các giải pháp là mỗi chủ thể đều phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác
để tạo ra cơ sở, tiền đề tốt nhất cho quá trình nâng cao chất lượng phát triển
nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM.
Để thực hiện tốt quá trình phát triển nhân cách của chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM, cần phải tiến hành đồng bộ hệ thống các
giải pháp. Từ hệ thống các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và
bồi dưỡng, rèn luyện đến phát huy vai trò nhân tố chủ quan chính trị viên và
xây dựng môi trường công tác thuận lợi và tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính
sách nhằm tạo ra một sức mạnh tổng thể tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến quá
trình phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM. Song, điều đáng nói ở chỗ là hệ thống các giải pháp dù có tính khả
thi, hữu hiệu đến chừng nào, nếu bản thân mỗi chính trị viên không tự mình
nêu cao ý thức, trách nhiệm trong tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện
cương vị, chức trách, nhiệm vụ thì việc phát triển nhân cách của chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM cũng không đạt được kết quả tốt.
169
KẾT LUẬN
Nghiên cứu phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện
nay theo TTHCM thật phong phú, sâu sắc, rộng lớn. Thực tiễn phát triển nhân
cách của người chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay ở các đơn vị cũng
muôn hình, muôn vẻ, vận động, biến đổi không ngừng. Do đó, bước đầu luận
án tập trung vào làm rõ các vấn đề cơ bản sau đây:
1. Quá trình nghiên cứu đề tài của luận án, chúng tôi nhận thấy, những
luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính trị viên vừa thể hiện rõ đặc
trưng bản chất, nguồn gốc hình thành chức năng, nhiệm vụ, vừa hàm chứa
những ý tưởng sâu sắc về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ này
trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của QĐNDVN. Đồng thời, TTHCM
về nhân cách chính trị viên được thể hiện ở các chuẩn mực về phẩm chất,
năng lực và phương pháp, tác phong công tác, đòi hỏi người chính trị viên cần
phải có, đáp ứng yêu cầu của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, người anh,
người chị và người bạn của bộ đội.
2. Thực chất phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM là ở tính liên tục phải giải quyết các mâu thuẫn nội tại
liên quan đến khả năng của mỗi chủ thể chính trị viên với yêu cầu đòi hỏi về
phẩm chất nhân cách chính trị viên theo TTHCM cần phải có, đáp ứng cương
vị, chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên ở đơn vị phân đội hiện nay. Quá
trình phát triển này chịu sự tác động của nhiều nhân tố, nhưng tựu chung lại ở
các nhân tố cơ bản sau: Thứ nhất, phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN theo TTHCM phụ thuộc vào chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi
dưỡng, rèn luyện chính trị viên; Thứ hai, phát triển nhân cách chính trị viên
trong QĐNDVN theo TTHCM phụ thuộc vào nhân tố chủ quan - tự thân của
chính trị viên; Thứ ba, phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
theo TTHCM phụ thuộc vào môi trường công tác của chính trị viên và cơ chế,
chính sách đối với họ.
170
3. Phát triển nhân cách của chính trị viên QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM có những chuyển biến tích cực, xu hướng tiến bộ ngày càng rõ và có
cơ sở khoa học. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, ưu điểm vẫn còn những
bất cập, hạn chế. Những hạn chế này biểu hiện ở nhiều phương diện, ở từng
giai đoạn phát triển nhân cách của chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo
TTHCM. Những bất cập, hạn chế cơ bản, tập trung nhất là ở chất lượng phát
triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM của một
bộ phận chính trị viên ở các đơn vị phân đội chưa cao. Biểu hiện ở chính trị - tư
tưởng, hành vi đạo đức, trình độ, năng lực và phương pháp, tác phong công tác
của bộ phận chính trị viên này chưa ngang tầm với cương vị, chức trách, nhiệm
vụ được giao. Hạn chế này có nhiều nguyên nhân, trong đó là do sự nỗ lực chủ
quan của các chủ thể ở các đơn vị cơ sở chưa tạo thành sức mạnh tổng hợp và
phát huy trong quá trình phát triển nhân cách chính trị viên. Đồng thời, nguyên
nhân quyết định trực tiếp là do một bộ phận chính trị viên chưa thực sự nêu cao
ý thức, trách nhiệm, tích cực, chủ động, tự giác trong quá trình thực hiện phát
triển nhân cách hiện nay của mình theo TTHCM.
4. Hệ thống các giải pháp cơ bản đề tài đưa ra là hệ quả tất yếu của các
nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng. Hệ thống các giải pháp được tiếp cận
ở ba hướng cơ bản: Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi
dưỡng, rèn luyện chính trị viên nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong
QĐNDVN hiện nay theo TTHCM; Hai là, phát huy vai trò nhân tố chủ quan
của chính trị viên nhằm phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM; Ba là, xây dựng môi trường công tác thuận lợi và tiếp
tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát triển nhân cách chính trị viên
trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM. Hệ thống các giải pháp này nằm
trong tính chỉnh thể thống nhất, không tách rời và cũng là sự hợp lô gích với
cơ sở lý luận và thực tiễn. Quá trình vận dụng các giải pháp đặt ra cho các chủ
thể phải có tính đồng bộ, nhưng cũng có tính trọng tâm, trọng điểm tùy theo
tình hình, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị.
171
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Hà Đức Long (2004), “Một số vấn đề xây dựng Quân đội về chính trị theo tư
tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, Số 6, tr. 7 - 10.
2. Hà Đức Long (2007), “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chính uỷ, chính trị viên trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”, Tạp chí Khoa học và Chiến thuật, Số 1, tr. 44 - 48.
3. Hà Đức Long (2008), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, Số 1, tr. 19 - 22.
4. Hà Đức Long (2009), “Tư tưởng xây dựng con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Di chúc lịch sử”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Số 9, tr.7 -10. 5. Hà Đức Long (2010), “Tư tưởng cơ bản của Ph.Ăngghen về chiến tranh - giá trị lịch sử và hiện tại”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia kỷ niệm 190 năm ngày sinh Ph.Ăngghen (28/11/1820 -28/11/2010), tr. 781 - 787. 6. Hà Đức Long (2011), “Xây dựng và phát huy vai trò người chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, Số 5 (129), tr. 56 - 60. 7. Hà Đức Long (2012), “Quan điểm của Đảng về con người trong Văn kiện
Đại hội XI”, Tạp chí Triết học, Số 2 (249), tr. 69 - 74.
