VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ----------
PHẠM THỊ VIỆT
BẢO HIỂM TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
PHẠM THỊ VIỆT
BẢO HIỂM TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN VĂN VÂN
Hà Nội, năm 2021
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với quá trình vận động kinh tế thị trường, mỗi thành viên trong xã hội luôn cố
gắng làm việc để hướng tới những giá trị về vật chất lẫn tinh thần, đó là kết quả của
quá trình lao động, làm việc và không ngừng học hỏi, tạo ra của cải vật chất để duy
trì sự tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, đối với mọi người luôn thường trực đối diện
trước nguy cơ rủi ro là những sự kiện xảy ra một cách bất ngờ ngoài dự kiến, nên để
duy trì cuộc sống ổn định và vững vàng vượt qua mọi khó khăn, con người cần có
quỹ tài chính đủ lớn để kịp thời bù đắp được đầy đủ hoặc một phần thiệt hại từ các
sự cố gây ra, nhanh chóng khôi phục cuộc sống, sản xuất kinh doanh. Do đó, nhu cầu
về sự an toàn tài chính được đặt ra như một tất yếu, khách quan trong cuộc sống, tạo
tiền đề cho sự ra đời, tồn tại, phát triển của hệ thống bảo hiểm nói chung và bảo hiểm
tài sản nói riêng.
Khi mua bảo hiểm cho tài sản của mình, đối ứng với nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm,
người tham gia bảo hiểm luôn được hưởng những quyền lợi tương xứng được pháp
luật thừa nhận, bảo vệ, trong đó quan trọng nhất là khôi phục một cách nhanh chóng
tình trạng tài chính của mình khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất. Do đó người mua bảo
hiểm có thể vừa an tâm sản xuất, kinh doanh để khai thác lợi ích kinh tế từ tài sản của
mình, vừa được DNBH đứng ra cam kết gánh chịu toàn bộ hoặc một phần tổn thất để
san sẻ gánh nặng tài chính khi xảy ra các rủi ro với họ. Hiện nay, BHTS là những
nghiệp vụ có đóng góp doanh thu lớn và quan trọng cho các DNBH phi nhân thọ.
Hoạt động BHTS ra đời có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, góp phần ổn định thị trường,
ổn định xã hội, qua đó thể hiện những giá trị nhân văn cao đẹp, phát huy truyền thống
đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau của dân tộc ta.
Tuy nhiên, DNBH với vị trí là trung gian tài chính, là chủ thể kinh doanh chuyên
nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm, còn BMBH có thể là các tổ chức kinh tế, cũng có thể
là những cá nhân và đều không có nhiều hoặc không hiểu rõ kiến thức chuyên môn
so với DNBH. Vì nắm giữ tài sản, đối mặt với nhiều rủi ro có thể xảy ra, chủ thể mua
bảo hiểm tìm đến các DNBH nhằm mục đích muốn bảo vệ tài sản của mình khỏi
những rủi ro có thể phát sinh trong đời sống và hoạt động kinh doanh khác. Mặt khác,
BHTS cũng là một lĩnh vực có rất nhiều quy định phức tạp và không rõ ràng, nếu
doanh nghiệp và người tham gia bảo hiểm không nắm rõ sẽ rất khó đạt được mục
đích đó. Chính vì vậy, trong giao dịch BHTS sẽ có rất nhiều rủi ro nhưng trên thực tế
bên mua luôn là bên phải chịu nhiều rủi ro hơn các DNBH. Bởi vậy, cần phải có một
thị trường BHTS vững mạnh với những quan hệ bảo hiểm bình đẳng, cùng có lợi giữa
các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh BHTS.
Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh trong lĩnh vực
BHTS luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng, từng bước xây dựng. Tuy nhiên,
BHTS xuất hiện ở Việt Nam khá muộn, đồng thời hệ thống pháp luật về BHTS vẫn
đang trong quá trình củng cố, hoàn thiện nên chưa thể điều chỉnh hiệu quả các quan
hệ BHTS hiện nay. Lợi dụng kẽ hở pháp luật, một số đối tượng đã tiến hành trục lợi
bảo hiểm, loại bỏ các quyền lợi chính đáng mà bên tham gia BHTS đáng được hưởng,
từ chối bồi thường bảo hiểm, chậm tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm,…
gây ra nhiều vấn nạn nhức nhối trong xã hội, vi phạm nghiêm trọng pháp luật và đạo
đức xã hội.
Mặt khác, bởi sự lỏng lẻo, chưa hoàn thiện của pháp luật đã dẫn đến tình trạng
các bên tham gia quan hệ BHTS, kể cả cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tài phán
không nhận thức đúng, tuân thủ đúng các quy định pháp luật BHTS, việc xây dựng
ban hành các văn bản quy tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm không chính xác dẫn đến
xâm phạm quyền lợi của bên được bảo hiểm và phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp.
Nếu thực trạng này cứ kéo dài thì BHTS sẽ mất đi ý nghĩa vốn có ban đầu của nó và
sẽ không còn ai dám đặt lòng tin vào BHTS, các DNBH sẽ mất đi nguồn lợi nhuận
lớn từ việc kinh doanh bảo hiểm. Chính vì vậy, việc bảo vệ các chủ thể tham gia bảo
hiểm không những là một cách để duy trì niềm tin đối với ngành bảo hiểm mà còn
tác động đảm bảo sự ổn định của xã hội.
Ở Việt Nam trong thời gian qua, quan hệ pháp luật về bảo hiểm nói chung và
hoạt động BHTS nói riêng là đề tài được các nhà nghiên cứu, nhà thực tiễn hết sức
2
quan tâm. Trong khoa học pháp lý, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, có
giá trị học thuật cao nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để những bất cập phát sinh đặc
biệt là các bất cập phát sinh trong thời gian gần đây.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, tác giả chọn đề tài: “Bảo hiểm tài sản
theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình với mục
đích tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành về BHTS, góp phần đảm bảo niềm tin
đối với các cá nhân, tổ chức mong muốn tham gia vào quan hệ BHTS ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong lĩnh vực nghiên cứu ở nước ta những năm gần đây, vấn đề về kinh doanh
bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng không còn là đề tài mới, bước đầu
được các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn trong nước quan tâm nghiên cứu ở
các quy mô khác nhau.
Đối với lĩnh vực bảo hiểm nói chung một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
phải kể đến như:
- Trung tâm nghiên cứu và đào tạo bảo hiểm, Cục quản lý giám sát bảo hiểm
(27/09/2016), Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thị trường bảo hiểm
Việt Nam đến năm 2020, Bộ Tài Chính. Đề án đã đưa ra yêu cầu đối với phát triển
nguồn nhân lực bảo hiểm trong công tác tuyển chọn, đào tạo nâng cao trình độ nhân
lực phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, phù hợp với bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của thị trường bảo. Đồng thời, đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện chương trình và công tác đào tạo; phương pháp
kiểm tra, sát hạch và cấp chứng chỉ đào tạo; công tác kiểm tra, giám sát đánh giá với
những lộ trình thực hiện phù hợp với từng thời kỳ.
- Phạm Văn Tuyết (2007) Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật bảo
hiểm tại Việt Nam, NXB Tư pháp. Đây là sách viết chuyên sâu về hoạt động bảo hiểm
tại Việt Nam, đưa ra các vấn đề pháp lý cơ bản cần nắm rõ trong hoạt động kinh
doanh bảo hiểm theo pháp luật nước ta, giúp người đọc có cái nhìn chung nhất về bảo
hiểm và kinh doanh bảo hiểm, tuy nhiên công trình chưa nghiên cứu sâu về pháp luật
3
BHTS.
Đi sâu vào hoạt động BHTS tại Việt Nam, đã có nhiều chuyên gia, nhà khoa
học, nhà nghiên cứu quan tâm và đóng góp công sức bằng các công trình nghiên cứu
khoa học nổi bật, tác giả xin dẫn chiếu một số công trình cụ thể như sau:
- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy (2012) Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam,
NXB Thanh Niên. Đây là cuốn sách chuyên khảo đề cập đến vấn đề bản chất của
BHTS và các quy định điều chỉnh quan hệ BHTS để bổ sung các kiến thức pháp lý
cơ bản và cần thiết trong quá trình tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, nguồn tài liệu
tham khảo phục vụ cho quá trình học tập nghiên cứu về lĩnh vực BHTS tại Việt Nam.
- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy (2009) Xây dựng và phát triển pháp luật bảo hiểm
tài sản tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh. Luận án đã làm
rõ những vấn đề chung nhất về hệ thống pháp luật BHTS thông qua việc phân tích
các vấn đề lý luận về cơ sở hình thành BHTS, nội hàm khái niệm pháp luật bảo hiểm
tài sản,… Từ đó đánh giá hiệu quả, hạn chế và nguyên nhân về hoạt động BHTS ở
nước ta thông qua thực tiễn áp dụng để làm nổi bật vai trò quan trọng của việc xây
dựng hệ thống pháp luật BHTS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó,
luận án còn đề cập những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện hơn các văn bản pháp
luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về BHTS, là đóng góp quan trọng
cho việc xây dựng, củng cố hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật BHTS.
- Hồ Thị Hồng Huệ (2019) Hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam,
qua thực tiễn Quảng Trị, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Đại học Huế. Đề
tài triển khai một cách khái quát về hợp đồng BHTS qua việc phân tích khái niệm,
đặc điểm, ý nghĩa của loại hình hợp đồng này, khái quát một số nội dung cơ bản cần
được các bên tham gia thỏa thuận, đề cập trong hợp đồng BHTS. Qua đó, luận văn
so sánh, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng BHTS và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Quảng Trị; đưa ra các định hướng, giải pháp hoàn thiện, thực thi pháp
luật về hợp đồng BHTS tại Việt Nam nói chung và ở tỉnh Quảng Trị nói riêng.
- Trần Phước Thu (2014) Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản ở Việt Nam,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa các
vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng BHTS theo quy định pháp luật, từ đó đối chiếu và
4
phân tích thực trạng của quá trình áp dụng, triển khai các quy định của hệ thống pháp
luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng BHTS tại Việt Nam. Qua những hạn chế, bất cập
và nguyên nhân của những hạn chế này, tác giả đã đưa ra các kiến nghị và đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật về hợp đồng BHTS ở nước ta.
- Lê Hồng Thạch Thảo (2019) Cơ chế pháp lý ngăn ngừa trục lợi trong bảo
hiểm tài sản, Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh. Luận văn
đã hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản, chức năng của BHTS, phân tích dấu hiệu, bản
chất của hành vi trục lợi bảo hiểm từ đó nghiên cứu các quy định về cơ chế pháp lý
ngăn ngừa hành vi trục lợi trong BHTS và thực trạng áp dụng để kiến nghị một số
giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh BHTS tại Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài viết này đều có phạm vi nghiên
cứu bao quát, chưa nghiên cứu sâu về một số khía cạnh trong lĩnh vực BHTS như quy
định hiện hành về chủ thể tiến hành kinh doanh BHTS, tài sản nào có thể được xem
là đối tượng bảo hiểm,… Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu chỉ mang tính chất
áp dụng ở một số địa phương cụ thể, bởi mỗi địa phương có một tính chất đặc trưng
riêng, vấn đề nghiên cứu cần mang tính toàn diện, hệ thống xuất phát từ thực tiễn
chung sâu rộng. Tuy vậy, kế thừa các nội dung lý luận cơ bản, nội dung nghiên cứu
áp dụng pháp luật được đề cập ở các công trình nói trên và tiếp tục làm sáng tỏ các
vấn đề còn bỏ ngõ, đây là các tài liệu rất quý giá cho người viết hoàn thành bài luận
văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu, thực hiện, luận văn hướng đến mục đích:
Thứ nhất, kế thừa và củng cố cơ sở lý luận của BHTS và pháp luật về BHTS;
Thứ hai, nhận diện cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động BHTS theo pháp luật
Việt Nam;
Thứ ba, kết luận về thực trạng áp dụng pháp luật về BHTS;
Thứ tư, nghiên cứu đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về BHTS
và nghiên cứu xây dựng các giải pháp pháp lý để thực hiện hiệu quả pháp luật BHTS
5
trong thực tế.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giả cần phải thực hiện và hoàn thành
các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tiếp cận, kế thừa các lý thuyết về bảo hiểm, nguyên tắc BHTS, nhu cầu điều
chỉnh bằng pháp luật quan hệ BHTS để xác định khái niệm, đặc điểm và nội dung cơ
bản của pháp luật BHTS.
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành, các bản quy tắc bảo hiểm để xác
định tư cách chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng BHTS, thời điểm phát sinh trách
nhiệm của DNBH trong BHTS; số tiền bảo hiểm trong BHTS; đối tượng, phạm vi và
sự kiện bảo hiểm; trách nhiệm giám định tổn thất và bồi thường theo hợp đồng BHTS;
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật BHTS.
- Thông qua phương pháp nghiên cứu so sánh luật học để nhận diện sự khác biệt
và tương đồng giữa pháp luật BHTS và bảo hiểm con người, giữa pháp luật Việt Nam
và pháp luật nước ngoài về BHTS.
- Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật về BHTS tại các công ty bảo hiểm phi
nhân thọ và nghiên cứu các vụ việc, tình huống, hồ sơ, bản án để kết luận về thực tiễn
áp dụng pháp luật BHTS đồng thời nhận diện các điểm ưu việt, khiếm khuyết, bất
cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTS.
- Đề xuất và đánh giá tác động các giải pháp pháp lý và khuyến nghị về thời
điểm giao kết hợp đồng và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, về giá trị hợp
đồng, phạm vi bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo
hiểm và bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm
tài sản, các bản quy tắc bảo hiểm, điều khoản, điều kiện bảo hiểm và hồ sơ vụ việc,
bản án về BHTS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các quy định pháp luật và thực tiễn áp
6
dụng pháp luật về BHTS theo pháp luật Việt Nam, những nội dung kinh tế - tài chính
và nghiệp vụ bảo hiểm tài sản không thuộc phạm vi nghiên cứu mà chỉ là các kiến
thức cơ sở hoặc bổ trợ để học viên nghiên cứu BHTS dưới khía cạnh pháp lý.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận phép biện chứng duy vật
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và hệ thống văn bản pháp luật của Nhà
nước liên quan đến kinh doanh bảo hiểm chung và hoạt động kinh doanh bảo hiểm
tài sản ở nước ta hiện nay.
Để thực hiện Luận văn Thạc sĩ, tác giả đã sử dụng đồng bộ các phương pháp
nghiên cứu khoa học, cụ thể:
- Phương pháp phân tích: đây là phương pháp quan trọng được áp dụng xuyên
suốt trong bài viết, thông qua việc phân tích các quy định của luật thực định về khái
niệm BHTS, quy tắc bảo hiểm, trách nhiệm bồi thường của DNBH trong BHTS; đối
tượng, phạm vi và sự kiện bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp
luật BHTS và những quy định khác có liên quan đến tên đề tài để xác định khái niệm,
đặc điểm và các nội dung cơ bản, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của pháp luật về BHTS.
Từ đó, người viết phân tích các tình huống, bản án của Tòa án để chứng minh những
hạn chế của thực trạng pháp luật và đi sâu vào thực tiễn thi hành pháp luật về BHTS
tại Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp tổng hợp: phương pháp được sử dụng đồng bộ, xuyên suốt trong quá
trình trình bày Luận văn để tổng hợp các quan điểm khác nhau xung quanh những khái
niệm, các văn bản, quy định có liên quan đến BHTS, từ đó đưa ra đánh giá toàn diện, tổng
quan, hoàn chỉnh hơn về mặt lý luận đối với đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh luật học: phương pháp được áp dụng phổ biến trong quá
trình phân tích, đối chiếu các quy định pháp luật ở các văn khác nhau trong hệ thống
pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm và quan hệ BHTS ở Việt Nam qua các thời
kỳ, phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 của Luận văn.
- Phương pháp diễn giải quy nạp: thể hiện qua việc diễn giải các số liệu, các
nội dung pháp luật và tư liệu được trích dẫn, từ đó đi sâu hơn vào bản chất của BHTS,
7
đưa ra những nhận định tổng quan hệ thống quy định về BHTS tại Việt Nam hiện
nay, góp phần làm rõ các vấn đề thực trạng pháp luật liên quan đến tên đề tài. Phương
pháp này được triển khai đồng bộ trong tất cả các chương của Luận văn.
- Phương pháp logic: được tác giả áp dụng chủ yếu trong Chương 1, Chương 2 của
Luận văn để nhận rõ các bộ phận, nội dung lý thuyết cơ bản, yếu tố cấu thành của quan
hệ pháp luật BHTS và sự phát triển của hệ thống pháp luật BHTS ở Việt Nam hiện nay,
phản ánh thực trạng áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài “Bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là một nghiên cứu
pháp luật về BHTS, làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận cơ bản về BHTS như khái
niệm BHTS, các quy định pháp luật về đối tượng bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia,… Qua đó, khảo sát thực trạng áp dụng pháp
luật về hoạt động BHTS tại Việt Nam, từ những hạn chế còn tồn đọng đưa ra các giải
pháp, đề xuất hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về BHTS.
7. Kết cấu của luận văn
Bài nghiên cứu được thiết kế gồm 03 phần lớn: phần mở đầu, phần nội dung và
phần kết luận. Ngoài ra, còn có các nội dung khác như: Danh mục từ viết tắt, Mục
lục, Danh mục tài liệu tham khảo,…
Trong đó, phần nội dung được thiết kế làm 03 chương, cụ thể:
Chương 1. Khái quát về bảo hiểm tài sản và pháp luật bảo hiểm tài sản.
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tài sản hiện nay.
Chương 3. Kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt
8
Nam về bảo hiểm tài sản.
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN
VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TÀI SẢN
Với những đặc thù riêng biệt và vai trò bảo vệ quyền lợi tài chính của chủ thể
tham gia, BHTS đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, do đó
Nhà nước thực hiện vai trò quản lý xã hội thông qua phương thức xây dựng hệ thống
quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ BHTS là cần thiết, mang tính tất yếu.
1.1. Khái quát về bảo hiểm tài sản
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm tài sản
Theo các tài liệu nghiên cứu, nguồn gốc của BHTS được cho rằng xuất phát từ
trận đại hỏa hoạn lịch sử ở Luân Đôn vào năm 1666 khi đã nuốt chửng hơn 13.000
ngôi nhà dẫn đến các hậu quả tàn khốc. Nhận được tính cấp bách về sự phát triển của
BHTS, những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro
hoả hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm hoả hoạn mang đến
các lợi ích kinh tế lớn và là sự khởi nguồn cho nhiều công ty tương tự được thành lập
trong những thập kỷ sau đó.
BHTS được hình thành sớm trên thế giới và là một lĩnh vực khá phức tạp. Tuy
nhiên, ở Việt Nam, cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP ngày
18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm thì thị trường bảo hiểm mới khởi sắc và đánh
dấu sự ra đời của pháp luật về BHTS. Ra đời từ nhu cầu khách quan về quyền được
bảo vệ, giúp đỡ, chia sẻ hoạn nạn khi rủi ro, tổn thất xảy ra trong đời sống kinh tế xã
hội, nhưng đến nay, trong hệ thống quy định pháp luật nước ta chưa có quy định pháp
luật nào đề cập rõ đến khái niệm BHTS.
Về khái niệm bảo hiểm, theo Dennis Kessler - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm
giám đốc điều hành Công ty tái bảo hiểm SCOR SE, thì “Bảo hiểm là sự đóng góp của
số đông vào sự bất hạnh của số ít”. Trong “Giáo trình đào tạo bảo hiểm phi nhân thọ” của
Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, NXB Tài chính, 2004, thì “bảo hiểm là biện pháp chia sẽ
rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp
rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một
quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho những thành viên trong cộng đồng
9
không may bị thiệt hại do những rủi ro đó gây ra”.
Mỗi quan niệm trên đều thể hiện các góc nhìn khác nhau về bảo hiểm, tuy nhiên
dù cho định nghĩa như thế nào thì bảo hiểm vẫn mang đặc trưng là hoạt động chuyển
đổi, chia sẻ thiệt hại do rủi ro gây ra từ người mua bảo hiểm sang DNBH khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm. Những rủi ro này thường là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài dự
đoán và khả năng kiểm soát của con người, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
những gì mà họ muốn bảo vệ.
Quá trình không ngừng học hỏi, sáng tạo, đổi mới tư duy và hăng say lao động
của con người luôn tạo ra những của cải vật chất, tài sản mang những giá trị nhất
định. Dưới góc độ của pháp luật, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;
tài sản bao gồm động sản và bất động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai. Khi nắm giữ những tài sản này, chủ sở hữu luôn có ý thức bảo
vệ và tìm tới các biện pháp bảo đảm an toàn những gì mình đang sở hữu, sử dụng.
Với tư cách là một trong các loại hình bảo hiểm, BHTS giúp cho người tham gia đáp
ứng nhu cầu thiết yếu này, đồng thời đây là cách chủ sở hữu tài sản vừa có thể khai
thác sử dụng mà vẫn đảm bảo an toàn về tài chính cho dù xảy ra các mất mát, tổn hại
từ rủi ro khách quan. Dưới góc độ kinh tế, BHTS đóng vai trò là một hoạt động kinh
doanh dịch vụ tài chính, là phương thức huy động vốn mang lại hiệu quả cao cho chủ
thể kinh doanh. Dưới vai trò xã hội, BHTS đóng góp không ít vào ngân sách nhà
nước, tạo ra cơ hội việc làm và ổn định tài chính cho con người. Do đó, không chỉ là
công cụ để xử lý và giảm thiểu rủi ro, bảo vệ BMBH mà BHTS còn mang tính thương
mại rất cao, luôn đặt mục đích lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu, thực hiện bằng một
chuỗi kết nối giữa các bên tham gia thông qua quyền lợi và nghĩa vụ nhất định, trong
đó DNBH chấp nhận các rủi ro từ tài sản để đổi lại việc thu được khoản phí từ các
chủ thể tham gia và chi trả tiền bảo hiểm giúp người bị thiệt hại có thể nhanh chóng
khôi phục lại cuộc sống và sản xuất kinh doanh.
Như vậy, có thể hiểu bảo hiểm tài sản là lĩnh vực dịch vụ tài chính, hướng đến
mục tiêu khắc phục các thiệt hại, tổn thất xảy ra đối với tài sản của người tham gia
bảo hiểm, hình thành cơ sở DNBH thu phí bảo hiểm của BMBH và cam kết bồi
thường cho bên được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất đối với tài sản do rủi ro trong phạm
10
vi bảo hiểm gây ra.
1.1.2. Ý nghĩa và vai trò của bảo hiểm tài sản
Hoạt động kinh doanh BHTS ngày càng được mở rộng với các loại hình nghiệp
vụ khác nhau để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu về tài chính, đảm bảo ổn định đời sống
cho người tham gia, mang ý nghĩa và vai trò quan trọng không chỉ đối với các chủ
thể mà còn tác động không nhỏ đến quá trình phát triển đất nước, an sinh xã hội.
Một là, BHTS phát huy vai trò là công cụ chuyển dịch rủi ro, san sẻ tổn thất để
bảo vệ người được bảo hiểm.
Trong BHTS, người mua bảo hiểm có nghĩa vụ tiến hành chi trả một khoản phí
bảo hiểm xác định để đóng góp vào quỹ BHTS, đổi lại họ có các quyền lợi chính đáng
được pháp luật công nhận, trong đó, quyền được bảo vệ khi xảy ra các tổn thất là
quyền cơ bản, quan trọng nhất, là mục đích BMBH hướng tới khi xác lập giao dịch
bảo hiểm. Mặt khác, thông qua hợp đồng bảo hiểm, DNBH sẽ cam kết gánh vác tổn
thất thay cho người bị thiệt hại do rủi ro trong phạm vi bảo hiểm gây ra. Số tiền bồi
thường mà DNBH dùng để chi trả được trích từ một phần của quỹ bảo hiểm, nguồn
đóng góp của cộng đồng tham gia BHTS, do các tổ chức này đại diện đứng ra quản
lý. Như vậy, khi tham gia BHTS, quyền lợi tài chính của BMBH được chú trọng đảm
bảo, qua đó trách nhiệm bồi thường của DNBH như một hình thức san sẻ để bảo vệ
người được bảo hiểm, thể hiện sức mạnh của cộng đồng giúp đỡ những người không
may mắn gặp rủi ro và gánh chịu tổn thất.
