i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông tin,
tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc. Kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây.
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2011
Tác giả luận văn Phạm Văn Thịnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc nhất tới TS. Nguyễn Lê Tuấn, Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo và
PGS.TS Nguyễn Trung Dũng, Khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Thủy lợi Hà
Nội là những người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện
luận văn.
Qua đây, tôi xin được cảm ơn chân thành các thầy cô giáo của Trường Đại
học Thủy lợi, của Khoa Kinh tế và Quản lý đã dạy dỗ, truyền đạt cho tôi những kiến
thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập chương trình cao học, cũng như
trong thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Tôi xin cảm ơn TS. Lê Xuân Tuấn (Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo),
KS. Đinh Văn Cao (Phòng Tài nguyên và Môi trường Tiền Hải, kiêm Phó giám đốc
Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải) là những người có nhiều năm liền
nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập măn, đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý
báu về vùng đất ngập nước ven biển Tiền Hải, Thái Bình; tới người dân các xã ven
biển của huyện Tiền Hải đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực tế
tại địa phương để thực hiện những nội dung nghiên cứu của luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã luôn ở bên cạnh, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn
thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2011
Tác giả luận văn
Phạm Văn Thịnh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... vi DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ.................................................................................. vii DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ............................................................................ vii MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của Đề tài ..................................................................................... 1 2. Mục tiêu của Đề tài ............................................................................................. 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 2 4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ......................................................... 2 5. Bố cục của luận văn ............................................................................................ 3 Chương 1 TỔNG QUAN ............................................................................................ 4 1.1. Vai trò của lượng giá kinh tế HST ................................................................... 4 1.2. Vai trò của lượng giá giá trị kinh tế trong việc ra quyết định .......................... 4 1.3. Tại sao các nguồn tài nguyên ĐNN bị đánh giá thấp trong các quyết định phát triển .................................................................................................................. 7 1.4. Tổng quan chung về lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN nói chung và ĐNN ven biển trên thế giới và Việt Nam ....................................................................... 10 1.4.1. Trên thế giới ............................................................................................ 10 1.4.2. Tại Việt Nam ........................................................................................... 11 Chương 2 ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN.............................................................. 12 2.1. Định nghĩa và phân loại ĐNN ........................................................................ 12 2.1.1. Định nghĩa ............................................................................................... 12 2.1.2. Phân loại ĐNN ........................................................................................ 12 2.2. ĐNN ven biển ................................................................................................ 13 2.2.1. Khái niệm ĐNN ven biển ........................................................................ 13 2.2.2. Phân loại ĐNN ven biển ......................................................................... 13 2.3. Chức năng và giá trị của vùng ĐNN ven biển ............................................... 14 2.3.1. Chức năng sinh thái của ĐNN ven biển .................................................. 14 2.3.2. Chức năng kinh tế ĐNN ven biển ........................................................... 16 2.3.3. Giá trị đa dạng sinh học .......................................................................... 16 2.4. Một số HST ĐNN ven biển điển hình ............................................................ 17 2.4.1 HST cửa sông ven biển ............................................................................ 17 2.4.2. HST vùng triều ....................................................................................... 21 2.4.3. HST RNM ............................................................................................... 24 2.4.4. HST thảm cỏ biển.................................................................................... 26 2.4.5. HST rạn san hô ........................................................................................ 28 2.5. Hiện trạng và công tác quản lý ĐNN ven biển .............................................. 29 Chương 3 LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN ...... 31