8. Hà Đức Long (2012), “Xây dựng nhân cách người cán bộ đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, Số 8, tr. 31 - 36.
9. Hà Đức Long (2012) “Để thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa XI)”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 5 (144), tr. 3 - 7.
10. Hà Đức Long (2012), “Xây dựng phong cách lãnh đạo của người chính trị viên trong quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, Số 2 (132), tr. 27 - 31.
11. Hà Đức Long (2013), “Phát triển nhân cách chính ủy, chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, Số 5 (141), tr. 36 - 39.
172
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương (2005), “Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp
tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người
chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân
đội nhân dân Việt Nam,”, Số 51, H, 20/7/2005, tr.3.
2. Hoàng Chí Bảo (1998), “Vài nét chung về nhân cách và nhân cách Hồ Chí
Minh” Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, Số 6, tr. 10 - 13.
3. Trịnh Doãn Chính (2003), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, Tạp chí
Triết học, Số 3 (142), tr. 10 - 14.
4. Nguyễn Hữu Công (2010), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người
toàn diện”, Nxb CTQG, H, tr. 8.
5. Lê Như Cử (2005), “Xây dựng cán bộ chính trị quân đội theo tư tưởng Hồ
Chí Minh trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị
quân sự, Số 6 (94), tr. 40 - 43.
6. Hồng Cư (2006),“Suy ngẫm về sự ra đời và phát triển của chế độ chính ủy -
Chính trị viên”, Người chính ủy quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb
QĐND, H, tr. 115.
7. Lê Duy Chương, Bùi Quang Cường (2012), “Quan điểm V.I.Lê nin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh về chính ủy, chính trị viên”, Nxb QĐND, H, tr.151.
8. Dương Quốc Dũng (2006), “Một số quan điểm cơ bản trong tư tưởng của
V.I. Lênin và Hồ Chí Minh về chế độ chính uỷ, chính trị viên”, Tạp chí
Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Số 2 (96), tr. 15 - 18.
9. Vũ Dũng (2008), Từ điển Tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa, H, tr. 543.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), “Nghị quyết về Đội tự vệ”, Lịch sử
Đảng, tuyển tập, tập 1, Nxb CTQG, H, tr. 67.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, Nxb CTQG, H, tr. 25.
173
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết số 93 - NQ/ĐUQSTW,
Đảng ủy Quân sự Trung ương ; “Về việc tiếp tục đổi mới công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và xây dựng nhà
trường chính quy”, H, 1/6/1994.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị TW3 khoá VIII, Nxb
CTQG, H.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện hội nghị TW6 lần 2 BCHTW
Đảng khoá VIII, Nxb CTQG, H.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, H, tr. 123.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, H, tr. 76, 77, 109, 258.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện hội nghị TW4 BCHTW
Đảng khoá XI, Nxb CTQG, H, tr.27.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết “Về xây dựng đội ngũ cán
bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”, Quân ủy
Trung ương, số 769 NQ/QUTW , ngày 21/12/2012, tr. 2, 13.
19. Nguyễn Khắc Điều (2003), “Tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh -
một số vấn đề lý luận và vận dụng vào quân sự hiện nay”, Đề tài khoa
học cấp Học viện, Khoa triết học - Học viện Chính trị, Hà Nội.
20. Đặng Nam Điền (2006), “Nâng cao đạo đức cách mạng đội ngũ cán bộ
chính trị Quân đội nhân Việt Nam trong tình hình mới”, Nxb QĐND, H.
21. Điều lệ công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
(2009), “Điều 27”, Nxb QĐND, Hà nội, tr.71 - 75.
22. Võ Nguyên Giáp (1993), “Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và
nội dung cơ bản”, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Tập 1, Viện Hồ
Chí Minh, Hà Nội, tr. 45.
174
23.Võ Nguyên Giáp (2007) “Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng
thành và chiến thắng của quân đội ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự
nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H, tr. 35.
24. Phạm Minh Hạc (1995), “Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và
tâm lý học nhân cách” Hồ Chí Minh những vấn đề Tâm lý học nhân
cách, H, tr. 23 - 32.
25. Lại Ngọc Hải (2002), “Định hướng xã hội nhân cách đội ngũ sĩ quan trẻ
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Nxb QĐND, H, tr. 77.
26. Phan Trọng Hào (2005), “Đổi mới phong cách làm việc của người cán bộ
chính trị cấp phân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học
quân sự, Số 5 (71), tr. 53-58.
27. Phạm Xuân Hảo (2010), “Bồi dưỡng lối sống xã hội chủ nghĩa cho sĩ
quan trẻ hiện nay”, Nxb QĐND, H, tr. 168.
28. Nguyễn Văn Hiệp (2000), “Nâng cao chất lượng cán bộ chính trị phân đội
trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh”, Luận án Tiến sĩ quân sự, H.
29. Đào Đức Hiếu (2005), “Vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin”,
Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb CTQG, H, tr. 476.
30. Đặng Xuân Kỳ (2002), “Quan điểm Hồ Chí Minh về con người và bản
chất con người”, Triết học, Số 10 (137), tr. 29.
31. Đặng Xuân Kỳ (2007), “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, Thông tin công tác tư tưởng lý luận, Số 7, H, Tr.11.
32. V.I.Lênin (1914), “Điểm sách”, Toàn tập, tập 25, Nxb Mátxơcva, 1980, tr.
130 - 131.
33. V.I.Lênin (1919) “Bàn về Nhà nước”, Toàn tập, tập 39, Nxb Mátxơcva,
1977, tr. 78.
34. V.I.Lênin (1920) “Diễn văn tại Hội nghị II toàn Nga các cán bộ tổ chức
phụ trách công tác nông thôn”, Toàn tập, tập 41, Nxb Mátxơcva,
1977, tr.179.
175
35. Nguyễn Hiến Lê (1995), “Phải học”, Khổng Tử, Nxb Văn hóa, H, tr.147.
36. Dương Văn Lượng (2004), “Tiếp cận người cán bộ chính trị quân đội
nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay dưới ánh sáng
tư tưởng Hồ Chí Minh”, Xây dựng quân đội về chính trị theo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới, Nxb, QĐND, H, tr 270.
37. C.Mác (1845), “Luận cương về Phoiơbắc”, C.Mác - Ph.Ăng ghen, Toàn
tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 11.
38. C.Mác - Ph.Ăng ghen (1844 - 1846) “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ăng
ghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 55.