Hai là, BHTS giúp người tham gia bảo hiểm ổn định đời sống và hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Thông qua tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, BMBH vừa được sử dụng, khai
thác tài sản phục vụ sản xuất, kinh doanh hằng ngày vừa được an tâm về tình trạng
tài sản dù rủi ro có thể xảy ra một cách bất ngờ. Khi phát sinh thiệt hại từ sự cố được
ghi nhận trong hợp đồng bảo hiểm, DNBH thực hiện trách nhiệm bảo hiểm để bảo
toàn trọn vẹn hoặc được kịp thời bù đắp một phần tổn thất, nhanh chóng khôi phục
lại tình trạng tài sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh của BMBH. Nếu không tham
gia BHTS, khi rơi vào những rủi ro bất ngờ, họ tự đối mặt với những sụt giảm về giá
trị của tài sản, hao tốn một khoản chi phí và thời gian để khắc phục sự cố xảy ra, tiếp
11
tục cuộc sống. Chính vì vậy, hoạt động BHTS được tiến hành nhằm mục đích khắc
phục rủi ro, hạn chế tổn thất, giảm thiểu thiệt hại vật chất cho xã hội, góp phần ổn
định đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh của người tham gia.
Ba là, BHTS là công cụ huy động vốn tối ưu trong xã hội.
DNBH là một trong các tổ chức trung gian tài chính tại Việt Nam, thông qua
hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp này thu các khoản phí bảo hiểm
từ người mua và tạo lập quỹ bảo hiểm chung cho cộng đồng tham gia BHTS do các
tổ chức này đứng ra đại diện quản lý. Số tiền bồi thường chỉ chi trả khi BMBH xảy
ra rủi ro, cho nên từ thời điểm thu phí đến khi bồi thường là một khoảng thời gian
ngắt quãng để tiếp tục thực hiện trách nhiệm của DNBH, đồng thời sự tương quan
giữa số người tham gia đóng phí và người được nhận tiền bảo hiểm đã giúp các tổ
chức này huy động được một nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Từ đó, DNBH có thể
dẫn vốn từ người có vốn đến người có nhu cầu sử dụng vốn, sử dụng phần quỹ nằm
ngoài các khoản chi phí dự phòng để tiến hành đầu tư vào các ngành, nghề, lĩnh vực
khác, tăng nhu cầu về sử dụng lao động, thúc đẩy sự lưu thông và phát triển của thị
trường, tạo ra các động lực phát triển xã hội, đóng góp không nhỏ vào công cuộc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm tài sản
Cùng với quá trình vận động kinh tế thị trường, hoạt động bảo hiểm dần từng
bước hình thành và phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau. Trong
đó, với mức độ phổ biến, sự đa dạng về hình thức, BHTS đang được sự quan tâm của
nhiều cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thương mại. Không chỉ mang bản chất
chung của bảo hiểm, BHTS còn mang những đặc trưng riêng, được vận hành và hoạt
động bởi các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, BHTS đảm bảo thực hiện nguyên tắc số đông.
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm. Bởi lẽ, BHTS là một nghiệp vụ
bảo hiểm nên cũng mang bản chất được tạo ra từ sự tập hợp được nhiều cá nhân, tổ
chức có cùng khả năng rủi ro, nhu cầu bảo vệ lập thành một cộng đồng để chia sẻ hậu
quả tài chính từ các tổn thất gây ra, đây chính là “sự đóng góp của số đông vào sự bất
hạnh của số ít”, tạo ra một quỹ bảo hiểm nhất định, trong đó DNBH với tư cách là
12
người tập hợp và quản lý quỹ bảo hiểm để đứng ra thực hiện trách nhiệm chia sẻ rủi
ro cho người bị tổn thất. Bên cạnh đó, dựa vào số lượng người tham gia, DNBH tiến
hành nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, đưa ra dự đoán về xác suất rủi ro có thể
xảy ra trong thực tế. Đây là cơ sở khoa học vô cùng quan trọng để các bên đưa ra các
nhận định sự cố có thể gánh vác được, cung cấp các sản phẩm BHTS và xác định
mức phí bảo hiểm phù hợp, quản lý quỹ BHTS với các khoản dự phòng chi trả cho
người mua bảo hiểm nếu phát sinh rủi ro.
Thứ hai, các bên tham gia BHTS phải đảm bảo thực hiện nguyên tắc trung thực.
Hợp đồng BHTS là một loại hình giao dịch dân sự nên phải đảm bảo được xác
lập bởi sự thống nhất các thỏa thuận và thực hiện qua cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Thực
chất, BMBH chỉ tìm đến DNBH khi có nhu cầu được bảo vệ lợi ích tài chính từ tài
sản của mình, nên trước khi mua bảo hiểm các chủ thể này ít có cơ hội để hiểu biết
nhau, do đó trong BHTS đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc trung thực một cách tuyệt
đối. Đối với BMBH, nguyên tắc này được thể hiện bằng trách nhiệm khai báo đầy
đủ, chính xác các thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm và quá trình thực
hiện hợp đồng. Đối với DNBH, pháp luật yêu cầu tổ chức này có trách nhiệm trung
thực trong việc cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải đáp thắc
mắc để khách hàng có sự lựa chọn phù hợp với nhu cầu, điều kiện của họ, tránh tình
trạng hiểu sai về loại hình bảo hiểm cung cấp. Phạm vi của nguyên tắc trung thực
được áp dụng cho cả DNBH và BMBH, không chỉ ràng buộc trách nhiệm của các chủ
thể tham gia mà còn giúp giảm chi phí đánh giá rủi ro. Trường hợp xảy ra gian dối
trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch BHTS có thể dẫn đến hậu quả một bên
đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên cố ý cung cấp sai thông tin phải bồi thường thiệt hại
phát sinh do lỗi của mình gây ra và một số hậu quả pháp lý không mong muốn khác.
Thứ ba, đảm bảo nguyên tắc thế quyền trong BHTS.
Đây là nguyên tắc được áp dụng khi phát sinh sự kiện bảo hiểm dẫn đến tổn thất
xuất phát từ lỗi của bên thứ ba gây ra. DNBH chỉ thực hiện trách nhiệm gánh vác thay
rủi ro cho người được bảo hiểm, do đó khi phát sinh thiệt hại không phải xảy ra từ
các rủi ro trong tự nhiên mà nguyên nhân từ lỗi của một chủ thể khác gây ra thì sau
khi thực hiện xong trách nhiệm bảo hiểm cho người bị thiệt hại, DNBH được quyền
13
yêu cầu họ chuyển quyền yêu cầu bồi thường để tổ chức này thay mặt người bị tổn
thất yêu cầu bên thứ ba có lỗi gây ra thực hiện trách nhiệm bồi thường bằng cách bồi
hoàn lại khoản chi phí mà DNBH đã chi trả. Việc tuân thủ nguyên tắc thế quyền trong
BHTS còn nhằm khuyến khích, nâng cao nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm của các
DNBH, bởi lẽ họ chỉ là người “ứng trước” để kịp thời bù đắp các tổn thất xảy ra cho
người bị thiệt hại, tuy nhiên phần chi phí này sẽ được hoàn trả lại cho doanh nghiệp
từ bên thứ ba có lỗi gây ra.
Thứ tư, người tham gia phải có quyền lợi để được bảo hiểm.
Đây là nguyên tắc được áp dụng để chỉ ra rằng không phải ai cũng là BMBH
trong hợp đồng, muốn tham BHTS khách hàng phải có lợi ích bảo hiểm. Trong BHTS,
BMBH phải chứng minh họ là người có quyền lợi hợp pháp đối với các tài sản bằng
các liên hệ cụ thể được pháp luật thừa nhận, thông qua quyền sở hữu hoặc sử dụng
một cách hợp pháp đối với đối tượng bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm là
lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến việc sử dụng hoặc phụ thuộc vào sự an toàn hay
không an toàn của đối tượng bảo hiểm, các lợi ích này phải xác định được vào thời
điểm xác lập giao dịch BHTS, ví dụ một người được chủ sở hữu cho mượn tài sản để
sử dụng nên họ có quyền khai thác các lợi ích từ tài sản, nếu tài sản này bị mất hay
hư hại họ sẽ có nghĩa vụ thay thế, sữa chữa, đền tiền hoặc khôi phục lại. Đây là cơ sở
để các bên xác định các giá trị liên quan đến phí bảo hiểm, tiền bảo hiểm và thực hiện
giao dịch BHTS.
1.2. Khái quát về pháp luật bảo hiểm tài sản
1.2.1. Khái niệm và các nội dung cơ bản của pháp luật bảo hiểm tài sản
Hoạt động bảo hiểm được hình thành với sự tham gia của BMBH và DNBH,
trong đó DNBH với vai trò là tổ chức trung gian tài chính, là chủ thể am hiểu sâu
rộng và hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, ngược lại BMBH là các cá nhân, tổ chức
có nhu cầu bảo hiểm nhưng không được trang bị nhiều kiến thức chuyên môn về bảo
hiểm so với DNBH. Do đó, Nhà nước là cơ quan đặc thù có chức năng quản lý xã hội
bằng Hiến pháp và pháp luật, thể chế hóa đường lối của Đảng đã từng bước xây dựng
hệ thống pháp luật điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong quan hệ BHTS, tạo ra môi
trường kinh doanh công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia. Như vậy, ở Việt
14
Nam, pháp luật BHTS được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật được ghi nhận
trong hệ thống văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm
điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản.
Trên cơ sở điều chỉnh các quan hệ phát sinh, pháp luật về BHTS có nội dung
sâu rộng, bao quát mọi hoạt động giữa các chủ thể, đặc biệt là mối liên hệ giữa
BMBH, DNBH, cơ quan nhà nước quản lý – đây là các chủ thể chính tham gia thị
trường kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Để hiểu được bản chất của BHTS, một số
nội dung cơ bản của pháp luật BHTS cần phải tìm hiểu, đó là:
- Quy định về chủ thể kinh doanh BHTS: đây là nhóm quy định về điều kiện
thành lập và hoạt động kinh doanh BHTS, theo pháp luật BHTS, chủ thể được kinh
doanh nghiệp vụ bảo hiểm phải là các tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động dưới
hình thức DNBH. Đồng thời, các doanh nghiệp này tuân thủ quy định về đăng ký
hoạt động kinh doanh BHTS, đáp ứng được các điều kiện về chủ thể, về vốn, về trình
độ chuyên môn, về hồ sơ, thủ tục thành lập,…
- Quy định về đối tượng BHTS: nhóm quy định này để áp dụng xác định các
loại tài sản được bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm, giá trị tài sản bảo hiểm,
giá trị hợp đồng bảo hiểm.
- Quy định pháp luật về các rủi ro được bảo hiểm trong BHTS: đây là cơ sở để
xác định phạm vi, giới hạn trách nhiệm của DNBH thông qua các quy định về: phạm
vi bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.
- Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của DNBH: để thực hiện trách
nhiệm bảo hiểm, DNBH và BMBH cần xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo
hiểm, điều kiện bồi thường, giám định tổn thất, nguyên tắc bồi thường, phương thức
và thời hạn bồi thường, chuyển giao quyền yêu cầu bồi hoàn trong BHTS.
- Quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan hệ BHTS: đây
là nhóm quy định cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện BHTS. Về
bản chất, giao dịch BHTS mang tính chất song vụ do đó quyền của bên này là nghĩa
vụ của bên kia, nên các bên chủ thể cần phải nắm rõ quy định pháp luật để bảo vệ
được tối ưu quyền lợi chính đáng của mình.
Hệ thống pháp luật BHTS vẫn đang trong quá trình củng cố, hoàn thiện, chế tài
15
xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ mức răn đe, một số vấn đề vẫn đang được bỏ ngõ
và từng bước khắc phục, nên một số đối tượng đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để cố
tình thực hiện các hành vi xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác như kéo dài thời
gian giải quyết trách nhiệm bồi thường, cùng một đối tượng tài sản nhưng tiến hành
mua bảo hiểm ở nhiều DNBH khác nhau để trục lợi bất chính từ việc tham gia BHTS,
cố tình từ chối trách nhiệm bảo hiểm,… Chính vì vậy, cần nắm rõ các quy định pháp
luật về bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng để nâng cao ý thức, bảo vệ được lợi
ích của bản thân trước các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội.
1.2.2. Quan hệ pháp luật bảo hiểm tài sản
Quan hệ pháp luật bảo hiểm là tổng thể các quan hệ xã hội hình thành và phát
sinh giữa chủ thể bảo hiểm và chủ thể được bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện, thống
nhất nội dung thỏa thuận về việc nộp phí bảo hiểm và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm
của mình khi xảy ra các sự kiện nằm trong phạm vi bảo hiểm.
1.2.2.1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm tài sản
Hoạt động kinh doanh BHTS được xác lập giữa DNBH thông qua việc chấp
nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở BMBH phải đóng phí bảo hiểm để
DNBH trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Như
vậy, chủ thể chính trong quan hệ pháp luật BHTS là DNBH, BMBH và người được
bảo hiểm.
Thứ nhất, Doanh nghiệp bảo hiểm.
Đây là chủ thể đầu tiên và có vai trò quan trọng trong cấu thành quan hệ pháp
luật BHTS. Để thực hiện hoạt kinh doanh bảo hiểm, DNBH phải là một tổ chức kinh
tế có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của Luật
KDBH. Hiện nay, DNBH hoạt động dưới các hình thức: công ty cổ phần, công ty
TNHH, hợp tác xã, tổ chức bảo hiểm tương hỗ. Bảo hiểm là hoạt động kinh doanh
đặc thù với loại hình sản phẩm vô hình, có độ nhạy cảm cao, có nghĩa vụ bồi thường
về tài chính lớn nên để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của khách hàng, nên DNBH
không hoạt động dưới hình thức công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân để đảm
bảo về khả năng chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm. Bên cạnh đó, DNBH
để được cấp phép hoạt động, các tổ chức này phải đảm bảo số vốn điều lệ đã góp
16
không được thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định trong từng loại hình bảo hiểm
và hình thức kinh doanh bảo hiểm để đảm bảo đủ năng lực tài chính tiến hành kinh
doanh loại hình đặc biệt này. Số lượng DNBH ở Việt Nam ngày càng tăng, đây là
một dấu hiệu đáng mừng về sự khởi sắc của thị trường kinh doanh bảo hiểm ở nước
ta, tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam đã có hơn 30 DNBH phi nhân thọ, mỗi
công ty đều có chính sách ưu đãi riêng dành cho khách hàng nên BMBH có quyền
được lựa chọn nhà cung cấp phù hợp với nhu cầu, điều kiện, khả năng của mình.
Tuân thủ các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ bảo hiểm, hiện nay pháp
luật Việt Nam cho phép các DNBH nước ngoài cung cấp dịch vụ BHTS cho các tổ
chức, cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam thông qua một trong các hình thức:
(i) Thành lập DNBH 100% vốn của Công ty bảo hiểm nước ngoài (Công ty TNHH
01 thành viên); (ii) Mở chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam; (iii)
Cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới cho các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam khi họ có nhu cầu. Trong phạm vi đề tài này,
tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các loại hình công ty bảo hiểm cổ phần và công ty bảo
hiểm TNHH được thành lập bởi các thành viên là tổ chức, đây là hai loại hình DNBH
hoạt động phổ biến không chỉ trong nền kinh tế mà còn giữ vai trò chủ đạo trên thị
trường bảo hiểm ở Việt Nam.
Thứ hai, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm.
BHTS là một trong các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm tìm
kiếm lợi nhuận thông qua cơ chế tiếp nhận và xử lý các rủi ro. Nên để thực hiện được
hoạt động, các tổ chức phải tìm kiếm được người có nhu cầu tham gia để cung cấp
sản phẩm đặc biệt này. BMBH chính là người tiến hành mua “trách nhiệm gánh vác
rủi ro” của doanh nghiệp cung cấp.
BMBH có thể là các tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với DNBH
và thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm. Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân
có tài sản được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Theo Luật KDBH và BLDS thì tại
thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, nhằm đảo bảo tối ưu quyền lợi của khách hàng
tham gia bảo hiểm đối với trường hợp BMBH là cá nhân thì phải đủ 18 tuổi và không
bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; đối với trường hợp
17
BMBH là tổ chức phải được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Trong quan hệ BHTS, thiệt hại được xảy ra phải là tổn thất trực tiếp đến BMBH,
DNBH chỉ cung cấp bảo hiểm cho BMBH khi họ chứng minh được rằng họ là người
có quyền sở hữu đối với tài sản. Trong trường hợp BMBH là người được chủ sở hữu
ủy quyền thì họ phải có bằng chứng chứng minh về sự ủy quyền quản lý tài sản này
là hoàn toàn hợp pháp. Bởi vậy, trong đa số các trường hợp, BMBH đồng thời là
người được bảo hiểm khi họ mua bảo hiểm cho chính tài sản của mình.
1.2.2.2. Về mặt khách thể
Quan hệ pháp luật BHTS được xác lập thông qua hợp đồng BHTS, theo đó
BMBH phải đóng phí bảo hiểm và DNBH phải chi trả khoản tiền bồi thường khi xảy
ra các thiệt hại do sự kiện bảo hiểm được ghi nhận trong hợp đồng. Các chủ thể tham
gia đều mong muốn đạt được lợi ích về tài chính từ tài sản bảo hiểm, khách thể này
là nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh quan hệ pháp luật BHTS.
Lợi ích về tài chính từ tài sản bảo hiểm là đối tượng mà các chủ thể hướng tới,
hoặc tác động vào khi tham gia quan hệ pháp luật này để đạt được mục đích nhất
định. Đối với DNBH, phần phí bảo hiểm thu được từ người tham gia vốn dĩ xuất phát
từ bản chất lấy của số đông trả cho số ít, phần giá trị chênh lệch chính là lợi nhuận
kinh tế, DNBH lại sử dụng một phần lợi nhuận này tiếp đầu tư ở lĩnh vực khác để
nâng cao giá trị lợi nhuận đạt được. Đối với BMBH, mục đích tham gia vào giao dịch
BHTS luôn xuất phát từ mong muốn giảm thiểu rủi ro về tài chính có thể xảy ra làm
tài sản của mình giảm sút hoặc mất giá trị. Trong thời gian bảo hiểm, BMNH vẫn trực
tiếp sử dụng, khai thác tài sản của mình, BHTS như một lá chắn phòng vệ về niềm
tin dành cho họ an tâm sử dụng cho dù thiệt hại xảy ra vẫn có thể nhận được một phần
giá trị tài chính khi thuộc các trường hợp rủi ro theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.
1.2.2.3. Về mặt nội dung
Quan hệ pháp luật BHTS bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của
các chủ thể tham gia, thể hiện thông qua việc thực hiện các hành vi của BMBH và
DNBH trong khuôn khổ pháp luật, để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, lợi ích
cộng đồng được yêu cầu các chủ thể khác thực hiện hoặc không được thực hiện hành
vi, xử sự theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trên cơ sở đó, quan hệ
18
pháp luật BHTS điều chỉnh các nội dung chủ yếu mà DNBH và BMBH phải đảm bảo
thực hiện như: trách nhiệm cung cấp thông tin, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, thực hiện
trách nhiệm bồi thường tổn thất, nghĩa vụ chuyển yêu cầu bồi hoàn cho DNBH.
Thực chất, không một ai mong muốn có sự thiệt hại nào xảy ra, vì vậy để giảm
thiểu nguy cơ dẫn đến rủi ro, trước hết chính bản thân các chủ thể phải trung thực
thực hiện các nghĩa vụ theo pháp luật có thể tạo được niềm tin cho người khác, từ đó
đảm bảo được lợi ích chính đáng, góp phần xây dựng một thị trường BHTS phát triển
vững mạnh.
1.2.3. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm tài sản
Về tổng thể, nguồn của luật chính là đối tượng chứa đựng quy phạm pháp luật.
Đó cũng là những gì mà Tòa án hoặc người có thẩm quyền phán xét căn cứ vào để
xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, chẳng hạn: Văn bản quy phạm pháp luật, những
nguyên tắc pháp lý, tập quán và thông lệ, án lệ… Ở Việt Nam, một cách chính thức,
nguồn của pháp luật chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật, việc áp dụng tập quán,
tương tự pháp luật được nhắc đến theo Điều 5, Điều 6 BLDS 2015, theo đó, hệ thống
pháp luật đối với hoạt động kinh doanh BHTS tại Việt Nam bao gồm:
- Những văn bản được Quốc hội thông qua:
Hiến pháp: Hiến pháp là nguồn rất quan trọng của pháp luật BHTS và có hiệu
lực cao nhất, đây là đạo luật cơ bản của Nhà nước ta, thể chế hóa quan điểm, đường
lối cách mạng của Đảng về xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc. Chính
sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được tại Điều 15;
quyền được của tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh
doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm cùng phát triển lâu dài, hợp
tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật được ghi nhận tại Điều 16 và quyền được
chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị
hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh
tại Điều 21 là các cơ sở quan trọng cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật về kinh doanh BHTS ở Việt Nam.
Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, năm 2019
(gọi tắt là Luật KDBH): Đây là luật quy định trực tiếp những nội dung về hoạt động
19
kinh doanh BHTS tại Việt Nam từ những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh
doanh BHTS, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm bảo hiểm và trường hợp
loại trừ trách nhiệm, trong giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo hiểm.
Luật KDBH với tư cách là luật chuyên ngành điều chỉnh toàn bộ quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung
và BHTS nói riêng, là công cụ thực hiện quyền quản lý của nhà nước về bảo hiểm.
Bộ luật Dân sự năm 2015: Nội dung Luật KDBH bổ sung những quy định cụ
thể, quyền lợi và nghĩa vụ cho các bên tham gia bảo hiểm nhưng không thể thay thế
được các quy định của BLDS 2015. Các quan hệ phát sinh trong giao dịch bảo hiểm
phải đảm bảo các nguyên tắc theo quy định chung của Bộ luật Dân sự về thiết lập các
quan hệ pháp luật dân sự theo nguyên tắc tự do thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng,
thiện chí và trung thực, tự chịu trách nhiệm, tôn trọng đạo đức tốt đẹp, tôn trọng bảo
vệ quyền dân sự, tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích của
người khác, nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc hòa giải.
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: có quy định về tội gian
lận trong kinh doanh bảo hiểm Điều 213, đây là quy định có tính chất răn đe, trừng
trị các hành vi giả mạo tài liệu, thông đồng, cố ý làm sai lệch thông tin để được hưởng
bảo hiểm của người mua bảo hiểm và cố ý chối bỏ trách nhiệm bồi thường, trả tiền
bảo hiểm của DNBH. Không chỉ cá nhân, tổ chức tham gia mà cả DNBH là pháp
nhân nếu phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự với các hình phạt tại Điều 33
và quy định tại Chương XI BLHS quy định cụ thể về pháp nhân thương mại phạm tội.
Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Hàng hải
năm 2015, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Trọng tài thương
mại năm 2010, Luật Phòng cháy chữa cháy năm 2001 sửa đổi bổ sung năm 2013,
Luật Đất đai năm 2013, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Điện lực năm 2004 sửa đổi
bổ sung năm 2018 là những văn bản quy định quyền và nghĩa vụ của người tham gia
BHTS đối với tài sản trong từng trường hợp cụ thể, có tính chất kỹ thuật và bổ trợ
trong việc góp phần xác định sự kiện bảo hiểm trong phạm vi bảo hiểm, trách nhiệm
bảo hiểm, trường hợp loại trừ trách nhiệm giữa các bên tham gia và cơ sở để giải
20
quyết các vấn đề phát sinh khác.