iv
3.1. Hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển .............................................................. 31 3.1.1. Hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển ....................................................... 31 3.1.2. Mối quan hệ giữa chức năng và hàng hóa, dịch vụ ĐNN ven biển ........ 34 3.2. Giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển ................................................................ 35 3.3. Lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển ............................................... 36 3.3.1. Lượng giá giá trị kinh tế ĐNN ven biển ................................................. 36 3.3.2. Tổng giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển ................................................ 38 3.4. Phân tích chi phí - lợi ích ............................................................................... 41 3.5. Các chỉ số lợi ích HST vùng ĐNN ven biển .................................................. 42 3.6. Các phương pháp lượng giá kinh tế ĐNN ven biển ....................................... 43 3.6.1. Các phương pháp lượng giá có sử dụng đường cầu ................................ 44 3.6.2. Các phương pháp lượng giá không sử dụng đường cầu ......................... 53 3.6.3. Các phương pháp lượng giá được sử dụng cho luận văn ........................ 58
3.7. Kinh nghiệm lượng giá giá trị kinh tế ĐNN ven biển tại một số nước trên thế giới ............................................................................................................................... 59 3.7.1 Đánh giá vùng đầm lầy ven biển ở miền Đông Nam nước Mỹ ............... 59 3.7.2. Định giá và bảo tồn RNM ở Indonesia ................................................... 64 3.7.3. RNM Costa Rica ..................................................................................... 67 Chương 4 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG ĐNN VEN BIỂN TIỀN HẢI, THÁI BÌNH .............................................................................................................. 69 4.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình ....................................................................................... 69 4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 69 4.1.2. Tài nguyên thiên nhiên ............................................................................ 75 4.2. Hàng hóa và dịch vụ vùng ĐNN ven biển Tiền Hải ...................................... 76 4.3. Hiện trạng khai thác, sử dụng và công tác quản lý vùng ĐNN ven biển Tiền Hải ......................................................................................................................... 76
Chương 5 LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH ....................................................... 81 5.1. Phương pháp xác định và lượng giá các giá trị .............................................. 81 5.1.1. Giá trị thủy sản (GTts) ............................................................................. 81 5.1.2. Giá trị từ mật ong (GTmo) ........................................................................ 83 5.1.3. Giá trị từ trồng cói (GTcoi) ....................................................................... 83 5.1.4. Giá trị từ việc làm giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng ......... 84 5.1.5. Giá trị lựa chọn và giá trị để lại............................................................... 84 5.1.6. Giá trị tồn tại ........................................................................................... 86 5.2. Ước tính các giá trị ......................................................................................... 86 5.2.1. Giá trị thủy sản (GTts) ............................................................................. 86 5.1.2. Giá trị từ mật ong (GTmo) ........................................................................ 89 5.1.3. Giá trị từ trồng cói (GTcoi) ....................................................................... 90 5.1.4. Giá trị làm giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng ..................... 90
v
5.1.5. Giá trị lựa chọn và giá trị để lại............................................................... 90 5.1.6. Giá trị tồn tại ........................................................................................... 96 3.2.5. Tổng hợp các giá trị kinh tế đã tính toán ................................................ 97 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 100 PHỤ LỤC ................................................................................................................ 102
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐNN
Đất ngập nước
VVB
Vùng ven biển
HST
Hệ sinh thái
RNM
Rừng ngập mặn
CNM
Cây ngập mặn
TVNM
Thực vật ngập mặn
ĐDSH
Đa dạng sinh học
VQG
Vườn quốc gia
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
TCM
Phương pháp chi phí du lịch
HPM
Phương pháp đánh giá theo hưởng thụ
CVM
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
TEV
Tổng giá trị kinh tế