39. C.Mác - Ph.Ăng ghen (1844 - 1846), “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ăng
ghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 42 - 45.
40. Chu Huy Mân (2006), “Người chính ủy Quân đội nhân dân Việt Nam”,
Nxb QĐND, H, tr.63.
41. Hồ Chí Minh (1924), “Thư gửi đồng chí Pê Tơ Rốp, Tổng thư ký ban phương
Đông” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 263.
42. Hồ Chí Minh (1927), “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập1,
Nxb CTQG, H, 2000, tr. 522.
43. Hồ Chí Minh (1942), “Bài 1”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG,
H, 2002, tr. 265.
44. Hồ Chí Minh (1943), “Nghe tiếng giã gạo”, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG,
H, 2002, tr. 350.
45. Hồ Chí Minh (1943), “Nửa đêm”, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 2002,
tr. 383.
46. Hồ Chí Minh (1944), “Chiến thuật du kích” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3,
Nxb CTQG, H, 2002, tr. 472.
47. Hồ Chí Minh (1944), “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 2002 tr. 507.
176
48. Hồ Chí Minh (1945), “Bài nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa V trường
huấn luyện cán bộ Việt Nam” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb
CTQG, H, 2000, tr. 101.
49. Hồ Chí Minh (1946), “Tự phê bình” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb
CTQG, H, 2000, tr.166.
50. Hồ Chí Minh (1946), “Lời căn dặn học viên trong lễ khai trường trường
võ bị Trần Quốc Toản” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H,
2000, tr. 239.
51. Hồ Chí Minh (1947), “Đời sống mới” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb
CTQG, H, 2000, tr. 94.
52. Hồ Chí Minh (1948), “Nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm” Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 479.
53. Hồ Chí Minh, (1948), “Thư gửi hội nghị chính trị viên”, Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 5, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 392, 393.
54. Hồ Chí Minh (1948), “Cách làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ
trách”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 505.
55. Hồ Chí Minh (1949), “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập
5, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 269, 273, 274, 277, 290, 291.
56. Hồ Chí Minh (1949), “Cần kiệm liêm chính”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập
5, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 644, 643, 645, 78.
57. Hồ Chí Minh (1949), “Thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân cứu quốc toàn
quốc”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H, 2000, tr.711.
58. Hồ Chí Minh (1950), “Nói về công tác Huấn luyện và học tập” Hồ Chí
Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 47, 50.
59. Hồ Chí Minh (1950), “Bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê
Hồng Phong II” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr.
108, 109.
177
60. Hồ Chí Minh (1951), “Bài nói chuyện tại Trường Chính trị Trung cấp
quân đội” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 318,
319, 320.
61. Hồ Chí Minh (1951), “Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý
luận, lý luận lãnh đạo thực hành” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb
CTQG, H, 2002, tr. 248, 253, 254, 255, 256.
62. Hồ Chí Minh (1951), “Phê bình” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb
CTQG, H, 2002, tr. 242.
63. Hồ Chí Minh (1951), “Bài nói tại hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số
18” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 207.
64. Hồ Chí Minh, (1951), “Tinh thần trách nhiệm”, Hồ Chí Minh, Toàn tập,
tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 346.
65. Hồ Chí Minh, (1952), “Bài nói tại hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ
nhất”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 514.
66. Hồ Chí Minh, (1952), “Bài nói tại hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch
Tây Bắc”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 560.
67. Hồ Chí Minh (1953), “Báo cáo trước Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa II)” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb
CTQG, H, 2002, tr. 14.
68. Hồ Chí Minh (1953), “Bài nói chuyện ở lớp chỉnh huấn cán bộ trí thức”
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 113.
69. Hồ Chí Minh (1953), “Bài nói tại lớp chỉnh Đảng trung ương khóa 2” Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 61.
70. Hồ Chí Minh (1956), “Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I,
Trường Đại học nhân dân Việt Nam” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8,
Nxb CTQG, H, 2002, tr. 216, 430.
71. Hồ Chí Minh (1956), “Bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các
trại hè cấp I” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 184.
178
72. Hồ Chí Minh (1957), “Hoa sen” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb
CTQG, H, 2002, tr. 140.
73. Hồ Chí Minh (1957), “Nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn
quốc” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 2002, tr.138.
74. Hồ Chí Minh (1958), “Bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai”
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 172.
75. Hồ Chí Minh (1958), “Đạo đức cách mạng” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập
9, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 282, 283, 281, 284, 285, 291, 292, 293.
76. Hồ Chí Minh (1958), “10. 15. 20” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb
CTQG, H, 2002, tr. 264.
77. Hồ Chí Minh (1958), “Nói chuyện với học sinh và giáo viên Trường phổ
thông cấp III Chu Văn An” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG,
H, 2002, tr. 296.
78. Hồ Chí Minh (1958), “Nói chuyện với anh chị em học viên, cán bộ, công
nhân viên Trường Đại học nhân dân Việt Nam (khó III)” Hồ Chí Minh,
Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 20.
79. Hồ Chí Minh (1958), “Lời phát biểu tại lễ phong quân hàm cho các cán
bộ cao cấp trong quân đội” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG,
H, 2002, tr. 275.
80. Hồ Chí Minh (1961), “Bài nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động
lâu năm” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 465.
81. Hồ Chí Minh (1964), “Bài nói trong buổi chiêu đãi mừng quân đội ta 20
tuổi” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 349.
82. Hồ Chí Minh (1965), “Di chúc” Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb
CTQG, H, 2002, tr. 504.
83. Hồ Chí Minh (1967), “Bài nói tại lớp bồi dưỡng lãnh đạo cấp huyện” Hồ
Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 213.
179
84. Hồ Chí Minh, Về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (Biên niên những
sự kiện và tư liệu), Nxb QĐND, H, 1995, tr. 50, 51, 52, 55, 56, 57.
85. Đỗ Mười, (1997), “Những vấn đề trọng yếu trong chiến lược cán bộ hiện
nay”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 4, tr. 4.
86. Phạm Văn Nhuận (2004) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
của người cán bộ quân đội”, Nxb QĐND, H, tr.147.
87. Phạm Văn Nhuận (2011) “Phẩm chất đạo đức của chính ủy, chính trị viên
trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; Nxb QĐND, H, tr.39.
88. Nguyễn Quang Phát (2006), “Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đức -
tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội”, Nxb QĐND, H, tr.99.
89. Nguyễn Quang Phát (2006), “Xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong
quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb QĐND, H, tr.39 - 46.