- Các văn bản dưới luật do Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành hướng dẫn thi hành Luật KDBH và các luật khác có liên quan đến hoạt động
kinh doanh BHTS. Trong đó, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 quy
định chi tiết thi hành Luật KDBH; Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/08/2013 về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số;
Nghị định số 80/2019/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 73/2016/NĐ-CP
ngày 01/07/2016 và Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/08/2013; Nghị định số
100/1993/CP ngày 18/12/2993 về kinh doanh bảo hiểm và Thông tư số 125/2012/TT-
BTC ngày 30/07/2012 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối với
DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh
DNBH phi nhân thọ nước ngoài là những văn bản pháp luật điều chỉnh về điều kiện
của các chủ thể tham gia và các nội dung khác trong hoạt động BHTS.
Hoạt động kinh doanh BHTS ngày càng đa dạng, diễn ra sôi nổi và khẳng định
được vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Với bối cảnh hội nhập, phát
triển sâu rộng của đất nước, vai trò quản lý xã hội của Nhà nước dần được khẳng
định, phát huy mạnh mẽ hơn. Vì vậy các quy định của pháp luật là cơ sở xác định địa
vị pháp lý của các chủ thể tham gia, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, từ đó xây
dựng những định hướng phát triển và đảm bảo an toàn cho thị trường BHTS, tránh
21
gây ra những biến động xấu cho nền kinh tế.
Tiểu kết chương 1
BHTS là một hoạt động kinh doanh rủi ro từ người mua bảo hiểm sang DNBH,
giúp người tham gia yên tâm khai thác sử dụng tài sản và đảm bảo lợi ích tài chính
khi xảy ra các thiệt hại làm giảm sút giá trị của tài sản trong trường hợp do các bên
thỏa thuận. Đây là một lĩnh vực kinh doanh phức tạp, đa dạng với nhiều loại hình
BHTS khác nhau, mang ý nghĩa kinh tế - xã hội, đặc trưng của cộng đồng, luôn đặt
mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Để tham gia vào quan hệ này, các chủ thể phải đáp
ứng các điều kiện theo quy định pháp luật bảo hiểm và hợp tác trên sự tin tưởng, trung
thực, nghiêm túc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và hưởng lợi ích hợp pháp từ BHTS.
Không chỉ đem lại lợi ích cho các chủ thể tham gia, BHTS còn đóng góp không
ít vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Trong khuôn khổ các quy định pháp luật,
Nhà nước luôn từng bước hoàn thiện các thể chế, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật để nghiêm trị các trường hợp trục lợi, tạo ra hành lang pháp lý giữ vững kỷ cương,
trật tự, giúp thị trường bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng được phát triển an
toàn, vững mạnh theo cơ chế kinh tế thị trường, đường lối chính sách của Đảng và
22
Nhà nước đã đề ra.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM
TÀI SẢN HIỆN NAY
Với sự phát triển không ngừng của hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị
trường, các tổ chức kinh tế ngày càng cung cấp nhiều hơn các loại hình sản phẩm
nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, gia tăng doanh thu, đóp góp không nhỏ
vào ngân sách nhà nước, tạo nhiều cơ hội việc làm để góp phần ổn định xã hội, phát
triển đất nước. BHTS là hoạt động kinh doanh đặc thù với nhiệm vụ chính là tiếp
nhận, xử lý rủi ro trong cuộc sống và hoạt động kinh tế do đó pháp luật về BHTS luôn
được quan tâm, chú trọng xây dựng, củng cố hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ
phát sinh từ giao dịch này. Tuy nhiên, hệ thống quy định về BHTS theo pháp luật
Việt Nam hiện nay là một đề tài rất rộng, do đó trong phạm vi Luận văn này, tác giả
xin phép chỉ nghiên cứu về thực trạng BHTS theo pháp luật Việt Nam hiện nay với
một số nội dung quan trọng mà tác giả tâm đắc sau đây:
2.1. Pháp luật về điều kiện kinh doanh bảo hiểm tài sản
2.1.1. Doanh nghiệp bảo hiểm tài sản và điều kiện để kinh doanh bảo hiểm
tài sản
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật KDBH thì DNBH được định nghĩa
chung: “là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm,
tái bảo hiểm”. DNBH là cầu nối giữa BMBH và cơ quan quản lý nhà nước, đóng vai
trò “hạt nhân” trong quá trình cấu thành quan hệ pháp luật BHTS. Do đó, khái niệm
DNBH trong kinh doanh BHTS dùng để đề cập đến các doanh nghiệp thành lập, tổ
chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật KDBH và quy định
pháp luật khác có liên quan. Dưới góc độ pháp lý, để kinh doanh BHTS, DNBH phải
là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được hoạt động khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, về điều kiện góp vốn.
DNBH hoạt động dưới hình thức là các tổ chức kinh tế nên thành viên tham gia
góp vốn thành lập là các cá nhân, tổ chức không được thuộc các trường hợp quy định
23
tại Khoản 2 Điều 17 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, có đầy đủ năng lực hành vi
và năng lực pháp luật. Trách nhiệm của DNBH là gánh tổn thất đối với tài sản được
bảo hiểm, dựa trên năng lực tài chính của mình, để thực hiện được điều này trước hết
người thành lập công ty phải là người có tiềm lực về kinh tế, do đó các cá nhân, tổ
chức phải thực hiện giao dịch góp vốn bằng tiền mặt của mình mà không được phép
sử dụng vốn vay, vốn ủy thác đầu tư của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác.
Đặc biệt, bảo hiểm là lĩnh vực kinh doanh đầy rủi ro, với tính chất phức tạp và
không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đối với kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ đến việc thực
hiện các chính sách an sinh xã hội, nên các tổ chức tham gia góp vốn thành lập DNBH
đòi hỏi phải là tổ chức tư cách pháp nhân để đảm bảo tính độc lập và khả năng chịu
trách nhiệm bằng chính tài sản của chủ thể góp vốn tạo ra pháp nhân mới. Ngoài ra,
tùy theo tỷ lệ sở hữu và ngành nghề kinh doanh mà các đối tượng này phải tuân thủ
thêm một số điều kiện đặc thù khi thành lập DNBH, đó là:
- Đối với các tổ chức góp từ 10% vốn điều lệ trở lên phải hoạt động kinh doanh
có lãi trong 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động.
- Tổ chức tham gia góp vốn kinh doanh ngành nghề yêu cầu vốn pháp định thì
để được quyền góp vốn thành lập DNBH phải đảm bảo vốn chủ sở hữu trừ đi vốn
pháp định tối thiểu bằng số vốn dự kiến góp.
- Tổ chức tham gia góp vốn là DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, ngân
hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán thì phải đảm bảo duy trì,
đáp ứng các điều kiện an toàn tài chính và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận
cho phép tham gia góp vốn theo quy định pháp luật chuyên ngành.
- Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong lĩnh vực bảo
hiểm về tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm theo quy định tại Điều 213 BLHS.
Thứ hai, về hình thức tổ chức.
Hiện nay ở Việt Nam, DNBH hoạt động dưới 04 hình thức: công ty cổ phần,
công ty TNHH, hợp tác xã và tổ chức bảo hiểm tương hỗ. Xuất phát từ yêu cầu về
chế độ chịu trách nhiệm của người góp vốn, cơ chế điều hành hoạt động, sự độc lập
về tài chính giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp nên các tổ chức kinh doanh BHTS cần
được thành lập và vận hành hiệu quả nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao nhất có thể.
24
Trên thực tế thị trường bảo hiểm, công ty cổ phần và công ty TNHH là loại hình
doanh nghiệp phổ biến nhất. Trong đó, DNBH hoạt động dưới loại hình công ty
TNHH thì thành viên tham gia góp vốn thành lập phải là tổ chức, ngược lại vận hành
dưới hình thức công ty cổ phần thì phải có ít nhất 02 cổ đông sáng lập là tổ chức và
ngoài điều kiện góp vốn, các tổ chức này phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Đối các tổ chức nước ngoài góp vốn thành lập DNBH dưới loại hình công ty
TNHH thì các tổ chức này phải là DNBH được cơ quan có quan có thẩm quyền của
nước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt
Nam hoặc công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài của DNBH
nước ngoài được DNBH nước ngoài ủy quyền để góp vốn thành lập DNBH tại Việt
Nam; có ít nhất 07 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dự kiến tiến hành; tổng
tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề
nghị cấp giấy phép tại Việt Nam và không vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp
luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm của nước nơi DNBH đóng trụ sở chính trong
thời hạn 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp phép.
- Tổ chức Việt Nam góp vốn thành lập DNBH dưới loại hình công ty TNHH
phải có tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp
hồ sơ đề nghị cấp giấy phép.
- Đối với DNBH được dự kiến thành lập dưới loại hình công ty cổ phần phải có
tối thiểu 02 cổ đông là tổ chức đáp ứng các điều kiện tương tự như ở loại hình công
ty TNHH và 02 cổ đông này phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 20% số cổ phần của
công ty kinh doanh BHTS dự kiến được thành lập.
Trong lĩnh vực BHTS, việc thành lập các công ty bảo hiểm dưới hình thức công
ty cổ phần và công ty TNHH đều bắt buộc có sự tham gia của các tổ chức kinh tế, bởi
lẽ đây là lĩnh vực yêu cầu có kinh nghiệm chuyên môn cao trong việc xây dựng và
điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, đặc trưng của nhà đầu tư cá nhân
ở nước ta thường mang tính nhỏ lẻ, manh mún, dễ bị xao động trong khi nhà đầu tư
là tổ chức được vận hành theo một cơ cấu nhất định, có năng lực tài chính và đội ngũ
chuyên môn riêng, đảm bảo sự an toàn trong quá trình kinh doanh bảo hiểm và quyền lợi
25
của BMBH, việc hạn chế người thành lập là cá nhân là tất yếu.
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh BHTS ở Việt Nam còn được thực hiện bởi các
hoạt động của chi nhánh công ty bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, đây là tổ chức
không có tư cách pháp nhân và là đơn vị phụ thuộc của DNBH phi nhân thọ nước
ngoài, được DNBH này bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của
chi nhánh tại Việt Nam. Khi đăng ký hoạt động, các DNBH phi nhân thọ nước ngoài
ngoài việc đáp ứng các điều kiện như một tổ chức nước ngoài thành lập công ty bảo
hiểm TNHH ở nước ta còn cần có trụ sở chính tại nước mà Việt Nam và quốc gia đó
đã ký kết các điều ước quốc tế về thương mại, trong đó có thỏa thuận về thành lập chi
nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại nước ta và cơ quan quản lý nhà nước về
bảo hiểm nơi công ty mẹ đóng trụ sở chính đã ký kết Biên bản thỏa thuận hợp tác với
Bộ Tài chính Việt Nam về quản lý, giám sát hoạt động của chi nhánh nước ngoài.
Ngoài ra, DNBH nước ngoài còn cần phải chứng minh được năng lực tài chính bằng
nguồn vốn hợp pháp dùng để thành lập và không được sử dụng tiền vay hoặc nguồn
ủy thác đầu tư dưới bất kỳ hình thức nào, doanh nghiệp phải có lãi trong 03 năm liền
kề trước năm hộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và không có lỗ lũy kế đến thời điểm
nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép.
Trên cơ sở mở cửa hội nhập quốc tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, tạo điều kiện cho các nghiệp vụ BHTS ngày càng được phát triển đa dạng dưới
nhiều hình thức, trong đó phải kể đến hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên
giới. Theo quy định tại điểm a Khoản 11 Điều 1 Nghị định 80/2019/NĐ-CP thì đối
tượng cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới bao gồm cả DNBH nước ngoài có trụ
sở chính tại quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó đã ký kết các điều ước quốc tế về
thương mại trong đó có thỏa thuận về cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại
Việt Nam. Tuy nhiên để cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam, các
DNBH phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Có Giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh
nghiệp có trụ sở chính cho phép thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm dự kiến cung cấp
qua biên giới tại Việt Nam và phải hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm tính tới thời
26
điểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;
- Có văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh
nghiệp đóng trụ sở chính cho phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt
Nam và xác nhận không vi phạm các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo
hiểm và các quy định pháp luật khác của nước ngoài tại Việt Nam;
- Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ vào năm tài chính trước
năm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;
- DNBH nước ngoài được xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s
hoặc Fitch, “B++” theo A.M.Best, “Baal” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng
tương đương của các tổ chức có chức năng, kinh nghiệm xếp hạng khác tại các năm
tài chính trước năm cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;
- Hoạt động kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liền kề trước năm cung
cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam;
- Ký quỹ tối thiểu 100 tỷ đồng Việt Nam tại Ngân hàng được cấp Giấy phép tại
Việt Nam và có thư bảo lãnh thanh toán của ngân hàng đó cam kết thanh toán trong
trường hợp trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm cung cấp qua biên giới tại Việt
Nam vượt quá mức ký quỹ bắt buộc;
- Có quy trình giải quyết bồi thường trong đó nêu rõ thủ tục, trình tự xử lý tổn
thất và thời hạn trả tiền bồi thường cho BMBH tại Việt Nam.
Như vậy, cùng với những thay đổi của các chính sách pháp luật, đời sống kinh
tế - xã hội, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng được chú trọng và khẳng định
vị trí quan trọng trong nền kinh tế, được triển khai với đa dạng hình thức tổ chức khác
nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm tại Việt Nam.
Thứ ba, về vốn điều lệ. Khi thành lập công ty BHTS, số vốn điều lệ đã góp
không được thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định pháp luật đối với từng hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định số
73/2016/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật KDBH và Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật KDBH thì mức vốn pháp định để: kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
là 300 tỷ đồng; kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm hàng không hoặc bảo
hiểm vệ tinh là 350 tỷ đồng; kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm hàng không,
27
bảo hiểm vệ tinh là 400 tỷ đồng. Do đó, với tư cách là một loại hình bảo hiểm phi
nhân thọ, để kinh doanh BHTS thì DNBH phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là 350 tỷ
đồng. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số DNBH kinh doanh loại hình bảo
hiểm phi nhân thọ trên thị trường có thể kể đến như: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt
có vốn điều lệ tính đến năm 2019 là 2.900 tỷ đồng, Tổng công ty cổ phần Bảo Minh
có vốn điều lệ tính đến năm 2020 là 3.100 tỷ đổng.
Thứ tư, về trình độ chuyên môn. Kinh doanh BHTS là một ngành nghề kinh
doanh có điều kiện, không chỉ đáp ứng các điều kiện về người góp vốn, vốn điều lệ,
hình thức hoạt động mà người quản trị, điều hành trong DNBH luôn được yêu cầu
phải có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về BHTS. Có thể thấy đây là ngành
nghề kinh doanh đặc biệt, kinh doanh rủi ro, do đó đối với đối tượng tham gia góp
vốn phải đáp ứng các yêu cầu khắc khe về tổ chức, tài chính và trình độ chuyên môn.
Trong quan hệ pháp luật BHTS, dưới hình thức hoạt động là các tổ chức kinh tế, nên
DNBH không chỉ chịu sự điều chỉnh chung của Luật Doanh nghiệp mà còn đáp ứng
các điều kiện riêng biệt để được cấp phép và hoạt động kinh doanh BHTS tại Việt
Nam, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài chính, đây là điểm riêng biệt giúp phân
biệt DNBH với các công ty khác trên thị trường.
2.1.2. Quy tắc bảo hiểm tài sản
Quy tắc BHTS có thể được xem là tổng thể các quy định chung mà người tham
gia BHTS phải tuân theo. Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, mặc dù mang tính
áp dụng chung cho cộng đồng tham gia nhưng quy tắc bảo hiểm lại được DNBH xây
dựng, do đó các nội dung đều được dựa trên quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức
xã hội, phong tục tập quán ở Việt Nam, ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc phải chính
xác, đơn giản, dễ hiểu, các thuật ngữ chuyên môn cần được định nghĩa rõ ràng. Tuy
nhiên, đối với các loại bảo hiểm bắt buộc quy tắc bảo hiểm sẽ do Bộ Tài chính ban
hành, chẳng hạn như bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu.
Quy tắc bảo hiểm là một trong các tài liệu cần có trong thủ tục đăng ký thành
lập, hoạt động của một DNBH, các nội dung của quy tắc bảo hiểm xuất phát từ thực
tiễn triển khai hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời, đối với các loại đối
tượng bảo hiểm giống nhau và có cùng những khả năng rủi ro, việc DNBH xây dựng
28
những quy định áp dụng chung trong quy tắc bảo hiểm góp phần tạo ra sự công bằng,
bình đẳng giữa những người có nhu cầu tham gia bảo hiểm, thể hiện tính chuyên
nghiệp và nâng cao uy tín của DNBH, thu hút nhiều hơn nữa số người tham gia nghiệp
vụ BHTS. Bên cạnh đó, quy tắc BHTS được DNBH cung cấp thường đề cập các nội
dung, điều khoản về các loại tài sản được bảo hiểm, phạm vi bảo các rủi ro được bồi
thường, các trường hợp loại trừ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể
tham gia, hồ sơ bồi thường, phương thức bồi thường,... Thông qua tài liệu này, khách
hàng có thể tham khảo và hiểu rõ hơn về loại hình bảo hiểm mà mình mong muốn
tham gia, biết được trách nhiệm, quyền lợi giữa các bên, những nội dung trong quy
tắc này là những điều khoản mà BMBH và DNBH phải nghiêm túc chấp hành.
2.1.3. Hợp đồng bảo hiểm tài sản
Quan hệ bảo hiểm được hình thành trên cơ sở một bên có nhu cầu được bảo
hiểm và một bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm, thông qua sợi dây kết nối vô hình “cung
– cầu” của thị trường, các chủ thể này tìm đến nhau và hợp tác bàn bạc để có được sự
thống nhất các yêu cầu được đặt ra. Chính vì vậy, là một loại của hợp đồng bảo hiểm,
hợp đồng BHTS thể hiện sự thỏa thuận giữa BMBH và DNBH, theo đó BMBH phải
đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi
thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ thỏa thuận nào về BHTS nào cũng hợp pháp, để
được pháp luật công nhận và phát sinh hiệu lực pháp lý ràng buộc giữa các bên tham
gia, hợp đồng BHTS phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, chủ thể tham gia ký kết phải có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực
pháp luật. Bên cạnh các chủ thể là cá nhân, xuất phát từ đặc trưng của đối tượng cung
cấp dịch vụ bảo hiểm, quan hệ BHTS có ít nhất một bên tham gia là pháp nhân, do
đó phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động một
cách hợp pháp thì các pháp nhân này mới có đủ điều kiện tham gia BHTS theo quy
định pháp luật hiện hành.
Thứ hai, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, xuất phát
từ sự tự do ý chí của chính họ mà không ai được phép đe dọa, tác động dưới bất kỳ
29
hình thức nào để ép buộc phải tham gia BHTS trái với mong muốn.
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối
tượng tài sản được bảo hiểm không thuộc tài sản, hàng hóa cấm giao dịch. Bên cạnh
đó, nội dung của hợp đồng cũng cần được thể hiện cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa
vụ trong hợp đồng phải rõ ràng và có tính khả thi, nghĩa vụ của hợp đồng nếu như
không thể thực hiện được, trái với quy định pháp luật thì cũng không được xem là có
hiệu lực pháp luật và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Một trong
các mục đích mà pháp luật hướng đến là bảo vệ đối tượng yếu thế trong xã hội, do đó
tại Điều 21 Luật KDBH đã quy định trong trường hợp nội dung hợp đồng bảo hiểm
có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó sẽ được giải thích theo hướng có lợi
cho BMBH, đây là một trong những biện pháp bảo vệ BMBH mà nhà làm luật đã đặt
ra.
Các thỏa thuận trong hợp đồng BHTS phải đầy đủ, rõ ràng và có các nội dung
cơ bản sau: Tên, địa chỉ của DNBH, BMBH, người được bảo hiểm; đối tượng bảo
hiểm; số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm; phạm vi bảo hiểm, điều kiện
bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời hạn
bảo hiểm; mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm; thời hạn, phương thức
trả tiền bồi thường bảo hiểm; các quy định giải quyết tranh chấp; ngày, tháng, năm
giao kết hợp đồng. Ngoài ra, hợp đồng BHTS có thể còn có các nội dung khác do các
bên thống nhất cùng thỏa thuận. Bên cạnh đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác, BMBH và DNBH có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện,
điều khoản bảo hiểm, tuy nhiên các sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm đã ký cần
phải được lập thành văn bản.
Thứ tư, về hình thức, hợp đồng BHTS phải được lập thành văn bản.
Để được công nhận và đảm bảo hiệu lực áp dụng, hợp đồng BHTS phải đáp ứng
đủ các điều kiện trên mới, nếu vi phạm một trong các điều kiện sau sẽ dẫn đến vô
hiệu và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định của BLDS và Luật KDBH
hiện hành.
Về bản chất, BHTS vẫn mang đặc trưng của giao dịch dân sự, bởi vậy khi tham
gia quan hệ này, các chủ thể thường hướng đến những lợi ích nhất định. Nếu mục
30
đích của BMBH là nhận được cam kết bồi thường cho những tổn thất có thể xảy ra
trong tương lai thì DNBH lại hướng đến khoản lợi nhuận mà họ có thể thu được từ
việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng. Đây là thỏa thuận có vai trò quan
trọng trong việc tạo lập và duy trì mối quan hệ hợp tác giữa các bên, do đó cần phải
được thể hiện rõ trong hợp đồng bảo hiểm để hạn chế phát sinh tranh chấp có thể xảy
ra. Trong BHTS, để nhận được cam kết bồi thường từ DNBH khi có tổn thất do sự
kiện bảo hiểm gây ra, phí bảo hiểm là khoản tiền mà chủ sở hữu, sử dụng tài sản một
cách hợp pháp đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận
trong hợp đồng BHTS. Khoản phí này có thể nộp một lần ngay sau khi ký hợp đồng,
hay thực hiện theo định kỳ hàng tháng, quý, năm hoặc tiến độ khác do các bên thỏa
thuận. Dưới góc độ của nhà kinh tế, phí bảo hiểm là thu nhập của DNBH, dựa vào
nguồn thu này doanh nghiệp có thể tiến hành chi trả các tổn thất được bảo hiểm khi
xảy ra, đồng thời cũng là nguồn để tiến hành chi trả cho chi phí khai thác cho tuyên
truyền, quảng cáo, môi giới, chi phí cho đại lý, chi phí quản lý hợp đồng, chi phí quản
lý cho các khoản chi trả bồi thường cho người đóng bảo hiểm. Phí bảo hiểm của mỗi
hợp đồng BHTS sẽ khác nhau bởi để xác định khoản phí này còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: loại tài sản, giá trị tài sản, các rủi ro có thể xảy ra, phương thức sử dụng,
bảo quản tài sản,… Ngoài ra phí bảo hiểm sẽ được tính dựa trên công thức cân bằng
giữa trách nhiệm của công ty bảo hiểm và trách nhiệm của BMBH tại thời điểm ký
kết hợp đồng giữa hai bên.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là cơ sở để các bên thực hiện các thỏa thuận, thể
hiện thiện chí hợp tác của các bên. Theo quy định của Luật KDBH, khi giao kết hợp
đồng BHTS, DNBH có trách nhiệm phải cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp
đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho BMBH biết. Trong
trường hợp doanh nghiệp cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm mục đích giao kết
hợp đồng bảo hiểm thì BMBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng
bảo hiểm và phải bồi thường thiệt hại phát sinh do việc cung cấp thông tin sai sự thật
gây ra. Ngược lại, BMBH cũng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các thông tin liên
quan đến đối tượng tài sản được bảo hiểm cho DNBH và DNBH có trách nhiệm giữ
bí mật về thông tin do BMBH cung cấp. Nếu như BMBH cố ý cung cấp thông tin sai
31
sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi
thường hoặc không thực hiện các nghĩa vụ cung cấp thông tin về những trường hợp
có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm bảo hiểm theo yêu cầu
của DNBH thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm
và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Có thể thấy
rằng, cung cấp thông tin là trách nhiệm chung của cả bên bán và bên mua BHTS,
chính vì vậy các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó.
