ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI THỊ LÊ
GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN (1997 - 2017)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN - 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI THỊ LÊ
GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN (1997 - 2017)
Ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ QUẾ LOAN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu“Giáo dục trung học cơ sở
huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (1997 - 2017)” dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Nguyễn Thị Quế Loan là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mai Thị Lê
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể và
cá nhân. Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Khoa Lịch sử trường Đại
học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên- cơ sở đào tạo; Trường THPT Phú Lương
- nơi tôi công tác; các cơ quan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi khai thác
tư liệu: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Thống Kê tỉnh Thái
Nguyên, Thư viện tỉnh Thái Nguyên, Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lương,
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương, các trường Trung học cơ sở trên
địa bàn huyện Phú Lương.
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi gửi lời cảm ơn đến cô
giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Quế Loan - người đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân, bạn bè và đồng nghiệp
đã luôn động viên, chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian
học tập và thực hiện luận văn.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mai Thị Lê
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC .......................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ............................................................... vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 2
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................. 4
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................... 5
5. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 6
6. Bố cục của luận văn ......................................................................................... 6
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ LƯƠNG VÀ TÌNH HÌNH
GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1997 ........................................................... 7
1.1. Khái quát về huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên ................................... 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và địa hình .................................................................. 7
1.1.2. Dân cư ........................................................................................................ 9
1.2. Tình hình giáo dục huyện Phú Lương trước năm 1997 .......................... 11
1.2.1. Tình hình giáo dục từ năm 1954 đến năm 1985 ...................................... 11
1.2.2. Tình hình giáo dục từ năm 1986 đến năm 1996 ...................................... 17
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 19
Chương 2. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THCS HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2017 ........................................................... 20
2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và việc thực
hiện ở huyện Phú Lương ......................................................................... 20
2.2. Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên và học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sinh Trung học cơ sở ............................................................................... 28
2.2.1. Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất ........................................................ 28
2.2.2. Đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh Trung học cơ sở ......................... 33
2.3. Chương trình và các hoạt động giáo dục ................................................. 36
2.3.1. Chương trình giáo dục ............................................................................. 36
2.3.2. Các hoạt động giáo dục ........................................................................... 41
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 46
Chương 3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THCS HUYỆN PHÚ
LƯƠNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2017........................................... 47
3.1. Những thành tựu của giáo dục THCS huyện Phú Lương ......................... 47
3.2. Những hạn chế của giáo dục THCS huyện Phú Lương ............................ 54
3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục THCS huyện Phú Lương .... 57
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 60
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
PHỤ LỤC ẢNH
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ cái viết tắt Nội dung
1 CSVC Cơ sở vật chất
2 GD - ĐT Giáo dục và đào tạo
3 NXB Nhà xuất bản
5 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
6 TH Tiểu học
7 THCS Trung học cơ sở
8 THPT Trung học phổ thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
9 UBND Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Số trường THCS trên địa bàn huyện Phú Lương (1997 - 2017) .............. 29
Bảng 2.2. Số trường, lớp khối THCS năm học 2016 - 2017 .................................... 31
Bảng 2.3. Số học sinh THCS huyện Phú Lương qua một số năm học ..................... 36
Bảng 3.1. Kết quả giáo dục mô hình trường học mới lớp 6 năm học 2015 - 2016 .. 49
Bảng 3.2. Kết quả xếp loại học lực bậc THCS qua một số năm học ....................... 50
Bảng 3.3. Chất lượng lên lớp, xét tốt nghiệp bậc THCS (tỉ lệ %) ............................ 51
Bảng 3.5. Kết quả xếp loại hạnh kiểm bậc THCS của một số năm học ................... 52
Bảng:
Biểu đồ 1.1. Dân số huyện Phú Lương qua các năm ..................................................... 9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Biểu đồ:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vị trí và vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo (GD - ĐT) đã được
Mác- Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều trong các tác phẩm của
mình. Kế thừa quan điểm Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn
nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của sự nghiệp GD - ĐT, luôn coi GD - ĐT
là quốc sách hàng đầu vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội
và, có vai trò cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và
bảo vệ tổ quốc.
Ở nước ta, sau hơn hai mươi năm đổi mới, nền giáo dục đào tạo đã có
nhiều chuyển biến và đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trước
những thách thức của sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ trong khu vực
và trên thế giới, trước những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa (CNH - HĐH) đất nước nền giáo dục cần được phát triển theo tốc độ nhanh,
chất lượng tốt hơn. Chúng ta chỉ có thể phát triển kinh tế xã hội một cách lành
mạnh và bền vững bằng việc chăm lo phát triển giáo dục với tốc độ nhanh hơn,
chất lượng tốt hơn, hiệu quả lớn hơn và đảm bảo công bằng trong giáo dục. Song
những thay đổi trong giáo dục - đào tạo vẫn còn chậm, còn nhiều bất cập so với
yêu cầu của phát triển kinh tế và khoảng cách khá xa so với các nước trong khu
vực. Bên cạnh đó cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng đến giáo dục cả mặt tích cực
lẫn mặt tiêu cực. Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương, bệnh thành tích
trong giáo dục, xuống cấp về đạo đức và văn hoá, những yếu kém trong quản lí
dạy thêm, học thêm tràn lan, chất lượng và hiệu quả GD - ĐT còn thấp chưa đáp
ứng kịp thời những đòi hỏi của xã hội ngày càng lớn về nguồn nhân lực có tri
thức. Mặt khác, đời sống của đội ngũ cán bộ giáo viên - lực lượng trực tiếp quyết
định chất lượng GD - ĐT còn nhiều khó khăn.
Phú Lương là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên.
1
Toàn huyện có 08 dân tộc cùng sinh sống. Trong những năm qua, cùng với cả
nước, GD - ĐT ở tỉnh Thái nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng đã
nhận được sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, vì vậy
đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Mạng lưới trường lớp
được hình thành và phát triển ở các địa bàn đáp ứng nhu cầu học của mọi
người. Tuy nhiên điều kiện phục vụ cho giảng dạy và học tập của Phú Lương
còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhiệm vụ đổi mới nội
dung chương trình, phương pháp dạy học; cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa đồng
bộ, vừa thừa vừa thiếu; một bộ phận giáo viên cao tuổi thể hiện chậm đổi mới,
không theo kịp trình độ phát triển của khoa học công nghệ, nhất là ở những xã
đặc biệt khó khăn. Về phía học sinh, nhiều em đặc biệt là các em học sinh dân
tộc ở vùng sâu, vùng xa do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không được đầu
tư cho học tập. Đó là thực tế những khó khăn mà huyện Phú Luơng cần phải
giải quyết nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và yêu cầu đổi mới của sự nghiệp
phát triển GD - ĐT, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
Nghiên cứu giáo dục trung học cơ sở (THCS) huyện Phú Luơng giai
đoạn 1997 - 2017 để làm rõ chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối
với giáo dục nói chung, những kết quả đã đạt được và tồn tại của giáo dục
THCS huyện Phú Lương qua các giai đoạn, từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm để góp phần đưa chất luợng giáo dục của huyện ngày một đi lên đáp
ứng yêu cầu của thời kì đổi mới.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn “Giáo dục trung học cơ sở huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (1997 - 2017)” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về giáo dục Việt Nam
nói chung cũng như giáo dục ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Trong quá trình
làm luận văn, tác giả đã tiếp cận được với các công trình sau:
Sách “Lịch sử giáo dục Việt Nam” được Nxb giáo dục phát hành năm
2
2004 của tác giả Bùi Minh Hiển cuốn sách bao gồm 8 chương. Cuốn sách đã sơ
lược giáo dục Việt Nam qua các thời kì lịch sử, từ giáo dục Việt Nam từ thời kì
phong kiến đến giáo dục Việt Nam thời kì đổi mới, đặc biệt giai đoạn 1975 đến
năm 2000. Cuốn sách đã giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về giáo dục Việt
Nam từ thời kì phong kiến đến đổi mới.
Năm 2005, trong luận văn thạc sĩ “Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên
từ khi tái lập tỉnh đến nay (1997 - 2005)”, tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã làm
bật được sự phát triển và đặc điểm của giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 1997 đến 2005. Luận văn đã cung cấp cho tác giả khái quát về tình
hình giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2005.
Trong cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” xuất bản năm
2008 của tác giả Đặng Quốc Bảo đã tập hợp các bài viết, bài nói, văn bản của
chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, tư tưởng về giáo dục của Người đã để lại
những bài học kinh nghiệm cho ngày nay.
Luận văn thạc sĩ “Chuyển biến về kinh tế - xã hội huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên trong thời kì đổi mới (1986 - 2005)” của tác giả Trần Minh Thu
(2010). Luận văn đã trình bày sơ lược tình hình kinh tế, xã hội huyện Phú
Lương trước năm 1986 và đi sâu nghiên cứu, phân tích những chuyển biến kinh
tế, xã hội huyện Phú Lương thời kì đổi mới. Luận văn đã cung cấp cho tác giả
khái quát về tình hình kinh tế, xã hội huyện Phú Lương thời kì đổi mới (1986 -
2005).
Luận văn thạc sĩ “Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên (1945 - 1954)”
của tác giả Bùi Thị Hoa (2011). Luận văn đã có cái nhìn khá đầy đủ về giáo
dục thổ thông tỉnh Thái Nguyên trong 10 năm đầu kháng chiến chống thực
dân Pháp. Luận văn đã giúp cho tác giả khái quát được về tình hình giáo dục
phổ thông tỉnh Thái Nguyên giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).
Luận án tiến sĩ “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010” của tác giả Đoàn Thị Yến (2011). Luận án
đã nêu lên được Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chủ trương, quán triệt chủ trương,
3
đường lối của Đảng về giáo dục và áp dụng vào thực tiễn địa phương. Luận án đã
cung cấp được cho tác giả chủ trương, đường lối của Đảng đối với giáo dục và
được áp dụng thực tiễn ở tỉnh Thái Nguyên cũng như tình hình giáo dục tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn từ 1997 đến năm 2010.
Luận văn thạc sĩ “Giáo dục Trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên (2009 - 2017)” của tác giả Trần Việt Huấn (2019) đã đi sâu
phân tích tình hình giáo dục THCS thành phố Thái Nguyên trên mặt như cơ sở
vật chất, quy mô trường, lớp, giáo viên, học sinh, chất lượng giáo dục trên địa
bàn thành phố. Luận văn giúp cho tác giả nhiều tài liệu về giáo dục Trung học
cơ sở thành phố Thái Nguyên từ năm 2009 đến năm 2017.
Cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về giáo dục trung
học cơ sở huyện Phú Lương giai đoạn từ 1997 đến 2017.
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giáo dục trung học cơ sở huyện
Phú Luơng tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến 2017.
3.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình giáo dục THCS huyện Phú Lương giai đoạn từ
năm 1997 đến năm 2017.
- Nghiên cứu những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và đề xuất giải
pháp nâng cao chất lượng giáo dục THCS huyện Phú Lương.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về huyện Phú Luơng và chủ trương, đường lối phát triển giáo
dục cơ sở của Đảng, Nhà nước và địa phương giai đoạn trước năm 1997.
- Nghiên cứu sự phát triển của giáo dục trung học cơ sở ở huyện Phú
Luơng giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2017.
- Kết quả đạt được và những hạn chế của giáo dục trung học cơ sở huyện
Phú Lương (1997 - 2017). Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở trên địa
4
bàn huyện Phú Lương.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: 17 Trường THCS thuộc huyện Phú Lương do Phòng
Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương quản lý.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu giáo dục THCS huyện Phú Lương
từ năm 1997 đến 2017. Tác giả chọn từ năm 1997 vì năm 1997 là năm tái thành
lập huyện Phú Lương sau khi bàn giao 10 xã phía Bắc huyện về Bạch Thông
tỉnh Bắc Kạn.
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu giáo dục THCS huyện Phú
Lương trên các mặt như cơ sở vật chất, hệ thống trường, lớp, đội ngũ cán bộ,
giáo viên, học sinh, các hoạt động giáo dục, những thành tựu, hạn chế và
phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục THCS trên địa bàn huyện.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Tác giả dựa trên 2 nguồn tư liệu chính để thực hiện luận văn:
Nguồn tài liệu thành văn, bao gồm:
- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của các cấp uỷ Đảng, chính
quyền, Bộ Giáo dục và Đào tạo, liên quan đến giáo dục đào tạo, giáo dục
THCS nói chung và giáo dục THCS ở huyện Phú Lương nói riêng; Các báo
cáo, thống kê, phương án năm học của các trường THCS, Phòng Giáo dục
huyện Phú Lương từ năm 1997 đến năm 2017.
- Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục, đặc biệt các luận văn,
các đề tài liên quan đến giáo dục ở Việt Nam nói chung và ở huyện Phú Lương
tỉnh Thái Nguyên nói riêng; Các tác phẩm Lịch sử đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,
Lịch sử đảng bộ huyện Phú Lương, lịch sử địa phương.
- Nguồn tài liệu thu được từ thực địa bao gồm ảnh về hoạt động giáo dục
của các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Lương.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình thực hiện, luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên
5
cứu chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử
nhằm khái quát một cách có hệ thống toàn cảnh bức tranh giáo dục THCS
huyện Phú Lương từ năm 1997 đến năm 2017. Phương pháp logic được sử
dụng nhằm đánh giá bản chất, tính tất yếu, quy luật vận động khách quan của
giáo dục THCS huyện Phú Lương. Từ đó, rút ra những nhận xét, phương
hướng nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện nói chung và giáo dục
THCS nói riêng.
- Ngoài ra, tác giả luận văn cũng vận dụng các phương pháp điền dã với
việc quan sát các hoạt động giáo dục tại các trường THCS ở huyện Phú Lương,
phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, hệ thống hoá bằng bảng
biểu, để luận văn có cái nhìn tổng quát hơn.
5. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ sự phát triển, những kết quả đạt được của giáo dục THCS
huyện Phú Luơng.
- Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của giáo dục THCS huyện Phú Lương
trong những năm 1997 - 2017; rút ra một số bài học kinh nghiệm và đưa ra giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian tới.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Khái quát về huyện Phú Lương và tình hình giáo dục trước
năm 1997.
Chương 2. Tình hình giáo dục THCS huyện Phú Lương từ năm 1997 đến
năm 2017.
Chương 3. Đánh giá tình hình giáo dục THCS huyện Phú Lương từ năm
6
1997 đến năm 2017.
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ LƯƠNG
VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1997
1.1. Khái quát về huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và địa hình
Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Năm 2017,
Phú Lương có diện tích 35071 Km2 với dân số 94.203 người (trong đó, dân số
ở nông thôn khoảng 87 nghìn người. Phía Bắc giáp huyện Bạch Thông, phía
Đông giáp huyện Võ Nhai, phía Nam và phía Đông Nam giáp thành phố Thái
Nguyên, phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ. Phú Lương có 13 xã, 2 thị trấn và
có giới hạn từ 21035’23’’ - 21055’06’’ vĩ độ Bắc và 105037’04’’ - 105048’02’’ kinh
độ Đông. Trong lịch sử, địa danh và địa giới huyện Phú Lương có nhiều sự
thay đổi.
Ngày 18 - 12 - 1996, quán triệt Nghị Quyết kì họp thứ 10 Quốc hội khóa
IX và chỉ thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tái lập
tỉnh Thái Nguyên, Huyện ủy cùng với Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
huyện Phú Lương đã tổ chức lễ bàn giao 10 xã phía Bắc huyện (Nông Hạ, Nông
Thịnh, Thanh Bình, Chợ Mới, Yên Đĩnh, Quảng Chu, Như Cố, Bình Văn, Yên
Hân, Yên Cư) về huyện Bạch Thông của tỉnh Bắc Kạn tại Thị trấn Đu.
Năm 2013, thực hiện Nghị quyết 124/NQ - CP của Ủy ban Nhân dân tỉnh
Thái Nguyên về điều chỉnh địa giới hành chính xã Động Đạt và Phấn Mễ để mở
rộng địa giới hành chính thị trấn Đu. Một số xóm thuộc xã Động Đạt (Xóm
Cây Châm, xóm Cầu Lân, Xóm Tân Lập) và Phấn Mễ (xóm Lân 1, xóm Lân 2,
xóm Tràng Học, xóm Mấu 2) được sát nhập vào thị trấn Đu.
Đến năm 2017, thực hiện điều chỉnh địa giới và hành chính, xã Sơn Cẩm đã
chuyển về thành phố Thái Nguyên. Đến năm 2019, huyện Phú Lương bao gồm 15
đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc và 2 thị trấn là thị trấn Đu và thị trấn Giang
7
Tiên cùng với đó là 13 xã là Yên Ninh, Cổ Lũng, Tức Tranh, Động Đạt, Ôn
Lương, Hợp Thành, Phấn Mễ, Vô Tranh, Phú Đô, Phủ Lý, Yên Đổ, Yên Lạc,
Yên Trạch) bao gồm 240 xóm, 14 tổ dân phố.