90. Lê Khả Phiêu (2000), “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường Đảng
ta và nhân dân ta tiến vào thế kỷ XXI”, Nxb CTQG, H, tr. 34
91. Đỗ Nguyên Phương (2004), “Bồi dưỡng tư tưởng đạo đức nhân văn Hồ
Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay”, Xây
dựng quân đội về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ
mới, Nxb QĐND, H, tr. 33 - 37.
92. Lê Hồng Quang (1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về người chính trị viên -
Lịch sử và hiện thực ”, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội
nhân dân, Nxb QĐND, H, tr. 233 - 236.
93. Nguyễn Tiến Quốc (2011), “Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ
chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”
Nxb QĐND, H, tr. 5, 84, 202.
94.Tô Huy Rứa (2004), “Giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên theo tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Xây dựng quân đội về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí
Minh trong thời kỳ mới, Nxb QĐND, H, tr. 44 - 47.
180
95. Tô Xuân Sinh (2006), “Về vị trí, vai trò của chính uỷ, chính trị viên trong
các đơn vị quân đội theo tinh thần Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị”,
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Số 2 (96), tr. 25 - 28.
96. Tô Xuân Sinh (2007), “Chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội
nhân dân Việt Nam”, Nxb QĐND, H, tr.146.
97. Nguyễn Văn Tài (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát
huy nhân tố con người” Triết học, Số 2, Hà Nội, tr. 13.
98. Vũ Kim Thanh (1995), “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhân
cách” Hồ Chí Minh những vấn đề Tâm lý học nhân cách, H, tr. 52 - 57.
99. Hoàng Văn Thanh (2009), “Bồi dưỡng nhân cách chính trị viên cho đội ngũ
cán bộ chính trị cấp phân đội hiện nay” Nxb QĐND, H, tr.30, 50.
100. Nguyễn Văn Thanh (2009),“Rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên hiện nay theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Đảng
ta là đạo đức, là văn minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, Số 1 (113),
tr. 17 - 20.
101. Lê Sĩ Thắng (1995), “Mấy vấn đề về “Trồng người” trong tư tưởng Hồ
Chí Minh”, Triết học, Số 2, tr. 33.
102. Nguyễn Vĩnh Thắng (2011), “Nghiên cứu, giữ vững và phát huy phẩm chất
“Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới”, Tập 1, Nxb QĐND, H, tr.12.
103. Nguyễn Văn Thế (2012), “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và việc xây
dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận
chính trị , Số 3 (133), tr. 39 - 43.
104. Đào Huy Tín (2000), “Biện chứng của quá trình hình thành nhân cách
người sĩ quan chính trị cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ, H.
105. Phùng Văn Thiết (2013), “Thư Bác Hồ gửi Hội nghị chính trị viên và Tư
cách chính trị viên của “Bộ đội Cụ Hồ”, “Thư gửi hội nghị chính trị viên”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh giá trị lịch sử và hiện thực”, Nxb QĐND, H, Tr.81.
181
106. Đỗ Mạnh Tôn (2011), “Uy tín của chính trị viên trong quân đội nhân
dân Việt Nam”, Nxb QĐND, H, tr.63.
107. Nguyễn Phú Trọng (2012),“Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng bế mạc hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI”, Tạp chí Cộng Sản, Số 831, tr. 15 - 16.
108. Ngô Minh Tuấn (1998), “Nhân cách người cán bộ chính trị đơn vị cơ sở”,
Tâm lý học Quân sự, Nxb QĐND, H, tr. 640 - 654.
109. Ngô Minh Tuấn (2004), “Những phẩm chất nhân cách cơ bản của người cán bộ
chính trị, theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Xây dựng quân đội về chính trị theo tư
tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới, Nxb QĐND, H, tr. 200 - 203.
110. 104. Trường sĩ quan chính trị (2013), “Thư gửi hội nghị chính trị viên” của Chủ
tịch Hồ Chí Minh giá trị lịch sử và hiện thực”, Kỷ yếu hội thảo, Nxb QĐND, H.
111. Từ điển Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam,
Nxb QĐND, H. 2007, tr.73.
112. Từ điển Tiếng Việt (1997), Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng, tr.
898, 1118.
113. Nguyễn Quang Uẩn (1995), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức
nhân cách người cán bộ cách mạng, Hồ Chí Minh những vấn đề tâm lý
học nhân cách”, Hồ Chí Minh những vấn đề Tâm lý học nhân cách, H,
tr. 95 - 99.
114. Đức Uy (1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách”, Hồ Chí Minh
những vấn đề Tâm lý học nhân cách, H, tr. 41 - 50.
115. Phạm Viện (2012), “Bàn về đạo đức và rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay”, Tạp chí
Giáo dục Lý luận chính trị , Số 4 (134), tr. 41 - 45.
182
PHỤ LỤC
TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT XÃ HỘI HỌC
- Đơn vị điều tra: Quân đoàn 4; F3 - Quân khu I; Trường Sĩ quan Chính
trị; Học viện Chính trị.
- Đối tượng điều tra bao gồm: Chính trị viên; Đã qua cương vị Chính trị
viên; Cán bộ quân sự; Học viên đào tạo Chính trị viên và Hạ sĩ quan, chiến sĩ.
- Số lượng phiếu điều tra: 611 (phiếu) - Cụ thể: Chính trị viên (125
phiếu); Đã qua Chính trị viên (125 phiếu); Cán bộ quân sự (125 phiếu); Học
viên đào tạo Chính trị viên (125 phiếu) và Hạ sĩ quan, chiến sĩ (111 phiếu).
- Thời gian điều tra: Tháng 11/2012 và Tháng 8/2013.
Phụ lục 1
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ MỨC ĐỘ RÈN LUYỆN VÀ
TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC CỦA CHỦ THỂ VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QĐNDVN HIỆN NAY
THEO TTHCM
1.1. Theo đồng chí chính trị viên ở các đơn vị hiện nay lấy mô hình
nhân cách chính trị viên theo TTHCM đã xác định làm tiêu chí phấn đấu,
rèn luyện phát triển nhân cách của mình như thế nào?