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1. Sơ đồ TEV ................................................................................................. 39 Hình 3.2. Phỏng vấn người dân tại xã Nam Phú – Tiền Hải .......................................... 51 Hình 3.3. Giá trị kinh tế tổng cộng của hệ RNM dưới sự thay đổi của các mối liên kết môi trường ........................................................................................................... 66 Hình 4.1. Bản đồ vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình ..................................... 70 Hình 4.2. Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, thuộc vùng ĐNN ven biển Tiền Hải . 71
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Phân loại ĐNN ven biển ........................................................................... 14 Bảng 3.1. Đặc trưng cơ bản của các loại hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển ......... 34 Bảng 3.2. Mối quan hệ giữa chức năng và hàng hóa, dịch vụ ĐNN ven biển .......... 35 Bảng 3.3. Các thành phần của tổng giá trị kinh tế và một số phương pháp lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển ............................................................................ 40 Bảng 3.4. Sử dụng giá thị trường của các hàng hóa thay thế để lượng giá giá trị sử dụng cây Thảo Chỉ ở quận Bushenyi, Uganda .......................................................... 54 Bảng 3.5. Các giá trị ĐNN ven biển ở Louisiana, Mỹ ............................................. 64 (US$/ mẫu Anh, thời giá 1983) ................................................................................. 64 Nguồn: Costanza và cộng sự (1989). ........................................................................ 64 Bảng 4.1. Mâu thuẫn và giải pháp giữa một số nhóm có liên quan đến khai thác, phục hồi, quản lý vùng ĐNN .................................................................................... 79 Bảng 5.1. Các giá trị được tiến hành lượng giá và các phương pháp lượng giá tương ứng .................................................................................................................. 81 Bảng 5.2. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2010 ................................................. 87 Bảng 5.3. Tổng doanh thu từ thủy sản nuôi trồng năm 2010 .................................... 88 Bảng 5.4. Tổng doanh thu từ thủy sản nuôi trồng năm 2010 .................................... 89 Bảng 5.5. Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho quỹ 1 ......................................... 91 Bảng5.6. Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho quỹ 2 .......................................... 91 Bảng 5.7. Danh mục các dự án đầu tư ...................................................................... 96 Bảng 5.8. Các giá trị kinh tế của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải ............................. 97
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Vùng ĐNN ven biển và hải đảo, gọi tắt là vùng ĐNN ven biển có vai trò to lớn
đối với môi trường và cuộc sống của cồng đồng cư dân ven biển. Vùng ĐNN ven
biển thường có các HST có năng suất sinh học cao (HST RNM, HST thảm cỏ biển,
HST rạn san hô), vừa đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, giảm nhẹ tác động của
bão, lũ cho cộng đồng dân cư ven biển, vừa có chức năng làm sạch môi trường, cân
bằng sinh thái. Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng tại các
VVB, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế biển, cùng với việc quản lý lỏng
lẻo hoặc chưa quan tâm bảo vệ đúng mức của một số địa phương nên nhiều vùng
ĐNN ven biển đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng, đặc biệt, việc chặt phá RNM
để lấy diện tích nuôi tôm, cá. Do vậy, việc triển khai đề tài “Nghiên cứu, ứng dụng
thí điểm lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển và hải đảo” là rất cần thiết.
Nghiên cứu này xuất phát từ nhu cầu thực tiễn là phải bảo tồn và khai thác, sử
dụng hợp lý tài nguyên vùng ĐNN ven biển, vốn đã được đồng thuận và tự nguyện
thực hiện tại nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam. Đặc biệt, trong xu thế hội
nhập và toàn cầu hóa vấn đề kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường là một thực tế
khách quan, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để quản lý nhà nước tốt hơn về tài
nguyên và môi trường. Kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường thúc đẩy việc đổi
mới công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng thị trường hoá
các nguồn tài nguyên, chủ động vận dụng các quy luật khách quan, khả năng tự điều
tiết của kinh tế thị trường, tăng cường áp dụng các cơ chế, công cụ kinh tế trong
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực tư duy, nghiên cứu và
phân tích kinh tế trong ngành tài nguyên và môi trường, đáp ứng tốt mục tiêu phát
triển nhanh và bền vững của đất nước. Bởi vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn
và đề xuất phương pháp lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển và hải đảo còn
là một nội dung quan trọng trong kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường.
Vùng ĐNN ven biển huyện Tiền Hải, Thái Bình, có nhiều HST quan trọng
như HST RNM, HST cửa sông, HST bãi bỗi, HST bãi triều, song nguồn tài nguyên
biển quý giá của vùng ĐNN này, đặc biệt là Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải thuộc
2
vùng ĐNN, đang đối mặt với nhiều thách thức. Chính vì thế, vùng ĐNN ven biển
này được lựa chọn để tiến hành lượng giá thí điểm.