Huyện Phú Lương được chia thành 2 vùng rõ rệt với nhiều đồi núi dốc,
do đó có địa hình khá phức tạp. Phía Bắc, gồm các xã Hợp Thành, Ôn Lương,
Phủ Lý, Yên Lạc, Yên Ninh, Yên Trạch. Các xã này có địa hình dốc, đồi núi và
khá phức tạp. Giao thông và cơ sở hạ tầng ở đây tương đối khó khăn (độ dốc:
250 - 300 và độ cao từ 500m - 1000m). Phía Nam của huyện gồm thị trấn Đu, thị
trấn Giang Tiên, xã Phấn Mễ, xã Động Đạt, xã Vô Tranh. Địa hình ở các xã, thị
trấn này chủ yếu là đồi, núi thấp và các thung lũng (độ dốc: 150 - 250 và độ cao
từ 100m - 300m). Núi ở đây thường đan chéo vào nhau với các đồi núi cao, tạo
nên các bậc thềm lớn.
Địa hình huyện Phú Lương nằm trong phần sau của cánh cung Ngân Sơn
và hệ kiến tạo hình thành của địa hình tỉnh Thái Nguyên. Huyện Phú Lương có
nhiều đồi núi thấp, đồi núi đá vôi với dạng đồi bát úp, sườn thoải gồm các loại
sa phiến thạc, một số đồi núi đã thành các ruộng bậc thang trong quá trình
người dân khai phá.
Huyện Phú Lương có hệ thống sông, suối tương đối lớn. Ao, hồ, sông,
suối trong địa bàn huyện chạy qua 5 xã, thị trấn. Đó là, thị trấn Đu, thị trấn
Giang Tiên, Yên Đổ, Cổ Lũng và Phấn Mễ. Trong đó, các xã Vô Trang, Tức
Tranh, Sơn Cẩm và Phú Đô nằm cạnh sông Cầu - một con sông bắt nguồn từ
Bắc Cạn có chiều dài 17km. Con sông này vừa đen lại nguồn tưới tiêu lớn cho
các xã phía Nam của huyện vừa là nơi phân chia địa danh giữa huyện Đồng Hỷ
và huyện Phú Lương. Sông Đu và các nhánh sông Đu tương đối lớn với tổng
chiều dài khoảng 45m (trong đó, nhánh sông chính dài khoảng 10km). Sông
nằm ở phía Bắc của huyện, ngoài cung cấp nước tưới, sông Đu còn cung cấp
lượng thủy sản khá dồi dào “cơm làng Giá, cá chợ Đu”.
Như vậy, với hệ thống sông, suối, ao, hồ tương đối lớn và phân bố đồng
đều ở các vùng đã đủ phục vụ nhu cầu cho người dân trong huyện sinh hoạt và
8
sản xuất. Từ đó, góp phần nâng cao năng suất và phát triển kinh tế.
Về khí hậu, huyện Phú Lương có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng
ẩm, mưa nhiều và được chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), lượng mưa trung bình hàng năm
của huyện từ 1800 - 2000 mm, nhiệt độ từ 250 - 300, độ ẩm khoảng 80%. Vào
mùa khô, huyện Phú Lương thường xuyên bị khô hạn do lượng nước bốc hơi
vào mùa này cao.
Tuy là một huyện miền núi, nhưng hệ thống giao thông vận tải ở huyện
Phú Lương tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an
ninh. Trên địa bàn huyện có 3 tuyết đường bộ quan trọng chạy qua: Quốc lộ 3,
quốc lộ 37 và đường 254. Trong đó, quốc lộ 3 với chiều dài hơn 50km chạy qua
8 xã và thị trấn là tuyến đường lớn và quan trọng nhất đi qua địa bàn huyện.
Quốc lộ 37 qua địa bàn huyện từ ngã ba Bờ Đậu qua huyện Đại Từ sang Tuyên
Quang. Ngoài ra, còn có tuyến đường 254 đi từ km 31 lên huyện Định Hóa
(Thái nguyên).
1.1.2. Dân cư
Trong những năm qua, dân số huyện Phú Lương có nhiều biến động
(xem biểu đồ 1.1)
9
Biểu đồ 1.1. Dân số huyện Phú Lương qua các năm
Trước Cách mạng Tháng Tám, dân số trong huyện Phú Lương chưa tới
10.000 người. Đến 01- 04- 1989, dân số của huyện là 107.390 người, năm 1996
là 110.000 người. Năm 1997, do thay đổi địa giới hành chính, huyện Phú
Lương đã bàn giao 10 xã phía Bắc huyện về Bạch Thông tỉnh Bắc Cạn. Vì vậy,
dân số trên địa bàn huyện bắt đầu giảm. Đến năm 2006, dân số huyện Phú
Lương là 105.077 người. Tuy nhiên, đến năm 2017, xã Sơn Cẩm chuyển về
Thành phố Thái Nguyên do điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh nên dân số
huyện Phú Lương đã bị giảm đáng kể, chỉ còn 94.203 người đến năm 2018 dân
số huyện Phú Lương 94.415 người.
Phú Lương là một huyện làm nông nghiệp là chủ yếu nên dân số nông
thôn chiếm tỉ lệ cao. Theo niên giám thống kê năm 2008, tỉ lệ nông thôn ở
huyện Phú Lương lên tới 92,6%, tỉ lệ sống ở thành thị chỉ có khoảng 7,4%. Đến
năm 2016, dân số nông thôn ở huyện là 97.300 người, trong khi đó số người
sống ở thành thị là 11.950 người [16, tr.24,25]. Mật độ dân số của huyện trung
bình 288 người/km2. Trong đó, thị trấn Đu có mật độ dân số cao nhất là 18,727
người/km2, Yên Ninh là xã có mật độ dân số thấp nhất là 128 người/km2.
Dân cư huyện Phú Lương chủ yếu là dân bản địa sống trên địa bàn
huyện từ lâu đời. Một số khác là dân cư các tỉnh miền xuôi như Thái Bình,
Nam Định, Hà Tây… di cư lên theo chương trình xây dựng các vùng kinh tế
mới của Nhà nước.
Huyện Phú Lương là nơi tập trung 08 dân tộc anh em cùng sinh sống.
Những dân tộc này họ sống xen kẽ nhau, đùm bọc và gắn bó với nhau trong sản
xuất cũng như trong cuộc sống đời thường như ma chay, cưới hỏi. Đúng như
câu tục ngữ của người Tày “Pì nọong tam tó, bó tày pì nọong só rườn”, hay của
dân tộc Kinh: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Tinh thần đoàn kết, tương
thân tương ái này trở thành truyền thống quý báu của các dân tộc trong huyện
Phú Lương.
Trong sản xuất và đời sống hàng ngày, các dân tộc trên địa bàn huyện Phú
10
Lương luôn cần cù, chịu thương, chịu khó và thông minh. Công việc chủ yếu của
cư dân là làm ruộng, phát nương làm rẫy. Cư dân ở đây đã tích lũy được nhiều
kinh nghiệm trong sản xuất để tăng năng suất lao động và tạo ra những đặc sản
vùng, đúng như câu “Cơm làng Giá, cá làng Đu”. Trong quá trình chinh phục
thiên nhiên, họ chế tạo ra các loại vũ khí (cung, nỏ…) hay dệt vải, đắp đê trong
sinh hoạt và sản xuất. Ngoài cây lúa là chủ đạo, Phú Lương còn phát triển một số
loại cây công nghiệp, cây ăn quả nhất là cây chè trên đất Feralit.
Phú Lương là huyện có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó,
dân tộc Kinh là đông nhất chiếm hơn 50% dân số. Ngoài ra, còn có các dân tộc
Tày, Sán Chay, Nùng, Sán Dìu, Thái, Hoa, H’mông và một số dân tộc khác.
Các dân tộc trên địa bàn huyền đều mang những phong tục, tập quán và sắc thái
riêng của dân tộc mình. Tiêu biểu, điệu Sli của dân tộc Nùng, hát lượn của dân
tộc Tày. Trong những năm gần đây, di sản văn hóa “Lễ hội cầu mưa” của dân
tộc Sán Chay ở xã Tức Tranh huyện Phú Lương được công nhận là văn hóa phi
vật thể cấp quốc gia và được nhiều người biết đến. Đây là những món ăn tinh
thần nhân dân Việt Nam nói chung và huyện Phú Lương nói riêng.
1.2. Tình hình giáo dục huyện Phú Lương trước năm 1997
1.2.1. Tình hình giáo dục từ năm 1954 đến năm 1985
Năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu” giúp cho miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng và bắt
đầu bước vào thời kì xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Tháng /1956, chính
sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được ban hành
theo đề án cải cách giáo dục lần hai. Hệ thống trường phổ thông 9 năm được
thay thế bằng hệ thống giáo dục mới 10 năm gồm 3 cấp học: cấp 1 (từ lớp 1
đến lớp 4); cấp 2 (từ lớp 5 đến lớp 7); cấp 3 (từ lớp 8 đến lớp 10). Huyện Phú
Lương cũng như các tỉnh miền núi, thời gian học cấp 1 là 5 năm vì học thêm
một lớp vỡ lòng trước khi trẻ bước vào lớp 1.
Thực hiện nghiêm túc chính sách cải cách giáo dục phổ thông của nước
11
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1956), đến cuối năm 1957, phần lớn các xã
ở huyện Phú Lương đều có trường cấp I; huyện xây thêm một trường phổ thông
cấp II (một lớp 5, hai lớp 6, tổng số học sinh 131 và 6 giáo viên) [38, tr.20].
Công tác công đoàn, các tổ chuyên môn bước đầu được xây dựng.
Từ năm 1957 đến năm 1960, huyện Phú Lương thực hiện nhiệm vụ kế
hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa. Huyện đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế -
xã hội. Trong đó, giáo dục huyện Phú Lương có bước tiến đáng kể. Để nâng
cao chuyên môn, hằng năm, Phòng Giáo dục huyện Phú Lương tổ chức các lớp
bồi dưỡng, huấn luyện về chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên (riêng
quý III năm 1957 có 53 cán bộ giáo viên được tham gia lớp huấn luận ngắn
ngày do Phòng Giáo dục huyện Phú Lương tổ chức). Ngoài ra, cán bộ giáo viên
còn được đi tham quan, học tập từ đó khích lệ tinh thần của các bộ trong ngành
giáo dục.
Phong trào bình dân học vụ tiếp tục được củng cố. Huyện cử các cán bộ
có chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên kiểm tra, giúp đỡ phong trào. Do đó, đã
có 13/14 xã có phong trào bình dân học vụ, tiêu biểu là 4 xã Yên Đổ, Cổ Lũng,
Phấn Mễ, Yên Trạch. Năm 1957 phong trào bình dân học vụ huyện Phú Lương
đã có 60 lớp công, 1 lớp tư, với gần 90 giáo viên [38, tr21]. Phong trào xóa nạn
mù chữ cũng được quan tâm. Được sự giúp đỡ của các ban, ngành trong huyện,
nhất là Đoàn thanh niên. Với sự cố gắng đó, năm 1960 huyện Phú Lương có tổng
cộng 9/14 xã, 78/132 xóm đã căn bản hoàn toàn xoá nạn mù chữ cho 1.993
người ở độ tuổi từ 12 đến 45 (đạt tỉ lệ 84%). Cũng trong năm này, đã có 640 cán
bộ xã từ hệ bổ túc văn hoá được chuyển lên học lớp 1 và lớp 3 [38, tr.21].
Theo cải cách giáo dục năm 1956 của Bộ Giáo dục, các tỉnh miền núi
trước khi vào lớp 1 trẻ phải học thêm một lớp vỡ lòng. Thực hiện nghiêm túc
quy định này, Giáo dục vỡ lòng huyện Phú Lương khá phát triển. Đến năm
1960, trừ các xã Phú Đô, Yên Lạc và Yên Ninh thì toàn huyện đã có 11/14 xã
có các lớp vỡ lòng (đạt tỉ lệ 78,5%). Trong đó, các xã mở các lớp vỡ lòng nhiều
12
nhất là Tân Thành, Hợp Thành, Phủ Lý, Phấn Mễ, Yên Trạch (đạt tỉ lệ trên
90%). Bên cạnh việc mở các lớp vỡ lòng, các trường cấp I và cấp II cũng phát
triển khá nhanh. Năm học 1959 - 1960, huyện Phú Lương đã có tổng cộng 11
trường cấp I và 1 trường cấp II. Số giáo viên và học sinh không ngừng tăng lên
với 49 giáo viên và 1.721 học sinh năm học 1959 - 1960 thì đến năm học 1960
- 1961 con số này tăng lên 59 giáo viên và 2.363 học sinh. Học sinh lớp 6 lên
lớp 7 và số học sinh tốt nghiệp cấp II đều đạt 100% [38, tr.39].
Từ năm 1961 đến năm 1965, huyện Phú Lương gặp nhiều khó khăn,
trong phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng không vì lý do đó mà ngành giáo dục
huyện bị suy yếu. Ngược lại, giáo dục huyện Phú Lương trong thời gian này có
bước phát triển tương đối nhanh. Trong năm học 1961 - 1962, từ lớp vỡ lòng
đến cấp II của toàn huyện có 14 lớp với hơn 600 học sinh, con số này tăng lên
156 lớp với tổng số hơn 5 nghìn học sinh trong năm học 1962 - 1963. Bước
sang năm học 1964 - 1965, toàn huyện đã có tới gần 5 nghìn học sinh cấp I và
học sinh cấp II [38, tr.72].
Phú Lương là một huyện còn nhiều vùng còn gặp nhiều khó khăn, nhất là
vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện chính sách giáo dục đối
với các dân tộc trên địa bàn huyện và đào tạo con em đồng bào các dân tộc
thuộc diện chính sách thành những cán bộ có trình độ văn hoá và phẩm chất
chính trị trở về phục vụ công tác ở địa phương và hợp tác xã, huyện Phú Lương
đã xây dựng trường Thanh niên xã hội chủ nghĩa (năm 1961) tạo điều kiện vừa
học vừa làm đối với các học sinh.
Trường Thanh niên xã hội chủ nghĩa khi mới xây dựng đã thu hút được
121 học sinh (trong đó có 75 nam và 46 nữ). Sang năm 1962, trường Thanh
niên xã hội chủ nghĩa đã được đón Bác Hồ, các tỉnh và các trường bạn đến
tham quan, học tập vì có thành tích xuất xắc trong sản xuất và học tập. Đây là một
động lực khích lệ tinh thần đối với thầy và trò cả nhà trường để hoàn thành tốt hơn
nữa trong công tác giáo dục. Tuy nhiên, đến năm 1963 nhà trường đã gặp nhiều
khó khăn về lương thực thực phẩm và cơ sở vật chất. Những khó khăn này ảnh
13
hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học của thầy và trò nhà trường.
Để khắc phục khó khăn, Huyện ủy đã kịp thời giúp đỡ nhà trường tăng
cường sản xuất lương thực thực phẩm, chuyển trường Thanh niên xã hội chủ
nghĩa đến một địa điểm khác. Điều này đã giúp cho cán bộ giáo viên và học
sinh yên tâm giảng dạy và học tập. Đến cuối năm 1963, nhà trường đã đi vào
hoạt dộng nhưng vẫn còn khó khăn về cơ sở vật chất.
Thanh toán nạn mù chữ tiếp tục được thực hiện. Nếu như năm 1960, toàn
huyện có trên 1000 người mù chữ (thuộc 7 xã Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô,
Yên Ninh, Sơn Cẩm, Cổ Lũng), thì đến năm 1961, tỉ lệ mù chữ toàn huyện chỉ
còn 14,1 %, nhưng vẫn chưa đạt kế hoạch tỉnh giao (92,5%) [38, tr.73]. Các tổ
chức lãnh đạo huyện Phú Lương đã thực hiện nhiều biện pháp để giải quyết dứt
điểm việc thanh toán nạn mù chữ trên địa bàn, nhất là kêu gọi sự tham gia của
đoàn thanh niên xung phong tham gia mặt trận này. Nhờ những biện pháp tích
cực trên, đến ngày 19/5/1961, nạn mù chữ trên địa bàn huyện cơ bản được
thanh toán.
Về công tác bổ túc văn hóa. Nhiều xã trên địa bàn huyện tổ chức các lớp
bổ túc văn hóa để bồi dưỡng văn hóa cho cán bộ chủ chốt ở xã và hợp tác xã.
Năm 1959, xây dựng trường bổ túc văn hóa của huyện Phú Lương và không
ngừng được mở rộng qua các năm. Nhờ đó, có rất nhiều cán bộ được nâng cao
trình độ từ lớp 1, lớp 2 lên lớp 6, lớp 7. Năm 1961 các xã Hợp Thành, Tân
Thành, Vô Tranh, Động Đạt, Phấn Mễ, Yên Ninh tổ chức các lớp bổ túc về văn
hóa cấp I với 76 học viên theo học [38, tr.74].
Từ năm 1965, các hoạt động kinh tế - xã hội huyện Phú Lương xác định
chuyển từ thời bình sang thời chiến. Trong đó, Giáo dục và đào tạo được đặc
biệt quan tâm và đạt được nhiều thành tựu. Tiêu biểu là việc thành lập trường
Phổ thông cấp III Phú Lương (năm học 1965 - 1966) với 126 học sinh. Do đó,
số học sinh và giáo viên toàn huyện tăng nhanh. Năm học 1965 - 1966, huyện
Phú Lương tăng từ 4.867 học sinh lên 5.163 học sinh, số giáo viên từ 153 lên
14
188 giáo viên so với năm học trước đó [38, tr.96]. Để nâng cao chất lượng giáo
dục các cơ quan và tổ chức trong huyện không ngừng quan tâm lãnh đạo, xây
dựng, nâng cao bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, giáo viên các trường.