Mức độ đánh giá Tổng số Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
%
CTV Đã qua CTV HVĐT CTV
76,8 16,0 77,6 15,2 Cán bộ quân sự 73,6 16,8 80,0 14,4 HSQ ,CS 69,4 20,7
5,6 6,4 7,2 4,8 8,1 6,42
1,6 0,8 2,4 0,8 1,8 Bám sát mô hình 75,48 16,62 Chưa thực sự bám sát mô hình Không lấy mô hình làm tiêu chí Khó trả lời 1,48
183
1.2. Theo đồng chí nhận thức TTHCM về phương thức phát triển
nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN của chính trị viên ở các đơn vị
hiện nay như thế nào?
* Về cơ chế phát triển:
Phương án trả lời
Tổng số %
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % CTV Đã qua CTV HVĐT CTV
Cán bộ quân sự 89,2 88,4 HSQ ,CS 84,8 88,64 82,4 88,4
9,86 16,8 11,6 8,4 10,0 12,5
1,50 0,8 0,0 2,4 1,6 2,7
Tuân thủ quy luật của sự phát triển Không tuân theo quy luật của sự phát triển Khó trả lời * Về con đường phát triển:
Phương án trả lời Tổng số % Đã qua CTV HV ĐT CTV HSQ,CS
Phù hợp 87,2 Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 88,4 86,8 84,8 90,0 86,0
Không phù hợp 11,48 12,4 9,2 10,0 12,4 13,4
0,8 1,6 0,8 1,8 1,6 1,32
Khó trả lời * Về biện pháp thực hiện phát triển: Phương án trả lời Tổng số % Đã qua CTV HV ĐT CTV HSQ,CS
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 86,8 85,2 86,0 83,0 85,88 88,4
13,46 11,6 13,2 12,4 14,0 16,1
0,66 0,0 0,8 0,8 0,8 0,9 Đa dạng, phong phú có tính chủ động Chưa đa dạng, thiếu tính chủ động Khó trả lời
184
1.3. Theo đồng chí những nhân tố cơ bản quy định quá trình phát
triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư
tưởng Hồ Chí Minh như thế nào?
* Chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng, rèn luyện:
Phương án trả lời
Tổng số %
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % CTV
Đã qua CTV 85,2 Cán bộ quân sự 81,2 HVĐT CTV 83,6 HSQ ,CS 81,2 83,36 85,6
14,0 0,8 0,0 14,8 3,2 0,8 14,0 2,4 0,0 13,4 4,5 0,9 13,80 12,8 1,6 2,5 0,0 0,34
Nhân tố cơ bản hàng đầu có ý nghĩa nền tảng, quyết định Nhân tố cơ bản Nhân tố không cơ bản Khó trả lời * Vai trò nhân tố chủ quan của chính trị viên Phương án trả lời Tổng số %
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 82,0 Đã qua CTV 83,6 HV ĐT CTV 80,4 HSQ,CS 79,4 82,36 86,4
12,8 0,8 14,8 1,6 14,8 3,2 15,6 3,2 17,0 3,6
0,0 0,0 0,0 0,8 0,0 0,16
Nhân tố quyết định trực tiếp Nhân tố quan trọng 15,0 2,48 Nhân tố không quan trọng Khó trả lời
* Tác động của môi trường công tác và cơ chế, chính sách:
Phương án trả lời Tổng số %
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 87,6 Đã qua CTV 91,6 HV ĐT CTV 88,4 HSQ,CS 80,3 87,10 89,2
9,56 10,0 6,8 9,2 8,4 13,4
Có ảnh hưởng rất quan trọng Có ảnh hưởng không quan trọng Không ảnh hưởng Khó trả lời 2,50 0,84 0,8 0,0 1,6 0,0 3,2 0,0 2,4 0,8 4,5 1,8
185
1.4. Theo đồng chí mức độ nhận thức TTHCM về phát triển nhân
cách chính trị viên của các nhóm đối tượng chính trị viên ở các đơn vị
phân đội hiện nay như thế nào?
* Đối tượng CTV 2 năm đầu đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ:
Phương án trả lời Tổng số % 68,90 72,8 24,68 23,2 2,4 3,44 0,8 1,8 0,8 1,18 Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 66,4 24,8 4,8 3,2 0,8 Đã qua CTV 72,4 22,8 3,2 1,6 0,0 HV ĐT CTV 68,0 25,6 3,2 1,6 1,6 HSQ,CS 64,9 27,0 3,6 1,8 2,7
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời
* Đối tượng CTV đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ 3 đến 5 năm:
Phương án trả lời Tổng số % 73,82 77,6 22,40 19,2 2,4 2,12 0,8 0,98 0,0 0,68 Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 72,0 23,2 3,2 0,8 0,8 Đã qua CTV 76,8 20,8 1,6 0,8 0,0 HV ĐT CTV 71,2 24,8 1,6 1,6 0,8 HSQ,CS 71,5 24,0 1,8 0,9 1,8
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời
* Đối tượng CTV đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ 5 năm trở lên
Phương án trả lời Tổng số %
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 77,6 17,6 3,2 1,6 0,0 Đã qua CTV 82,4 15,2 1,6 0,8 0,0 HV ĐT CTV 80,0 16,8 1,6 0,8 0,8 HSQ,CS 76,8 19,8 1,8 0,9 0,9 80,12 84,0 16,76 14,4 0,8 1,80 0,8 0,98 0,0 0,34
186
1.5. Theo đồng chí nhận thức TTHCM về sự tương tác giữa chủ thể
và chính trị viên về phát triển nhân cách chính trị viên ở các đơn vị hiện
nay như thế nào?
* Vai trò tác động của các chủ thể là cấp ủy đảng, người chỉ huy, chính
ủy, chính trị viên các cấp, (nhất là cấp phân đội và cấp trên trực tiếp phân
đội) đối với quá trình phát triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN
hiện nay theo TTHCM?
Phương án trả lời Tổng số
%
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % HSQ CTV ,CS 67,3 80,8 Đã qua CTV 79,6 Cán bộ quân sự 78,0 HV ĐT CTV 71,6 Có ý nghĩa quyết 75,26
định
Quan trọng 16,14 13,6 16,4 14,8 18,0 17,9
Gián tiếp không 7,92 5,6 4,0 7,2 8,8 14,0
quan trọng
Khó trả lời 0,68 0,0 0,0 0,0 1,6 1,8
* Vai trò của chủ thể chính trị viên tại các đơn vị đối với quá trình phát
triển nhân cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM ?