2.1.4. Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm tài sản
Khi thực hiện giao dịch dân sự, các chủ thể của hợp đồng được phép chuyển
giao quyền hoặc nghĩa vụ cho một chủ thể thứ ba để đảm bảo việc thực hiện các thỏa
thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, giao dịch BHTS không chỉ mang bản chất của một
hợp đồng dân sự thông thường mà còn có nét đặc trưng riêng, bởi sự yêu cầu khắt
khe đối với DNBH và những nguy cơ có thể tìm ẩn trong quá trình hoạt động. Trên
cơ sở đó, chuyển giao hợp đồng BHTS là một trong các điều kiện cần thiết mà các
công ty bảo hiểm bắt buộc phải đáp ứng để tiến hành kinh doanh BHTS tại Việt Nam.
Hoạt động chuyển giao hợp đồng bảo hiểm được thể hiện bằng việc một DNBH
chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm
cho các DNBH khác, nói một cách khác quyền và nghĩa vụ của DNBH ban đầu sẽ
được chuyển toàn bộ cho doanh nghiệp nhận chuyển giao trong một hoặc một số lĩnh
vực bảo hiểm. Tuy nhiên hoạt động này không được thực hiện một cách tự do mà chỉ
được chuyển giao trong những trường hợp theo quy định tại tại Điều 74 Luật KDBH,
đó là: DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán; DNBH chia, tách, hợp nhất, sáp
nhập, giải thể; theo thỏa thuận giữa các DNBH. Có thể thấy, đa phần các trường hợp
pháp luật quy định được phép chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng
BHTS nói riêng đều là lúc các tổ chức này đang có nguy cơ đối diện với khó khăn
dẫn đến sự thay đổi lớn về mặt cơ cấu tổ chức, thậm chí có khả năng chấm dứt hoạt
động và bị đào thải khỏi thị trường. Khi đó các DNBH khó có điều kiện để tiếp tục
thực hiện hợp đồng bảo hiểm đã ký, nếu như đơn phương chấm dứt hợp đồng thì các
tổ chức này có thể đối mặt với khả năng bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh từ
hành vi pháp lý đơn phương của mình gây ra, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của
32
BMBH. Vậy nên chuyển giao hợp đồng BHTS như một biện pháp cứu cánh để giảm
đi phần nào áp lực tài chính của các công ty đang khó khăn, làm đa dạng thêm nghiệp
vụ bảo hiểm và nâng cao uy tín của các DNBH nhận chuyển giao, bảo vệ tối ưu quyền
lợi của các chủ thể tham gia.
Bên cạnh đó, pháp luật về kinh doanh BHTS ghi nhận thỏa thuận của các DNBH
là một trong các trường hợp làm phát sinh quyền chuyển giao hợp đồng bảo hiểm đã
ký nhưng lại không quy định rõ về các điều kiện áp dụng thỏa thuận chuyển giao, các
loại hình nghiệp vụ bảo hiểm và thời điểm được phép chuyển giao, nên khó tránh
khỏi các trường hợp một số doanh nghiệp lợi dụng việc chuyển giao hợp đồng để bắt
tay liên kết với nhau, chiếm lĩnh thị trường, thực hiện các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh gây ra các tác động xấu trong sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Khi chuyển
giao hợp đồng BHTS, chủ thể thực hiện hợp đồng đã có sự thay đổi từ một DNBH
này sang một doanh nghiệp khác. Bản chất của hoạt động này là sự kế thừa thực hiện
các nội dung của hợp đồng cũ chứ không hề phát sinh giao dịch mới nên các quyền
và nghĩa vụ theo hợp đồng BHTS ban đầu không thay đổi cho đến khi hết thời hạn
của hợp đồng để hạn chế việc xung đột lợi ích khi có sự thay đổi về chủ thể thực hiện.
Nhằm giảm bớt áp lực tài chính và tạo ra sự công bằng giữa DNBH ban đầu, người
quản lý quỹ của cộng đồng tham gia nghiệp vụ bảo hiểm chuyển giao, và tổ chức
nhận chuyển giao, người kế thừa trách nhiệm gánh vác tổn thất, phải tiến hành chuyển
giao các quỹ và dự phòng nghiệp vụ liên quan đến toàn bộ hợp đồng.
Tuy nhiên không phải DNBH nào cũng sẵn sàng đứng ra nhận trách nhiệm thay
cho đối tượng đang gặp khó khăn, khi DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán,
giải thể mà không thỏa thuận được việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm cho DNBH
khác thì Bộ Tài chính sẽ lựa chọn và chỉ định tổ chức nhận chuyển giao. Việc chuyển
giao chỉ tiến hành sau khi được Bộ chấp thuận bằng văn bản, sau đó DNBH chuyển
giao hợp đồng phải công bố về việc chuyển giao một cách công khai. Đồng thời, theo
quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 48 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP thì trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận, DNBH phải gửi thông báo kèm theo
tóm tắt kế hoạch chuyển giao cho từng BMBH và nêu rõ trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được thông báo, BMBH được phép hủy hợp đồng bảo hiểm nếu không
33
đồng ý với kế hoạch chuyển giao, ngày kế hoạch chuyển chính thức có hiệu lực, khi
đó DNBH phải hoàn lại cho họ số phí bảo hiểm đã nhận tương ứng với thời gian còn
lại của hợp đồng bảo hiểm sau khi trừ đi các chi phí hợp lý liên quan.
Như vậy, quan hệ chuyển giao hợp đồng BHTS phát sinh giữa 03 chủ thể chính:
DNBH chuyển giao hợp đồng BHTS, DNBH nhận chuyển giao hợp đồng BHTS,
BMBH. Trong đó, trách nhiệm gánh vác rủi ro được chuyển từ DNBH này sang
DNBH khác dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước, chuyển giao hợp đồng
BHTS không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và quyền lợi của BMBH vẫn
được đảm bảo như ban đầu, góp phần ổn định thị trường, tránh tình trạng các DNBH
bị mất khả năng thanh toán, không thể thực hiện được trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
2.1.5. Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm
Quyền sở hữu đối với tài sản không phải là một quyền cố định gắn chặt giữa
một người và vật nào đó, cho nên, khi có sự chuyển quyền sở hữu từ một chủ thể này
sang một chủ thể khác, để đảm bảo tối ưu quyền lợi của các bên tham gia, quy định
pháp luật hiện hành đã đặt ra một số điều kiện nhất định mà DNBH và BMBH cần
phải tuân thủ khi chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm.
Tại thời điểm xác lập hợp đồng, BMBH phải chứng minh được mình có lợi ích
từ tài sản bằng các quyền sở hữu, sử dụng đối tượng bảo hiểm một cách hợp pháp.
Thông thường, BMBH là chủ sở hữu nên có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt đối với tài sản, khi không còn nhu cầu sử dụng, họ có quyền chuyển
nhượng tài sản này cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác. Tuy nhiên, quan hệ hợp
đồng bảo hiểm được phát sinh giữa BMBH và DNBH, còn chủ thể nhận chuyển
nhượng tài sản là bên thứ ba xuất hiện sau khi hợp đồng bảo hiểm đã được xác lập và
không có quyền lợi đối với tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng, do vậy DNBH này
không có trách nhiệm gánh vác rủi ro thay cho chủ thể này. Việc chuyển nhượng tài
sản bảo hiểm làm xuất hiện sự mâu thuẫn trong chủ thể ký kết và người có quyền lợi
đối với tài sản, gây ra khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng và có thể dẫn đến
hậu quả chấm dứt hợp đồng BHTS đã ký. Do đó, để khắc phục sự mâu thuẫn về lợi
ích của các thành viên trong xã hội, pháp luật về BHTS ở nước ta đã ghi nhận việc
34
chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là một trong các quyền của BMBH.
Trên thực tế, để thực hiện hợp đồng và tránh phát sinh tranh chấp khi BMBH
không còn lợi ích bảo hiểm như khi ký kết hợp đồng, các DNBH luôn đề cập trường
hợp chuyển nhượng tài sản trong Quy tắc bảo hiểm để làm căn cứ áp dụng. Cụ thể,
tại Điều 2 Quy tắc bảo hiểm xe ô tô của công ty Bảo Việt thì: “trong thời gian hiệu
lực của hợp đồng nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có
hiệu lực đối với chủ xe mới và chấm dứt hiệu lực đối với chủ xe cũ ngay tại thời điểm
quyền sở hữu xe được chuyển cho chủ xe mới. Trường hợp chủ xe cũ không chuyển
quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới và có yêu cầu hủy hợp đồng bảo hiểm thì Bảo Việt
sẽ hoàn phí bảo hiểm cho chủ xe cũ 70% phí bảo hiểm của thời gian còn lại.” Đồng
thời, tại mục 8 phần Các điều kiện chung trong Quy tắc bảo hiểm mọi rủi ro tài sản
của Công ty bảo hiểm Liberty quy định: trong tình huống quyền lợi đối với tài sản
được bảo hiểm chuyển giao khỏi người được bảo hiểm không do di chúc hay do hoạt
động pháp luật thì bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực đối với tài sản bị ảnh hưởng, trừ
khi trước khi phát sinh sự cố gây ra thiệt hại người được bảo hiểm đã được sự chấp
thuận của công ty Bảo hiểm bằng điều khoản Sửa đổi bổ sung vào Hợp đồng bảo
hiểm do công ty bảo hiểm hay đại diện của họ ký.
Bên cạnh đó, để đảm bảo công bằng trong quá trình thực hiện hợp đồng và
quyền lợi giữa các chủ thể tham gia bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng, căn cứ
quy định tại Điều 26 Luật KDBH thì BMBH có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo
hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, đồng thời họ phải thông báo bằng
văn bản cho DNBH về việc chuyển nhượng và nhận được văn bản chấp thuận việc
chuyển nhượng thì mới làm phát sinh hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng hợp đồng
bảo hiểm, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế.
Tuy nhiên pháp luật hiện hành chưa quy định về thời hạn tối đa phải trả lời của DNBH
dẫn đến việc một số tổ chức cố tình kéo dài thời gian, tạo ra sức ép, gây cản trở và
ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của BMBH.
Như vậy, trong chuyển nhượng hợp đồng BHTS, quyền và nghĩa vụ của BMBH
đồng thời được chuyển đổi sang bên nhận chuyển nhượng hợp đồng, nói một cách
khác, nếu như DNBH đồng ý việc chuyển nhượng hợp đồng thì DNBH có quyền yêu cầu
35
bên nhận chuyển nhượng phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký,
như: đóng phí bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin,… Từ việc chuyển nhượng này,
DNBH và bên nhận chuyển nhượng có mối liên hệ ràng buộc với nhau thông qua hợp
đồng BHTS, tuy nhiên đây không phải là hợp đồng mới mà chỉ là sự tiếp nối thực hiện
những nội dung đã thỏa thuận, chuyển giao tất cả quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đã ký
nên chỉ được thực hiện khi DNBH đồng ý.
2.2. Pháp luật về đối tượng bảo hiểm tài sản
2.2.1. Các loại tài sản được bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm
Quan hệ BHTS được phát sinh giữa BMBH và DNBH trên cơ sở các bên tiến
hành xác lập hợp đồng bảo hiểm có đối tượng là tài sản. Theo quy định tại Điều 40
Luật KDBH thì: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật
có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản”. Đây cũng chính là các
loại hình tài sản được quy định trong BLDS, như vậy có thể phân các đối tượng của
hình thức bảo hiểm này thành hai nhóm: tài sản là bất động sản và tài sản là động sản.
Trong đó, các loại đối tượng bảo hiểm thường thấy là: nhà cửa, công trình kiến trúc
gắn liền với đất, các trang thiết bị máy móc, hàng hóa, vật tư,… Tương ứng với mỗi
loại tài sản, DNHB sẽ cung cấp cho BMBH nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau, các loại
hình BHTS phổ biến là: bảo hiểm nhà xưởng thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất,
bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm công trình xây dựng, bảo hiểm mùa màng, vật nuôi…
Đối tượng của BHTS khá đa dạng, phong phú với nhiều loại hình khác nhau,
trong đó có một loại tài sản đặc trưng là quyền tài sản. Quyền tài sản trong giao dịch
dân sự phải được định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác. Tuy
nhiên, quyền tài sản là rất ít khi là đối tượng của hợp đồng BHTS, chẳng hạn quyền
sở hữu trí tuệ là một trong các loại hình của quyền tài sản nhưng chưa có loại bảo
hiểm nào đối với loại hình này. Nguyên nhân có thể xuất phát từ đặc trưng riêng biệt
của các tài sản này, cụ thể sở hữu trí tuệ thường là đối tượng tài sản khó thể xác được
tính định hình, định lượng của nó, giá trị các tài sản này được thay đổi liên tục bởi rất
nhiều tác động khác nhau. Mặc dù không trở thành đối tượng của hợp đồng nhưng
các quyền tài sản vẫn được bảo vệ và chuyển giao trong quá trình thực hiện hoạt động
bảo hiểm, khi xảy ra các thiệt hại làm giảm sút giá trị của tài sản thì DNBH sẽ tiến
36
hành bồi thường cho BMBH để đảm bảo quyền sử dụng và khai thác các lợi ích từ
đối tượng bảo hiểm, nhanh chóng khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh, trường
hợp lỗi gây ra tổn thất là do người thứ ba thì sau khi bồi thường tiền bảo hiểm, quyền
yêu cầu người thứ ba bồi thường thiệt hại sẽ được chuyển giao từ BMBH sang DNBH.
Để trở thành đối tượng được bảo hiểm, các tài sản này phải đáp ứng các điều
kiện nhất định, cụ thể:
Một là, tài sản thuộc đối tượng bảo hiểm phải đang tồn tại tại thời điểm giao kết
hợp đồng hoặc có cơ sở được hình thành trong tương lai (công trình xây dựng). Dựa
vào các tài sản có thực các bên tham gia mới có thể xác định được đối tượng bảo
hiểm, hiện trạng và giá trị tài sản. Từ đó thống nhất mức phí bảo hiểm, phỏng đoán
được các rủi ro có khả năng xảy ra và cơ sở để xác lập mức bồi thiệt hại khi xảy ra
các sự kiện bảo hiểm làm tài sản bị giảm sút so với giá trị ban đầu.
Hai là, BMBH phải có quyền lợi đối với đối tượng được bảo hiểm. Các quyền
lợi này phải được xác định được giá trị, có thể quy đổi ra bằng tiền, dựa trên cơ sở quyền
sở hữu, sử dụng hợp pháp của BMBH tại thời điểm giao kết hợp đồng. Khi thiệt hại xảy
ra làm sụt giảm so với giá trị ban đầu của các đối tượng bảo hiểm và BMBH là người
gánh chịu hoặc ảnh hưởng bởi những tổn thất nhất định, đây là cơ sở để xác lập việc
chuyển giao trách nhiệm gánh chịu thiệt hại giữa các bên tham gia.
Ba là, sự kiện bảo hiểm chưa xảy đối với tài sản ra tại thời điểm giao kết hoặc
đang xảy ra mà các bên không biết về việc đó, đồng thời, BMBH phải mô tả đúng tài
sản là đối tượng bảo hiểm, đảm bảo tính trung thực, không được cung cấp thông tin
sai lệch, không lừa dối DNBH.
Như vậy, với mục đích đáp ứng nhu cầu khắc phục rủi ro về tài sản của con
người, các đối tượng bảo hiểm theo quy định pháp luật Việt Nam rất đa dạng, giúp
hệ thống BHTS ngày càng phát triển rộng rãi, tiếp cận rộng hơn đến với mọi người,
khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế, góp phần ổn định xã hội.
2.2.2. Giá trị tài sản bảo hiểm
Trong quan hệ BHTS, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là tài sản, do đó giá trị của
những vật chất này là cơ sở để xác định giá trị của từng hợp đồng riêng biệt. Đối với mỗi
37
loại tài sản, tùy theo tính chất, thời gian, mục đích sử dụng mà giá trị tài sản bảo hiểm được
xác định bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên phải được tính bằng giá trị thực tế của tài
sản tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, trong đó:
- Đối với tài sản mới, giá trị bảo hiểm được tính bằng giá trị mua mới trên thị
trường cộng với chi phí vận chuyển, lắp đặt, chi phí làm mới, xây dựng mới tài sản.
- Đối với tài sản đã qua sử dụng, giá trị bảo hiểm của tài sản có thể xác định
bằng nguyên giá tài sản trừ đi giá trị khấu hao trong thời gian sử dụng để tính giá trị còn
lại làm cơ sở xác định giá trị bảo hiểm; hoặc đối với tài sản có giá trị lớn, có tính chất phức
tạp, DNBH và BMBH khó có thể tự mình xác định hoặc không thống nhất được giá trị tài
sản thì giá trị bảo hiểm có thể tính trên cơ sở kết luận của hội đồng thẩm định giá hoặc
chuyên gia giám định độc lập để đánh giá lại giá trị của tài sản.
Việc xác định giá trị tài sản được bảo hiểm là cơ sở then chốt giúp xác định mức phí
bảo hiểm và số tiền bảo hiểm cho tài sản đó để BMBH, DNBH xem xét chấp nhận hoặc
thương lượng lại một số tiền hợp lý khác đi đến sự thống nhất các thỏa thuận và tiến hành
ký kết hợp đồng BHTS, là một phương pháp hạn chế phát sinh tranh chấp giữa các chủ
thể tham gia. Đồng thời, căn cứ vào giá trị này có thể xác định tính hợp lý, hợp pháp để
chia hợp đồng BHTS thành nhiều loại khác nhau như:
Thứ nhất, hợp đồng BHTS trên giá trị. Đây là các hợp đồng BHTS được xác
lập mà trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại
thời điểm giao kết hợp đồng. Để minh họa cho loại hợp đồng này, tác giả xin đề cập
đến ví dụ sau:
Công ty A ký hợp đồng mua bảo hiểm mọi rủi ro cho nhà xưởng của công ty A
với công ty bảo hiểm B, giá trị thực tế của tài sản là 1 tỷ đồng, tuy nhiên lợi dụng việc
công ty bảo hiểm B không biết giá trị này, công ty A đã khai báo trong đơn bảo hiểm
là 2 tỷ đồng, đây cũng là số tiền bảo hiểm được các bên thống nhất trong hợp đồng
bảo hiểm. Trong thời hạn hợp đồng, nhà xưởng bị xảy ra hỏa hoạn thiệt hại 100%.
Công ty A yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường theo số tiền bảo hiểm.
Trong ví dụ trên, công ty A là chủ sở hữu của nhà xưởng do đó có quyền mua
hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro cho tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, tuy nhiên
theo quy định của pháp luật về BHTS hiện hành, giá trị tài sản bảo hiểm được tính
38
dựa trên giá trị thực tế theo giá thị trường, do đó, lợi ích được bảo hiểm của công ty
A chỉ tương đương với phần giá trị thực tế của nhà xưởng là 1 tỷ đồng. Việc công ty
A cố tình nâng cao mức giá trị tài sản trong hợp đồng bảo hiểm đã dẫn đến sự chênh
lệch về quyền lợi được nhận và số tiền bồi thường là 1 tỷ đồng, đây là khoản lợi mà
công ty A cố tình gian dối trong khi tham gia bảo hiểm mới có được.
Để tránh tình trạng người được bồi thường nhận được một khoản tiền vượt quá
quyền lợi mà họ có được từ tài sản, sự sụt giảm giá trị tài sản do sự kiện bảo hiểm
gây ra được tính theo giá trị thực tế theo giá thị trường của đối tượng bảo hiểm, phần
giá trị chênh lệch mà BMBH được hưởng có thể được xem là khoản trục lợi bất chính
từ việc tham gia BHTS. Do đó, DNBH và BMBH không được giao kết hợp đồng bảo
hiểm trên giá trị. Tuy nhiên trong trường hợp BMBH có lỗi vô ý dẫn đến việc giao
kết hợp đồng BHTS trên giá trị (nhầm tưởng hoặc không biết giá trị của tài sản theo
thị trường,…) thì DNBH phải hoàn trả lại số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số
tiền bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm sau khi trừ các chi phí hợp lý có liên quan,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của DNBH không vượt quá giá thị trường của tài
sản. Tuy nhiên, pháp luật về không quy định thế nào được xem là lỗi vô ý của BMBH,
mà việc xác định lỗi vô ý dựa trên nhiều cách hiểu đa chiều người áp dụng luật.
Thứ hai, hợp đồng BHTS dưới giá trị. Đây là hợp đồng trong đó số tiền bảo
hiểm thấp hơn giá trị thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp
đồng. Trên thực tế, đây là một trường hợp diễn ra khá phổ biến bởi khi xác lập hợp
đồng bảo hiểm dưới giá trị thì phần phí bảo hiểm sẽ thấp hơn so với số tiền phí theo
giá trị thực tế của tài sản. Khi đó, để đảm bảo cân bằng giữa sự đóng góp và mức
hưởng thụ, DNBH chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm
và giá trị thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.
Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm trùng. Hợp đồng bảo hiểm trùng xảy ra trong trường
hợp một người tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm với từ hai DNBH trở lên để bảo
hiểm cho cùng một tài sản với các điều kiện và sự kiện bảo hiểm như nhau. Pháp luật
về BHTS không nghiêm cấm việc BMBH mua bảo hiểm cho tài sản của mình ở nhiều
tổ chức khác nhau, do đó một số đối tượng đã lợi dụng điều này và tiến hành ký nhiều
hợp đồng BHTS cho cùng một đối tượng bảo hiểm, tuy nhiên họ lại không hề cung
39
cấp thông tin về việc xác lập nhiều hợp đồng bảo hiểm trùng cho DNBH biết và các
tổ chức này cũng không thể biết được điều này bởi sự cạnh tranh trên thị trường dẫn
đến việc các công ty không muốn chia sẻ thông tin khách hàng cho nhau. Bởi vậy, khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm, sẽ phát sinh vấn đề BMBH có thể nhận được một khoản lợi lớn
từ việc tham gia nhiều BHTS, vượt quá tổn thất mà họ gánh chịu. Để tránh tình trạng
trục lợi trong BHTS khi các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, mỗi DNBH chỉ bồi
thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất
cả các hợp đồng mà BMBH đã giao kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, ngoài ra tổng số
tiền bồi thường của các DNBH không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế, đảm bảo nguyên
tắc về bồi thường trong BHTS.
2.3. Quy định pháp luật về các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản
2.3.1. Phạm vi bảo hiểm
Trong quan hệ BHTS, với mục đích hạn chế các thiệt hại cho khách hàng mà
vẫn đảm bảo được phương thức kiếm lợi nhuận từ kinh doanh rủi ro của nhà cung
cấp dịch vụ, các chủ thể tham gia luôn phải thống nhất đặt ra một giới hạn nhất định
về các trường hợp có thể xảy ra làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Với phạm vi
này, giá trị tài sản sẽ được bảo vệ khi có những thiệt hại về vật chất do sự kiện được
ghi nhận trong hợp đồng bảo hiểm gây ra.
Phạm vi bảo hiểm thường được xây dựng từ cơ sở các quy tắc và hợp đồng bảo
hiểm, do DNBH đặt ra, phù hợp các quy định pháp luật đối với từng loại hình tài sản.