Bước sang năm học 1966 - 1967, miền Bắc nước ta đương đầu với cuộc
chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ ở miền Bắc. Tỉnh
Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng chịu ảnh hưởng không
nhỏ bởi cuộc chiến tranh này. Tuy nhiên, bằng sự quan tâm của các cấp, chính
quyền, giáo dục trên địa bàn huyện có bước phát triển nhanh chóng về quy mô.
Tổng số học sinh cấp I, cấp II, cấp III đều tăng nhanh. Năm học 1966 - 1967,
toàn huyện có 14 trường cấp I, mỗi xã có 1 trường, với 137 lớp, 4.360 học sinh
(tăng 13,1% so với năm học trước), giáo viên tăng 18%; 5 trường cấp II với 32
lớp, 1.240 học sinh (tăng 24%), giáo viên tăng 17%; 1 trường cấp III với 4 lớp
(2 lớp 8, 1 lớp 9 và 1 lớp 10) với 192 học sinh (tăng 34%), giáo viên tăng 2,2%.
Cùng với đó là 82 lớp vỡ lòng với 2.884 học sinh [38,109].
Từ năm 1970 - 1975, giáo dục huyện Phú Lương có nhiều dấu hiệu
chuyển biến tốt. Có được điều này một phần là do Mĩ chấm dứt cuộc chiến
tranh leo thang ở miền Bắc, nhân dân miền Bắc nói chung và huyện Phú Lương
nói riêng có điều kiện hòa bình để phát triển kinh tế - xã hội. Tất cả học sinh
trên địa bàn huyện trong độ tuổi đến trường đều được đi học. Cứ 5 người dân
thì có 2 người được đi học, đây là một dấu hiệu đáng mừng đối với giáo dục
của một huyện miền núi. Chất lượng dạy và học ở các cấp, các phong trào thi
đua đều được đẩy mạnh và nâng cao. Năm học 1973 - 1974 kết quả thi hết các
cấp I, II, III đều tăng qua các năm và đạt trên 85% riêng cấp III đạt 90%. (so
với năm học 1972 - 1973, cấp I tăng 6%, cấp II tăng 8%, cấp III tăng 10%).
Năm học 1974 - 1975 tỉ lệ đỗ tốt nghiệp cả 3 cấp đều vượt chỉ tiêu [38, tr.165].
Để có được những thành tựu vượt bậc trên là sự quan tâm, tận tụy của
các cấp chính quyền đến các thầy và trò trên địa bàn huyện để thầy giáo, cô
giáo yên tâm cống hiến. Bên cạnh những thành tựu trên, giáo dục còn những hạn
chế nhất định về cơ sở vật chất, nhất là giáo dục mầm non. Một số học sinh vùng
15
sâu, vùng xa đi lại khó khăn, kinh tế thiếu thốn không có điều kiện cho con em đi
học; một số thầy cô giáo còn chưa ý thức hết trách nhiệm với nghề. Do đó, tính
đến đầu năm 1975, huyện Phú Lương có tới gần 100 trẻ em không được đến
trường và nhiều em không theo học được hết cấp I phải nghỉ học để giúp đỡ gia
đình. Đối với công tác bổ túc văn hóa giai đoạn này cũng đã được quan tâm
nhưng chưa được phổ biến trên quy mô rộng lớn ở các cơ quan, xí nghiệp.
Hòa chung với cả nước trong đại thắng mùa Xuân năm 1975, kinh tế - xã
hội huyện Phú Lương có những bước tiến mới. Trong đó, giáo dục huyện Phú
Lương đạt được nhiều thành tích trên cả 3 ngành học: Vỡ lòng, phổ thông và bổ
túc văn hóa. Năm 1976, huyện Phú Lương có khoảng 2 vạn học sinh các cấp,
bình quân đạt 3 người dân thì có 1 người được đi học. Công tác bổ túc văn hóa
mở rộng về quy mô về cả các cơ quan và nông thôn. Nhiều cán bộ chủ chốt,
thanh niên, người dân tích cực tham gia học lớp bổ túc văn hóa cấp 1 và cấp 2.
Tình trạng học 3 ca cũng cơ bản được giải quyết do cơ sở vật chất được quan
tâm tu sửa và mua sắm thêm để phục vụ cho việc dạy và học. Phong trào thi
đua dạy tốt, học tốt ở các trường phổ thông được chú ý. Do đó, chất lượng giáo
dục các cấp được nâng lên.
Huyện Phú Lương luôn phấn đấu tăng cường thêm cơ sở vật chất, nhất là
đối với giáo dục mầm non, cố gắng 100% con em đồng bào trên địa bàn huyện
đến tuổi đi học được đến trường; quan tâm đến đời sống và bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ đối với giáo viên.
Trong những năm 1980 - 1985, tình hình thế giới và trong nước có
những thay đổi đáng kể. Thực hiện chủ trương chung của Đảng về cải cách
giáo dục của Bộ Chính trị năm 1979, giáo dục huyện Phú Lương tăng cường
cải cách việc bồi dưỡng giáo viên, cải cách sư phạm và mở rộng về quy mô và
tăng nhanh về số lượng. Trên cả huyện có tổng 25 trường phổ thông cơ sở, 2
trường phổ thông trung học với tổng 18.831 học sinh, 5 lớp bổ túc văn hóa (156
16
học viên). Tỉ lệ thi đỗ tốt nghiệp các cấp luôn đạt từ 93% trở lên [38, tr.209].
1.2.2. Tình hình giáo dục từ năm 1986 đến năm 1996
Năm 1986 là mốc đánh dấu mở đầu cho công cuộc đổi mới một cách
toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội ở Việt Nam. Đối với giáo dục,
phải đa dạng hóa các hình thức đào tạo, hình thức trường, lớp, ban hành quy
chế các trường, lớp dân lập và tư thục.
Hưởng ứng công cuộc đổi mới của Đảng, bên cạnh ra sức phát triển kinh
tế trên mọi lĩnh vực công, nông, lâm nghiệp, huyện Phú Lương còn quan tâm
đầu tư trên lĩnh vực an ninh quốc phòng, văn hóa - xã hội trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, trong thời kì sau đổi mới, kinh tế huyện Phú Lương gặp nhiều
khó khăn và rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Kéo theo đó giáo dục huyện có
nhiều biểu hiện đi xuống so với thời kì trước. Mặc dù số học sinh đi học vẫn
tăng lên qua các năm (năm 1989 tăng 1.182 em so với năm 1986) nhưng kết
quả học tập của học sinh giảm sút nghiêm trọng, học sinh lưu ban ngày càng
tăng, học sinh bỏ học cũng ngày càng nhiều lên (năm học 1986 - 1987 có 3,5%
học sinh bỏ học, thì con số này tăng lên 10% trong năm học 1988 - 1989). Tỉ lệ
đỗ tốt nghiệp các cấp đều giảm nhiều so với giai đoạn trước. Nếu như trước
đây, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp luôn đạt trên 80%, thì đến năm 1987 giảm
xuống còn 73,8%, con số này đến năm 1988 giảm còn 61,08% và đến năm
1989, chỉ đạt 34,7%.
Giáo dục huyện Phú Lương có những yếu kém trên phần lớn là do công
tác quản lý, lãnh đạo của huyện còn bỡ ngỡ, ít kinh nghiệm trong việc đổi mới
từ cơ chế tập trung quan liêu sang xã kinh tế xã hội chủ nghĩa. Để khắc phục
những hạn chế này, các cấp chính quyền của huyện Phú Lương đã kịp thời
kiểm điểm đồng thời có những định hướng, triển khai các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng giúp cho kinh tế - xã hội nói chung và sự nghiệp giáo dục nói riêng
vượt qua khó khăn và có bước tiến mới.
Trong thời kì những năm 1991 - 1995, với những quyết tâm cũng như
17
nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền, sự giúp đỡ của
toàn thể các ngành, quần chúng nhân nhân, giáo dục cả 3 cấp học, ở các ngành
học đều phát triển. Trên toàn địa bàn huyện có 12 trường mẫu giáo, trường tiểu
học và phổ thông cơ sở là 36 trường, phổ thông trung học là 1 trường, trường
liên cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học là 1 trường. 98% trẻ em trong
độ tuổi đi học được đến trường với tổng số học sinh hơn 31 nghìn em. Tuy tỉ lệ
học sinh theo học đến bậc trung học phổ thông là khá thấp (năm 1991 có 314
học sinh chỉ chiếm 1,5% tổng số học sinh phổ thông, đến năm 1995 con số này
đạt cao nhất cũng chỉ có 927 học sinh chiếm 1,5 tổng số học sinh phổ thông).
Tuy nhiên, tổng số học sinh phổ thông vẫn tăng đều qua các năm với khoảng
gần 1.500 học sinh.
Cũng trong giai đoạn 1991 - 1995, với việc tăng cường đầu tư cơ sở vật
chất cho các trường, lớp, quyết tâm đáp ứng đầy đủ nhu cầu dạy và học. Nhờ
những cố gắng trên của Phòng Giáo dục huyện Phú Lương đã xây dựng thêm
thiều lớp học.
Năm 1991, tổng số lớp học trên toàn huyện Phú Lương là 734 thì đến
năm 1995 tổng số lớp tăng lên 892. Cơ sở vật chất được đầu tư là điều kiện
thuận lợi cho thầy và trò yên tâm dạy và học, giúp cho thành tích dạy và học
được duy trì và từng bước được phát triển. Điều này được thể hiện ở học sinh
lên lớp và tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các cấp tăng đều qua các năm. Học sinh
đỗ tốt nghiệp cả 3 cấp luôn đạt trên 95 %. Giáo viên luôn phấn đấu để đạt
chuẩn, thi đua đạt thành tích giáo viên giỏi các cấp huyện, tỉnh. Trong năm học
1994 - 1995 đã có 15 thầy cô giáo đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, giáo viên
dạy giỏi cấp tỉnh là 3 thầy, cô giáo. Công tác phổ cập tiểu học được quan tâm.
Đến năm 1995, đã có 24/26 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học.
Bên cạn đó, việc dạy và học ngoại ngữ đã bắt đầu được phát động ở các trường
18
học [38, tr.255].
Tiểu kết chương 1
Phú Lương là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên,
điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng với lòng yêu nước của các dân tộc sinh sống
trong huyện là yếu tố thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển.
Từ năm 1954 đến năm 1997, cùng với những thăm trầm của lịch sử dân
tộc, nhân dân huyện Phú Lương ra sức xây dựng quê hương, đặc biệt là văn hóa
- giáo dục. Giáo dục huyện Phú Lương bước đầu xây dựng được các hệ thống
trường, lớp cơ bản đáp ứng được yêu cầu xóa nạn mù chữ và nhu cầu học tập
của nhân dân. Tuy nhiên, giáo dục huyện Phú Lương còn những hạn chế về cơ
sở vật chất, giáo viên, trình độ dân trí của người dân. Được sự quan tâm của các
cấp ủy Đảng, của nhân dân là động lực quan trọng giúp cho giáo dục huyện
19
Phú Lương có bước phát triển trong thời gian tới.
Chương 2
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THCS HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2017
2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và việc thực
hiện ở huyện Phú Lương
Những yếu tố tác động đến giáo dục THCS huyện Phú Lương (1997 -
2017) đó là vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên; các đặc điểm kinh tế - xã hội, hệ
thống giáo dục, đào tạo; cơ sở hạ tầng; dân số và nguồn lao động; tình hình
giáo dục THCS huyện Phú Lương trước năm 1997. Sự nghiệp giáo dục THCS
ở huyện Phú Lương cũng có những khó khăn nhất định của một huyện miền
núi, đặc biệt là điều kiện về cơ sở vật chất, chất lượng dạy và học ở những địa
phương miền núi, vùng cao.
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, Đảng ta đã nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của giáo dục - đào
tạo trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, đặc biệt là thời kỳ công
nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
(từ ngày 28-6 đến 1-7-1996), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương coi giáo dục
- đào tạo là quốc sách hàng đầu; xây dựng những thế hệ con người gắn bó với
lý tưởng độc lập dân tốc và xã hội chủ nghĩa; coi giáo dục là sự nghiệp của toàn
Đảng, toàn Nhà nước và toàn dân, tất cả mọi người đều được đi học, học
thường xuyên và học suốt đời; luôn thực hiện công bằng trong giáo dục; xây
dựng hoàn chỉnh và đặc biệt là phát triển giáo dục bậc mầm non cho hầu hết
các trẻ em trong độ tuổi đến trường; phát triển giáo dục ở vùng dân tọc thiểu số
và các vùng khó khăn; khắc phục những yếu kém và tiêu cực trong giáo dục và
đào tạo.
Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình GDPT và Nghị
20
quyết số 41/2000/QH10 về thực hiện phổ cập THCS của Quốc hội khóa X đã
nhấn mạnh, mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là phải
thực hiện đồng bộ đổi mới về nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương
pháp dạy và học với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức
đánh giá, thị cử, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục. Tiến độ đổi
mới chương trình GDPT, đổi mới sách giáo khoa từ lớp 1 và lớp 6 (năm học
2002 - 2003), lớp 10 (năm học 2004 - 2005) và thực hiện đổi mới về chương
trình và sách giáo khoa tất cả các lớp cuối cấp vào năm học 2006 - 2007. Mục
tiêu giáo dục phổ cập giáo dục THCS giai đoạn 2001 - 2010 là phải bảo đảm
cho hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để
đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chỉ thị 61/CT-TW “Về việc thực hiện phổ cập THCS” ngày 28-12-2000
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII chỉ rõ, để hoàn thành phổ cập
giáo dục THCS vào năm 2010 các ban ngành, đoàn thể, chính quyền và các cấp
ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải đồng lòng thực hiện 06 nhóm giải
pháp lớn mà Đảng ta đề ra. Đó là:
1. Nhanh chóng xây dựng và thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trung
học cơ sở gắn với việc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục
theo hướng cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ, với
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mở cửa, hội nhập,
toàn cầu hoá, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Củng cố và phát huy kết quả của công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo
dục tiểu học; tiếp tục công việc này ở những nơi còn chưa đạt chuẩn.
3. Có kế hoạch tiếp tục củng cố và xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị
trường học theo hướng tiêu chuẩn hoá và hiện đại hoá.
4. Có kế hoạch cụ thể củng cố và nâng cao năng lực và chất lượng đào
21
tạo của các trường sư phạm, đặc biệt là đổi mới nội dung và phương pháp giảng
dạy nhằm đảm bảo đủ về số lượng và chuẩn hoá về trình độ của đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý giáo dục để thực hiện tốt nội dung chương trình phổ cập
giáo dục trung học cơ sở. Mở rộng và hoàn thiện mạng lưới trường trung học
cơ sở, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp,
hướng nghiệp; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ thoả
đáng đối với giáo viên nói chung và giáo viên tham gia công tác phổ cập trung
học cơ sở nói riêng.
5. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động giáo dục, đặc biệt đối với việc phổ
cập giáo dục trung học cơ sở. Các cấp uỷ đảng, uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân
dân phải có kế hoạch chỉ đạo ngay từ năm học này và thường xuyên kiểm tra,
đôn đốc làm tốt công tác tuyên truyền, vận động học sinh, giáo viên, nhân dân
thực hiện đúng tiến độ và có chất lượng phổ cập trung học cơ sở ở địa phương.
6. Những nơi đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở cần tiếp tục củng
cố, nâng cao chất lượng, tổ chức phân luồng sau cấp học này và tuỳ điều kiện
có thể tiến hành phổ cập bậc trung học (trung học phổ thông, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề).
Trong 06 nhóm giải pháp này, đổi mới chương trình giáo dục và phát
triển lực lượng nhà giáo là những giải pháp trọng tâm, đổi mới quản lý giáo dục
là khâu đột phá.
Đại hội IX (diễn ra từ ngày 19 đến ngày 22-4-2001), Đảng ta nhấn mạnh:
giáo dục và đạo tạo là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện. Đổi mới nội dung và phương pháp dạy - học. Đẩy mạnh phong trào và
nâng cao năng lực tự học trong nhân dân bằng những hình thức chính quy và
không chính quy. Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Đối với giáo dục mầm
non, mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,
22
nhất là ở những vùng sâu, vùng xa. Đối với giáo dục tiểu học, cố gắng ngày
càng nhiều trường đảm bảo đủ điều kiện ngày học 2 buổi ngay tại trường. Với
giáo dục THCS, đẩy mạnh tiến độ phổ cập. Mở rộng quy mô giáo dục đại học.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có
cơ hội học tập. Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục.
Tại đại hội X (từ ngày 18 đến 25 tháng 4 năm 2006), Đảng chủ trương
tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện đồng thời đổi mới cơ
cấu tổ chức, quản lý, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học; mô hình giáo
dục được chuyển dần sang mô hình giáo dục mở, đây là một mô hình xã hội
học tập với hệ thống học tập suốt đời. Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm non và
giáo dục phổ thông. Đối với giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp
nghề cho các khu công nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học cần được đổi
mới, gắn đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động,
phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành.
Đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học cần bảo đảm đủ số lượng và
nâng cao chất lượng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát
huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều.
Thực hiện xã hội hoá giáo dục.
Tại đại hội XI (từ ngày 12 tháng 01 đến 19 tháng 01 năm 2011), Đảng
chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao. Đối với đào tạo nghề, đẩy mạnh phát triển theo nhu cầu của xã
hội với cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh
nghiệp với cơ sở đào tạo. Đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn ngày
càng được quan tâm hơn. Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục. Thực hiện
tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân
tộc thiểu số, học sinh giỏi, học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên công
tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn. Hoàn thiện cơ chế, chính
sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn
23
lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các
hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để
người dân được học tập suốt đời.
Năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Mục tiêu đổi mới là “Tạo chuyển biến căn bản,
mạnh mẽ về chất lượng,hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn
công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân...” và
“…giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến
năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.
Nghị quyết đã đưa ra những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, với 7
quan điểm chỉ đạo và 9 nhóm giải pháp cơ bản để đổi mới toàn diện, căn bản
giáo dục và đào tạo đến năm 2020. Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 đã đưa
nhiều điểm mới so với giai đoạn trước đây. Đó là, phải ưu tiên đầu tư cho giáo
dục và đào tạo trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội. Giáo dục từ việc trang bị kiến thức chuyển mạnh sang phát triển toàn diện
năng lực và phẩm chất con người. Những điểm mới này hoàn toàn đúng đắn và
phù hợp với nền giáo dục nước ta, đáp ứng nhu cầu trong thời kì CNH - HĐH.
Tại Đại hội XII (ngày 20 đến 28 tháng 1 năm 2016) của Đảng định
hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực. Đảng xác định đây là quốc sách hàng đầu và giải thích tại sao phải đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Đảng ta cũng
chỉ rõ, “chất lượng, hiệu quả giáp dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất
là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu
liên thông giữa các trình độ và các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng
về lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản
xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chú trọng đúng mức việc
giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc
thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu và thiếu thực chất. Quản lí giáo
24
dục và đào tạo có mặt còn yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo
dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo
chưa hiệu quả. Chính sách cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù
hợp. Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn” [26, tr.113-114].
Đại hội đã đưa ra 12 nhiệm vụ tổng quát và xác định “Xây dựng chiến
lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực,
với những giải pháp đồng bộ”. Công tác quản lý giáo dục cần tiếp tục được đổi
mới. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cần đầu tư phát triển sao cho đáp ứng
yêu cầu của đổi mới giáo dục và đào tạo. Đồng thời, Thực hiện chuẩn hóa đội
ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo.
Quan điểm Đại hội XII của Đảng ta là đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là phù hợp với thực tiễn Việt Nam; là
kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn qua 30 năm đổi mới
đất nước của Đảng.
Trong hệ thống giáo dục phổ thông, THCS là một điểm chiến lược phát
triển giáo dục, đào tạo. Đại hội IX của Đảng ta đề ra đường lối phát triển của
giáo dục, đào tạo: "phát triển giáo dục Mầm non, củng cố vững chắc kết quả xóa
mù chữ và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở trong cả nước...” [24, tr.20].
THCS là mắt xích quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông hoàn chỉnh
(vừa tiếp nối vừa chuyển tiếp). Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp cho học
sinh củng cố và phát triển những kết quả của phổ cập giáo dục tiểu học và phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đặc biệt ở vùng núi, vựng sâu, vừng xa,
giúp học sinh củng cố vững chắc, phát triển những kiến thức mà học sinh đó đ-
ược học ở tiểu học, đồng thời có học vấn đến trung học cơ sở, có những hiểu
biết thông thường về kĩ thuật dạy nghề phổ thông, trung học chuyên nghiệp, để
vào cuộc sống.
Những chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục và
đào tạo đã được Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên bám sát, triển khai và đề ra những
phương thức và giải pháp phù hợp với thực tế của tỉnh. Điều này được thể hiện
25
qua các kì đại hội của tỉnh Thái Nguyên.
Năm 1997, Tỉnh ủy Thái Nguyên đề ra Kế hoạch 01/KH-TU của Về thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII) về
Giáo dục - đào tạo của tỉnh Thái Nguyên. Ban Thường vụ tỉnh ủy đề ra Nghị
quyết số 02/NQ-TU Về xây dựng và củng cố tổ chức Đảng trong giáo dục, đào
tạo. Năm 1998, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên ra bản Nghị quyết của Ban Chấp hành
Đảng bộ lần thứ 2 khóa XV. Tất cả những chủ trương trong thời kì này của Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên đều quan tâm vào những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về
giáo dục và đào tạo của tỉnh đến năm 2000. Tập trung về phát triển giáo dục, đào
tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, xây dựng cơ sở vật
chất, thiết bị trường học, phát triển giáo dục miền núi, vùng cao, chấn chỉnh và cải
tiến công tác quản lý giáo dục, quan tâm về xã hội hóa giáo dục.
Đến giai đoạn 2001 - 2005, chủ trương về giáo dục và đào tạo tỉnh Thái
Nguyên được Đảng bộ tỉnh đề ra trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên lần thứ XVI vào tháng 1/2001. Năm 2002, Đảng bộ tỉnh thông
qua Chương trình hành động thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành Trung ương khóa IX về giáo dục và đào tạo và Chỉ thị số 10/CT-TU của
Tỉnh ủy Thái Nguyên về Thực hiện phổ cập giáo dục THCS và tăng cường xây
dựng cơ sở vật chất, thiết bị trường học. Đảng bộ tập trung triển khai đổi mới
chương trình giáo dục; về phổ cập THCS.
Giai đoạn 2006 - 2010, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về giáo
dục, đào tạo thể hiện ở Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII
(12/2005). Ngày 31/8/2007, Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết số 07-NQ/TU của Ban
Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học giai đoạn 2007-
2015. Ngày 3/3/2008, Chỉ thị số 20-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng
xã hội học tập được ban hành. Trong giai đoạn này, giáo dục và đào tạo tỉnh Thái
Nguyên tập trung thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đến năm 2010, phổ cập
giáo dục bậc trung học, đẩy mạnh XHHGD, xây dựng xã hội học tập.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII đã
26
xác định cụ thể phương hướng, nhiệm vụ và các mục tiêu của giáo dục - đào
tạo trong những năm 2010 - 2015 là: “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa XIII) với quan điểm giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì kết quả phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi phổ cập giáo dục trung học cơ sở, bước đầu
thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học. Đẩy mạnh xã hội hóa, duy trì và
phát triển hợp lý quy mô giáo dục - đào tạo. Nâng cao chất lượng và hiệu quả
giáo dục toàn diên. Tăng nhanh số trường đạt chuẩn quốc gia, từng bước nâng
chuẩn đội ngũ giáo viên. Đầu tư thực hiện quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực,
phát triển giáo dục chuyên nghiệp phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Bổ
sung và điều chỉnh các chính sách phát triển giáo dục phù hợp…” [63, tr.70].
Quán triệt quan điểm của Đảng coi Giáo dục và đào tạo là “quốc sách
hàng đầu” với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Đảng bộ huyện Phú Lương đã có nhiều chính sách để nâng cao sự nghiệp trồng
người, tập trung phát triển cả 3 mặt: mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng xây
dựng cơ sở vật chất, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Lương đối với giáo dục, đào tạo
được thể hiện trong Văn kiện Đại hội lần thứ X (2000); Văn kiện trình Đại hội
đại biểu Đảng bộ huyện lần XXI (2005); Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng
bộ huyện lần XXII (2010); Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần
XXIII (2015); Những chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Lương trong thời kỳ
này đã tập trung vào “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các phong trào, cuộc vận
động do Bộ Giáo dục - Đào tạo phát động; triển khai đồng bộ các giải pháp
đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục. Củng cố vững chắc kết quả phổ cập
tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1, phổ cập trung học cơ sở; từng bước thực hiện
đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học. Tích cực tuyên truyền, vận động
đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, thực hiện tốt chương trình kiên cố hóa
trường lớp và nhà công vụ, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; mở rộng quy
mô trường lớp tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng
27
đồng bào dân tộc thiểu số đến trường” [41, tr.23]. “Đổi mới nội dung, phương
pháp dạy và học. Chuẩn hóa, nâng cao trách nhiệm, đạo đức sư phạm cho đội
ngũ cán bộ, giáo viên… Tăng cường đầu tư xây dựng trường đạt các tiêu chuẩn
về cơ sở vật chất, nhất là giáo dục mầm non… Định hướng phân luồng hợp lý
số học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông” [56,
tr.18]. “Tập trung thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua do
ngành giáo dục phát động; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học
sinh, gắn giáo dục tri thức với giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống. Thường
xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn
nghiệp vụ của giáo viên. Củng cố nâng cao kết quả phổ cập giáo dục các cấp.
Thực hiện tốt Chương trình hành động theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương (khoá XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục -
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục; xây dựng một số trường trọng
điểm, chất lượng cao; phấn đấu đến năm 2020 có trên 80% số trường đạt chuẩn
quốc gia. Làm tốt công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; tạo
sự gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh. Định
hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay trong các trường phổ thông để phân luồng
học sinh cho phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn lao động” [41, tr.19].
Những chủ trương này mà Đảng bộ huyện Phú Lương đã đề ra đối với sự
nghiệp giáo dục giai đoạn 1997 - 2017 đã bám sát vào đường lối, chủ trương
chung của Đảng và Nhà nước, phù hợp với thực tế địa phương. Đối với từng
nhiệm vụ lớn, huyện ủy Phú Lương đều đưa ra những phương thức, cách thức
và giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả nhất.
2.2. Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên và học
sinh Trung học cơ sở
2.2.1. Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất
Từ năm 1997 đến năm 2017, để thực hiện các chủ trương Đảng Nhà nước
đề ra, huyện Phú Lương đã xây dựng nhiều trường, lớp học phù hợp với tình
28
hình kinh tế, nhu cầu học tập của địa phương.
Bảng 2.1. Số trường THCS trên địa bàn huyện Phú Lương (1997 - 2017)
Số trường
Số lớp
Năm học
1997 - 1998
17
254
1998 - 1999
17
259
1999 - 2000
17
245
2000 - 2001
17
250
2001 - 2002
16
224
2002 - 2003
16
228
2003 - 2004
16
230
2004 - 2005
16
235
2005 - 2006
16
213
2006 - 2007
16
212
2007 - 2008
16
208
2008 - 2009
16
195
2009 - 2010
16
177
2010 - 2011
16
177
2011 - 2012
16
185
2012 - 2013
17
186
2013 - 2014
17
186
2014 - 2015
17
189
2015 - 2016
17
187
2016 - 2017
17
182
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
huyện Phú Lương cung cấp]
Phú Lương là một huyện miền núi còn nhiều khó khăn. Cơ sở trường,
lớp luôn được các cấp Ủy, Đảng và Sở Giáo dục - đào tạo, Phòng Giáo dục -
đào tạo quan tâm và đầu tư. Năm học 1997 - 1998 huyện đã xây dựng mới
được 11 phòng học, mua sắm được nhiều trang, thiết bị đồ dùng dạy - học cho
29
các trường số phòng học tạm còn tương đối nhiều (142 phòng học cấp 4 và 36
phòng học tạm), số bàn ghề của giáo viên và học sinh đúng quy cách còn thiếu.
các trang thiết bị cần thiết như thư viện, thí nghệm còn thiếu và yếu. Tuy nhiên,
nhiều trường các em học sinh phải học trong lớp tạm, nền đất, sân đất, mái
bằng tấm lợp xi măng. Hệ thống điện chiếu sáng, rèm che nắng, quạt mát còn
thiếu và yếu. Do đó, vào những ngày hè nóng lớp học oi nóng và bụi.
Năm học 1999 - 2000, với số vốn ADB và vốn của địa phương, huyện
Phú Lương xây dựng thêm được 18 phòng học (trường THCS Yên Đổ là 10
phòng, trường THCS Sơn Cẩm 2 là 8 phòng). Năm học này, toàn huyện không
có trường học 3 ca. Đến năm học 2001 - 2002, số phòng học kiên cố là 60,
phòng học cấp 4 lả 130, phòng học tạm là 31. Đến năm học 2002 - 2003 có 16
trường với 228 lớp học. Đảm bảo mỗi xã đều có một trường THCS. Các
trường, lớp được đầu tư tu sửa, kiên cố hóa. Tuy nhiên, hệ thống phòng học đa
chức năng, phòng thí nghiệm và trang thiết bị cho các môn học như vật lý, hóa
học, tiếng anh còn thiếu. Hệ thống các công trình vệ sinh, sân chơi bê tông,
khuôn viên xuống cấp.
Trong năm học 2008 - 2009, phòng Giáo dục đào tạo huyện Phú Lương
cho xây dựng tổng cộng được 10 phòng học kiên cố (trong đó trường THCS
Giang Tiên 4 phòng và trường THCS Hợp Thành là 6 phòng). Đến năm học
tiếp theo, tiếp tục thực hiện Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008
của Thủ tướng Chính phủ đẩy mạnh thực hiện án kiên cố hóa trường, lớp, nhà
công vụ giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 đảm bảo đúng mục tiêu và tiến độ.
Năm học 2016 - 2017, toàn huyện có 17 trường THCS với 187 lớp với nhiều
thiết bị dạy và học được bổ sung cơ bản đáp ứng được yêu cầu học tập của con
em địa phương. Cũng trong năm học này, các nhà trường đã huy động được
nguồn kinh phí cùng với sự đóng góp với nhà trường trong việc tu sửa trường,
lớp, công trình vệ sinh, xây tường bao, mua sắm bàn ghế, nhà để xe… Với tổng
30
kinh phí huy động được trong năm học là 1.400.000.000 đã xây dựng được 12
phòng học kiên cố, sửa chữa 4 phòng học, cải tạo 2 nhà hiệu bộ và 01 nhà chức
năng, xây mới 01 nhà vệ sinh cho học sinh.
Bảng 2.2. Số trường, lớp khối THCS năm học 2016 - 2017
STT Trường THCS Số lớp
1 Cổ Lũng 14
2 Dương Tự Minh 8
3 Động Đạt I 7
4 Giang Tiên 8
5 Hợp Thành 11
6 Phấn Mễ I 10
7 Phấn Mễ II 10
8 Phú Đô 11
9 Sơn Cẩm I 16
10 Sơn Cẩm II 8
11 Thị trấn Đu 13
12 Tức Tranh 16
13 Vô Tranh 13
14 Yên Đổ 14
15 Yên Lạc 9
16 Yên Ninh 10
17 Yên Trạch 9
Toàn cấp học 187
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
huyện Phú Lương cung cấp]
Thực hiện Nghị quyết số 422/NQ-UBTVQH14 ngày 18/8/2017 của Ủy
31
ban thường vụ quốc hội về điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính, năm học
2017 - 2018 trường THCS Sơn Cẩm I đã được bàn giao về Phòng Giáo dục và
Đào tạo thành phố Thái Nguyên.
Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới dạy và học
được đẩy mạnh. Từ năm 1997 đến trước năm 2005, việc sử dụng công nghệ
thông tin trong dạy học ở các trường THCS trong huyện còn rất ít và gặp nhiều
khó khăn do thiếu thốn về kinh tế, cơ sở vật chất. Các trường trên địa bàn
huyện chưa có hệ thống máy chiếu để phục vụ việc dạy - học. Nhưng từ năm
2005 trở lại đây, việc sử dụng công nghệ thông tin đã được thực hiện thường
xuyên hơn trong quản lý và dạy học, nhất là ở cấp THCS.
Tính đến năm học 2009 - 2010, tất cả các trường THCS trên địa bàn
huyện Phú Lương đã kết nối Internet. Máy tính được nối mạng là 80/234 máy.
Các trường THCS trên địa bàn huyện tích cực sử dụng hợp lý ứng dụng CNTT
trong đổi mới phương pháp dạy - học thực hiện theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục
và đào tạo và Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên. Mỗi giáo viên đều chủ
động soạn và giảng bằng thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ khi có điều kiện,
giúp cho bài học dễ hiểu, sinh động, học sinh thích thú. Bên cạnh đó, 100% các
trường THCS trong huyện sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
giáo dục. Sử dụng một số phần mềm ứng dụng, quản lý và hỗ trợ soạn giảng…
để nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc. Các trường đều có website hoạt
động hiệu quả, phản ánh được các hoạt động của nhà trường, đây là kênh thông
tin kết nối nhà trường, gia đình và học sinh.
Về công tác thư viện. Từ năm học 1997 đến năm 2000, Thư viện, sách,
tài liệu tham khảo các trường THCS huyện Phú Lương còn rất ít và có nhiều
trường ở khu lẻ không có thư viện. Từ năm 2001trở lại đây, công tác thư viện
được quan tâm. Phòng Giáo dục đào tạo Phú Lương tiếp tục chỉ đạo các trường
THCS trên toàn huyện tích cực xây dựng nguồn tài nguyên trong thư viện,
thường xuyên bổ sung tài liệu, đảm bảo chất lượng và số lượng, phong phú về
32
chủng loại, cân đối về thành phần xây dựng môi trường đọc, không gian đọc
thân thiện, an toàn. Sử dụng hiệu quả hợp lý nguồn kinh phí cho công tác thư
viện. Tính đến tháng 5/2017, toàn huyện có 15/17 thư viện khối THCS (thư
viện của các trường THCS: Cổ Lũng, Dương Tự Minh, Động Đạt I, Giang
Tiên, Hợp Thành, Phấn Mễ I, Phấn Mễ II, Phú Đô, Sơn Cẩm I, Sơn Cẩm II, Thị
Trấn Đu, Tức Tranh, Vô Tranh, Yên Đổ, Yên Lạc) đạt chuẩn chiếm tỉ lệ 88,2%
[54, tr.14].