Phương án trả lời
Tổng số %
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % CTV Đã qua CTV
Cán bộ quân sự 88,0 HVĐT CTV 81,6 HSQ ,CS 76,3 Quyết định trực tiếp 85,26 90,8 89,6
Quan trọng 13,14 8,6 10,4 11,8 16,0 17,9
không quan trọng 0,92 0,6 0,0 0,2 0,8 4,0
Khó trả lời 0,68 0,0 0,0 0,0 1,6 1,8
187
Phụ lục 2
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ CHUYỂN HÓA NHẬN THỨC
CỦA CHỦ THỂ CHÍNH TRỊ VIÊN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QĐNDVN HIỆN NAY THEO TTHCM
2.1. Theo đồng chí động cơ, thái độ, tình cảm, và ý chí quyết tâm
của chính trị viên thực hiện chuyển hóa nhận thức TTHCM về phát triển
nhân cách chính trị viên thành nội dung, kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện của
chính trị viên ở các đơn vị hiện nay như thế nào?
* Về động cơ
Mức độ đánh giá Tổng số % HV ĐT CTV
Đã qua CTV 78,50 78,8 78,0 14,76 14,8 16,4 5,6 6,4 5,86 0,0 0,0 0,68 Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 74,8 18,0 7,2 0,0 HSQ,CS 83,9 9,8 4,5 1,8 77,0 14,8 5,6 1,6
Tốt Bình thường Chưa tốt Khó trả lời
* Về thái độ
Mức độ đánh giá Tổng số % HV ĐT CTV
Đã qua CTV 80,74 83,6 89,6 13,34 11,6 14,8 5,6 4,8 5,58 0,0 0,0 0,34 Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 77,2 16,4 6,4 0,0 HSQ,CS 82,1 10,7 6,3 0,9 81,2 13,2 4,8 0,8
Tốt Bình thường Chưa tốt Khó trả lời * Về tình cảm
Mức độ đánh giá
Tổng số % HVĐT CTV
Đã qua CTV 82,68 84,4 82,8 11,88 10,8 11,6 5,6 4,8 4,92 0,0 0,0 0,52 Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 81,2 14,8 4,0 0,0 HSQ,CS 83,0 9,8 5,4 1,8 82,0 12,4 4,8 0,8 Tốt Bình thường Chưa tốt Khó trả lời
188
* Về ý chí quyết tâm
Mức độ đánh giá
Tổng số % HV ĐT CTV Đã qua CTV
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % HSQ, Cán bộ CTV CS quân sự 79,4 15,2 5,4 0,0 82,2 13,2 5,6 0,0 82,8 12,4 4,8 0,0 83,12 86,0 85,2 12,28 10,0 11,6 3,2 4,0 4,60 0,0 0,0 0,0
Cao Chưa cao Thiếu ý chí quyết tâm Khó trả lời
2.2. Theo đồng chí khâu nào là yếu nhất của bước chuyển từ nhận
thức TTHCM về phát triển nhân cách chính trị viên đến hành động thực
hiện nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân cách của
chính trị viên ở các đơn vị hiện nay?
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
Phƣơng án trả lời Tổng số % CTV Đã qua CTV Cán bộ quân sự HV ĐT CTV HSQ,CS
Hạn chế về nhận 25,08 28,8 21,6 22,4 26,4 26,2
thức bản chất của TTHCM về phát
triển nhân cách
chính trị viên
Hạn chế về khả 18,52 19,2 20,0 17,6 16,0 19,8
năng chuyển hóa nhận thức thành
hành động thực hiện nội dung, kế
hoạch rèn luyện…
56,40 52,0 58,4 60,0 57,6 54,0
Hạn chế về năng lực xử lý các tình
huống phát sinh…
189
2.3. Theo đồng chí việc chuyển hóa nội dung, kế hoạch về phát triển
nhân cách chính trị viên vào thực tiễn tự tu dưỡng, rèn luyện của chính trị
viên tại các đơn vị hiện nay ở mức độ nào?
Mức độ đánh giá Tổng số % HV ĐT CTV
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 21,6 59,2 13,6 4,0 1,6 22,74 27,2 59,06 56,0 13,12 11,2 4,8 4,24 0,8 0,84 Đã qua CTV 21,6 60,0 12,8 5,6 0,0 HSQ,CS 22,5 58,5 13,5 3,6 1,8 20,8 61,6 14,4 3,2 0,0
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời 2.4. Theo đồng chí việc chuyển hóa TTHCM về phát triển nhân cách
chính trị viên thành nội dung kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện phát triển nhân
cách và thực hiện nội dung kế hoạch đó giữa các đối tượng chính trị viên ở
các đơn vị hiện nay như thế nào?
* Đối tượng CTV 2 năm đầu đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ:
Mức độ đánh giá Tổng số % HV ĐT CTV
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 34,4 45,6 13,6 4,8 1,6 36,92 39,2 47,68 49,6 9,6 11,80 1,6 3,10 0,0 0,50 Đã qua CTV 41,6 44,0 11,2 3,2 0,0 HSQ,CS 34,2 50,4 11,7 2,7 0,9 35,2 48,8 12,8 3,2 0,0
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời * Đối tượng CTV đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ 3 đến 5 năm:
Mức độ đánh giá
Tổng số % HV ĐT CTV
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % Cán bộ CTV quân sự 47,2 40,8 10,4 0,8 0,8 Đã qua CTV 52,0 38,4 8,8 0,8 0,0 HSQ,CS 41,4 45,9 9,9 1,8 0,9 47,2 41,6 9,6 1,6 0,0 47,64 50,4 41,82 42,4 7,2 9,20 0,0 1,00 0,0 0,34
190
* Đối tượng CTV đảm nhiệm cương vị, chức trách, nhiệm vụ 5 năm trở lên:
Mức độ đánh giá Tổng Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
số % CTV Đã qua Cán bộ HV ĐT HSQ,CS
CTV quân sự CTV
Tốt 57,91 63,2 61,6 59,2 56,0 49,5
Khá 38,25 35,2 36,8 37,6 38,4 43,2
Trung bình 3,34 1,6 0,8 3,2 4,8 6,3
Yếu 0,50 0,0 0,8 0,0 0,8 0,9
Khó trả lời 0,00 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
191
Phụ lục 3
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ THỰC TRẠNG NHÂN CÁCH
CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
3.1. Theo đồng chí phẩm chất của chính trị viên ở các đơn vị trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay ở mức độ nào?