Ngoài ra, DNBH cũng có thể cùng BMBH cùng nhau thỏa thuận để đưa ra khoảng
giới hạn những rủi ro, loại tổn thất, chi phí phát sinh và người sẽ gánh vác nếu có
thiệt hại xảy ra. Trong khung giới hạn chung này, mặc dù tổn thất xảy ra đối với tài
sản thuộc phạm vi bảo hiểm nhưng người được bảo hiểm cần có đủ các điều kiện
được hưởng thì DNBH mới tiến hành chi trả tiền bồi thường theo cam kết. Chẳng
hạn, đối với bảo hiểm xe ô tô, căn cứ Khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm
2008 về việc nghiêm cấm hành vi điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe
theo quy định, đồng thời trong quy tắc bảo hiểm xe ô tô của Công ty bảo hiểm Bảo
Việt thì người lái phải có Giấy phép lái xe, nên để được yêu cầu bồi thường thiệt hại
khi xảy ra tai nạn hoặc các sự kiện khác trong phạm vi bảo hiểm, người được bảo
40
hiểm phải có Giấy phép lái xe theo quy định. Nếu không đáp ứng đủ điều kiện này,
DNBH có quyền từ chối thực hiện trách nhiệm bồi thường cho khách hàng, đây cũng
là một trong các trường hợp loại trừ bảo hiểm trên cơ sở pháp luật và quy tắc bảo
hiểm doanh nghiệp đặt ra và thể hiện bằng thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm.
2.3.2. Sự kiện bảo hiểm
Dưới góc độ pháp luật, sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa
thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì DNBH phải trả tiền bảo
hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Trong bảo
hiểm nhân thọ, sự kiện bảo hiểm phải gắn liền với sự sống hay chết của người được
bảo hiểm, ngược lại đối với bảo hiểm phi nhân thọ, sự kiện bảo hiểm là rủi ro mang
tính khách quan, tác động xấu đến đối tượng bảo hiểm của người tham gia. Những sự
kiện này có thể do các bên tự nguyện thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật
quy định, có hiệu lực pháp lý đối với các bên tham gia ký kết. Có thể thấy dù nhận
định dưới góc độ nào, rủi ro đều là cơ sở để hình thành nên quan hệ bảo hiểm.
Trong BHTS, sự kiện bảo hiểm được các bên thỏa thuận là các rủi ro có thể xảy
ra bất ngờ và xâm hại trực tiếp đến đối tượng bảo hiểm. Đây là thỏa thuận có tác động
trực tiếp đến quyền lợi của chủ thể tham gia, thường được các bên dự liệu trước và
thể hiện trong hợp đồng, từ đó xác định cơ sở chi trả các tổn thất mà BMBH đang
gánh chịu. Tuy nhiên, không phải sự kiện thỏa thuận nào cũng được xem là sự kiện
bảo hiểm, mà các rủi ro này phải đáp ứng đủ các điều kiện:
Một là, sự kiện do các bên thỏa thuận và thống nhất với nhau, đây là một nội
dung bắt buộc phải có trong hợp đồng bảo hiểm. Ngoài ra, về hình thức, hợp đồng
bảo hiểm phải được lập thành văn bản nên các sự kiện này sẽ được ghi nhận một cách
rõ ràng để xác định các trường hợp làm phát sinh trách nhiệm của DNBH.
Hai là, sự kiện phát sinh nằm trong phạm vi bảo hiểm và không thuộc các trường
hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của DNBH.
Ba là, có thiệt hại xảy ra đối với tài sản. Căn cứ Khoản 1 Điều 46 Luật KDBH
quy định: “Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được
bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá trị thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời
điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
41
trong hợp đồng bảo hiểm.” Trên cơ sở đó, các đối tượng bảo hiểm đều xác định được giá
trị nên các tổn thất làm giảm sút giá trị có thể tính toán được một cách cụ thể và quy đổi
bằng tiền để xác định số tiền DNBH phải chi trả cho người được bảo hiểm, đây là căn cứ
xác định trách nhiệm và số tiền bồi thường tổn thất, nếu không có mất mát thì sự quy đổi
giá trị sụt giảm đều bằng không, do đó nếu một rủi ro được thỏa thuận là sự kiện bảo hiểm
nhưng không gây ra thiệt hại thì DNBH cũng không phải bồi thường. Vậy nên trách nhiệm
bồi thường của DNBH phát sinh khi có đủ các yếu tố: sự kiện bảo hiểm xảy ra và gây thiệt
hại cho tài sản.
Bốn là, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và rủi ro xảy ra. Trong phạm vi
các điều khoản thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm, DNBH chỉ cam kết gánh chịu
những thiệt hại từ tài sản cho BMBH do các sự kiện bảo hiểm gây ra. Bởi vậy, khi
đối tượng bảo hiểm có tổn thất nhưng không phải do các rủi ro được ghi nhận trong
hợp đồng các bên đã ký thì DNBH có quyền từ chối bồi thường nhằm đảm bảo sự
công bằng cho các bên tham gia vào quan hệ BHTS.
2.3.3. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm
Thực chất, việc DNBH đồng ý gánh chịu các tổn thất cho người mua bảo hiểm
được cam kết dựa trên khả năng tài chính của chính mình, nên để thực hiện được hoạt
động trên, các doanh nghiệp cần phải có tiềm lực kinh tế ổn định và duy trì được khả
năng tài chính của mình một cách bền vững. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với
DNBH mà có vai trò quan trọng đối với BMBH, bởi hơn ai hết, đây là người không
mong muốn thiệt hại xảy ra với mình và mục đích khi tham gia bảo hiểm là sự an
toàn về tài chính được đảm bảo bởi DNBH, vì vậy DNBH có kinh tế vững chắc mới
đảm bảo được khả năng thanh toán cho họ. Nếu như các sự kiện bảo hiểm là cơ sở để
tạo thành phạm vi bảo hiểm thì trường hợp loại trừ trách nhiệm được xác lập lại nhằm
thu hẹp phạm vi bảo hiểm và giảm trách nhiệm chịu rủi ro nhằm bảo vệ DNBH tránh
tình trạng mất khả năng thanh toán, tạo ra sự công bằng giữa mức đóng phí bảo hiểm
và số tiền bồi thường, bảo vệ được tối ưu quyền lợi BMBH và mở rộng thêm cơ hội
cho nhiều đối tượng khác tham gia vào quan hệ BHTS.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm được xác định bởi các điều khoản loại trừ
trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của pháp luật, quy tắc bảo hiểm và hợp đồng bảo
42
hiểm. Đây là các trường hợp mặc dù có xảy ra sự kiện bảo hiểm nhưng DNBH không
phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm, dẫn đến hậu quả pháp lý là loại
bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của DNBH, một nghĩa vụ quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi người đang gánh chịu tổn thất mặc dù BMBH đã đóng các
khoản phí bảo hiểm đầy đủ theo yêu cầu. Vì vậy các điều khoản loại trừ trách nhiệm
bảo hiểm phải được quy định và giải thích rõ cho BMBH khi giao kết để tránh các
xung đột về lợi ích, mâu thuẫn có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Theo Điều 16 Luật KDBH chỉ quy định việc không áp dụng điều khoản loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp: BMBH cố ý vi phạm pháp luật do vô ý; BMBH
có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho DNBH về việc xảy ra sự kiện bảo
hiểm. Tuy nhiên pháp luật chưa có quy định cụ thể các trường hợp loại trừ trách
nhiệm được phép áp dụng, vì vậy điều khoản này sẽ được xây dựng bằng các thỏa
thuận giữa DNBH và BMBH trên cơ sở pháp luật, truyền thống văn hóa, đạo đức, xã
hội. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm thường thấy có thể kể đến bao gồm:
- Lỗi cố ý của BMBH là nguyên nhân dẫn đến sự kiện bảo hiểm. Trong dân sự,
căn cứ quy định tại Điều 364 BLDS thì lỗi cố ý là khi một người nhận thức rõ hành
vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Trong BHTS, mục đích
các bên ảnh hưởng tới là bảo vệ lợi ích tài chính của người được bảo hiểm trước các
rủi ro bất ngờ có thể xảy ra, nằm ngoài dự đoán và điều khiển của DNBH và BMBH.
BMBH có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về an toàn, biện pháp đề phòng, hạn chế
tổn thất đối với tài sản và thông báo cho DNBH biết các trường hợp có thể tăng khả
năng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của họ. Như vậy, trong quá trình
thực hiện hợp đồng BHTS, trước hết BMBH phải là người chủ động thực hiện tốt các
nghĩa vụ của mình, nên lỗi cố ý của BMBH là nguyên nhân dẫn đến sự kiện bảo hiểm
đã đi ngược lại với bản chất của hoạt động BHTS, là trường hợp dẫn đến loại trừ trách
nhiệm của DNBH để nâng cao ý thức trách nhiệm của BMBH, tránh trục lợi bảo
hiểm, mặc dù có xảy ra sự kiện bảo hiểm. Ví dụ: ông X là chủ lô hàng đồ gỗ đang
bảo quản tại nhà xưởng của ông, để phòng tránh các rủi ro xảy ra, ông đã mua bảo
hiểm cho lô hàng này tại Công ty bảo hiểm B, tuy nhiên, trong thời hạn hợp đồng bảo
43
hiểm, phần mái nhà xưởng nơi bảo quản số đồ gỗ nói trên bị xuống cấp và hư hỏng
nặng nhưng ông X bỏ mặc trong nhiều ngày mà không tiến hành sửa chữa cũng không
che chắn số gỗ này dẫn đến hậu quả sau nhiều ngày mưa, số hàng gỗ đã bị ướt, ẩm
mốc, hư hỏng nặng. Ông X yêu cầu công ty B trả tiền bảo hiểm nhưng công ty đã từ
chối vì thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm. Việc từ chối của DNBH là có cơ sở,
bởi lẽ dù không mong muốn nhưng ông X lại để mặc cho thiệt hại xảy ra, ông cũng
biết trước việc không sửa chữa mái nhà có thể làm cho số gỗ bị ướt và hư hỏng khi
trời mưa nhưng cố ý không thực hiện các biện pháp bảo quản để đề phòng, hạn chế
tổn thất dẫn đến hậu quả tất cả tài sản bị hư hỏng nặng và tự ông gánh chịu tổn thất.
- Tổn thất được gây ra từ quá trình hao mòn tự nhiên, khuyết tật của tài sản trong
quá trình chế tạo, sản xuất, chế biến. Tuy nhiên trường hợp các bên có thỏa thuận
khác trong hợp đồng BHTS dẫn đến việc DNBH chấp nhận các tổn thất này thì không
được xem là trường hợp loại trừ trách nhiệm.
- Tổn thất từ các cuộc chiến tranh, đình công, bãi công, phóng xạ hạt nhân, sự
kiện bất khả kháng. Đây mặc dù là những sự kiện xảy ra bất ngờ, không thể lường
trước được, tuy nhiên thiệt hại trong các trường hợp này thường ở mức độ rất cao với
phạm vi và đối tượng chịu tổn thất nhiều, tạo sức ép tài chính lớn, thậm chí có thể
vượt quá khả năng chi trả của các DNBH nên việc tổ chức kinh doanh bảo hiểm từ
chối bồi thường với các sự kiện này để nhằm đảm bảo sự an toàn về tài chính cho bản
thân mình và các chủ thể khác tham gia BHTS.
- Khi BMBH không còn quyền lợi đối với đối tượng bảo hiểm, đây là lợi ích
hợp pháp, tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng và xác định được giá trị.
Như vậy, không phải lúc nào DNBH cũng thực hiện trách nhiệm bảo hiểm đối
với người được bảo hiểm, các trường hợp dẫn đến loại trừ nghĩa vụ bảo hiểm không
làm thay đổi bản chất của BHTS mà nhằm đảm bảo sự trung thực, khách quan, công
bằng trong hoạt động bảo hiểm, được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật và
chuẩn mực văn hóa đạo đức được ghi nhận, ổn định trật tự nền kinh tế xã hội.
2.4. Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm
2.4.1. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
Đối với BHTS, các chủ thể xác lập mối liên hệ và gắn kết với nhau trên cơ sở
44
thực hiện hợp đồng bảo hiểm, do đó mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng
với các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu như BMBH có trách nhiệm đóng
phí bảo hiểm thì ngược lại DNBH phải có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm bồi thường
khi tài sản được bảo hiểm có tổn thất do các rủi ro được ghi nhận trong hợp đồng gây
ra. Theo quy định tại Điều 15 Luật KDBH hiện hành thì thời điểm phát sinh trách
nhiệm bảo hiểm của DNBH được xác định trong các trường hợp sau:
- Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và BMBH đã đóng đủ phí bảo hiểm;
- Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa DNBH và
BMBH về việc BMBH nợ phí bảo hiểm;
- Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và BMBH đã
đóng đủ phí bảo hiểm.
Bên cạnh đó, căn cứ Khoản 1 Điều 284 BLDS năm 2015 quy định về thực hiện
nghĩa vụ có điều kiện thì: “trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh bên có nghĩa vụ phải
thực hiện.” BHTS là một loại hình dịch vụ tài chính nên DNBH chỉ phát sinh trách
nhiệm bảo hiểm khi BMBH thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo biểm hoặc DNBH đồng
ý cho BMBH nợ phí bảo hiểm, nói một cách khác, trách nhiệm bồi thường bảo hiểm
là một trong các trường hợp thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, chỉ được thực hiện khi:
xảy ra sự kiện bảo hiểm và BMBH không vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo biểm.
Để làm rõ thực trạng xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của
DNBH, trong phạm vi đề tài này, học viên xin đề cập đến vụ án “tranh chấp hợp
đồng bảo hiểm cháy nổ” giữa nguyên đơn Công ty TNHH HB và bị đơn Tổng công
ty bảo hiểm P, người có quyền lợi liên quan là công ty bảo hiểm ĐNB theo Bản án
số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 của TAND tỉnh Đồng Nai. Nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Ngày 05/12/2011, công ty TNHH HB và công ty Bảo hiểm ĐNB ký hợp đồng
bảo hiểm cháy nổ bắt buộc số C078/CHBB/20/08/2011 toàn bộ nhà xưởng vật kiến
trúc, máy móc và hàng hóa, giá trị tài sản được bảo hiểm là 16.697.640.538 đồng, số
tiền bảo hiểm: 269.477.427.000 đồng, thời hạn bảo hiểm là 12 tháng kể từ 16 giờ
ngày 05/12/2011 cho đến 16 giờ ngày 05/12/2012, phí bảo hiểm là 584.550.435 đồng,
45
thời hạn thanh toán phí bảo hiểm được chia làm 4 kỳ trong thời hạn hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, 3 kỳ ban đầu đóng phí bảo hiểm đã được
HB thanh toán đầy đủ. Kỳ thanh toán thứ 4 quy định tại Điều 4.2 của hợp đồng bảo
hiểm với số tiền thanh toán là 146.137.611 đồng trong vòng 300 ngày kể từ ngày cấp
GCN/HĐBH (tức trước ngày 05/10/2012). Do đó, ngày 17/09/2012 công ty ĐNB đã
phát hành thông báo thu phí bảo hiểm số 11/2018/CBHH/PC00078 yêu cầu công ty
HB thanh toán phí bảo hiểm kỳ 4 trước ngày 05/10/2012. Tuy nhiên, đến ngày
16/10/2012, công ty HB mới thanh toán, như vậy HB đã không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán phí bảo hiểm đúng quy định, đã chậm 11 ngày so với thời hạn phải nộp.
Ngày 17/10/2012, khu vực hút ẩm xưởng số 6 của HB bị cháy, cùng ngày HB
đã gửi công văn thông báo cho Tổng công ty bảo hiểm P và công ty bảo hiểm ĐNB
đề nghị kiểm tra thẩm định tài sản bị thiệt hại và đề nghị được khắc phục hậu quả
theo những điều khoản đã ký kết. Sau khi giám định thiệt hại sơ bộ, ngày 26/10/2012,
công ty HB gửi công văn số 223/CVCT012 cho ĐNB về việc báo cáo tổn thất thiệt
hại tài sản bị cháy ngày 17/10/2012 với tổng thiệt hại là 16.697.640.538 đồng. Đến
ngày 09/01/2012, công ty ĐNB gửi công văn số 05/ĐNBH-GĐBT cho công ty HB
với nội dung không chịu trách nhiệm bảo hiểm đối với vụ tổn thất ngày 17/10/2012
vì công ty HB đã vi phạm thời hạn thanh toán nên hợp đồng bảo hiểm đã chấm dứt.
Do đó, hai bên phát sinh tranh chấp và không tự giải quyết được, công ty TNHH HB
đã khởi kiện yêu cầu Tổng công ty bảo hiểm P bồi thường thiệt hại cho HB số tiền
9.311.206.644 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bản án sơ thẩm số 04/2017/KDTM-PT của TAND TP Biên
Hòa tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH HB, buộc Tổng công ty bảo
hiểm P bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn số tiền 9.311.206.644 đồng.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ
thẩm. Tuy nhiên trong phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đã thỏa thuận được với
nhau về nội dung giải quyết của vụ án nên HĐXX TAND tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
sửa bản án sơ thẩm theo sự thỏa thuận của đương sự; Tổng công ty bảo hiểm P có trách
nhiệm cùng với Công ty bảo hiểm ĐNB thanh toán cho công ty TNHH HB số tiền thiệt
46
hại theo hợp đồng bảo hiểm cháy nổ đã ký là 5.000.000.000 đồng.
Mặc dù các bên đã thống nhất được phương án giải quyết tranh chấp và được ghi
nhận trong bản án số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 của TAND tỉnh Đồng Nai,
tuy nhiên tác giả xin có một vài phân tích, bình luận nội dung vụ án như sau:
Một là, về thời hạn thanh toán phí bảo hiểm, căn cứ theo hợp đồng bảo hiểm số
C078/CHBB/20/08/2011 ngày 05/12/2011 giữa các đương sự và thông báo thu phí
bảo hiểm số 11/2018/CBHH/PC00078 ngày 17/09/2012 thì thời hạn thanh toán phí
bảo hiểm kỳ thứ 4 là ngày 05/10/2012, tuy nhiên đến ngày 16/10/2012 công ty TNHH
HB mới tiến hành thanh toán đã vi phạm thời hạn thanh toán phí bảo hiểm.
Hai là, khi quá thời hạn thanh toán phí bảo hiểm, công ty HB không có văn bản
đề nghị gia hạn và hai bên cũng không có thỏa thuận nào về việc gia hạn việc thực
hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm kỳ thứ 4. Do đó, nếu như hợp các bên không có thỏa
thuận khác thì căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Luật KDBH, công ty TNHH
HB không đóng đủ phí bảo hiểm theo thời hạn đã thỏa thuận là một trong các cơ sở
để chấm dứt hợp đồng bảo hiểm đã ký. Tuy nhiên, hợp đồng dân sự được giao kết
hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác, hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị
nhận được trả lời chấp nhận giao kết hoặc cũng xem như được giao kết khi hết thời
hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng nếu có thỏa thuận sự im lặng là sự
trả lời chấp nhận giao kết. Do đó, ngày 16/9/2012 Công ty bảo hiểm ĐNB đã nhận
khoản tiền phí kỳ thứ 4 của Công ty HB nhưng quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa
án không tiến hành xác minh giữa các bên đương sự có sự thỏa thuận về việc tiếp tục
thực hiện hợp đồng đã ký sau khi nhận được số phí bảo hiểm còn lại hay không đã bỏ
sót tình tiết quan trọng để xác định hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm số
C078/CHBB/20/08/2011. Trong trường hợp này, nếu như Công ty bảo hiểm ĐNB
không từ chối và tiến hành xuất hóa đơn cho số tiền bảo hiểm của Công ty HB đã nộp
thì đây là chứng cứ quan trọng chứng minh sự giao kết hợp đồng bảo hiểm và BMBH
đã đóng đủ phí bảo hiểm, là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường của một DNBH
theo quy định của pháp luật về BHTS.
Ba là, căn cứ Điều 300 BLDS năm 2005 thì nghĩa vụ dân sự phân chia được
47
theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ là vật chia được hoặc công việc có
thể chia thành nhiều phần để thực hiện, bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần
nghĩa vụ trừ trường hợp có thỏa thuận khác, do đó nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của
Công ty TNHH HB là hình thức thực hiện nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần.
Trong phạm vi vụ án này, công ty HB đã thực hiện được một phần nghĩa vụ theo thỏa
thuận của hợp đồng bảo hiểm số C078/CHBB/20/08/2011 tương ứng số tiền bảo hiểm
438.412.824 đồng (phí bảo hiểm trong 3 kỳ thanh toán), đồng thời sự kiện hỏa hoạn
xảy ra ngày 17/10/2012 vẫn nằm trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm và không thuộc
các trường hợp loại trừ trách nhiệm của DNBH được quy định tại Điều 16 Thông tư
220/2010/TT-BTC. Do đó, Tổng công ty bảo hiểm P vẫn phải có trách nhiệm bồi
thường bảo hiểm tương ứng với mức phí bảo hiểm đã nhận theo hợp đồng bảo hiểm,
nên việc liên đới cùng Công ty bảo hiểm DNBH chi trả số tiền thiệt hại cho Công ty
TNHH HB theo hợp đồng bảo hiểm cháy nổ đã ký là 5.000.000.000 đồng là hoàn
toàn có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật.
Như vậy, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH không phải là
thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mà được tính khi BMBH đã đóng góp vào quỹ
bảo hiểm và xảy ra rủi ro, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của BMBH khi
tham gia vào quan hệ BHTS, tránh việc ỷ lại hợp đồng đã ký kết không muốn đóng
phí bảo hiểm mà vẫn yêu cầu được DNBH chi trả tiền bồi thường các tổn thất xảy ra.
2.4.2. Giám định tổn thất, thiệt hại
Tổn thất là những gì đã xảy ra, là hậu quả của rủi ro. Giám định tổn thất trong
bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn thất, tính toán
phân bổ trách nhiệm bồi thường làm cơ sở để giải quyết bồi thường bảo hiểm.
Trách nhiệm thực hiện hoạt động giám định tổn thất trước hết là thuộc về DNBH
hoặc người đang được DNBH ủy quyền thực hiện để xác định nguyên nhân và mức
độ tổn thất. Theo quy định của pháp luật hiện hành, giám định tổn thất được xem là
một trong các nội dung hoạt động của công ty bảo hiểm nên để đảm bảo tính khách
quan, công bằng trong quan hệ BHTS, DNBH không được giám định tổn thất bảo
hiểm cho hợp đồng bảo hiểm khi chính tổ chức đó đồng thời là BMBH hoặc người
được bảo hiểm hoặc người được thụ hưởng, cũng như không cung cấp dịch vụ này
48
cho hợp đồng bảo hiểm mà DNBH đó là doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và thực
hiện thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm. Bên cạnh đó, các chủ thể tiến hành giám
định phải chịu trách nhiệm về kết quả giám định của mình, kết quả giám định tổn thất
được thể hiện cụ thể trong biên bản giám định. Tuy nhiên, DNBH là người sẽ bồi
thường trên cơ sở kết quả quá trình giám định tổn thất nên không thể tránh khỏi việc
các tổ chức này kê khai không trung thực các tổn thất để giảm nhẹ trách nhiệm bảo
hiểm. Do đó, sau khi DNBH giám định, nếu các bên không thống nhất về nguyên
nhân và mức độ tổn thất thì có thể trưng cầu giám định viên độc lập, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Nếu không thỏa thuận được việc trưng
cầu giám định viên độc lập thì một trong các bên yêu cầu Tòa án nơi xảy ra tổn thất
hoặc nơi cư trú của người được bảo hiểm tiến hành chỉ định giám định viên độc lập.
Kết luận của giám định viên này có giá trị bắt buộc với các bên, chứng thư tổn thất là
cơ sở để xác định các thiệt hại xảy ra từ đó áp dụng mức bồi thường thiệt hại phù hợp.