Mặc dù được sự quan tâm và đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước,
song hiện nay cơ sở vật chất trường học của một số đơn vị trong huyện còn gặp
khó khăn. Nhiều trường chưa có đủ phòng học bộ môn, thiết bị đồ dùng dạy
học và đồ dùng thí nghiệm còn thiếu, khó khăn về kinh phí để sửa chữa, nâng
cấp cơ sở vật chất đã xuống thấp. Cơ sở vật chất các trường tuy có sự thay đổi
song so với toàn tỉnh là chậm vì khả năng xã hội hóa có hạn.
2.2.2. Đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh Trung học cơ sở
Giáo viên là nhân tố tiên quyết làm nên chất lượng giáo dục. Do đó,
Phòng Giáo dục huyện Phú Lương luôn quan tâm đến chất lượng cũng như đời
sống của cán bộ, giáo viên. Từ năm 1997 - 2017, cùng với sự phát triển của
ngành giáo dục và đào tạo, đội ngũ cán bộ, giáo viên, cán bộ quản lý các trường
trung học cơ sở huyện Phú Lương đã có những chuyển biến mạnh mẽ, chất
lượng cán bộ quản lý và giáo viên ngày càng được nâng cao, năng lực quản lý
ngày càng được củng cố và phát huy hiệu quả công tác.
Năm những học từ 1997 đến năm 1999, Giáo viên ở một số trường
THCS trên địa bàn huyện Phú Lương còn thiếu, nhất là một số điểm trường lẻ.
Năm học 1997 - 1998 đạt tỉ lệ 1,01 giáo viên/ lớp (256 giáo viên), đến năm học
1998 - 1999 đạt tỉ lệ 1,05 giáo viên / lớp (258 giáo viên). Bằng sự quan tâm và
cố gắng của các cấp ủy, Đảng từ năm học 1999 - 2000, xây dựng đội ngũ giáo
viên đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu. Đảm bảo định mức giáo viên/ lớp
33
của từng bậc học. Trong đó, bậc THCS đảm bảo đủ định mức theo quy định tại
thông tư 35. Năm học 2008 - 2009 đạt tỷ lệ 2,41 giáo viên/ lớp, đến năm học
2014 - 2015 đạt tỷ lệ 2,48, đủ nhân viên các loại. Thực hiện nghiêm túc Thông
tư số 28/2009/TT-BGDĐT. Kết quả trình độ đào tạo cấp THCS vượt so với chỉ
tiêu đề ra tại Quyết định 09/2005/QĐ-TTg, trong năm học 2010 - 2011 đạt
chuẩn 254/519 giáo viên (49%), trên chuẩn 265/519 giáo viên (51%) và đến
năm học 2016 - 2017 đạt 73,8%. Điều này có tác dụng lớn đến nâng cao chất
lượng giáo dục.
Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư
Trung ương Đảng, thực hiện Quyết định 09/2005/QĐ-TTg, xậy dựng đội ngũ
có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; tích cực động viên và tạo điều kiện để giáo
viên tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Triển khai
thực hiện nghiêm túc việc áp dụng chuẩn nghề nghiệp giáo viên, cán bộ quản lý
giáo dục. Năm học 2010 - 2011 thực hiện tổng kết 5 năm thực hiện “Xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn
2005 - 2010”. Kết quả 5 năm thực hiện đổi mới trong công tác giáo dục bằng
hình thức tổ chức các chuyên đề, triển khai thực hiện nghiêm túc các lớp bồi
dưỡng hè, bồi dưỡng theo chương trình sách giáo khoa mới cho cán bộ giáo
viên theo chỉ đạo của sở Giáo dục và đào tạo, động viên tạo điều kiện cho giáo
viên đi học nâng chuẩn.
Năm học 2009 - 2010 Phòng Giáo dục và đào tạo đã tham mưu với Ủy
ban Nhân dân huyện thực hiện đánh giá xếp loại Hiệu trưởng các trường Mầm
non, Tiểu học, Trung học cơ sở căn cứ vào các thông tin: Ý kiến của giáo viên
thông qua hình thức phiếu tín nhiệm và ý kiến nhận xét đánh giá của tập thể
Ban thường vụ xã, đảng ủy xã, thị trấn; Kết quả kiểm tra của lãnh đạo Phòng
Giáo dục và đào tạo về hồ sơ, công tác quản lý của Hiệu trưởng.
Phòng Giáo dục và đào tạo và các trường THCS trên địa bàn huyện Phú
Lương đã tổ chức nhiều chương trình, đề án, các cuộc vận động như phong trào
34
thi đua “dạy tốt, học tốt”, “chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong
giáo dục”, “nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục”; Đề án
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo của Bộ Giáo dục và đào tạo. Tổ chức
các cuộc thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp tỉnh thường niên để không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và đạo
đức nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng giáo dục.
Năm học 2016 - 2017, đã có 108 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện.
Xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên;
khuyến khích, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên đi
học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đến năm 2017, có trên 90%
cán bộ quản lý các trường THCS trên địa bàn huyện có trình độ trung cấp lý
luận chính trị.
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại ở giáo viên Trung học cơ sở huyện Phú
Lương là việc đổi mới phương pháp dạy học ở một số giáo viên cao tuổi còn
chậm, việc tiếp cận công nghệ thông tin, năng lực chuyên môn còn hạn chế.
Đội ngũ giáo viên cốt cán các ngành học và cấp học còn mỏng, chưa phát huy
được tác dụng vai trò nòng cốt nhất là phát triển chất lượng đội ngũ hoặc bồi
dưỡng học sinh giỏi. Tình trạng vừa thừa vừa thiếu ở một số bộ môn dẫn tới
một số giáo viên phải dạy nhiều tiết hơn so với quy định, một số giáo viên dạy
trái ban, điều đó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục. Một
bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên chưa thực sự nỗ lực và cố gắng trong
chuyên môn. Mặc dù trình độ đào tạo trên chuẩn cao nhưng năng lực của một
bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Thành tích thi giáo viên dạy giỏi tương đối cao song vẫn chưa cải thiện được
thứ hạng trong tỉnh.
Từ năm 1997 đến năm 2017, số lượng học sinh trung học cơ sở trên
35
địa bàn huyện Phú Lương có nhiều thay đổi (xem bảng 2.3).
Bảng 2.3. Số học sinh THCS huyện Phú Lương qua một số năm học
1997 - 1998 - 2001 - 2004 - 2008 - 2012 - 216 - Năm học 1998 1999 2002 2005 2009 2013 2017
9517 9304 8358 6079 5834 5730 Số học sinh 9389
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
huyện Phú Lương cung cấp]
Qua bảng số lượng trên ta thấy số lượng học sinh giảm tương đối nhanh.
Số lượng học sinh THCS giảm từ 9517 em năm 1998 - 1999 xuống còn 8358
em năm 2005 và giảm đều qua các năm học. Một trong những nguyên nhân
chính là do địa phương đã thực hiện tương đối tốt chính sách kế hoạch hóa gia
đình. Tuy vậy số lớp toàn huyện giảm không nhiều do phân chia số học sinh
bình quân/lớp ngày một giảm.
Chất lượng giáo dục tiến bộ qua các năm, điều này được thể hiện ở số
lượng học sinh giỏi, khá qua các năm học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học
được tuyển sinh vào lớp 6 luôn luôn đạt ở mức cao (trên 99%).
2.3. Chương trình và các hoạt động giáo dục
2.3.1. Chương trình giáo dục
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông gồm 2 bậc học:
Tiểu học và Trung học. Trong bậc Trung học có 2 cấp: Trung học cơ sở và
Trung học Phổ thông. Trong đó, giáo dục Trung học cơ sở là một khâu quan
trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo, là một bộ phận hữu cơ của
giáo dục phổ thông, nằm trong cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân.
Chương trình Giáo dục Trung học cơ sở nhằm mục đích giúp học sinh
củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học. Có học vấn phổ
thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp
để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp và học nghề hoặc đi vào cuộc
36
sống lao động.
Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Phú Lương tiến hành cho các trường
THCS trên địa bàn Huyện triển khai đầy đủ các chương trình giáo dục do Bộ
quy định.
Từ năm 1997 đến năm 2002, chương trình giáo dục THCS ở huyện Phú
Lương thực hiện giảng dạy đầy đủ các môn học: Toán học, Vật Lý, Hóa học,
Sinh học, Tiếng Anh, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Công nghệ,
Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, dạy nghề. Trong đó, môn Tiếng Anh bắt đầu
được dạy đại trà ở các trường trong Huyện. Học sinh lớp 9 được tham gia học
và thi một nghề do các em đăng kí: điện, nông nghiệp, nấu ăn, thêu… Tuy
nhiên, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên dạy nghề còn hạn chế nên học sinh
học nghề dừng lại ở việc được cộng điểm trong kì thi tốt nghiệp THCS.
Phương pháp giáo dục đã được cải thiện, giáo viên sử dụng và khai thác
các đồ dùng học tập của nhà trường, nhất là môn địa lý và lịch sử. Do nội dung
chương trình còn nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, thực tế. Đồng thời hạn chế
về cơ sở vật chất, nhất là máy chiếu để phục vụ dạy - học nên tình trạng đọc -
chép còn phổ biến, học sinh chưa chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức
Từ năm 2003 đến năm 2017, thực hiện Quyết định số 40/2000/NQ-QH10
về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được ban hành. Quyết định đổi
mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được
thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức
đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác
quản lý giáo dục. Áp dụng chương trình, sách giáo khoa mới bắt đầu ở lớp 1 và
lớp 6 từ năm học 2002-2003, bắt đầu ở lớp 10 từ năm học 2004-2005; đến năm
học 2006-2007 tất cả các lớp cuối cấp đều thực hiện chương trình và sách giáo
khoa mới.
Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành bao gồm: Mục tiêu gáo dục
phổ thông, mục tiêu giáo dục các cấp học, mục tiêu giáo dục các môn học và
37
hoạt động giáo dục; Phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đáp ứng mục tiêu
giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục và phù hợp với sự phát triển
tuần tự của các cấp học; Chuẩn kiến thức kĩ năng và yêu cầu cơ bản về thái độ
mà học sinh cần phải và có thể đạt được; Phương pháo giáo dục và hình thức tổ
chức giáo dục với đặc trưng của giáo dục Phổ thông; Cách thức đánh giá kết
quả giáo dục phù hợp với đặc trưng của môn học và hoạt động giáo dục ở từng
cấp học.
Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành đối với bậc THCS gồm các
môn học và hoạt động giáo dục: Toán học, Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Tiếng
Anh, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Công nghệ, Thể dục, Âm
nhạc, Mỹ thuật, dạy nghề, Tự chọn, Giáo dục tập thể, Giáo dục ngoài giờ lên
lớp, Giáo dục hướng nghiệp (dành cho học sinh lớp 9).
Thời lượng mỗi năm học ít nhất là 35 tuần. Đối với các trường, lớp dạy
học 6 buổi/tuần, mỗi buổi học không quá 5 tiết. Các trường, lớp dạy học 2
buổi/ngày hoặc nhiều hơn 6 buổi/tuần, mỗi ngày học không quá 8 tiết. Thời
lượng mỗi tiết học là 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ ngơi, tập thể
dục. Thời lượng dạy học tự chọn phải được sử dụng để dạy học một số chủ đề
tự chọn, tiếng dân tộc, tin học,...
Giáo dục Trung học cơ sở phải củng cố và phát triển các nội dung đã
học ở Tiểu học. Đảo đảm cho học sinh có những nhận thức, hiểu biết phổ
thông cơ bản về Toán, Tiếng Việt, Lịch sử dân tộc và các kiến thức khác về
khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, đồng thời có
những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp.
Giáo dục Trung học cơ sở phải chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu
cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học, hoạt động giáo dục mà
học sinh cần phải và có thể đạt được. Chuẩn kiến thức, kĩ năng được cụ thể
hoá ở các chủ đề của môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập. Yêu
cầu về thái độ được xác định cho cả cấp học. Chuẩn kiến thức, kĩ năng là căn
38
cứ để biên soạn sách giáo khoa, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở
từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi
của chương trình giáo dục Trung học cơ sở; bảo đảm chất lượng và hiệu quả
của quá trình giáo dục.
Giáo viên cần chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp và hình
thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể.
Phương pháp giáo dục Trung học cơ sở phải phát huy được tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc
điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh
phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách
nhiệm học tập cho học sinh. Sách giáo khoa và các phương tiện dạy học khác
phải đáp ứng yêu cầu của phương pháp giáo dục Trung học cơ sở.
Hình thức tổ chức giáo dục Trung học cơ sở bao gồm các hình thức tổ
chức dạy học và hoạt động giáo dục trên lớp, trong và ngoài nhà trường. Các
hình thức tổ chức giáo dục phải bảo đảm cân đối, hài hoà giữa dạy học các
môn học và hoạt động giáo dục; giữa dạy học theo lớp, nhóm và cá nhân; bảo
đảm chất lượng giáo dục chung cho mọi đối tượng và tạo điều kiện phát triển
năng lực cá nhân của học sinh. Đối với học sinh có năng khiếu, có thể vận
dụng hình thức tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục phù hợp nhằm phát
triển các năng khiếu đó.
Đánh giá kết quả giáo dục đối với học sinh ở các môn học và hoạt động
giáo dục trong mỗi lớp và cuối cấp học nhằm xác định mức độ đạt được mục
tiêu giáo dục Trung học cơ sở, làm căn cứ để điều chỉnh quá trình giáo dục,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đánh giá kết quả giáo dục
các môn học, hoạt động giáo dục trong mỗi lớp và cuối cấp học cần phải bảo
đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực. Căn cứ vào chuẩn
kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của từng môn học và hoạt động giáo
39
dục ở từng lớp, cấp học; Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá
định kì, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, đánh giá của nhà
trường và đánh giá của gia đình, của cộng đồng; Kết hợp giữa hình thức trắc
nghiệm khách quan, tự luận và các hình thức đánh giá khác; Sử dụng công cụ
đánh giá thích hợp.
Phòng Giáo dục - đào tạo huyện Phú Lương luôn quan tâm đầu tư cho
giáo dục. Giáo dục - đào tạo phối hợp chặt chẽ với các ngành xây dựng kế
hoạch, quy hoạch, các đề án phát triển giáo dục - đào tạo nhằm phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội địa phương. Hàng năm, Phòng Giáo dục huyện Phú Lương
luôn bám sát chương trình giáo dục của Bộ và đề ra phương hướng - nhiệm vụ
cho năm học, nhất là giáo dục Trung học cơ sở:
Tăng cường nề nếp, kỉ cương, chất lượng, hiệu quả công tác trong giáo
dục trung học cơ sở. Thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào
thi đua của ngành bằng những hoạt động thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều
kiện từng địa phương, gắn với việc đổi mới hoạt động giáo dục của nhà trường,
rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
và học sinh tại mỗi cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục. Tập trung đổi mới phong
cách, nâng cao hiệu quả công tác quản lý đối với cơ sở giáo dục trung học…
Thực hiện thường xuyên, hiệu quả phương pháp, hình thức và kĩ thuật
dạy học tích cực, đổi mới nội, phương pháp đánh giá học sinh phù hợp với các
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực chủ
động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học của học sinh; tăng cường kĩ
năng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực
tiễn; đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học.
Đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng
nghiệp. Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, nâng cao năng lực giáo viên chủ
nhiệm lớp, tổ chức Đoàn, Hội, Đội, gia đình và cộng đồng trong việc quản lý,
40
phối hợp giáo dục toàn diện cho học sinh.
2.3.2. Các hoạt động giáo dục
Hoạt động là sự tương tác giữa chủ thể - đối tượng, nhằm biến đổi đối
tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra để tạo ra sản phẩm. Dưới tác động chủ
đạo của giáo viên, người học chủ động thực hiện hoạt động để lĩnh hội tri thức
khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan
khoa học và phẩm chất, nhân cách.
Hoạt động giáo dục là hoạt động được tổ chức hàng năm theo những
chương trình, kế hoạch. Là sự tương tác giữa thầy và trò để thực hiện các hoạt
động nhằm lĩnh hội các tri thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học,
phát triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và phẩm chất, nhân cách.
Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn,
giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động
ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân nhằm chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động; Hoạt động giáo
dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt
buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của cấp học do Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành; Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm
các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an
toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp
luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện
và bồi dưỡng năng khiếu, các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu
văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác
41
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.
Từ năm 1997 đến năm 2017, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo,
Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng giáo dục huyện đã chỉ đạo các trường thực hiện
nghiêm túc kế hoạch dạy học và khung phân phối chương trình đã quy định.