* Về phẩm chất chính trị - tư tưởng
Mức độ đánh giá Tổng Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
số % CTV Đã qua Cán bộ HV ĐT HSQ,CS
CTV quân sự CTV
Thực sự vững vàng, 87,68 87,6 90,0 86,8 88,4 85,6
kiên định
Thiếu sự nhạy bén 8,99 10,8 7,6 9,2 8,4 8,9
Có lúc còn dao 2,17 0,8 1,6 3,2 1,6 3,6
động, hoài nghi
Khó trả lời 1,16 0,8 0,8 0,8 1,6 1,8
* Về phẩm chất đạo đức, lối sống
Mức độ đánh giá Tổng Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
số % CTV Đã qua Cán bộ HV ĐT HSQ,CS
CTV quân sự CTV
Mẫu mực 89,12 94,0 92,4 86,0 87,6 85,6
Chưa thực sự mẫu 7,72 4,4 5,2 10,0 9,2 9,8
mực về đạo đức
Vi phạm vào các 0,36 0,0 0,0 0,0 0,0 1,8
chuẩn mực đạo đức
Khó trả lời 2,80 1,6 2,4 4,0 3,2 2,7
192
* Trong giải quyết các mối quan hệ
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
Mức độ đánh giá Tổng số % Đã qua CTV HV ĐT CTV HSQ,CS
92,8 3,2 Cán bộ quân sự 88,8 6,4 90,4 4,0 87,5 5,4
2,64 2,6 3,2 1,6 2,4 3,4
2,34 0,8 0,8 3,2 3,2 3,6
CTV Thái độ đúng mực 90,74 94,2 4,28 2,4 Có lúc còn chưa thực sự đúng mực Vi phạm nguyên tắc quy định Khó trả lời
3.2. Theo đồng chí năng lực của chính trị viên ở các đơn vị trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay ở mức độ nào?
* Về năng lực chủ trì về chính trị của chính trị viên hiện nay
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
Mức độ đánh giá Tổng số % Đã qua CTV HV ĐT CTV HSQ,CS
CTV 72,87 76,0 22,64 21,6 1,6 3,15 0,8 0,98 0,0 0,36 72,8 22,4 3,2 1,6 0,0 76,0 20,8 2,4 0,8 0,0 67,5 25,2 4,5 0,9 1,8 Cán bộ quân sự 72,0 23,2 4,0 0,8 0,0
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời * Về năng lực tổ chức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
Mức độ đánh giá Tổng số % CTV Đã qua CTV HSQ,CS
Tốt Khá Trung bình Yếu Khó trả lời 68,84 71,2 23,72 24,8 2,4 4,45 0,8 2,32 0,8 0,67 69,6 25,6 3,2 1,6 0,0 Cán bộ quân sự 67,2 22,4 6,4 3,2 0,8 HV ĐT CTV 69,6 22,4 4,8 2,4 0,8 66,6 23,4 5,4 3,6 0,9
193
* Về năng lực chỉ huy, quản lý đơn vị
Mức độ đánh giá Tổng Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
số %
Đã qua CTV HV ĐT CTV
CTV 71,26 74,4 73,6 Cán bộ quân sự 66,4 HSQ,CS 70,2 Tốt 71,2
Khá 23,30 23,2 22,4 23,2 24,8 22,5
Trung bình 3,80 1,6 3,2 4,0 5,6 4,5
Yếu 1,64 0,8 0,8 1,6 3,2 1,8
Khó trả lời 0,00 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
* Về trình độ kiến thức nghiệp vụ của chính trị viên Mức độ đánh giá Tổng số %
Đã qua CTV HV ĐT CTV HSQ,CS
45,0 CTV 48,0 49,6 Cán bộ quân sự 38,4 44,0 45,0 Giỏi
48,8 51,2 49,5 48,6 47,2 46,4 Khá
4,8 6,4 2,7 Trung bình 4,2 4,0 3,2
1,6 3,2 1,8 1,7 0,8 0,8 Yếu
0,8 0,8 0,9 Khó trả lời 0,5 0,0 0,0
3.3. Theo đồng chí phương pháp, tác phong công tác của chính trị viên
ở các đơn vị trong QĐNDVN hiện nay như thế nào?
Mức độ đánh giá Tổng Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
số % CTV Đã qua Cán bộ HV ĐT HSQ,CS
CTV quân sự CTV
Thực sự khoa học 89,15 90,4 91,2 88,0 90,4 85,7
Chưa khoa học 7,70 8,0 6,4 8,0 7,4 9,7
Khó trả lời 3,15 1,6 2,4 4,0 3,2 4,5
194
3.4. Theo đồng chí kết quả thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ
của chính trị viên tại các đơn vị phân đội hiện nay ở mức độ nào?
Mức độ đánh giá Tổng Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng %
số % CTV Đã qua Cán bộ HV ĐT HSQ,CS
CTV quân sự CTV
Tốt 50,44 55,2 52,8 44,0 48,0 52,2
Khá 44,60 42,4 44,0 48,8 47,2 40,5
Trung bình 3,32 1,6 2,4 4,0 3,2 5,4
Yếu 1,64 0,8 0,8 3,2 1,6 1,8
Khó trả lời 0,00 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
195
Phụ lục 4
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ XU HƢỚNG VÀ ĐỊNH
HƢỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG
QĐNDVN HIỆN NAY THEO TTHCM
4.1. Theo đồng chí chính trị viên ở các đơn vị thực hiện phát triển
nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ở xu hướng nào?
Phƣơng án trả lời
Tổng số % HV ĐT CTV
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % HSQ, Cán bộ CTV CS quân sự 79,3 83,6 Đã qua CTV 86,0 82,8 83,40 85,2
12,84 12,8 10,4 11,2 13,6 16,2
3,76 2,0 3,6 5,2 3,6 4,5
Đáp ứng với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của CTV trong thời kỳ mới là xu hướng chính, giữ vai trò chủ đạo Chưa đáp ứng với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ của CTV trong thời kỳ mới Khó trả lời
4.2. Theo đồng chí vấn đề giữ vững định hướng phát triển nhân
cách chính trị viên trong QĐNDVN hiện nay theo TTHCM ở mức độ nào?
Mức độ đánh giá
Tổng số %
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % CTV Đã qua CTV HVĐT CTV
85,03 86,0 88,4 Cán bộ quân sự 84,4 HSQ ,CS 81,1 85,2
11,85 2,44 10,4 2,8 9,6 2,0 12,0 3,6 14,4 2,6 12,8 1,2
Ngày càng có chiều sâu, vững chắc Chưa vững chắc Lệch định hướng phát triển nhân cách Khó trả lời 0,68 0,8 0,0 0,0 0,8 1,8
196
Phụ lục 5
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ NGUYÊN NHÂN HẠN
CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TTHCM
5.1. Theo đồng chí những nguyên nhân nào sau đây làm hạn chế đến
phát triển nhân cách chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện
nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh ?