Ở thời điểm hiện tại, pháp luật chỉ quy định về quyền yêu cầu giám định nhưng
về thời hạn thực hiện thì chưa được đề cập rõ ràng, cụ thể theo Khoản 2, Khoản 3
Điều 26a Luật Giám định tư pháp năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 thì thời hạn
giám định tư pháp ở lĩnh vực dân sự được xác định như sau:
“3. Thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc quy định tại
Khoản 2 Điều này tối đa là 03 tháng. Trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức
tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 04 tháng. Bộ, cơ
quan ngang bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp căn cứ vào thời
hạn giám định tối đa và tính chất chuyên môn của lĩnh vực giám định quy định thời
hạn giám định tư pháp cho từng loại việc cụ thể. Thời hạn giám định tư pháp có thể
được gia hạn theo quyết định của cơ quan trưng cầu giám định nhưng không quá một
phần hai thời hạn giám định tối đa đối với loại việc đó.”
Như vậy, trường hợp Tòa án trưng cầu giám định tổn thất từ sự kiện bảo hiểm
gây ra mới có thể xác định thời hạn cụ thể, tuy nhiên khi DNBH thực hiện trách nhiệm
này lại không có quy định rõ ràng nên thực tế đã có rất nhiều tổ chức lợi dụng điều
này kéo dài thời gian giải quyết, né tránh trách nhiệm bồi thường trong khi người bị
thiệt hại đang gánh chịu khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
49
Vậy nên hoạt động giám định tổn thất phải được tiến hành một cách trung thực, khách
quan, khoa học, kịp thời, chính xác để đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên
tham gia, đề ra phương án xử lý phù hợp hạn chế tối đa tổn thất có thể xảy ra.
2.4.3. Điều kiện bồi thường
Bồi thường là một hoạt động quan trọng trong quan hệ BHTS, nhằm khôi phục
lại tình trạng tài sản, khắc phục tổn thất mà người bị thiệt hại đang gánh chịu, giúp
họ nhanh chóng vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, bồi thường trong
BHTS được tiến hành khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, có tồn tại hợp đồng BHTS và BMBH đã thực hiện nghĩa vụ đóng phí
bảo hiểm. Hợp đồng là cơ sở pháp lý ràng buộc mối quan hệ giữa các bên tham gia
ký kết hợp đồng, bởi vậy DNBH và BMBH đều có các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở
thỏa thuận của hợp đồng BHTS đã ký. Hợp đồng bảo hiểm là một trong các cơ sở để
xác định phạm vi bảo hiểm, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, trách nhiệm
bảo hiểm và thủ tục bồi thường thiệt hại phát sinh.
Thứ hai, có xảy ra sự kiện bảo hiểm nằm trong phạm vi bảo hiểm. Căn cứ vào quy
tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, DNBH chỉ chịu trách nhiệm đối với các sự kiện xảy ra
trong phạm vi đã thỏa thuận, nếu rủi ro thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm thì
DNBH không phải tiến hành bồi thường các tổn thất xảy ra.
Thứ ba, có thiệt hại thực tế xảy ra. Trách nhiệm của DNBH là người gánh vác
rủi ro thay cho người chịu tổn thất, do đó nếu như không có tổn thất thì không có
quyền lợi bị ảnh hưởng để DNBH thực hiện trách nhiệm của mình. Cho dù có xảy ra
sự kiện bảo hiểm mà không có thiệt hại thực tế làm giảm sút giá trị của tài sản được
bảo hiểm thì DNBH cũng không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho BMBH.
Như vậy, chỉ khi đáp ứng đủ các điều kiện trên thì người được bảo hiểm mới có
quyền yêu DNBH thực hiện bồi thường các tổn thất xảy ra.
2.4.4. Nguyên tắc bồi thường
Với mục tiêu nhằm khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ lợi ích tài chính như
trước khi xảy ra tổn thất về tài sản cho người được bảo hiểm, trách nhiệm bồi thường
của DNBH được đặt ra dựa trên các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, mức bồi thường được xác định trên cơ sở giá thị trường của loại tài
50
sản khi tại thời điểm xảy ra rủi ro và mức độ thiệt hại thực tế.
Thứ hai, số tiền bồi thường bảo hiểm cho các tổn thất từ rủi ro gây ra không
vượt quá số tiền bảo hiểm. Trong trường hợp BMBH mua bảo hiểm cho cùng một
đối tượng, với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm ở nhiều DNBH thì khi xảy ra rủi
ro, DNBH chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa
thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả hợp đồng mà họ đã giao kết và đảm bảo
tổng số tiền bồi thường của các DNBH không vượt quá thiệt hại thực tế của tài sản.
Ngoài những nguyên tắc chung, tùy tài sản và nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau
mà có thể phát sinh một số nguyên tắc khác để đảm bảo hiệu quả pháp luật, thực tiễn
hơn. Đối với bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, DNBH còn thực hiện việc bồi thường trên
cơ sở nguyên tắc giảm trừ tối đa 10% số tiền bồi thường bảo hiểm trong trường hợp
cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ không thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị
tại Biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan Cảnh sát Phòng
cháy, chữa cháy dẫn đến tăng thiệt hại khi xảy ra cháy, nổ; đồng thời DNBH không
có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm đối với khoản tiền phát sinh, tăng thêm do hành
vi gian lận bảo hiểm quy định tại BLHS. Thực chất, các nguyên tắc trong bồi thường
bảo hiểm vẫn là được xác định trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật nhằm tạo
khung pháp lý cơ bản để giải quyết vấn đề bồi thường tổn thất thực tế cho BMBH,
đảm bảo tính khả thi trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2.4.5. Phương thức và thời hạn bồi thường
Bồi thường là công đoạn được thực hiện ở quá trình thực hiện trách nhiệm bảo
hiểm của DNBH sau khi đã xác minh và giám định tổn thất, thỏa thuận phương án
bồi thường. Việc bồi thường thường được thực hiện dưới các hình thức: Sửa chữa tài
sản bị thiệt hại, thay thế tài sản thiệt hại bằng tài sản khác, trả tiền bồi thường. Trong
đó phương thức trả tiền bồi thường được sử dụng một cách phổ biến nhất, kể cả khi
DNBH và BMBH không thỏa thuận được phương thức bồi thường thì việc bồi thường
sẽ được thực hiện bằng tiền. Trường hợp DNBH thực hiện xong trách nhiệm bồi
thường bằng cách thay thế tài sản thiệt hại bằng tài sản khác hoặc bồi thường toàn bộ
theo giá thị trường của tài sản thì họ có quyền thu hồi lại tài sản bị thiệt hại.
Khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm sẽ do DNBH chi trả sau khi
51
các bên hoàn tất các thủ tục bồi thường, cụ thể:
- BMBH phải thông báo cho DNBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Người được bảo hiểm gửi yêu cầu bồi thường đến DNBH để trình bày rõ
nguyên nhân, mức độ thiệt hại và yêu cầu trả tiền bảo hiểm, bồi thường theo hợp đồng
bảo hiểm trong thời hạn 01 năm kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm (không tính thời
gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan).
- Người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp giấy tờ cần thiết để chứng minh quyền yêu
cầu và thiệt hại thực tế xảy ra: giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp,
văn bản yêu cầu bồi thường, hợp đồng BHTS, giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo
hiểm, căn cứ chứng minh thiệt hại, văn bản ủy quyền (nếu có),…
- DNBH xác minh nguyên nhân, mức độ thiệt hại và giám định tổn thất.
- Nếu thuộc phạm vi bảo hiểm thì tiến hành chi trả tiền bảo hiểm cho BMBH
khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm.
- Nếu thuộc phạm vi loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, DNBH phải thông báo bằng văn
bản cho người được bảo hiểm giải thích rõ lý do từ chối chi trả tiền bảo hiểm.
Thời hạn để DNBH phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm được xác định theo đúng thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng BHTS,
nếu các bên không thỏa thuận thì DNBH có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm hoặc
bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ và yêu
cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường. Do đó, việc hoàn tất thủ tục bồi thường có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định thời hạn DNBH thực hiện trách nhiệm bồi
thường bảo hiểm nên thủ tục này cần tiến hành đầy đủ, nhanh chóng và trung thực để
kịp thời bảo vệ cho người có quyền lợi bị xâm phạm. Tuy nhiên, như thế nào một hồ
sơ hợp lệ và thời hạn để thu thập, bổ sung, giải quyết hồ sơ bảo hiểm chưa được pháp
luật quy định một cách rõ ràng, một số DNBH đã cố ý kéo dài thời gian chi trả tiền
bảo hiểm với mục đích sử dụng số tiền này để đầu tư lĩnh vực khác nhằm mang lại
lợi cho mình, trong khi đó tổn thất của người được bảo hiểm lại không kịp thời giải
quyết, gây ra nhiều thiệt hại phát sinh, xáo trộn đời sống sinh hoạt, sản xuất, đây cũng
là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự mất niềm tin vào các DNBH ở nước ta,
khách hàng luôn có tâm lý dè dặt khi tham gia vào BHTS, cản trở sự phát triển của
52
thị trường bảo hiểm nói chung và hoạt động kinh doanh BHTS nói riêng.
2.4.6. Chuyển giao yêu cầu bồi hoàn
Giữa người được bảo hiểm và DNBH phát sinh cam kết gánh chịu rủi ro của tài
sản của doanh nghiệp, nên khi thiệt hại xảy ra, chủ thể này phải chịu trách nhiệm bồi
thường tổn thất như thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, việc gánh vác thay này chỉ
phát sinh giữa các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm chứ không hề gánh chịu và xóa
bỏ trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật gây ra các tổn thất. Chủ thể này
sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người bị thiệt hại
với những hậu quả đã gây ra. Về bản chất, vốn là một giao dịch dân sự nên việc
chuyển yêu cầu bồi hoàn trong BHTS không chỉ được điều chỉnh bởi Luật KDBH mà
còn tuân thủ các quy định trong BLDS. Vì vậy, việc chuyển giao yêu cầu bồi thường
chỉ phát sinh giữa DNBH và người được bồi thường mà không cần có sự đồng ý của
bên thứ ba có nghĩa vụ bồi thường, trong đó DNBH sẽ là chủ thể có quyền thay thế
người thiệt hại để đòi bên có lỗi bồi hoàn các khoản tiền đã chi trả.
Để được chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, DNBH phải hoàn tất và
trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì mới được họ chuyển quyền yêu cầu
người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà DNBH đã chi trả cho người bị thiệt hại. Tuy
nhiên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật KDBH thì: “Trong trường hợp người
được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho DNBH, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền
yêu cầu người thứ ba bồi thường thì DNBH có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy
theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm.” Đây là quy định về nhằm đảm bảo sự
cân bằng giữa mức độ tổn thất và sự bồi thường khi người bị thiệt hại đã được DNBH
chi trả số tiền bồi thường để bù đắp kịp thời các tổn thất thực tế nên họ không được
nhận khoản bồi thường từ bên thứ ba gây ra thiệt hại, điều này là trái với căn cứ và
nguyên tắc bồi thường trong BHTS (trừ trường hợp số tiền DNBH chi trả ít hơn các
tổn thất xảy ra). Tuy nhiên, quy định này còn nhiều vướng mắc khi áp dụng trong
thực tế, bởi lẽ điều kiện để người được bảo hiểm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn là
khi DNBH đã trả tiền bồi thường cho họ, do đó các tổ chức này không thể khấu trừ
số tiền bồi thường khi bị từ chối chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn khi mà số tiền này
53
đã không còn do DNBH nắm giữ, nếu muốn khấu trừ các tổ chức này phải thực hiện
các thủ tục khiếu nại, khiếu kiện để đòi lại số tiền đã chi trả, hoạt động này không chỉ
tốn kém thời gian mà còn hao tốn nhiều chi phí, sức lực của cả các bên liên quan.
2.5. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan hệ bảo hiểm tài sản
Giao dịch bảo hiểm BHTS được thực hiện trên cơ sở hợp đồng BHTS, đây là
hợp đồng mang tính song vụ nên quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên
kia và ngược lại, lợi ích của các bên luôn mang tính chất cân bằng, đảm bảo sự khách
quan và tuân thủ pháp luật. Vì vậy, để hưởng quyền lợi hợp pháp, trước hết các chủ
thể cần phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo đúng thỏa thuận
của hợp đồng và quy định pháp luật điều chỉnh, việc không thực hiện các nghĩa vụ
này trong thời hạn thực hiện có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý không mong muốn.
2.5.1. Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
Thứ nhất, đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng thời hạn và phương thức đã thỏa
thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Cơ sở để DNBH đồng ý thay BMBH chịu các tổn thất do rủi ro gây ra phát sinh
từ việc các bên thỏa thuận mức phí bảo hiểm cho đối tượng tài sản, số tiền bảo hiểm
chi trả được tính trên tỷ lệ phí bảo hiểm người tham gia đóng cho nhà cung cấp dịch
vụ. Để được bồi thường trong quan hệ BHTS, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là điều
kiện tiên quyết BMBH phải đảm bảo thực hiện. Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ
tài chính nên khi tham gia BHTS, BMBH là người sử dụng có nghĩa vụ trả tiền dịch
vụ cho DNBH theo quy định tại Điều 515 BLDS, hay nhìn ở một khía cạnh khác, số
tiền BMBH chi trả này chính là thù lao cho DNBH trong quá trình cung cấp dịch vụ
khi họ yêu cầu một bên khác đứng ra bảo đảm về giá trị tài sản của mình.
Mặt khác, các thiệt hại phát sinh từ rủi ro trong phạm vi bảo hiểm được xác định
theo giá trị sụt giảm của tài sản và chuyển giao từ người bị thiệt hại cho tổ chức chịu
trách nhiệm gánh vác tổn thất, nên việc đảm bảo cơ sở về tài chính của DNBH không
chỉ góp phần ổn định hoạt động kinh doanh mà còn tác động trực tiếp đến lợi ích của
BMBH và những đối tượng khác đang tham gia hoạt động bảo hiểm do tổ chức này
cung cấp. Trên thực tế, thống kê tại một DNBH phi nhân thọ cho thấy số tiền nợ phí
bảo hiểm 9 tháng đầu năm 2019 lên đến hơn 55 tỷ đồng, tỷ lệ nợ phí trên tổng doanh
54
thu phí bảo hiểm là 3,9%. Đây là những con số không hề nhỏ và luôn là vấn đề nan
giải của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Ngoài ra, bảo hiểm
được vận hành trên quy luật số đông, số tiền dùng bồi thường cho người hưởng là
trích từ sự đóng góp của số đông để chi trả cho số ít nên việc khoản phí thu từ BMBH
là sự đóng góp cho cộng đồng, ổn định quỹ bảo hiểm, đảm bảo quyền lợi cho tất cả
mọi người tham gia BHTS. Vì vậy, BMBH phải có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy
đủ, theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Thứ hai, kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo
hiểm theo yêu cầu của DNBH.
Đây là nghĩa vụ đầu tiên và xuyên suốt mà BMBH cần phải đảm bảo trong quá
trình thực hiện giao dịch BHTS. Đối tượng của giao dịch bảo hiểm này là tài sản, nên
để thực hiện hợp đồng, BMBH phải kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết liên quan.
Trong quá trình thu thập thông tin, chủ sở hữu, sử dụng là người hiểu rõ nhất các vấn
đề liên quan đến tài sản nên thông thường việc khai báo được thực hiện qua các mẫu
giấy yêu cầu bảo hiểm do DNBH soạn thảo. Từ đó các tổ chức bảo hiểm dựa căn cứ
vào dữ liệu mà khách hàng cung cấp để đánh giá các rủi ro có khả năng xảy ra và
mức độ thiệt hại đi kèm, đưa ra quyết định có chấp nhận cung cấp dịch vụ bảo hiểm
cho đối tượng này hay không, đề xuất mức phí bảo hiểm hợp lý. Có thể thấy, DNBH
hoàn toàn bị động trong quá trình thu thập, nắm bắt thông tin liên quan đến hợp đồng.
Hợp đồng BHTS được giao kết trên cơ sở tin tưởng, tinh thần thiện chí hợp tác
của các bên, do đó nghĩa vụ kê khai, cung cấp thông tin cần phải tuyệt đối tuân thủ,
pháp luật nghiêm cấm các hành vi gian dối trong việc đưa ra các thông tin sai sự thật
nhằm mục đích giao kết hợp đồng để được chi trả tiền bảo hiểm. BMBH phải chịu
trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các thông tin do họ đưa ra, nếu cố ý
cung cấp sai lệch hoặc cố ý không thực hiện thì DNBH có quyền đình chỉ thực hiện
hợp đồng và các hậu quả pháp lý không mong muốn khác. Việc không tuân thủ nghĩa
vụ kê khai đầy đủ, nghĩa vụ trung thực là một trong các nguyên nhân làm phát sinh
tranh chấp giữa BMBH và DNBH, trong phạm vi đề tài này, tác giả xin đề cập đến
vụ án “tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn ông Đỗ L, bà Nguyễn Thị
B và bị đơn Tổng công ty Cổ phần B theo bản án số 06/2016/KDTM-PT ngày
55
29/01/2016 tại TAND Thành phố Đà Nẵng. Tóm tắt diễn biến sự việc xảy ra như sau:
Ngày 24/12/2010, ông L, bà B và Công ty bảo hiểm B thuộc Công ty cổ phần B
ký hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng số 03102598 cho công trình khách
sạn được xây dựng tại đường A, phường H, quận B, TP Đà Nẵng, thời hạn bảo hiểm
là 02 năm từ ngày 24/12/2010 đến ngày 24/12/2012. Trong đơn yêu cầu bảo hiểm,
ông L khai công trình này khởi công ngày 24/12/2010 nhưng trên thực tế đã bắt đầu
thi công từ ngày 30/09/2010.
Ngày 17/12/2010, nhật ký công trình ghi nhận việc tạm ngừng thi công do tranh
chấp đất đai với các hộ lân cận và đã bị UBND phường phường H, ra quyết định đình
chỉ thi công vì việc thi công công trình đã gây sập, lún, nứt tường của các hộ dân lân
cận gây thiệt hại. Sau đó các hộ dân lân cận có yêu cầu ông L, bà B bồi thường thiệt
hại. Các bên liên quan thống nhất lựa chọn cơ sở giám định V tại Đà Nẵng giám định
tổn thất và đã xác định tình trạng hư hỏng của các hộ lân cận là do công trình khách
sạn này gây ra, nguyên nhân có thể là tác động từ quá trình ép cọc thép và ván thép
làm tường, ngoài ra còn do tường chưa được thi công cách nước gây ứ nước trong đất
cát, gây nên sụt, lún, nứt tường các công trình xung quanh, mức thiệt hại tổng cộng
là 454.098.850 đồng. Ông L đã yêu cầu DNBH bồi thường nhưng công ty không đồng
ý vì cho rằng tổn thất xảy ra không thuộc phạm vi bảo hiểm. Trong hợp đồng ghi
nhận cơ quan giải quyết tranh chấp là Trung tâm trọng tài VIAC nhưng thực tế khi
tranh chấp phát sinh các bên lại thống nhất chọn giải quyết tại Tòa án.
Vì vậy, ông L, bà B đã khởi kiện yêu cầu TAND quận B TP Đà Nẵng buộc
Công ty B bồi thường cho ông bà số tiền 454.098.850 đồng và số tiền lãi chậm trả
tiền bảo hiểm theo mức lãi xuất ngân hàng nhà nước là 9%/năm. Bản án sơ thẩm đã
tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty Cổ phần B kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm vì lý do: Cơ quan giải quyết tranh chấp là Trung tâm trọng tài VIAC nên
Tòa án không có thẩm quyền giải quyết; HĐXX Sơ thẩm không xem xét nguyên
nhân, thời điểm xảy ra tổn thất, không xem xét các chứng cứ khoa học mà chỉ dựa
vào biên bản xác minh của Tòa án với các hộ dân, không xem xét quy định của Luật
KDBH, hợp đồng bảo hiểm và quy tắc bảo hiểm. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết,
56
Công ty B đã rút kháng cáo về việc TAND không có thẩm quyền giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bằng bản án số 06/2016/KDTM-PT ngày 29/01/2016
tại TAND Thành phố Đà Nẵng, HĐXX cấp phúc thẩm tuyên chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Qua vụ án trên có thể thấy, việc từ chối trách nhiệm bảo hiểm của Công ty B là
có cơ sở, bởi lẽ:
- Công trình khách sạn tại đường A, phường H, quận B, TP Đà Nẵng được khởi
công ngày 30/9/2010, tuy nhiên trong đơn yêu cầu bảo hiểm tại Công ty Bảo hiểm B
ông L, bà B lại khai nhận công trình này được khởi công ngày 24/12/2010 là cố ý vi
phạm nguyên tắc trung thực, cung cấp thông tin sai lệch về thời gian khởi công công
trình, trong thực tế công trình khách sạn tại đường A đã khởi công từ 03 tháng trước
khi các bên xác lập giao dịch bảo hiểm.
- Căn cứ chứng thư giám định ngày 09/03/2011, công văn số 112/CV-CNĐN
của cơ sở giám định V và Bản kết luận giám định số 105 của công ty T là tổ chức do
TAND quận B trưng cầu giám định đều xác định nguyên nhân từ quá trình thi công
phần ngầm (móng và tầng hầm), quá trình hút nước ổ móng, lỗi trong quá trình thi
công công trình. Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm do các bên ký kết có thỏa thuận về
việc không bồi thường đối với các tổn thất, thiệt hại có thể lường trước được đối với
các tính chất của công việc hoặc cách thực hiện chúng. Có thể thấy, theo nhật ký công
trình thì quá trình thi công phần móng kết thúc vào ngày 30/12/2010, như vậy tại thời
điểm ngày 24/12/2010, công trình về cơ bản đã hoàn thành xong phần móng, tuy
nhiên nguyên nhân dẫn đến các tổn thất cho các hộ liền kề là nằm trong giai đoạn thi
công móng công trình, tức là phát sinh từ trước khi tham gia mua BHTS cho đối
tượng này, hoàn toàn có thể được BMBH lường trước được sẽ gây sụt lún, nứt tường
cho các hộ xung quanh, do đó tổn thất xảy ra nằm trong trường hợp loại trừ trách
nhiệm của DNBH, đồng thời ngày 11/12/2012 công ty bảo hiểm đã có công văn trả
lời về việc từ chối bảo hiểm và giải thích rõ lý do.
- Ngày 17/12/2010, nhật ký công trình ghi nhận việc tạm ngừng thi công do
tranh chấp đất đai với các hộ lân cận và đã bị UBND phường phường H, quận B ra
quyết định đình chỉ thi công do đó thực tế khi biết các tổn thất đã xảy ra ông L, bà B
57
mới mua bảo hiểm là trái với quy tắc bảo hiểm, bởi lẽ DNBH chỉ chấp nhận cho các
rủi ro trong tương lai. Bên cạnh đó, đây là thông tin quan trọng liên quan đến việc
thực hiện hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng đối với công trình khách sạn
tại Đường A, nhưng ông L, bà B lại không kê khai, đề cập cho công ty bảo hiểm biết
và vẫn cố tình phớt lờ nhằm mục đích để ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Như vậy, ông L, bà B đã có hành vi không trung thực về kê khai thời gian bắt
đầu công trình trong hợp đồng bảo hiểm, không trung thực trong việc cung cấp thông
tin liên quan đến hợp đồng, làm sai lệch khả năng đánh giá rủi ro của DNBH. Đồng
thời, theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật KDBH thì DNBH có quyền đơn phương
đình chỉ thực hiện hợp đồng và thu phí bảo hiểm cho đến thời điểm đình chỉ thực hiện
hợp đồng khi BMBH có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp
đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm, không thực hiện các nghĩa vụ cung cấp
thông tin có thể làm tăng rủi ro hoặc phát sinh thêm trách nhiệm bảo hiểm của DNBH.