Trong 5 năm từ 1997 - 2002, Phòng giáo dục - đào tạo và các trường
THCS trên địa bàn huyện thực thiện tốt chương trình của Bộ giáo dục quy định.
Tập trung cho chất lượng giáo dục toàn diện về giáo dục lí tưởng, chính trị đạo
đức, giáo dục thể chất, thẩm mỹ, lối sống, giáo dục quốc phòng, dân số môi
trường và nâng cao chất lượng giáo dục dạy nghề, hướng nghiệp, học ngoại
ngữ, tin học. Đồng thời, tăng cường các biện pháp giáo dục phòng và chống
HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác. Các trường THCS ở huyện Phú Lương đã
đưa vào giảng dạy Lịch sử, Địa lý địa phương, tổ chức các buổi ngoại khóa và
bước đầu đạt hiệu quả. Giáo dục thể chất được tổ chức 1-2 tiết/ tuần xen kẽ với
các môn văn hóa.
Trong những năm 2003 - 2007, huyện Phú Lương đã thực hiện các loại
hình đào tạo và đưa ra nhiều giải pháp để thu hút học sinh là con em lao động
được đi học, đảm bảo tuyển sinh vào lớp 6 hàng năm đạt từ 95% trở lên.
Trong năm học 2008 - 2009 Phòng Giáo dục - đào tạo huyện Phú Lương
chỉ đạo các trường dạy môn học tự chọn Tin học ở 14 trường THCS. Đã có
17/17 trường THCS thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng phù hợp
với đối tượng học sinh. Thực hiện kiểm tra định kì theo ma trận đề, các bài
kiểm tra cuối kì đảm bảo thời gian tối thiểu 50% cho các nội dung thông hiểu
và vận dụng.
Việc đánh giá các môn năng khiếu Thể dục, Mĩ Thuật, Âm nhạc và môn
Giáo dục công dân được các trường thực hiện nghiêm túc theo Thông tư số
58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại
học sinh THCS.
Những năm gần đây việc dạy và học ở các trường THCS huyện Phú
42
Lương đã được đổi mới về phương pháp. Năm học 2012 - 2013, Phòng Giáo
dục và đào tạo huyện đã tổ chức và chỉ đạo các trường THCS tập huấn cho giáo
viên về đổi mới phương pháp, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, đổi mới
kiểm tra đánh giá, tổ chức biên soạn đề kiểm tra môn Giáo dục công dân và
môn Công nghệ. Việc phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh có
năng khiếu được các trường THCS thực hiện nghiêm túc, có kế hoạch cụ thể.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng được quan tâm. Các trường THCS trên
địa bàn huyện đã vận dụng đưa những trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi
vào hoạt động ngoài giờ lên lớp. Các di tích lịch sử, nghĩa trang liệt sĩ tại các
xã, thị trấn, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, địa điểm Bác Hồ về thăm
trường thanh niên XHCN của huyện, đền thờ Dương Tự Minh được các học
sinh các trường THCS chăm sóc, nhất là dịp 27/7. Tất cả các trường THCS đã
phối hợp với các ngành, đơn vị thực hiện tốt việc đảm bảo “3 đủ” (đủ ăn, đủ
mặc, đủ sách vở) cho 100% học sinh với nhiều hình thức quyên góp, ủng hộ,
kết quả không có học sinh bỏ học vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu sách vở. Giáo
dục nhân văn, giáo dục pháp luật cho học sinh luôn được chú trọng. Các trường
đã phát huy tốt tiết dạy môn Giáo dục công dân, phối hợp với các đoàn thể
trong ngoài trương tổ chức tốt các hoạt đông ngoài trời giờ lên lớp như: Mít
tinh kỉ niệm các ngày lễ lớn, tổ chức ngày tết trồng cây, vệ sinh môi trường và
các hoạt động tuyên truyền cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
Các trường THCS trên địa bàn huyện tăng cường giáo dục đạo đức, lối
sống, kĩ năng sống cho học sinh qua việc lồng ghép nội dung các môn học, hoạt
động trải nghiệm sáng tạo. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và cơ quan
công an trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự trường học. Tổ chức và tham
gia các sự kiện thể dục thể thao của học sinh trong các năm học đạt hiệu quả
cao. Tổ chức thăm khám sức khỏe định kì và phân loại sức khỏe cho học sinh
theo quy định thực hiện các chương trình phòng chống dịch bệnh.
Phú Lương là một huyện miền núi gồm nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh
sống. Trên địa bàn huyện còn nhiều xóm, xã có cuộc sống khó khăn. Do đó, từ
43
năm 1997 tới nay, phòng Giáo dục huyện đã thực hiện tốt các chế độ, chính
sách ưu đãi đối với học sinh diện chính sách xã hội, học sinh miền núi, vùng
kinh tế đặc biệt khó khăn. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và kịp thời các chế độ
chính sách đối với học sinh diện chính sách xã hội, học sinh miền núi, vùng
kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Việc thực hiện mức thu, chính sách miễn giảm
học phí, hỗ trợ chi phí học tập. Thực hiện đúng theo Văn bản số 353/LS/TC-
GDĐT ngày 18/10/2016 của Liên sở Tài Chính - Giáo dục và Đào tạo hướng
dẫn thực hiện mức thu, chính sách miễn giảm học, hỗ trợ chi phí học tập đối
với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2016 -
2017 đến năm học 2020 - 2021 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Làm tốt công tác
quyên góp ủng hộ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Trong 3 năm học từ 1997
đến năm 2000 các trường THCS trên địa bàn huyện đã tổ chức quyên góp được
tiền (gần 10 triệu đồng), sách, vỡ cho các học sinh nghèo. Trong những năm
2001 đến 2005, phong trào “lá lành đùm lá rách” trên các đơn vị trường THCS
huyện Phú Lương vẫn được phát huy. Nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn
đã nhận được giúp đỡ và có cơ hội trở lại trường.
Trong năm học 2008 - 2009, có 03 khu vực tổ chức quyên góp với số
tiền 26.670.000 [45, tr2]. Nhiều học sinh nhờ có khoản hỗ trợ này đã được đến
lớp học, điển hình là một học sinh trường THCS Yên Trạch bị bại liệt đã được
đến trường nhờ được hỗ trợ 500.000 đồng cho việc đưa đón hàng ngày. Đây
cũng được coi là một sáng kiến trong phong trào thi đua. Trong năm học 2016 -
2017, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Hội chữ thập đỏ tổ chức
khởi công xây dựng nhà nhân đạo cho một học sinh trường THCS Dương Tự
Minh 30 triệu đồng [54, tr.6].
Công tác xã hội luôn được đẩy mạnh. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân đã quan tâm chỉ đạo tốt các ban ngành, đoàn thể từ huyện xã đặc
biệt là Hội đồng giáo dục, hội khuyến học đã góp phần tích cực trong việc xây
dựng chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát
44
triển kinh tế - xã hội địa phương.
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng các cơ sở giáo dục, chính quyền các
nhà trường đã có sự phối kết hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn, đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh… Đổi mới
các hoạt động thi đua, khen thưởng. Tổ chức tốt các chủ điểm trong năm học,
các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục
thể thao, tổ chức thao giảng, hội giảng… Công tác củng cố xây dựng tổ chức
Đảng trong trường học đã có nhiều chuyển biến đáng khích lệ. Tuy nhiên, số
45
Đảng viên kết nạp không đều hàng năm và không đều giữa các đơn vị trường.
Tiểu kết chương 2
Trong 20 năm, từ năm 1997 đến năm 2017, giáo dục THCS huyện Phú
Lương đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống trường, lớp
và cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh. Cán bộ
quản lý, giáo viên ngày càng đạt chuẩn hóa và không ngừng nâng cao trình độ.,
luôn thực hiện đúng chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và luôn học hỏi,
sáng tạo trong giảng dạy. Các trường THCS huyện Phú Lương thực hiện
nghiêm túc chủ trương, chương trình giáo dục của Bộ và chỉ đạo của Sở về giáo
dục THCS do Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định và đưa các chương trình giáo
46
dục này vào hoạt động có hiệu quả tại địa phương.
Chương 3
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THCS
HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2017
3.1. Những thành tựu của giáo dục THCS huyện Phú Lương
Dưới sự lãnh đạo sát sao của huyện ủy, hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân
dân huyện, sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, sự chỉ đạo điều hành đồng
bộ của Ban lãnh đạo phòng giáo dục, của cấp ủy chính quyền địa phương, sự
phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng, các đoàn thể, các tổ chức xã hội,
sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện luôn được duy trì và ổn định.
Về quy mô phát triển
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại học tập của dân cư nên số lượng
trường học tăng nhanh qua các năm. Bậc THCS huyện Phú Lương có quy mô
trường lớp được mở rộng khắp trên địa bàn huyện 16/16 xã, thị trấn. Tuy nhiên,
tổng số học sinh cũng như số lượng lớp học giảm dần qua các giai đoạn,
nguyên nhân chủ yếu là do công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tương đối tốt.
Số học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 đúng độ tuổi đạt 100%, tổng số học
sinh THCS trên tổng dân số trong độ tuổi đạt gần 100%, số học sinh lớp 6 trong
độ tuổi đạt 98,2%, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tuyển vào THPT các hệ
đạt trên 80%.
Tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương II (Khóa VIII) của Đảng về
công tác giáo dục - đào tạo, trong những năm qua mạng lưới trường lớp ở
huyện Phú Lương đã cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương.
Cơ sở vật chất trường học được tăng cường, đến nay không có đơn vị nào phải
học 3 ca, lớp học tranh tre nứa lá cũng dần xóa hết. Trên 90% số trường THCS
có nhà học 2 tầng, có nhà ở cho giáo viên, có phòng điều hành, phòng thư viện,
thiết bị dạy học. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Ở
các xã vùng sâu, vùng xa của huyện các em đều được đến trường và đảm bảo
47
đủ lớp, điều kiện cho con em học tập. Tuy cơ sở vật chất của các trường THCS
ở huyện Phú Lương chưa được khang trang, đầu tư như một số huyện, thành
phố khác trong tỉnh, nhưng từ năm 1997 đến nay về cơ bản các trường học ở tất
cả các xã trong huyện đều được kiên cố hoá, không có trường nào còn phải học
3 ca đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của con em địa phương.
Về chất lượng giáo dục
Từ năm 1997 - 2017, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn cho đảm bảo công
tác dạy và học, nhưng nhờ sự quan tâm của hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân
dân huyện, sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, sự cố gắng của thầy và trò
nên chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục THCS nói riêng có
những thành tựu nổi bật.
Chất lượng đạo đức, văn hóa đại trà tăng và đã dần đi vào thực chất, toàn
huyện đã thực hiện tốt cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và
bệnh thành tích trong giáo dục” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục - đào tạo phát động.
Trên thực tế chất lượng giáo dục học sinh THCS trong huyện có chiều hướng đi
lên, thể hiện ở giáo dục hai mặt, chất lượng giáo dục mũi nhọn hàng năm đều
tăng, chất lương tham gia các hội thi, các hoạt động do Sở Giáo dục - đào tạo tổ
chức đều đạt thành tích cao.
Trong những năm 1997 đến năm 2000, do đời sống kinh tế còn khó khăn,
học sinh chưa được quan tâm và đầu tư cho việc học tập nên số lược học sinh
giỏi còn ít ( năm 1998 - 1999 toàn Huyện có gần 68 học sinh THCS đạt giải
trong các kì thi chọn học sinh giỏi cấp huyện và 13 tỉnh). Đến năm học 2012 -
2013, huyện Phú Lương có 126 học sinh THCS đạt học sinh giỏi cấp huyện và
tỉnh và 43 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện trong đó có 01
giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi xuất sắc [42, tr.13]. Đến năm học
2016 - 2017, cả Huyện có 106 giải học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh và 02 học sinh
đạt giải khuyến khích cấp quốc gia. Đặc biệt, có 02 giải cấp quốc gia Cuộc thi
dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học cấp tỉnh đạt 27 giải
(01 giải nhất, 06 giải nhì, 08 giải ba, 12 giải khuyến khích). Xếp thứ nhất toàn
48
tỉnh [54, tr.11].
Năm học 2013 - 2014 là năm học đầu tiên Phòng Giáo dục - đào tạo
huyện Phú Lương thực hiện dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” theo
quyết định số 6120/QĐ-BGDĐT ngày 01/12/2011. Phòng Giáo dục và đào tạo
đã tham dự tập huấn tại Sở Giáo dục và đào tạo và tổ chức triển khai tập huấn
cho 140 giáo viên ở các trường THCS. Phòng Giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo
các trường nghiêm túc thực hiện dạy học theo phương pháp này. Giáo viên đã
tiết kiệm được nhiều thời gian cho việc thuyết trình diễn giải, tạo không khí cởi
mở, vui vẻ trong lớp học, học sinh hứng thú trong học tập. Việc thực hiện tốt
các quy trình của phương pháp này vào tiết dạy đã giúp cho giờ học đạt hiệu
quả cao hơn. Tiêu biểu như tiết Hóa học (THCS Cổ Lũng), Sinh học (THCS
Sơn Cẩm 2), Vật lý (THCS Yên Lạc)…
Phòng Giáo dục và đào tạo đã kịp thời triển khai các văn bản của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên về chương trình,
cách đánh giá học sinh theo mô hình trường học mới ở Việt Nam (VNEN).
Phòng Giáo dục và Đào tạo đã triển khai mô hình này đối với lớp 6 ở hai
trường (THCS Tức Tranh và THCS thị trấn Đu). Cán bộ quản lý và giáo viên
dạy mô hình trường học mới này đã được tập huấn và tham dự hội thảo do Sở
Giáo dục và Đào tạo và Phòng Giáo dục - Đào tạo tổ chức.
Bảng 3.1. Kết quả giáo dục mô hình trường học mới lớp 6
năm học 2015 - 2016
Phẩm chất
Năng lực
Kết quả học tập Danh hiệu thi đua
Có nội
Trường
Cần rèn
HS có
Đạt
Đạt
THCS
Còn hạn chế
Hoàn thành
HS có thành tích
luyện thêm
thành tích nổi bật
dung chưa hoàn thành
129 91,5%
12 0,85%
81 57,4%
60 42,6%
81 57,4%
60 42,6%
19 13,47%
28 19,85%
Tức Tranh (141 HS)
96 100%
0
92 95,8%
4 4,2%
89 92,7%
7 7,3%
20 20,8%
35 36,5%
Thị trấn Đu (96 HS)
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
49
huyện Phú Lương cung cấp]
Phòng Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Quyết định số 1400/QĐ-TTg
ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020, Ủy ban
nhân dân huyện đã chỉ đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiếng Anh để nâng cao năng lực trong từng năm học
và từng giai đoạn theo kế hoạch của tỉnh. Đến năm học 2013 - 2014, cả huyện
có 03 giáo viên THCS đạt B1 và có 06 giáo viên tiếng Anh THCS của các
trường nằm trong lộ trình của kế hoạch triển khai đề án ngoại ngữ trong các cơ
sở giáo dục tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2020 đang tham dự các lớp bồi
dưỡng theo chuẩn tại Sở Giáo dục và Đào tạo. Năm học 2014 - 2015, thực hiện
sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên, Phòng Giáo dục và Đào
tạo Phú Lương đã chỉ đạo các trường THCS: Thị trấn Đu, Giang Tiên, Sơn
Cẩm 1, Cổ Lũng tiến hành khảo sát đối với học sinh lớp 6 để tham gia học theo
hương trình tiếng Anh 10 năm. Kết quả có 36 học sinh của trương THCS Giang
Tiên đủ điều kiện học chương trình tiếng Anh 10 năm theo đúng chỉ đạo của Sở
Giáo dục và Đào tạo.
Từ năm 1997 tới nay, chất lượng giáo dục hai mặt ở bậc THCS không
ngừng được nâng cao qua các năm học (xem bảng 3.3).
Bảng 3.2. Kết quả xếp loại học lực bậc THCS qua một số năm học
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
Tổng
Năm
Tổng
Tỉ
Tổng
Tỉ
Tổng
Tỉ
Tổng
Tỉ
Tổng
Tỉ
số
học
số
lệ
số
lệ
số
lệ
số
lệ
số
lệ
HS
HS
(%)
HS
(%)
HS
(%)
HS
(%)
HS
(%)
9389
450
4,8
2319 24,7 5680 60,5
846
9
94
1
1997- 1998
6032
543
9,0
2089 34,6 2893 47,9
492
8,2
15
0,25
2008- 2009
5730
915
15,9 2360 41,2 2291 39,9
162
2,83
2
0,03
2016- 2017
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
50
huyện Phú Lương cung cấp]
Qua bảng trên, có thể thấy rằng kết quả xếp loại học lực học sinh bậc
THCS năm học 1997 - 1998 so với năm học 2016 - 2017 thay đổi rõ rệt. Mặc
dù năm học 1997 - 1998 nhiều học sinh hơn (9389 học sinh) năm học 2016 -
2017 (5730 học sinh), nhưng số lượng học sinh khá, giỏi của năm học 2016 -
2017 cao hơn nhiều so với năm học 1997 - 1998. Đồng thời, số lượng học sinh
yếu, kém cũng giảm rõ rệt.