Phương án trả lời
Tổng số % Đã qua CTV
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % HSQ Cán bộ CTV ,CS quân sự 76,5 74,4 HV ĐT CTV 78,4 72,8 74,28 72,0
74,14 74,4 73,6 77,6 70,4 74,7
73,62 73,6 76,8 72,8 72,0 72,9
75,08 78,4 74,4 77,6 70,4 75,6
84,20 83,6 80,4 86,8 82,8 87,4
75,42 78,4 73,6 72,8 70,4 81,9
60,64 60,0 58,4 59,2 60,8 64,8
61,38 56,8 58,4 60,8 61,6 69,3
Do sự nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của đội ngũ CTV Từ công tác, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện còn có mặt hạn chế Do môi trường đơn vị và cơ chế, chính sách có mặt hạn chế, bất cập Trình độ nhận thức, năng lực thực hiện nhiệm vụ của một số CTV còn hạn chế Do ý thức, trách nhiệm kém của một bộ phận CTV đối với việc tự tu dưỡng, rèn luyện Sự tác động mặt trái nền kinh tế thị trường. Sự chống phá của các thế lực thù địch hiện nay Do tâm lý, phong tục, tập quán...
197
5.2. Theo đồng chí để phát triển nhân cách chính trị viên trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần thực
hiện các giải pháp nào sau đây?
Phương án trả lời
Tổng số % HV ĐT CTV
Tỉ lệ đánh giá theo từng loại đối tượng % HSQ Cán bộ CTV ,CS quân sự 77,4 72,8 Đã qua CTV 74,4 76,0 Nâng cao nhận thức của 74,52 72,0
các chủ thể
76,40 73,6 75,2 76,8 73,6 82,8
Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi
dưỡng, rèn luyện
Phát huy tính tích cực, 76,48 73,6 76,8 77,6 75,2 79,2
tự giác của CTV trong nâng cao chất lượng tự
tu dưỡng, rèn luyện
Phát huy tính chủ động, 74,86 74,4 76,0 72,0 73,6 78,3
sáng tạo của CTV trong
nâng cao chất lượng thực hiện cương vị,
chức trách, nhiệm vụ
Xây dựng môi trường 75,44 76,8 74,4 73,6 76,8 75,6
công tác tốt.
74,7 75,2 76,8 72,0 78,4 71,1
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách.
75,22 78,4 77,6 72,8 74,4 72,9
Đầu tư kinh phí cơ sở vật chất.
76,8 73,6 75,2 76,3 78,3
77,6 Quan tâm đến lợi ích.
198
Phụ lục 6
KẾT QUẢ CÁC ĐỐI TƢỢNG HỌC VIÊN TỐT NGHIỆP 5 NĂM GẦN
ĐÂY CỦA TRƢỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ
( Nguồn số liệu do phòng đào tạo Trường sĩ quan chính trị cung cấp
Ngày 25 tháng 9 năm 2013)
*Đối tượng học viên đào tạo cơ bản 5 năm
Năm học Tỉ lệ % Học viên đạt mức tốt nghiệp Quân số
học viên G K TBK TB
4 = 1,63 130 = 53,17 96 = 39,26 14 = 5,72 244 2008 - 2009
4 = 1,84 173 = 79,58 39 = 17,94 1 = 0,46 217 2009 - 2010
3 = 0,87 243 = 70,47 96 = 27,84 1 = 0,29 343 2010 - 2011
5 = 1,30 286 = 74,36 79 = 20,54 1 = 0,26 371 2011 - 2012
6 = 1,68 280 = 78,40 67 = 18,76 2 = 0,56 355 2012 - 2013
T. số 5 năm 1530 22 =1,43 1112=72,28 377=24,50 19= 1,23
* Đối tượng học viên đào tạo theo hình thức chuyển loại
Năm học Tỉ lệ % Học viên đạt mức tốt nghiệp Quân số
học viên G K TBK TB
0 0 0 0 0 2008 - 2009
0 70 = 54,60 53 = 41,34 5 = 3,90 128 2009 - 2010
0 77 = 48,97 70 = 44,52 10 = 6,36 157 2010 - 2011
0 69 = 52,23 59 = 44,66 4 = 3,02 132 2011 - 2012
0 74 = 49,65 65 = 43,55 10 = 6,70 149 2012 - 2013
0 290=51,04 247=43,47 29= 4,26 566 T. số 4 năm
199
* Đối tượng học viên đào tạo theo hình thức hoàn thiện
Năm học Quân số Tỉ lệ % Học viên đạt mức tốt nghiệp
học viên G K TBK TB
56 1 = 1,78 43 = 76,54 11 = 19,58 1 = 1,78 2012 - 2013
(Các năm trước: 2008 - 2012 nhà trường không đào tạo đối tượng này)
* Đối tượng học viên đào tạo theo hình thức 801
Năm học Quân số Tỉ lệ % Học viên đạt mức tốt nghiệp
học viên G K TBK TB
0 0 0 0 2008 - 2009 0
0 = 0,0 130 = 63,05 75 = 36,37 1 = 0,48 2009 - 2010 206
0 = 0,0 75 = 65,17 36 = 31,28 4 = 3,47 2010 - 2011 115
1 = 0,99 66 = 65,34 33 = 32,67 1 = 0,99 2011 - 2012 101
0 = 0,0 65 = 66,30 33 = 33,66 0 = 0,0 2012 - 2013 98
219 = 42,08 177= 33,98 6 = 1,15 520 1 =0,192
T. số 4 năm *Đối tượng học viên đào tạo từ chuyên môn kỹ thuật
Năm học Quân số Tỉ lệ % Học viên đạt mức tốt nghiệp
học viên G K TBK TB
2008 - 2009 160 3 = 1,875 112 = 70,0 43 = 26,87 2 = 1,25
2009 - 2010 166 2 = 1,204 131 = 78,86 30 = 18,06 3 = 1,80
2010 - 2011 151 1 = 0,662 116= 76,79 31 = 20,52 3 = 1,98
2011 - 2012 131 0 = 0,0 110 = 83,93 21 = 16,02 0 = 0,0
2012 - 2013 0 0 0 0 0
T. số 4 năm 608 6 = 0,98 469 = 76,91 125 =20,50 8 =1,31