Do đó TAND thành phố Đà Nẵng chấp nhận kháng cáo của Công ty B, bác yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty bảo hiểm B bồi thường cho ông
L, bà B số tiền 454.098.850 đồng cho các tổn thất xảy ra là hoàn toàn có cơ sở.
Thứ ba, thông báo trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc phát sinh trách nhiệm
bảo hiểm của DNBH trong quá trình thực hiện hợp đồng theo yêu cầu của DNBH.
Trong giao dịch BHTS, mặc dù BMBH đã mua bảo hiểm cho tài sản của mình
nhưng họ vẫn là người trực tiếp quản lý, sử dụng đối tượng bảo hiểm, DNBH phát
sinh trách nhiệm từ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, nên trong khoảng thời gian từ khi
ký kết hợp đồng bảo hiểm cho đến khi xảy ra rủi ro, các tổ chức này không thể biết
các hoạt động, diễn biến xảy ra xung quanh đối tượng bảo hiểm, những sự kiện này
có thể xuất hiện kể từ thời điểm hai bên xác lập giao dịch và làm tăng thêm tình trạng
dẫn đến rủi ro hoặc biến mất đi làm giảm bớt các khả năng xảy ra tổn thất. Cho nên,
với tư cách là người trực tiếp quản lý, sử dụng, BMBH phải có nghĩa vụ thông báo
cho DNBH về những khả năng có thể làm tăng rủi ro hoặc phát sinh trách nhiệm bảo
hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng theo yêu cầu của DNBH.
Thứ tư, thông báo cho DNBH về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận
58
trong hợp đồng bảo hiểm.
Đây là nghĩa vụ cần thiết để DNBH chi trả bảo hiểm một cách hợp lý và đúng
đắn, là một trong các nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng bảo hiểm bởi lẽ trong
thời gian quản lý, sử dụng, sự kiện bảo hiểm xuất hiện trực tiếp gây ra những tổn thất
cho người được bảo hiểm gánh chịu nên họ là người biết rõ về các sự việc xảy ra.
Việc thông báo kịp thời các sự kiện phát sinh sẽ có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong
việc giám định tổn thất, kiểm soát, thống kê các thiệt hại xảy ra cũng như áp dụng
các biện pháp ngăn chặn cần thiết để hạn chế và ngăn chặn các tổn thất, rủi ro khác
có thể xảy ra thêm đối với đối tượng bảo hiểm. Do đó thông báo là nghĩa vụ quan
trọng mà BMBH cần phải đảm bảo khi thực hiện hợp đồng, sự vi phạm nghĩa vụ này
có thể thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, thậm chí dẫn đến hậu quả
DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, gây ra những tổn thất
không mong muốn cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, rủi ro thường là sự kiện khách
quan diễn ra ngoài dự kiến của các bên và không thể kiểm soát được nên để đảm bảo
quyền lợi cho các đối tượng yếu thếg tham gia bảo hiểm một cách dễ dàng và an toàn
hơn, Luật KDBH cho phép BMBH có thể chậm thông báo cho DNBH về việc xảy ra
sự kiện bảo hiểm nếu có lý do chính đáng gây ra việc chậm thực hiện nghĩa vụ.
Bên cạnh đó, khi phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, DNBH không thể ngay lập tức
thực hiện nghĩa vụ đối với BMBH tại thời điểm đó mà phải trải qua nhiều giai đoạn, thủ
tục chuẩn bị chi trả tiền bồi thường. Nên việc thông báo của BMBH có thể giúp DNBH
rút ngắn thời gian thực hiện, kịp thời và nhanh chóng bù đắp một phần hoặc toàn bộ tổn
thất, giảm thiểu các thiệt hại không mong muốn diễn ra với BMBH.
Thứ năm, áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của
Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Nghĩa vụ áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất là nghĩa vụ bắt buộc
phải thực hiện của BMBH trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Theo quy định
tại Điều 50 Luật KDBH thì người được bảo hiểm phải thực hiện các quy định về phòng
cháy, chữa cháy, an toàn lao động, vệ sinh lao động và những quy định khác của pháp
luật có liên quan nhằm bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm. Đây là nghĩa vụ của
BMBH nhằm hạn chế các trường hợp lơ là, không quan tâm, coi sóc bảo quản tài sản
59
trong thời gian bảo hiểm, ngăn ngừa tâm lý ỷ lại vào trách nhiệm chi trả thiệt hại của
DNBH mà để mặc cho tài sản hư hỏng, xảy ra sự kiện bảo hiểm để nhận tiền bảo hiểm.
Đồng thời, DNBH có quyền kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo
hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu người được bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng,
hạn chế rủi ro để nhằm đảm bảo sự công bằng của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh
tế cũng như giảm thiểu tình trạng trục lợi từ BHTS.
Mặt khác, mức đóng tiền bảo hiểm cho tài sản là cơ sở để yêu cầu DNBH thực
hiện trách nhiệm bồi thường bảo hiểm. Khi rủi ro xảy ra đến với đối tượng càng cao
thì khả năng phải thực hiện tránh nhiệm gánh vác rủi ro của DNBH càng cao nên dẫn
đến mức phí bảo hiểm càng lớn. Ngược lại, khi các điều kiện có thể dẫn đến rủi ro
giảm, đồng nghĩa với việc thiệt hại sẽ ít xảy ra, giảm tỷ lệ bồi thường của DNBH, nên
để cân bằng lợi ích giữa các chủ thể, pháp luật cho phép BMBH có quyền yêu cầu
DNBH giảm mức phí phải đóng cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy,
việc áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất ngoài là nghĩa vụ bắt buộc của
BMBH còn có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ quyền lợi của họ, bởi lẽ khi áp dụng tốt
biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất dẫn đến làm giảm khả năng xảy ra rủi ro với đối
tượng bảo hiểm giảm thì BMBH hoàn toàn có quyền yêu cầu DNBH giảm phí bảo
hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng, giảm áp lực về tài chính cho khách hàng khi
mua bảo hiểm cho tài sản của mình, đặc biệt là đối với các tài sản có giá trị lớn. Qua
đó, thể hiện tinh thần hợp tác của các bên tham gia, đảm bảo cân bằng mối liên hệ
giữa phí bảo hiểm và tiền bồi thường, tuân thủ đúng quy định của pháp luật BHTS.
Thứ sáu, chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho DNBH.
Việc bảo lưu, chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho DNBH là nghĩa vụ đặc thù của
BMBH trong quan hệ BHTS. Nghĩa vụ này có thể được minh họa bằng ví dụ sau:
Ngày 01/11/2018, A và Công ty bảo hiểm B tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm
mọi rủi ro cho đối tượng tài sản là chiếc xe ô tô A, thời hạn bảo hiểm là 12 tháng kể
từ ngày ký hợp đồng, đã đóng phí đầy đủ. Tuy nhiên, đến ngày 30/1/2019, khi A đang
sử dụng ô tô này lưu thông trên đường thì bị C đang tập lái xe và đi ở hướng ngược
lại gây ra va chạm, làm hư hỏng một số bộ phận trên xe, tổng thiệt hại là: 100.000.000
đồng. Công ty bảo hiểm B đã tiến hành bồi thường đủ cho A các khoản tổn thất trên,
60
sau đó A đã chuyển giao quyền yêu cầu C bồi thường thiệt hại sang cho phía DNBH.
Từ ví dụ trên có thể nhận thấy rằng, chủ thể thực hiện giao kết hợp đồng bảo
hiểm là DNBH và BMBH, theo đó DNBH chỉ chịu trách nhiệm gánh vác rủi ro thay
thế cho BMBH chứ không phải là một bên thứ ba nào khác. Đồng thời, theo nguyên
tắc của việc giải quyết bồi thường bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm được chi trả cho
người được thụ hưởng không được vượt quá tổn thất xảy ra với họ. Do đó, khi người
thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và DNBH đã trả tiền bồi thường
cho người được bảo hiểm thì họ phải có nghĩa vụ chuyển quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho DNBH.
Ngoài các nghĩa vụ đã đề cập cụ thể ở trên, BMBH còn có các nghĩa vụ khác
theo quy định của pháp luật như: bồi thường thiệt hại phát sinh cho DNBH do việc
cung cấp thông tin sai sự thật, chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường dẫn đến
phát sinh thiệt hại; trả số tiền tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ;…
2.5.2. Nghĩa vụ của Doanh nghiệp bảo hiểm trong quan hệ bảo hiểm tài sản
Trong quan hệ BHTS, để đảm bảo quyền lợi cho BMBH, DNBH có trách nhiệm
phải thực hiện các nghĩa vụ, cụ thể:
Thứ nhất, giải thích cho BMBH về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền,
nghĩa vụ của BMBH.
Trong giao dịch dân sự, mục đích các giao dịch được xác lập là lợi ích của các
chủ thể tham gia mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó, nên trong quan hệ
BHTS không chỉ BMBH phải cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến tài sản cho
DNBH, ngược lại, DNBH cũng có nghĩa vụ giải thích cho BMBH hiểu rõ về các điều
kiện, điều khoản, quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia xác lập giao dịch này. Thực
tế các hợp đồng bảo hiểm thường được DNBH chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, soạn thảo
trước cho khách hàng xem và ký kết chứ không phải là các điều khoản được các bên
cùng thảo luận đưa ra, do đó khi tham gia mua BHTS, DNBH cần giải thích rõ các
điều khoản bảo hiểm, trường hợp loại trừ trách nhiệm,… cho BMBH nghe và hiểu rõ
để họ xác định được quyền lợi của họ khi tham gia bảo hiểm có được đảm bảo như
mong muốn hay không, giải đáp các thắc mắc để quá trình thực hiện hợp đồng diễn
ra thuận lợi hơn, tránh các tranh chấp phát sinh không mong muốn, tạo cơ hội để các
61
bên thể hiện thiện chí hợp tác trong việc xác lập giao dịch BHTS. Hợp đồng được giao
kết phải trên cơ sở trung thực, tự nguyện, đúng pháp luật, các bên tham gia xác lập phải
cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin để tìm được sự kết nối, phù hợp giữa nhu cầu
sử dụng và nhu cầu cung cấp. Pháp luật nghiêm cấm hành vi DNBH thông tin, quảng cáo
sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động, điều kiện bảo hiểm làm tổn hại đến lợi ích hợp
pháp của BMBH. Cho dù là lĩnh vực nào thì bản chất của pháp luật vẫn là bảo vệ các đối
tượng yếu thế trong xã hội, bởi vậy DNBH không được phép cố ý cung cấp thông tin sai
sự thật để ký kết hợp đồng bảo hiểm, khi đó BMBH có quyền đơn phương đình chỉ thực
hiện hợp đồng bảo hiểm.
Thứ hai, cấp cho BMBH giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau
khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Sau khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, việc DNBH cung cấp Giấy chứng nhận bảo
hiểm hoặc đơn bảo hiểm cho người mua bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi BMBH.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, sự mâu thuẫn về lợi ích của các bên là điều khó
có thể tránh khỏi, tuy nhiên nếu không thể dung hòa được vấn đề phát sinh sẽ dễ dẫn
đến trình trạng tranh chấp giữa các chủ thể tham gia. Giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn
bảo hiểm là chứng cứ, tài liệu quan trọng trong việc thể hiện cơ sở phát sinh quan hệ
BHTS giữa các bên, xác định đối tượng được bảo hiểm, trách nhiệm và thực hiện thủ
tục giải quyết bồi thường tổn thất cho người được thụ hưởng.
Thứ ba, bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Khi rủi ro xảy ra đã gây ra những tác động không nhỏ đến lợi ích hợp pháp của
người quản lý, sở hữu tài sản, mong muốn được DNBH thực hiện nghĩa vụ bồi thường
một cách nhanh chóng để người bị thiệt hại có thể kịp thời khắc phục các tổn thất xảy
ra, đây là một trong các quyền cơ bản và quan trọng nhất của BMBH, đồng thời là
nghĩa vụ quan trọng của DNBH. Nghĩa vụ bồi thường cần được các DNBH nghiêm
túc thực hiện nhưng trên thực tế các tổ chức này luôn tìm mọi lý do để trốn tránh thực
hiện cho dù có đầy đủ cơ sở để xác định trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp. Để
minh chứng cho thực trạng này, tác giả xin phép đề cập đến “tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm” giữa nguyên đơn bà Võ Thị G và bị đơn Tổng công ty cổ phần B theo Bản
án số 05/2019/KDTM-PT ngày 26/4/2019 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nội
62
dung vụ việc được tóm tắt như sau:
Bà Võ Thị G là chủ tàu cá BV – 98506 -TS theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu
cá BV–98506-TS do Chi cục khai thác và bảo bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh cấp
ngày 09/01/2013 và giấy phép khai thác thủy sản cấp ngày 30/12/2013, ngày
15/02/2016 gia hạn lần thứ 3 đến ngày 07/01/2017. Năm 2015, bà G và chồng là ông
Nguyễn M1 thế chấp tàu này tại ngân hàng TMCP C theo hợp đồng thế chấp số
15.104.0039 để đảm bảo cho khoản vay của hai người. Sau đó, bà G mua bảo hiểm
cho tàu cá nêu trên tại Công ty bảo hiểm B với thời hạn bảo hiểm từ ngày 14/02/2016
đến ngày 13/2/2017; đánh giá trị giá tàu là 1,6 tỷ VNĐ, trong đó Bảo hiểm thân tàu
là 1 tỷ và máy tàu là 600.000.000 đồng; phí bảo hiểm là 21.633.500 đồng; mức khấu
trừ thân tàu và trách nhiệm dân sự là 2,5% tiền bồi thường/vụ tổn thất nhưng không
thấp hơn 500.000 đồng, không khấu trừ đối với trường hợp bị tổn thất toàn bộ; khấu
trừ bổ sung máy là 3 tỷ đồng; chi phí lai dắt trục vớt không quá 120.000.000 đồng.
Trong hợp đồng thế chấp tại Ngân hàng C và đơn bảo hiểm của đều ghi rõ trường
hợp tàu được hưởng bảo hiểm thì Ngân hàng TMCP C là người thụ hưởng.
Ngày 28/5/2016, bà G đến Trạm kiểm soát Đồn biên phòng B thành phố V làm
thủ tục đăng ký thuyền viên để xuất bến cho tàu cá BV-98506-TS nhưng không được
do chưa đủ bạn ghe. Đến khoảng 15h ngày 29/5/2016, bà G đăng ký bổ sung 1 người
là ông T5, làm máy trưởng có bằng hạng tư, sau đó tàu được Trạm kiểm soát cho
phép xuất bến.
Khoảng 10h ngày 22/06/2016, do biển động nên tàu cá BV-98506-TS chạy vào
Đảo P –Bình Thuận để sang cá cho tàu bạn và trú giông lốc tại đảo. Đến khoảng 20
giờ 30 phút, trời chuyển giông mạnh nên ông H3 là thuyền trưởng cho tàu chuyển
hướng chạy ra xa khu vực đảo để cho an toàn, nhưng đang hành trình thì mũi tàu va
phải đá ngầm và bị chìm, lật úp.
Ngay sau đó, bà G đã báo với Công ty bảo hiểm B và thuê trục vớt tàu kéo về
Vũng Tàu sữa chữa. Sau đó đã cung cấp các thông tin và hồ sơ sửa chữa nhưng Tổng
Công ty cổ phần B không bồi thường với lý do phía chủ tàu vi phạm quy chế bảo
hiểm vì tàu trên 350 CV nhưng trên tàu không có máy trưởng có bằng hạng tư. Do
đó, bà G khởi kiện yêu cầu Tổng Công ty cổ phần B bồi thường giá trị thiệt hại do
63
đắm tàu phải sửa chữa là 900.490.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn không
đồng ý bồi thường vì cho rằng tranh chấp thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo
hiểm, Ngân hàng TMCP C yêu cầu được hưởng số tiền bồi thường, ông Nguyễn M1
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý để ngân hàng thụ hưởng số
tiền bồi thường. Bản án sơ thẩm số 14/2018/KDTM-ST ngày 9/11/2018 của TAND
TP V tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, buộc Công ty cổ phần B bồi
thường cho ông bà số tiền là 729.947.613 đồng; Ngân hàng TMCP C là người trực
tiếp được nhận số tiền bồi thường.
Không đồng ý với một phần bản án:
- Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên
bà Võ Thị G và ông Phạm M1 nhận tiền bồi thường chứ không phải là Ngân hàng
TMCP C.
- Bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm vì không chấp nhận bồi thường số
tiền trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là giảm số tiền
yêu cầu bảo hiểm chi trả xuống còn 650.000.000 đồng, nguyên đơn và bị đơn giữ
nguyên nội dung kháng cáo. Bản án phúc thẩm số 05/2019/KDTM-PT ngày
26/4/2019 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên sửa một phần bản án sơ thẩm
14/2018/KDTM-ST của TAND thành phố V: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G và
buộc công ty cổ phần B bồi thường cho ông M1 và bà G số tiền là 650.000.000 đồng; ngân
hàng TMCP C là người trực tiếp được nhận số tiền bồi thường.
Thông qua tóm tắt nội dung bản án trên, tác giả xin đề xuất một số ý kiến bình
luận như sau:
- Về hợp đồng bảo hiểm: bà D và công ty bảo hiểm B đều thừa nhận các bên có
tồn tại giao dịch bảo hiểm thông qua đơn bảo hiểm số MHS/00852314. Tại thời điểm
xác lập giao dịch, bà G là chủ sở hữu tàu có đầy đủ các giấy tờ chứng minh theo quy
định, do đó bà G là người có quyền lợi hợp pháp đối với tàu cá BV-98506-TS. Do đó
giao dịch bảo hiểm giữa hai bên đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
- Về người thụ hưởng: theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật KDBH thì người
64
được thụ hưởng là cá nhân, tổ chức được BMBH chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo
hợp đồng bảo hiểm con người. Tuy nhiên, giao dịch bảo hiểm phát sinh giữa bà G và
Công ty B là quan hệ BHTS, pháp luật không quy định về người thụ hưởng trong loại
hình bảo hiểm này. Mặt khác, giao dịch BHTS vốn dĩ là quan hệ pháp luật dân sự, do
đó căn cứ Khoản 1 Điều 6 BLDS 2015 về áp dụng tương tự pháp luật thì trong hợp
đồng thế chấp tại Ngân hàng TMCP C và đơn bảo hiểm của Công ty B đều ghi rõ
trường hợp tàu được hưởng bảo hiểm thì Ngân hàng TMCP C là người thụ hưởng,
ngoài ra, đây là thỏa thuận được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều
cấm của luật, sau khi xác lập thỏa thuận này, bà G và các bên liên quan không hề có
sự sửa đổi hay ý kiến liên quan đến việc thực hiện thỏa thuận do đó việc TAND tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu không chấp nhận kháng cáo của bà G, xác định Ngân hàng TMCP
C là người được thụ hưởng là hoàn toàn có căn cứ.
- Về trách nhiệm bồi thường của DNBH: sự kiện bảo hiểm phát sinh là việc tàu
cá BV-98506-TS và phải đá ngầm trong quá trình di chuyển tránh giông bão là thuộc
phạm vi bảo hiểm theo hợp đồng. Tuy nhiên, Công ty B từ chối bảo hiểm vì cho rằng
trên tàu không có máy trưởng có chứng chỉ hạng tư là thuộc trường hợp loại trừ trách
nhiệm. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh và Trạm kiểm soát
Đồn biên phòng B thành phố V đã khẳng định ngày 29/5/2016 bà G làm thủ tục đăng
ký thuyền viên để xuất bến cho tàu cá BV-98506-TS cho 04 người trong đó có ông
T5 làm máy trưởng có bằng hạng tư theo quy định của pháp luật. Công ty B từ chối
trách nhiệm bảo hiểm nhưng không đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu của mình, không giải thích rõ lý do từ chối bảo hiểm đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền
bảo hiểm kịp thời cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, sự vi phạm
này đã kéo dài đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật là hơn 03 năm, gây ra
những thiệt hại lớn cho người gánh chịu tổn thất.
Như vậy, mục đích mà người tham gia mua bảo hiểm hướng đến là nhanh chóng
khôi phục là tình trạng tài sản, ổn định cuộc sống sau những mất mát xảy ra. Do đó,
khi BMBH đã đóng đầy đủ phí bảo hiểm, thời điểm sự kiện bảo hiểm diễn ra đồng
thời làm phát sinh việc chuyển trách nhiệm tổn thất từ người bị ảnh hưởng sang chủ
thể đảm bảo nên DNBH phải thực hiện trả số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng một
65
cách kịp thời, theo đúng thời hạn theo quy định, tránh khỏi tình trạng trốn tránh trách
nhiệm của DNBH kéo dài thời gian bồi thường nhằm trục lợi và làm mất niềm tin của
đối tượng có đang và sẽ tham gia bảo hiểm, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của DNBH
nói riêng và sự phát triển của thị trường bảo hiểm nói chung.
Thứ tư, giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm.
Khi nhận được thông báo về việc diễn ra sự kiện bảo hiểm từ BMBH và tiến
hành các hoạt động xác minh, giám định tổn thất để thống kê các thiệt hại có nằm
trong trường hợp loại trừ trách nhiệm hay không, khi đó DNBH sẽ có hai phương án
giải quyết: tiến hành bồi thường hoặc từ chối bồi thường. Trong trường hợp từ chối
chi trả bảo hiểm, DNBH phải có trách nhiệm thông báo cụ thể bằng văn bản cho
BMBH giải thích rõ lý do, căn cứ từ chối bồi thường để người đang gánh chịu thiệt
hại biết và có phương án xử lý thích hợp đối với các tổn thất đang xảy ra, đây là cơ
sở để các bên xác định trách nhiệm của BMBH đối với thiệt hại xảy ra mặc dù đang
tham gia vào quan hệ BHTS, là cơ sở để các bên lựa chọn cách giải quyết tốt nhất.
Tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật chưa quy định cụ thể về thời hạn DNBH phải đưa
ra văn bản từ chối bồi thường gây ra tình trạng dây dưa kéo dài thời gian giải quyết,
gây ra nhiều xáo trộn trong việc đời sống, hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến lợi
ích chính đáng của BMBH.
Bên cạnh đó, theo thống kê sơ bộ của các DNBH, trong giai đoạn từ 2007 –
2014, tổng số vụ trục lợi bảo hiểm đã phát hiện và có bằng chứng cụ thể để từ chối
chi trả tiền bảo hiểm là gần 64.000 vụ, tăng trung bình 31,3%/năm, tổng số tiền trục
lợi khoảng 850 tỷ đồng với mức trung bình gần 110 tỷ đồng/năm. Số lượng các vụ
trục lợi bảo hiểm tăng cao qua các năm kéo theo đó là các hành vi vi phạm pháp luật
xảy ra hầu hết ở các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm dưới nhiều hình thức và ngày càng
phức tạp, tinh vi hơn, gây ra các tác động tiêu cực cho kinh tế - xã hội và thường được
thực hiện qua các phương thức nhiều phương thức như: Tạo dựng hiện trường giả, đã
xảy ra tổn thất mới mua bảo hiểm, khai tăng giá trị tổn thất, bảo hiểm trùng,… Do
đó, nếu như xác định không thuộc trường hợp phải chi trả tiền bồi thường bảo hiểm,
các DNBH cần phải có văn bản giải thích rõ ràng để người được bảo hiểm hiểu rõ
tính chất của sự việc xảy ra, đây là một trong các biện pháp hữu hiệu không chỉ góp
66
phần tránh các tranh chấp phát sinh mà còn ngăn ngừa các tình trạng trục lợi bảo
hiểm, nâng cao trách nhiệm của DNBH và BMBH trong quá trình thực hiện hợp đồng
BHTS.