Bảng 3.3. Chất lượng lên lớp, xét tốt nghiệp bậc THCS (tỉ lệ %)
Năm học
1997 - 1998 2008 - 2009 2015 - 2016
Tiêu chí
Lên lớp 93,7 95,2 97,72
Tốt nghiệp 95 98 99,86
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
huyện Phú Lương cung cấp]
Qua số liệu thống kê về chất lượng văn hóa trên, chúng ta nhận thấy rõ
ràng có sự tiến bộ rõ rệt theo từng năm. Các trường đã đánh giá đúng thực chất
hơn về chất lượng học tập của học sinh, không chạy theo thành tích. Đây chính
là điều kiện để nâng cao chất lượng dạy và học của cá đơn vị trường. Cùng với
nâng cao chất lượng đại trà, Phòng Giáo dục và đào tạo đặc biệt quan tâm chỉ
đạo các đơn vị trường chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi văn hóa cấp huyện, cấp
tỉnh, không chỉ có học sinh ở khu vực thị trấn mà cả học sinh ở vùng cao, vùng
đặc biệt khó khăn cũng tham gia thi học sinh giỏi vòng tỉnh và đạt giải cao.
Điều này cho thấy chất lượng giáo dục THCS đã có sự chuyển biến giữa các
51
vùng, từng bước thực hiện công trong giáo dục.
Bảng 3.5. Kết quả xếp loại hạnh kiểm bậc THCS của một số năm học
Tốt Khá Trung bình Yếu
Năm Tổng Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tổng Tổng Tổng Tổng học số HS số HS số HS số HS số HS (%) (%) (%) (%)
1997- 9389 6469 68,9 2563 27,3 342 3,64 15 0,16 1998
2008- 6032 4001 66,32 1619 26,84 394 6,53 18 0,31 2009
2016- 5730 4756 83 866 15,11 108 1,88 0 0 2017
[Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu các năm trên cơ sở phòng giáo dục đào tạo
huyện Phú Lương cung cấp]
Qua bảng thống kê trên ta thấy về giáo dục đạo đức học sinh là khá tốt,
số học sinh xếp loại hạnh kiểm khá, tốt hàng năm đạt từ 95% trở lên, còn lại
hạnh kiểm trung bình và rất ít học sinh xếp loại yếu. Riêng năm học 2016 -
2017 không có học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu. Cùng với việc đánh giá
nghiêm túc về học lực, các trường cũng thực hiện xếp loại hạnh kiểm chặt chẽ
hơn, phản ánh thực chất hơn về giáo dục đạo đức trong huyện.
Tuy là một huyện miền núi, nhưng so với các địa phương trong tỉnh, chất
lượng dạy và học khối THCS huyện Phú Lương đạt mức khá. Năm học 2013 -
2014, học lực giỏi của Phú Lương đạt 16,19 (Trong đó, trường huyện Phú Bình
đạt 13,46%,), hạnh kiểm tốt 78,4% (huyện Phú Bình đạt 75,24%). Tuy nhiên, tỉ
lệ này vẫn còn thấp hơn so với một số trường, nhất là các trường thành phố và
thị xã. Năm học 2010 - 2011, trong khi các trường THCS thành phố Thái
Nguyên tỉ lệ học sinh có học lực khá, giỏi đạt 67,7% thì huyện Phú Lương tỉ lệ
52
này đạt có 49,7%. Đến năm học 2015 - 2016, tỉ lệ này ở huyện Phú Lương đạt
58,25% thì ở thành phố Thái Nguyên là trên 70%. Sở dĩ có sự chênh lệch như
vậy là bởi Phú Lương là một huyện thuần nông với hoạt động nông nghiệp là
chủ yếu. Trình độ nhận thức và đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, tỉ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm. Trước năm 2000, tỉ lệ
học sinh THCS bỏ học còn cao. Năm học 1997 - 1998 số học sinh bỏ học là
164/9389 (1,75%) [31, tr.31]. Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây tỉ lệ học sinh
bỏ học ngày càng giảm. Năm học 2008 - 2009, số học sinh THCS bỏ học có
70/6059 (1,16%) em [45, tr.1], đến năm 2009 - 2010, con số này giảm còn
55/5821 (0,94%) học sinh [46, tr.1]. Đến năm học 2013 - 2014 tỉ lệ duy trì sĩ số
đạt 99,55% [51, tr.9].
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và
sáng tạo”, đã có 100% các trường THCS huyện Phú Lương đăng kí thực hiện
nghiêm túc và thường xuyên trong các năm học. Các thầy giáo, cô giáo đều
thực hiện tốt quy định về đạo đức nghề giáo, các trường đều xây dựng được
quy tắc ứng xử.
Trong những năm gần đây, các trường THCS huyện Phú Lương thực
hiện mỗi cán bộ, giáo viên một đổi mới phương pháp dạy học; mỗi nhà trường
một đổi mới phương pháp dạy học và lựa chọn mỗi trường một cá nhân có
phương pháp đổi mới tiêu biểu gửi về phòng Giáo dục và đào tạo. Sinh hoạt
của các tổ chuyên môn ở các trường được hoạt động tích cực, thường xuyên có
kế hoạch cụ thể từ đầu năm học, nội dung sinh hoạt đa dạng dưới nhiều hình
thức khác nhau như: Tổ chức chuyên đề, ngoại khóa, hội thi.
Thông qua các chuyên đề, việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất
lượng dạy và học mang lại hiệu quả rõ rệt. Điển hình như chuyên đề “Giáo dục
kĩ năng sống” - trường THCS Phú Đô; chuyên đề môn Lịch sử “Dạy học trên
53
thực địa” - trường THCS Sơn Cẩm 1; chuyên đề “Bác Hồ với Thái Nguyên,
Thái Nguyên với Bác Hồ” - trường THCS Yên Đổ. Chuyên đề “Ứng dụng đổi
mới phương pháp đánh giá dạy học tích cực” ở trường THCS của cụm Vô
Tranh - Tức Tranh - Phú Đô (các môn: Toán, Địa Lý). Chuyên đề “Thiết kế bài
giảng điện tử E - Learning” của cụm THCS Dương Tự Minh - Thị trấn Đu -
Động Đạt - Hợp Thành (các môn: Toán, Tiếng Anh, Hóa học); Chuyên đề:
“Đổi mới phương pháp dạy học các môn tự nhiên” của trường THCS Phấn Mễ
1. Chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học THCS” tại THCS Yên Đổ; Ngoại
khóa: Kỉ niệm 121 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh tại trường THCS
Giang Tiên.
Thực hiện công tác phổ cập giáo dục, huyện Phú Lương được công nhận
đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS từ năm 2003, đến nay các chỉ tiêu phổ cập
giáo dục THCS vẫn tiếp tục được giữ vững, toàn huyện có 16/16 xã, thị trấn đạt
chuẩn phổ cập giáo dục THCS (Trong đó, 09/16 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục
THCS mức độ 3 và 07/16 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2).
Ngoài công tác giáo dục đạo đức và trí dục, các trường đều rất quan tâm
đến các nội dung giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Công tác giáo dục thể
chất, văn hóa nghệ thuật là nội dung giáo dục lớn được chú trọng đẩy mạnh từ
nhiều năm nay. Vì vậy phong trào thể dục thể thao, văn nghệ phát triển mạnh.
Hàng năm Phòng Giáo dục - đào tạo huyện đều tổ chức Hội khỏe Phù Đổng,
giải điền kinh quy mô và chất lượng. Đội tuyển của huyện tham gia giải thi đấu
ở tỉnh đều được xếp hạng cao.
3.2. Những hạn chế của giáo dục THCS huyện Phú Lương
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, giáo dục Trung học cơ sở huyện
Phú Lương tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua vẫn còn một số hạn chế sau:
Về cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học mặc dù được sự quan tâm của các
cấp song nguồn lực tài chính còn hạn hẹp. Cơ sở vật chất các trường đã có
54
những thay đổi song so với yêu cầu còn hạn chế. Có những trường đạt chuẩn
quốc gia đã hết giai đoạn 05 năm đến thời kì kiểm tra công nhận lại phải đầu tư
sữa chữa nhiều. Chính vì vậy, số trường đạt chuẩn quốc gia còn hạn chế so với
một số huyện khác trong tỉnh. Do đó, tỉ lệ có trường đạt chuẩn ở Phú Lương
vẫn đứng sau Phổ Yên, Sông Công, Đại Từ, Phú Bình, Thành Phố Thái Nguyên
và Đồng Hỷ.
Các phòng bộ môn như phòng bộ môn vật lý, hóa học, tiếng anh còn thiếu
thiết bị, đồ thí nghiệm phục vụ cho dạy và học, cơ sở vật chất nhiều xã bảo quản
chưa tốt. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc dạy và học.
Hệ thống nước uống, nhà công vụ cho giáo viên, nhà vệ sinh, nhà để xe của
giáo viên và học sinh của một số trường chưa được đảm bảo, đầu tư và đang
xuống cấp. Một số trường ở vùng khó khăn của huyện Phú Lương còn thiếu và
thường xuyên hỏng hệ thống quạt mát, bóng điện, rèm, máy chiếu.
Nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể một số địa phương
chưa đầy đủ, còn trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, vào ngành chưa thật sự đẩy
mạnh công tác xã hội hóa giáo dục. Kinh phí chi thường xuyên phục vụ cho dạy
và học còn quá ít, chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy. Nhu cầu học tập của
nhân dân ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của ngành giáo dục và trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của huyện còn hạn chế.
Về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh.
Một số cán bộ quản lý còn hạn chế trong công tác quản lý, nhất là quản lý
về tài chính, trong thực hiện quy chế dân chủ công khai.
Đội ngũ giáo viên còn bất cập so với nhu cầu đổi mới. Sự thay đổi trong
phương pháp dạy học của giáo viên còn chậm, chưa hiệu quả. Một trong những
lí do là mức lương và phục cấp cho giáo viên còn thấp và để đảm bảo nhu cầu
cuộc sống, nhiều giáo viên tham gia làm thêm bên ngoài. Điều này ít nhiều ảnh
hưởng tới chất lượng dạy học của giáo viên.
Đội ngũ giáo viên cốt cán các ngành học và cấp học còn mỏng, chưa phát
huy được tác dụng vai trò nòng cốt nhất là phát triển chất lượng đội ngũ hoặc
55
bồi dưỡng học sinh giỏi.
Chất lượng đội ngũ chưa tương xứng với tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo.
Tuy số lượng giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi trong các kì thi, cuộc
thi cấp tỉnh tương đối cao song vẫn chưa cải thiện được đáng kể về thứ hạng
trong tỉnh.
Việc cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh đã được chú ý, song ở một số trường vùng sâu,
vùng xa thực hiện chưa triệt để.
Việc đánh giá xếp loại viên chức, chuẩn cán bộ quản lý còn nặng về hình
thức, chưa thực sự có tác dụng trong việc thay đổi hiệu quả công việc. Công tác
tự bồi dưỡng nhà giáo còn hình thức, thiếu động lực và hiệu quả.
Ý thức học tập của một số học sinh sút kém do nhiều nguyên nhân, trong
đó có cả những tiêu cực của đời sống xã hội. Một bộ phận học sinh còn yếu
kém về nhận thức chính trị, đạo đức, về kiến thức văn hoá. Một số học sinh tuy
đỗ tốt nghiệp THCS nhưng thiếu hiểu biết về xã hội và nhân văn, về kĩ năng
thực hành, phương pháp tư duy; khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất đời
sống hạn chế, chưa đáp ứng kịp với yêu cầu lao động sản xuất cho nông nghiệp
nông thôn hiện nay.
Tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng ở một số xã vùng sâu như xã Hợp
Thành, Yên Ninh, Yên Lạc còn cao, do vậy ít nhiều ảnh hưởng đến công tác
quản lý và việc nâng cao chất lượng dạy và học. Điều kiện kinh tế - xã hội ở
nhiều xóm, bản còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo còn cao, dẫn đến nhiều cha mẹ học sinh
chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình.
Về chất lượng giáo dục chưa được như mong muốn
Mặc dù trong những năm qua, chất lượng giáo dục đã được nâng lên, song
chưa đồng đều giữa các vùng miền. Chất lượng học lực của học sinh 04 trường
THCS vùng đặc biệt khó khăn còn yếu kém (THCS: Hợp Thành, Yên Ninh,
Yên Lạc, Yên Trạch).
Chất lượng giáo dục mũi nhọn, bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém hiệu
56
quả chưa cao. Tỉ lệ và chất lượng giải trong các kì thi, cuộc thi cấp tỉnh, cấp
quốc gia còn hạn chế. Phổ cập giáo dục một số trường trong Huyện chưa đạt vì
kinh tế còn khó khăn.
Chất lượng giáo dục chuyển biến chưa thực sự đồng bộ và mạnh mẽ. Mặc
dù huyện đã được công nhận phổ cập giáo dục Trung học cơ sở nhưng có một số
địa phương kết quả đạt chưa vững chắc như: Yên Lạc, Yên Ninh.
3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục THCS huyện Phú Lương
Để nâng cao cất lượng giáo dục THCS huyện Phú Lương, tác giả đưa ra
một số giải pháp sau:
Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường học:
Huyện Phú Lương là một huyện còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, để
đảm bảo tiến độ xây dựng trường chuẩn cũng như sửa chữa cơ sở vật chất các
nhà trường, biện pháp quan trọng nhất là tranh thủ các dự án đầu tư, tăng cường
xã hội hóa từ các nhà đầu tư, các phụ huynh học sinh.
Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Phú Lương cần tăng cường tích cực huy
động xã hội hóa giáo dục cùng với nguồn tiết kiệm chi của ngành để xây dựng
khuôn viên trường học, nhà công vụ cho giáo viên, các công trình vệ sinh, mua
bàn ghế học sinh, mua máy tính, thiết bị dạy học phục vụ cho giáo viên và học
sinh. Đồng thời, phát động tới giáo viên phong trào tự làm đồ dùng dạy học.
Phòng giáo dục huyện Phú Lương kiến nghị với UBND tỉnh Thái
Nguyên, sở GD&ĐT tỉnh Thái Nguyên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để khắc
phục tình trạng thiếu phòng bộ môn ở các trường trung học cơ sở.
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.
Để xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên giỏi đáp
ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục đòi hỏi phải thực hiện
đúng quy trình của công tác cán bộ từ khâu đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch,
bố trí sử dụng và chính sách đối với cán bộ. Trước mắt cần tập trung vào các
công tác sau đây:
Cán bộ quản lý phải đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng theo tiêu
57
chuẩn quy định. Cán bộ quản lý ít nhất phải đạt trình độ chuẩn, được bồi dưỡng
về nghiệp vụ quản lý giáo dục, được đào tạo về quản lý nhà nước, được bồi
dưỡng về lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, có sức khoẻ, có năng lực quản
lý,… nhằm tạo điều kiện phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục.
Đổi mới công tác quản lý ở cấp THCS, tăng cường kiểm tra đánh giá kết
quả học tập và rèn luyện của học sinh ở cấp THCS. Tăng cường vai trò và chức
năng quản lý của Phòng Giáo dục - Đào tạo trong việc chỉ đạo các hoạt động
toàn diện ở các nhà trường. Tích cực và thường xuyên kiểm tra, nắm bắt tình
hình ở cơ sở để có những chỉ đạo đúng đắn và linh hoạt, tạo hiệu quả công tác
cao. Thường xuyên đánh giá và tổ chức rút kinh nghiệm trong công tác quản lý
và lãnh đạo.
Đối với giáo viên, để thực hiện được những mục tiêu giáo dục đã đề ra,
việc xây dựng đội ngũ giáo viên trong các trường Trung học cơ sở cần chú ý
đến những công tác quan trọng như sau: Tăng cường công tác kiểm tra, thanh
tra và tổ chức giao ban, sinh hoạt chuyên đề trong mỗi nhà trường; Công tác
đánh giá giáo viên Phải bảo đảm công tác đánh giá giáo viên được tiến hành
đúng quy trình, thực hiện tốt nguyên tắc chính xác, công bằng, dân chủ khách
quan; Tích cực bồi dưỡng giáo viên bằng nhiều hình thức, góp phần làm
chuyển biến trong nhận thức của cán bộ giáo viên để mỗi cán bộ giáo viên nhận
thức sâu sắc về nhiệm vụ cấp học. Bên cạnh đó Ban giám hiệu cần nghiêm túc
trong kiểm tra, đánh giá, phân loại đội ngũ giáo viên để có những giải pháp tích
cực và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ.
Đối với học sinh, cần tăng cường giáo dục pháp luật, bồi dưỡng tinh thần
yêu nước, yêu quê hương, yêu gia đình, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. ứng
dụng các tiến bộ của công nghệ tin học để cải tiến phương pháp dạy học. Giúp
học sinh tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại. Chú trọng triển khai đề án
đầu tư, phát triển chương trình dạy và học ngoại ngữ, tin học và ứng dụng công
nghệ thông tin. Coi trọng giáo dục thể chất, giáo dục sức khoẻ. Nâng cao năng
lực của giáo viên chủ nhiệm lớp, tổ chức Đoàn, Hội, Đội, gia đình và cộng
58
đồng trong việc quản lý, phối hợp giáo dục toàn diện cho học sinh.
Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học để nâng cao chất
lượng giáo dục.
Các trường THCS thực hiện thường xuyên, hiệu quả phương pháp, hình
thức và kĩ thuật dạy học tích cực, đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn. Tăng
cường kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức kĩ năng vào giải quyết các vẫn đề
thực tiễn, đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo của học sinh.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy - học cho một số
trường ở vùng còn khó khăn. Đồng thời, có những chính sách hỗ trợ học sinh
và bồi dưỡng giáo viên công tác ở những vùng này để họ yên tâm công tác và
gắn bó với địa phương.
Đối với bồi dưỡng học sinh giỏi
Ngay từ đầu năm học, các nhà trường tổ chức kiểm tra khảo sát chất
lượng học sinh ở các môn, kịp thời phát hiện ra những học sinh giỏi và học sinh
có năng khiếu để bồi dưỡng mũi nhọn, thành lập đội tuyển ôn luyện, tham gia
kỳ thi học sinh giỏi các cấp trong năm học.
Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi của phải được xây dựng dựa trên
nhiệm vụ năm học, nhiệm vụ khảo thí và sự chỉ đạo của Sở giáo dục và đào tạo,
đồng thời cần chú ý đến đặc điểm riêng của từng trường. Kế hoạch bồi dưỡng
HSG được xây dựng chi tiết, tỉ mỉ, có sự bàn bạc thống nhất với lãnh đạo nhà
trường và các tổ chuyên môn, đồng thời thông báo cho hội phụ huynh học sinh
được biết để phối hợp thực hiện. Tổ chức tốt các cuộc thi cấp huyện. Tham gia
có hiệu quả các cuộc thi cấp tỉnh và cấp quốc gia
Phụ đạo học sinh yếu kém.
Đối với những học sinh yếu, kém trong các bộ môn học, nhà trường phân
loại và phân công giáo viên giúp đỡ trong tiết học, mở các lớp phụ đạo vào các
buổi chiều, giúp học sinh lấp đầy những lỗ hổng kiến thức, giúp các em tự tin
59
hơn trong học tập, hạn chế tối đa hiện tượng học sinh bỏ học.
Tiểu kết chương 3
Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, sự đồng lòng của quần chúng
nhân dân, giáo dục THCS huyện Phú Lương trong 20 năm (1997 - 2017) đã có
nhiều dấu hiệu khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu. Quy mô trường lớp ngày
càng được củng cố, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của con em địa phương. Đội
ngũ quản lý, giáo viên ngày càng nâng cao chất lượng, không ngừng học hỏi, đổi
mới phương pháp dạy, điều này đã góp phần không nhỏ làm nâng cao chất lượng
dạy và học của thầy và trò trong 20 năm qua. Chất lượng giáo dục 2 mặt cũng
như các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh ngày càng tăng. Phổ cập giáo dục THCS đạt
được những thành tựu nhất định. Công tác xã hội hóa được quan tâm.
Bên cạnh đó, giáo dục THCS huyện Phú Lương cũng còn nhiều hạn chế.
Khó khăn về cơ sở vật chất, về đội ngũ cán bộ chất lượng cao còn thiếu. Giáo
dục học sinh mũi nhọn còn hạn chế so với một số địa phương trong tỉnh. Tuy
nhiên, sự chênh lệch này không quá lớn, với sự cố gắng của các cấp ủy Đảng,
sự đồng lòng của quần chúng nhân dân, giáo dục THCS huyện Phú Lương sẽ
60
được phát triển trong thời gian tới.
KẾT LUẬN
Đất nước ta đang vững bước đi trên con đường Công nghiệp hóa - Hiện
đại hóa đất nước, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, tiến tới hội nhập kinh
tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy hơn lúc nào hết chúng ta
phải coi trọng, quan tâm đầu tư cho GD-ĐT, cho nguồn nhân lực của đất nước.
Cùng với ngành GD-ĐT, giáo dục THCS huyện Phú Lương (1997 -
2017) đã có nhiều cố gắng và đạt được thành tựu. Quy mô trường, lớp và cơ sở
vật chất được sửa chữa, xây mới đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa
phương. Chất lượng giáo dục được có nhiều bước tiến. Nếu như năm học 1997
- 1998, THCS huyện Phú Lương có 2796/9389 học sinh đạt học lực khá, giỏi,
thì đến năm học 2016 - 2017, số này là 3275/5730 học sinh. Học sinh đạt giải
học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tăng qua các năm học (năm học 1998 - 1999
toàn huyện chỉ có 81 giải học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh, và đến năm học 2016
- 2017 có 106 học sinh đạt giải). Đặc biệt, năm học năm học 2016 - 2017 có 02
học sinh đạt giải khuyến khích cấp quốc gia.
Do đặc điểm là một huyện miền núi nên cơ sở vật chất, chất lượng giáo
dục cấp THCS huyện Phú Lương vẫn còn những hạn chế. Về cơ sở vật chất,
một số trường chưa đảm bảo hệ thống nước uống, nhà vệ sinh, nhà để xe, nhà
công vụ cho giáo viên. Trong dạy học, một số giáo viên ngại áp dụng phương
pháp dạy học mới mà chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học đọc - chép. Từ
năm 2013 - 2014, một số trường THCS huyện Phú Lương mới đổi mới phương
pháp dạy học, tuy nhiên việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực như “bàn
tay nặn bột”, “khăn trải bàn”… chỉ được thực hiện trong các tiết thao giảng, thi
giáo viên dạy giỏi. Các hoạt động giáo dục như sinh hoạt chuyên đề, ngoại
khóa, tổ chức hội thi mới được áp dụng từ năm học 2012 - 2013. Hoạt động trải
nghiệm bắt đầu từ thực hiện năm 2017.
Đất nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, vị
trí, vai trò của giáo dục - đào tạo càng trở nên quan trọng, tập trung cho phát
triển nền kinh tế tri thức trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết. Muốn phát triển và
61
nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo thì phải tập trung từ gốc, cũng như
muốn xây dựng một toà nhà tốt thì phải có nền móng vững chắc, vì vậy việc
nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THCS nói riêng
phải tập trung vào những vấn đề cơ bản đó là:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đối với sự
nghiệp GD-ĐT.
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Xây dựng
và hoàn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý.
Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học để nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học cho các
nhà trường.
Nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, giáo dục được coi trọng và
đưa lên vị trí là quốc sách hàng đầu, vì tương lai của mỗi dân tộc, nhiều quốc gia
trên thế giới coi giáo dục là nhân tố quyết định tăng trưởng và phát triển bền
vững. Sự nghiệp Giáo dục nói chung và sự nghiệp GD&ĐT Phú Lương nói riêng
sẽ chuyển biến về mọi mặt, khẳng định chỗ đứng của mình có uy tín với các cấp
và nhân dân địa phương, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng.
Đối với ngành GD&ĐT huyện Phú Lương, trên cơ sở những định hướng
lớn của Đảng và Nhà nước, với tình hình thực tế của địa phương, sẽ có những
biện pháp thiết thực, để khắc phục những yếu kém tồn tại cần phải giải quyết,
bên cạnh đó kịp thời phát huy những thành tích đã đạt được để nâng cao chất
lượng giáo dục đáp ứng với mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Những giải pháp được đề xuất trên là những nhận thức cùng với kinh
nghiệm của trong quá trình công tác. Tuy là còn rất khiêm tốn nhưng tôi hy
vọng rằng có thể góp một phần rất nhỏ vào công tác nâng cao chất lượng giáo
dục ở huyện Phú Lương nói riêng và của ngành Giáo dục- Đào tạo nói chung,
góp phần đào tạo học sinh con em các dân tộc trong huyện có đủ tri thức, năng
lực, phẩm chất đạo đức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, góp sức mình cùng toàn
Đảng, toàn dân xây dựng quê hương thoát khỏi đói nghèo, tạo tiền đề để đáp
ứng công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Thực hiện mục tiêu "
62
Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Quốc Bảo (2002).Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Nxb chính trị
quốc gia.
2. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2002), Niên giám thống kê tỉnh Thái
Nguyên 1997 - 2001.
3. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2003), Niên giám thống kê tỉnh Thái
Nguyên 1998 - 2002.
4. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2004), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2003.
5. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2005), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2004.
6. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2006), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2005.
7. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2007), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2006.
8. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2008), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2007.
9. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2009), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2008.
10. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2010), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2009.
11. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2011), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2010.
12. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2012), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2011.
13. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2013), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2012.
14. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2014), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2013.
15. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2015), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2014.
16. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2016), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2015.
17. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2017), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2016.
18. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2018), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2017.
19. Đảng bộ huyện Phú Lương (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ
huyện lần thứ XXI (Lưu hành nội bộ).
20. Đảng bộ huyện Phú Lương (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ
huyện lần thứ XXII (Lưu hành nội bộ).
21. Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (1991), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Thái
63
lần thứ VI.
22. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (1997), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lần thứ XV.
23. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lần thứ XVI.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội toàn quốc lần IX, Nhà
xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội toàn quốc lần X, Nhà
xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội toàn quốc lần XII,
Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.
27. Bùi Minh Hiển (2008), Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm.
28. Bùi Thị Hoa (2011), Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên (1945 - 1954).
Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
29. Trần Việt Huấn (2019), Giáo dục Trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên (2009 - 2017). Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên.
30. Huyện ủy Phú Lương (1997), Báo cáo công tác 6 tháng đầu năm 1997,
lưu trữ tại huyện ủy Phú Lương.
31. Huyện ủy Phú Lương (1998), Báo cáo công tác 6 tháng đầu năm 1998,
lưu trữ tại huyện ủy Phú Lương.
32. Huyện ủy Phú Lương (2000), Báo cáo đánh giá công tác năm 1999, lưu
trữ tại huyện ủy Phú Lương.
33. Huyện ủy Phú Lương (2003), Tài liệu hội nghị tổng kết công tác xây dựng
Đảng năm 2002, lưu trữ tại huyện Phú Lương.
34. Huyện ủy Phú Lương (2005), Tài liệu hội nghị tổng kết công tác xây dựng
Đảng năm 2004, lưu trữ tại huyện Phú Lương.
35. Huyện ủy Phú Lương (2010), Đề án phát triển giáo dục đào tạo huyện
64
Phú Lương đến năm 2015, Lưu trữ tại huyện Phú Lương.
36. Huyện ủy Phú Lương (2005), Báo cáo tự kiểm điểm của Ban chấp hành
Đảng bộ huyện Phú Lương khóa XX (nhiệm kì 2000 - 2005) và kết quả
thực hiện nghị quyết trung ương 6 (lần 2).
37. Huyện ủy Phú Lương (1996), Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Lương 1930 -
1954, Nxb Đại học Thái Nguyên.
38. Huyện ủy Phú Lương (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Lương 1955 -
2000, Nxb Đại học Thái Nguyên.
39. Huyện ủy Phú Lương (2005), Văn kiện trình đại hội đại biểu Đảng bộ
huyện lần thứ XXI, Lưu hành nội bộ.
40. Huyện ủy Phú Lương (2010), Văn kiện trình đại hội đại biểu Đảng bộ
huyện lần thứ XXII, Lưu hành nội bộ.
41. Huyện ủy Phú Lương (2015), Văn kiện trình đại hội đại biểu Đảng bộ
huyện lần thứ XXIII Lưu hành nội bộ.
42. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2006), Báo cáo tổng kết
năm học 2005 - 2006 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2006 - 2007.
43. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2007), Báo cáo tổng kết
năm học 2006 - 2007 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2007 - 2008.
44. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2008), Báo cáo tổng kết
năm học 2007 - 2008 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2008 - 2009.
45. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2009), Báo cáo tổng kết
năm học 2008 - 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2009 - 2010.
46. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2010), Báo cáo tổng kết
năm học 2009 - 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2010 - 2011.
47. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2011), Báo cáo tổng kết
năm học 2010 - 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2011 - 2012.
48. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2012), Báo cáo tổng kết
năm học 2011- 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2012 - 2013.
49. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2013), Báo cáo tổng kết
65
năm học 2012 - 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2013 - 2014.
50. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2013), Tổng kết giáo dục
Trung học cơ sở năm học 2012 - 2013.
51. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2014), Báo cáo tổng kết
năm học 2013 - 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2014 - 2015.
52. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2015), Báo cáo tổng kết
năm học 2014 - 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2015 - 2016.
53. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2016), Báo cáo tổng kết
năm học 2015 - 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2016 - 2017.
54. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2017), Báo cáo tổng kết
năm học 2016 - 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2017 - 2018.
55. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Lương (2017), Báo cáo công tác
phổ cập giáo dục THCS huyện Phú Lương các năm.
56. Lý Trung Thành (2009), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp
giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2005, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
57. Dương Thị Thảo (2018), Giáo dục phổ thông huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
(1986 - 2016), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm
Thái Nguyên.
58. Trần Minh Thu (2010), Chuyển biến về kinh tế - xã hội huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên trong thời kì đổi mới (1986 - 2005). Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
59. Nguyễn Minh Tuấn (2005), Giáo dục phổ thông Thái Nguyên từ khi tái lập tỉnh
đến nay (1997 - 2005), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại Học Thái Nguyên.
60. Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương (2003), Báo cáo thành tích thực hiện
nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2002, Lưu trữ tại Ủy ban nhân dân huyện
Phú Lương.
61. Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương (2005), Báo cáo thành tích thực hiện
nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004, Lưu trữ tại Ủy ban nhân dân huyện
66
Phú Lương.
62. Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương (2006), Báo cáo thành tích thực hiện
nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005, Lưu trữ tại Ủy ban nhân dân huyện
Phú Lương.
63. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII.
64. Đoàn Thị Yến (2015), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo
dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010, Luận án Tiến sĩ Lịch sử,
Trường Đại học khoa học và xã hội nhân văn Hà Nội.
65. Đoàn Thị Yến (2016), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo
dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2012, Đề án Khoa học và Công nghệ
67
cấp Đại học, Trường Đại học khoa học Thái Nguyên.
PHỤ LỤC ẢNH
Phụ lục 1. Bản đồ hành chính huyện Phú Lương
Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Phú Lương
Phụ lục 2. Một số hình ảnh về giáo dục của THCS huyện Phú Lương
Hình 1. Khuôn viên trường THCS Hợp Thành
Hình 2. Khuôn viên trường THCS Dương Tự Minh
Nguồn: Tác giả
Nguồn: Tác giả
Hình 3. Cổng trường THCS Thị trấn Đu
Hình 4. Công trình nước rửa tay của học sinh trường THCS Hợp Thành
Nguồn: Tác giả
Nguồn: Tác giả
Hình 5. Phòng học môn Tin học trường THCS Phấn Mễ I Hình 6. Phòng bộ môn Hóa Học trường THCS Thị Trấn Đu
Nguồn: Tác giả Nguồn: Tác giả
Hình 7. Phòng bộ môn Vật Lý trường THCS Hợp Thành Hình 8. Phòng Y tế trường THCS Thị trấn Đu
Nguồn: Tác giả Nguồn: Tác giả
Hình 9. Giờ thi thực hành giảng dạy môn Toán của đồng chí Lưu Thị Thanh Huyền tại lớp 7C yên đổ
Hình 10. Giờ thi thực hành giảng dạy môn Toán của đồng chí Nông Thị Thu Hiền tại lớp 9A yên đổ
Nguồn: Trường THCS Yên Đổ Nguồn: trường THCS Yên Đổ
Hình 12. Cuộc thi chọn Học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh năm học 2013 - 2014 Nguồn: Phòng Giáo dục huyện Phú Lương
Hình 11. Các đồng chí giáo viên huyện Phú Lương đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, giáo viên dạy giỏi xuất sắc cấp tỉnh năm học 2015 - 2016 Nguồn: Phòng Giáo dục huyện Phú Lương
Nguồn: Trường THCS Yên Lạc
Nguồn: Trường THCS Yên Lạc
Hình 13. Thi thực hành thiết bị thí nghiệm giỏi năm học 2016 - 2017 trường THCS Yên Lạc Hình 14. Trường THCS Yên Đổ tổ chức cuộc thi Rung chuông vàng năm học 2015 - 2016
Sinh hoạt chuyên đề
Hình 15. Sinh hoạt chuyên đề “Em yêu đất nước Việt Nam” của cụm THCS Cổ Lũng, Sơn Cẩm, Vô Tranh
Hình 16. THCS Dương Tự Minh, Động Đạt, Yên Lạc, Phấn Mễ I, Phấn Mễ II tổ chức chuyên đề Ngày hội sử dụng tiếng Anh Nguồn: Trường THCS Dương Tự Minh
Nguồn: Trường THCS Cổ Lũng
Hoạt động trải nghiệm
Hình 18. Trải nghiệm tại làng nghề bánh trưng Bờ Đậu của trường THCS Cổ Lũng
Hình 17. Trường THCS Yên Đổ trải nghiệm tại bảo bàng văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Thái Nguyên Nguồn: Trường THCS Yên Đổ Nguồn: Trường THCS Cổ Lũng
Hình 19. Trường THCS Yên Lạc trải nghiệm 1 ngày làm chiến sĩ tại Trung đoàn 246 Nguồn: Trường THCS Yên Lạc Hình 20. Trường THCS Thị Trấn Đu trải nghiệm tại trang trại giáo dục Erahouse Nguồn: Trường THCS Thị Trấn Đu