Ngoài ra, để tạo nên một môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo
cân bằng lợi ích của các chủ thể tham gia, DNBH còn có nghĩa vụ thực hiện các trách
nhiệm khác như: bồi thường thiệt hại phát sinh cho BMBH do việc DNBH cung cấp
thông tin sai sự thật, chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường dẫn đến phát sinh
thiệt hại; yêu cầu trả số tiền tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ, phối
hợp với BMBH để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt
hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; giảm phí bảo hiểm cho
thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở
để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì BMBH có quyền
yêu cầu DNBH;… được quy định trong Luật KDBH, BLDS và các văn bản quy định
67
pháp luật có liên quan điều chỉnh hoạt động kinh doanh BHTS trên thị trường.
Tiểu kết chương 2
Qua việc tìm hiểu và phân tích các quy định pháp luật về BHTS ở Việt Nam có
thể thấy rằng BHTS đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế thị trường,
có sự vận động và phát triển đa dạng, phức tạp thông qua nhiều loại hình bảo hiểm
tương ứng với các loại tài sản, phù hợp với nhu cầu, điều kiện của các chủ thể tham
gia. Trong đó, các quy định về nguyên tắc bồi thường, phạm vi trách nhiệm, thời điểm
phát trách nhiệm bồi thường và nghĩa vụ của DNBH, BMBH đã góp phần bảo vệ
được quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm.
Tuy nhiên, song song với thực tiễn áp dụng pháp luật về BHTS vẫn còn một số
cá nhân, tổ chức lợi dụng kẽ hở của quy định hiện hành, sự lỏng lẻo trong khâu quản
lý tổ chức của doanh nghiệp cũng như sự thiếu hiểu biết của người dân đã thực hiện
hành vi trục lợi bất chính từ việc tham gia vào bảo hiểm tài. Mặc dù pháp luật đã quy
định cụ thể các chế tài về việc xử lý vi phạm nhưng tình trạng này vẫn diễn ra với tỷ
lệ cao, gây ra một số tác động xấu đến thị trường kinh tế, xã hội, đặt ra những yêu
cầu cấp thiết trong quá trình hoàn thiện pháp luật, đưa ra các giải pháp hạn chế và
ngăn ngừa tình trạng trục lợi trong sự phát triển của thị trường bảo hiểm nói chung,
68
hoạt động kinh doanh BHTS nói riêng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Chương 3
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN
Qua những phân tích về thực trạng pháp luật Việt Nam về BHTS, trong phạm
vi đề tài này, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị và giải pháp khắc phục các hạn chế,
bất cập trong hệ thống quy định điều chỉnh quan hệ BHTS, góp phần hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, xây dựng một thị trường bảo hiểm phát triển
bền vững ở nước ta.
3.1. Kiến nghị trong hoạt động bảo hiểm tài sản ở Việt Nam
Thứ nhất, nội dung quy tắc bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm phải đảm bảo khách
quan, cân bằng quyền lợi giữa BMBH và DNBH.
Về mặt lý luận, hợp đồng BHTS được xây dựng trên cơ sở nội dung quy tắc bảo
hiểm và sự thỏa thuận giữa BMBH và DNBH, nói một cách khác, các nội dung trong
hợp đồng là kết quả của quá trình thương thuyết để đi đến thống nhất các nội dung
đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể tham gia. Trên thực tế các quy tắc bảo hiểm và
hợp đồng BHTS thường do các DNBH chuẩn bị sẵn (hợp đồng mẫu) mà không có sự
tham gia thảo luận, trao đổi ý kiến của khách hàng và được chính các tổ chức này áp
dụng cho nghiệp vụ bảo hiểm mình đang kinh doanh. Trên thực tế, không chỉ BHTS,
các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, cung cấp điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, truyền
hình trả tiền, dịch vụ điện thoại cố định mặt đất, mua bán căn hộ chung cư, các dịch
vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư,… đây là các dịch vụ thiết yếu của cuộc
sống đều được thực hiện theo hợp đồng mẫu được đăng ký tại Cục Quản lý cạnh
tranh. Mặc dù, quy tắc bảo hiểm và hợp đồng BHTS không phải những văn bản quy
phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, tuy nhiên lại chứa đựng những nội
dung có tính chất bắt buộc thực hiện và cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp
phát sinh. Do đó, việc một bên chuẩn bị sẵn các tài liệu này không đảm bảo tính khách
quan, công bằng, đặt BMBH vào tư thế bị động khi giao kết hợp đồng BHTS.
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, số lượng người tham gia mua bảo hiểm lại rất
nhiều nhưng mỗi người tham gia đều có tài sản và nhu cầu khác nhau, cho nên DNBH
69
khó có thể thống nhất được các ý kiến của tất cả mọi người để đi một nội dung hoàn
chỉnh trong quy tắc bảo hiểm và hợp đồng mẫu dùng cho các nghiệp vụ BHTS. Chính
vì vậy, để đảm bảo tính khách quan, công bằng và phù hợp với thực tiễn áp dụng, thu
hút được đông đảo đối tượng tham gia BHTS, tác giả kiến nghị cần có sự tham gia
của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, thị trường
và tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam trong quá trình xây dựng
nội dung quy tắc bảo hiểm và hợp đồng mẫu cho các nghiệp vụ BHTS.
Thứ hai, quy định rõ các quy định về trường hợp chuyển giao hợp đồng BHTS.
Theo quy định tại Điều 74 Luật KDBH, DNBH được chuyển giao, hợp đồng
BHTS trong những trường hợp: DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán; DNBH
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể; theo thỏa thuận giữa các DNBH. Nếu như nguy
cơ mất khả năng thanh toán được của DNBH được xác định theo Luật KDBH, Luật Phá
sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp
nhập, giải thể được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì việc chuyển giao
hợp đồng BHTS theo thỏa thuận giữa các DNBH lại chưa được pháp luật quy định một
cách rõ ràng gây ra nhiều bất cập khi áp dụng pháp luật. Theo quan điểm của người viết,
để nâng cao hiệu quả trong hoạt động BHTS ở Việt Nam, pháp luật cần đưa ra các quy
định về các điều kiện áp dụng thỏa thuận chuyển giao (công ty có hoạt động kinh doanh
lỗ, triển khai quá nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm ở quá xa DNBH
hoặc tài sản có tính chất phức tạp,…), loại hình nghiệp vụ bảo hiểm và thời điểm được
phép chuyển giao để tránh khỏi các trường hợp một số tổ chức lợi dụng việc chuyển giao
hợp đồng bảo hiểm để bắt tay liên kết với nhau, chiếm lĩnh thị trường, thực hiện các thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh gây ra các tác động xấu trong sự phát triển của thị trường bảo
hiểm.
Thứ ba, bổ sung trách nhiệm bảo hiểm của DNBH khi BMBH không đóng đủ
phí bảo hiểm.
Như đã phân tích ở Chương 2, nhìn chung thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi
thường của DNBH được tính kể từ khi giao kết hợp đồng BHTS và BMBH không vi
phạm nghĩa vụ thanh toán phí bảo hiểm. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
BMBH không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn
70
thỏa thuận là một trong các trường hợp dẫn đến chấm dứt hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm đã ký. Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 24 của Luật KDBH về hậu quả pháp lý của
việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm thì: “trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo
hiểm theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải
đóng đủ phí bảo hiểm cho đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm”.
Dựa trên cơ sở các quy định trên, có thể thấy khi hợp đồng BHTS chấm dứt với
nguyên do này đã làm mất cân bằng về lợi ích của các chủ thể tham gia khi mà BMBH
đã đóng một phần phí bảo hiểm cho các DNBH trong thời hạn của hợp đồng. Về mặt
thực tế, hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết và đã được thực hiện một phần do đó một
bên đã thực hiện một phần nghĩa vụ của mình thì chủ thể kinh doanh bảo hiểm cũng
có trách nhiệm thực hiện một số nghĩa vụ nhất định sau khi được hưởng quyền lợi
(quyền được nhận phí bảo hiểm). Sự mất cân bằng về quyền và nghĩa vụ pháp lý này
là nguyên nhân phát sinh nhiều tranh chấp giữa BMBH và DNBH khi khách hàng
không đóng đủ phí bảo hiểm nhưng trong thời hạn của hợp đồng lại xảy ra sự kiện
bảo hiểm. Do đó các khoảng trống của pháp luật cần được cân bằng với những quy
định về bổ sung trách nhiệm bảo hiểm của DNBH, cụ thể khi BMBH không đóng đủ
phí bảo hiểm thì vẫn được bồi thường bảo hiểm theo tỷ lệ phí bảo hiểm và mức bồi
thường thiệt hại nếu như thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Thứ tư, hoàn thiện các quy định về giải quyết bồi thường trong BHTS.
Bồi thường là giai đoạn vô cùng quan trọng khi thực hiện giao dịch BHTS do
đó các quy định về giải quyết bồi thường trong BHTS cần được quy định một cách
rõ ràng, cụ thể để đảm bảo bù đắp kịp thời các tổn thất cho người bị gánh chịu, nâng
cao tinh thần trách nhiệm của DNBH, tạo được niềm tin trong cộng đồng và thu hút
nhiều sự tham gia của các thành viên trong xã hội, phát triển thị trường BHTS một
cách bền vững. Hiện nay, hệ thống pháp luật về BHTS không quy định về thời hạn
trả lời bồi thường, thành phần hồ sơ bồi thường làm kéo dài thời gian xử lý, bù đắp
tổn thất cho người được bảo hiểm.
Ngoài ra, để xác định được các tổn thất thực tế, giám định tổn thất là một trong
các hoạt động cốt yếu phải thực hiện ở giai đoạn giải quyết bồi thường. Trước hết,
trách nhiệm giám định tổn thất sẽ do DNBH thực hiện, tuy nhiên, những quy định về
71
thời hạn giám định tổn thất trong trường hợp này lại không được đề cập một cách rõ
ràng, gây cản trở quyền của người bị thiệt hại yêu cầu cơ quan Tài phán trưng cầu
giám định. Thời gian thực hiện giám định càng kéo dài càng rất dễ dẫn đến nguy cơ
xảy ra các hậu quả nằm ngoài sự kiểm soát của con người, gây khó khăn trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh của BMBH.
Trên cơ sở đó, các khoảng trống về thời hạn trả lời bồi thường, thành phần hồ
sơ bồi thường, thời hạn giám định tổn thất cần được lắp đầy bởi các quy định của
pháp luật để hoàn thiện các cơ chế giải quyết bồi thường trong BHTS.
3.2. Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tài sản
Để hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về BHTS cũng như tăng cường hiệu
lực, hiệu quả áp dụng các quy định này, bên cạnh việc xây dựng một khuôn khổ pháp
lý phù hợp và đầy đủ đòi hỏi có sự kết hợp hài hòa với nhiều giải pháp thực tiễn trong
từng nhóm chủ thể khác nhau.
- Đối với DNBH
Trong khối bảo hiểm phi nhân thọ, theo thống kê vào năm 2019, BHTS và bảo
hiểm thiệt hại có doanh thu đạt 5,502 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 12,41%, và đạt mức
doanh thu 5,621 tỷ đồng, nâng tỷ trọng lên mức 14% vào năm 2020. Có thể thấy rằng,
mặc dù có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội nhưng các nghiệp vụ bảo
hiểm BHTS chưa được đặt ở một vị trí xứng đáng trên thị trường bảo hiểm, đòi hỏi
sự nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa của các DNBH trong việc áp dụng các quy định
pháp luật và nâng cao hiệu quả kinh doanh, để thực hiện những điều này, do đó các
DNBH cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường các hoạt động khắc phục tình trạng trục lợi bảo hiểm. Trên
thực tế, sự phát triển của thị trường bảo hiểm đã xuất hiện một số đối tượng lợi dụng
sơ hở để thực hiện các hành vi thu lợi bất chính, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính
đáng của người tham gia và uy tín của DNBH, tác động xấu đến sự phát triển bền
vững của hoạt động kinh doanh BHTS nói riêng và thị trường bảo hiểm ở nước ta nói
chung. Theo thống kê sơ bộ của các DNBH, trong giai đoạn từ 2007 – 2014, tổng số
vụ trục lợi bảo hiểm đã phát hiện và có bằng chứng cụ thể để từ chối chi trả tiền bảo
72
hiểm là gần 64.000 vụ, tăng trung bình 31,3%/năm, tổng số tiền trục lợi khoảng 850
tỷ đồng với mức trung bình gần 110 tỷ đồng/năm. Số lượng các vụ trục lợi bảo hiểm
tăng cao qua các năm kéo theo đó là các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra hầu hết ở
các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm dưới nhiều hình thức và ngày càng phức tạp, tinh
vi hơn, gây ra các tác động tiêu cực cho kinh tế - xã hội. Trong BHTS, hoạt động trục
lợi bảo hiểm thường được thực hiện qua các phương thức như: Tạo dựng hiện trường
giả, đã xảy ra tổn thất mới mua bảo hiểm, khai tăng giá trị tổn thất, bảo hiểm trùng,
cố ý gây tổn thất cho đối tượng, khai sai ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm, lập hồ sơ giả,…
Mỗi khách hàng khi tham gia bảo hiểm đều để lại tất cả thông tin tại tổ chức cung cấp
dịch vụ bảo hiểm, do đó để khắc phục tình trạng trục lợi bảo hiểm, bản thân các DNBH
cần liên kết chia sẻ thông tin cơ bản của khách hàng tham gia BHTS để kết nối để thống
kê được số lượng và loại hình bảo hiểm mà khách hàng đã, đang tham gia để xây dựng
các phương án hợp tác tốt hơn để giảm thiểu tình trạng bảo hiểm trùng và trục lợi bảo
hiểm.
Đồng thời, bản thân các DNBH cần nâng cao hơn nữa công tác tổ chức bộ máy,
xây dựng nghiệp vụ chặt chẽ, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật
phục vụ cho công tác giám định, tăng cường quản lý, giám sát hệ thống đại lý, nhân
viên nhằm ngăn chặn tình trạng trục lợi bảo hiểm ngay trong chính đơn vị mình, xử
lý nghiêm những cá nhân, tập thể mắc sai phạm trong chuyên môn, nghiệp vụ để
khách hàng lợi dụng nghiệp vụ để trục lợi.
Thứ hai, thực thi có hiệu quả quyền yêu cầu chuyển quyền yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn. Trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho
DNBH, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì DNBH
có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm,
tuy nhiên DNBH chỉ được chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn sau khi trả
tiền bồi thường cho người được bảo hiểm. Chính vì vậy, các tổ chức này khó có thể
khấu trừ số tiền bồi thường khi số tiền này đã không còn do mình nắm giữ nếu như
người được bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn, nếu muốn
khấu trừ các DNBH phải tốn kém thời gian, hao tốn nhiều chi phí, sức lực để thực
hiện nhiều biện pháp tư pháp để đòi lại số tiền đã chi trả đã. Để khắc phục tình trạng
73
này, nếu lỗi gây ra thiệt hại thuộc về bên thứ ba thì trước khi giải quyết tiền bồi thường
cho người được bảo hiểm, DNBH cần phải tổ chức buổi gặp mặt, trao đổi trực tiếp
giữa ba bên (DNBH, người được bảo hiểm và người gây ra tổn thất) để các bên thông
tin cho nhau một cách rõ ràng về người có quyền nhận tiền bồi thường trong từng
trường hợp, đây cũng là cơ sở để các tổ chức kinh doanh bảo hiểm thuận lợi hơn trong
công tác yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền bù đắp thiệt hại mà công ty đã chi
trả.
- Đối với BMBH
Đây là các chủ thể yếu thế trong quan hệ pháp luật BHTS cho nên việc xây
dựng các giải pháp bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này trong quá trình hoàn
thiện pháp luật là rất cần thiết.
Thứ nhất, nghiên cứu kỹ các quy định pháp luật về BHTS trước khi ký kết hợp
đồng bảo hiểm. Hiện nay, các hội thảo, chương trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật
diễn ra ngày càng nhiều hơn, thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân,
bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ đã giải quyết được phần nào nhu cầu
tìm kiếm thông tin thông qua các phương tiện thông tin. Trên cơ sở đó, khoảng cách giữa
pháp luật và quần chúng nhân dân ngày càng được thu hẹp, từng bước được xóa bỏ, nên
các cá nhân, tổ chức cần tích cực chủ động tiếp cận quy định pháp luật để việc tham gia
BHTS mang lại hiệu quả và sự an toàn pháp lý cao hơn, giảm thiểu sự mâu thuẫn lợi ích,
bất đồng ý kiến trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Thứ hai, phản ánh kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của DNBH. Đây
cũng là một trong các cách thức người tham gia bảo hiểm tự bảo vệ bản thân và bảo vệ
lợi ích của cộng đồng. Mọi tố giác hành vi sai trái của DNBH giúp các cơ quan quản lý
nhà nước về bảo hiểm phát hiện sớm các sai phạm, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và
xử lý thích hợp, giảm thiểu các tác động xấu có thể xảy ra trong tương lai, tiết kiệm chi phí
và tạo ra sự an toàn về tài chính cho cộng đồng tham gia BHTS.
- Đối với cơ quan nhà nước
Thứ nhất, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh
BHTS của DNBH. BHTS là một lĩnh vực phức tạp với đa dạng các loại hình tài sản
74
và nghiệp vụ bảo hiểm thành phần, do đó hoạt động thanh tra, kiểm tra cần có sự phối
hợp của nhiều Sở, Ban, Ngành liên quan về tài chính, thị trường và đòi hỏi những yêu
cầu cao về trình độ chuyên môn của cán bộ được giao nhiệm vụ thi hành.
Để đạt được hiệu quả cao, trước khi kiểm tra, giám sát, cần phải xây dựng
những tiêu chí đánh giá cụ thể, quy trình rõ ràng về công tác điều tra, xác minh và xử
lý nghiêm các hành vi vi phạm trong giao kết, thực hiện hợp đồng BHTS, chuyển
giao hợp đồng BHTS,… tránh tình trạng lơ là trong khâu quản lý dẫn đến bỏ lọt tội
phạm, làm phương hại lợi ích của các chủ thể khác. Tiến hành những đợt kiểm tra
thường niên và đột xuất để phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót, hạn chế các
hậu quả xấu có thể xảy ra trong tương lai, tiết kiệm một khoản chi phí lớn cho các
chủ thể, bên cạnh đó đây cũng là cơ hội để nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn
của các cán bộ thanh tra, kiểm tra trong hoạt động BHTS.
Thứ hai, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản pháp luật. Điều
này đồng nghĩa với việc công tác xây dựng, ban hành văn bản pháp luật về BHTS cần
được tiến hành kỹ lưỡng trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đảm bảo mối tương quan giữa
xã hội và pháp luật, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Do đó,
hoạt động này rất cần thiết có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà kinh
tế, tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân.
Thứ ba, nâng cao trình độ, năng lực gắn liền với công tác bồi dưỡng, nâng cao
phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ Tòa án, Viện kiểm sát,… Bên cạnh đó, số
người tham gia BHTS ngày càng tăng nên những yêu cầu về kiến thức pháp luật,
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công nhân
viên được giao nhiệm vụ liên quan về BHTS càng cao. Cần thường xuyên tổ chức
các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và kiến thức pháp luật về BHTS; kịp
thời tổng kết những vướng mắc, đưa ra hướng giải quyết phát sinh trong quá trình
75
thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp,…
Tiểu kết chương 3
Cùng với những phát triển của kinh tế - xã hội, sự ra đời của hệ thống quy
phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ BHTS là một tất yếu, khách quan. Tuy nhiên, qua
nghiên cứu thực trạng phát luật về BHTS ở Việt Nam hiện nay, nhận thấy một số
khoảng trống của pháp luật chưa được xử lý, sự mâu thuẫn lợi ích giữa các chủ thể
tham gia bảo hiểm, những điểm hạn chế còn tồn đọng trong hoạt động của DNBH,
khâu quản lý và xây dựng chính sách của Nhà nước đã dẫn dến việc BMBH chưa ý
thức được các lợi ích khi tham gia bảo hiểm và nghiệp vụ BHTS ở Việt Nam chưa
thực sự phát huy hết các khả năng, vai trò của mình.
Trên cơ sở đó, trong phạm vi của đề tài này, người viết đã đề xuất một số kiến
nghị trong hoạt động xây dựng pháp luật về các trường hợp chuyển giao hợp đồng
BHTS, bổ sung các quy định về trách nhiệm bảo hiểm của DNBH khi BMBH không
đóng đủ phí bảo hiểm, hoàn thiện các quy định về giải quyết bồi thường trong BHTS.
Ngoài ra, quy tắc bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm là một trong các cơ sở tác động
trực tiếp đến quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm nên cần phải đảm bảo tính khách
quan, cân bằng quyền lợi giữa các chủ thể trong hợp đồng. Để thực hiện được các đề
xuất này, BMBH, DNBH và cơ quan quản lý nhà nước là các chủ thể chính trong
quan hệ pháp luật BHTS phải tích cực tham gia, vận dụng các biện pháp riêng biệt và
phối hợp giữa với nhau để góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi
và bảo vệ kịp thời các lợi ích hợp pháp.
Như vậy, công tác hoàn thiện pháp luật là một hoạt động có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, được tiến hành không chỉ đáp ứng các yêu cầu của các đối tượng tham
gia mà còn cần có sự điều chỉnh phù hợp với những thay đổi về các yếu tố kinh tế, xã
hội, tạo ra động lực thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của thị trường bảo hiểm nói
76
riêng và công cuộc đổi mới, hiện đại và phát triển đất nước nói chung.
KẾT LUẬN
BHTS là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp với đa dạng các nghiệp vụ bảo hiểm
thành phần, ra đời từ nhu cầu khách quan về quyền được bảo vệ, giúp đỡ, chia sẻ
hoạn nạn khi có rủi ro, tổn thất xảy ra trong cuộc sống. Nhận thức được ý nghĩa quan
trọng của hoạt động này, pháp luật về BHTS ở Việt Nam bắt đầu hình thành trên cơ
sở Nghị định số 100/CP ngày 18/12/1993 do Chính phủ ban hành và trong nhiều thập
niên sau đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lần lượt được xây dựng,
đánh dấu sự ra đời và khởi sắc của pháp luật về BHTS ở nước ta.
Trong mối quan hệ này, DNBH và chủ thể tham gia bảo hiểm là hai đối tượng
chính mà pháp luật BHTS quan tâm hướng đến. Với bản chất là thay thế người bị
thiệt hại gánh vác toàn bộ hoặc một phần tổn thất, pháp luật đã đặt ra các yêu cầu
khắt khe về năng lực tài chính và trình độ chuyên môn khi thành lập và vận hành một
tổ chức kinh doanh BHTS tại Việt Nam. Song, quan hệ giữa DNBH và BMBH phát
sinh trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm, cho nên hệ thống pháp luật hiện hành đã điều
chỉnh một cách tổng quan, sâu sắc các vấn đề phát sinh khi thực hiện các thỏa thuận
của hợp đồng này trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, kịp thời bảo vệ quyền lợi
chính đáng được Nhà nước công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trên cơ sở đánh giá thực
trạng pháp luật về BHTS hiện nay đã phản ánh một số hạn chế còn tồn đọng, cần khắc
khục trong quá trình thực thi pháp luật, đặc biệt là hoàn thiện công tác xây dựng quy
tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm và hoàn thiện các quy định về giải quyết bồi thường
trong BHTS để tránh tình trạng lợi dụng kẽ hở pháp luật mà trục lợi bất chính.
Cùng với sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về quản lý xã hội qua các thời kỳ, để
các chính sách BHTS ngày càng đi sâu vào thực tiễn các đời sống xã hội, đòi hỏi phải
có sự nghiêm túc chấp hành của các chủ thể tham gia mà cụ thể là DNBH và BMBH,
từ đó hạn chế các tranh chấp phát sinh, cân bằng quyền và nghĩa vụ của các thành
viên trong cộng đồng, xây dựng một thị trường bảo hiểm trong sáng và lành mạnh,
tăng quy mô bao phủ của nghiệp vụ BHTS ở nước ta, tạo ra các giá trị bền vững trong
77
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.