2. Mục tiêu của Đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn lượng giá giá trị kinh
tế vùng ĐNN ven biển và áp dụng phương pháp lượng giá giá trị kinh tế cho vùng
ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là về giá trị kinh tế của một vùng ĐNN
ven biển.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng ĐNN ven biển huyện Tiền Hải, Thái
Bình. Về mặt khoa học, tiến hành nghiên cứu, tính toán cụ thể một số giá trị của
vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, bao gồm: giá trị thuỷ sản, giá trị lâm sản ngoài gỗ,
giá trị phòng hộ, giá trị lựa chọn, giá trị để lại, giá trị tồn tại và từ đó đề ra cách thức
khai thác, sử dụng vùng ĐNN ven biển theo hướng bền vững dựa trên quan điểm
kinh tế học môi trường.
Về phạm vi thời gian, đề tài tiến hành lượng giá giá trị kinh tế của vùng ĐNN
ven biển Tiền Hải, Thái Bình với các tài liệu, số liệu cập nhật đến năm 2010. Cụ thể
các số liệu được thu thập, điều tra từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 7 năm 2010. Ngoài
ra, còn nhiều số liệu khác được thu thập, tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, như từ
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiền Hải và một số nghiên cứu trước đó.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính, sau đây:
- Các phương pháp lượng giá trực tiếp, gián tiếp sử dụng trong kinh tế tài
nguyên thiên nhiên;
- Phương pháp kế thừa (tổng hợp, phân tích các nghiên cứu thực hiện trước
đây, kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có);
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế thông qua phỏng vấn, gửi phiếu điều tra;
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, dữ liệu.
3
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phẩn mở đầu và kết luận, kiến nghị, luận văn có bố cục gồm 5 chương,
cụ thể:
Chương 1 đề cập đến vai trò của lượng giá kinh tế HST và vai trò của lượng
giá kinh tế trong việc ra quyết định, phân tích thực trạng tài nguyên ĐNN bị đánh
giá thấp trong các quyết định phát triển để từ đó lý giải các yêu cầu phải lượng giá
giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển. Ngoài ra, chương này còn tổng quan các nghiên
cứu về lượng giá giá trị kinh tế ĐNN nói chung và ĐNN ven biển nói riêng trên thế
giới và tại Việt Nam.
Chương 2 giới thiệu tổng quan những khái niệm, kiến thức cơ bản về ĐNN nói
chung và ĐNN ven biển nói riêng, các chức năng của ĐNN ven biển và đó hình
thành nên các loại hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển. Việc phân loại ĐNN ven
biển sẽ là cơ sở xác định phạm vi vùng ĐNN ven biển phục vụ cho lượng giá giá trị
kinh tế cũng được trình bày trong chương này.
Chương 3 trình bày khái niệm cơ bản về hàng hóa và dịch vụ nói chung và
những đặc trưng cơ bản của hàng hóa, dịch vụ ĐNN ven biển. Phân tích những loại
giá trị tính được thành tiền và không tính được thành tiền, tổng giá trị kinh tế vùng
ĐNN ven biển, những kiến thức cơ bản về phân tích chi phí lợi ích trong lượng giá
những giá trị kinh tế cụ thể của vùng ĐNN ven biển. Chỉ số lợi ích HST vùng ĐNN
ven biển cũng được phân tích trong chương này nhằm đưa ra các giải pháp mới
trong những trường hợp chưa có điều kiện thực hiện lượng giá kinh tế hoặc không
thể lượng giá được. Chương này cũng đi sâu phân tích các phương pháp cụ thể
trong lượng giá giá trị kinh tế ĐNN ven biển. Kinh nghiệm lượng giá giá trị kinh tế
ĐNN tại một số nước trên thế giới cũng được trình bày trong chương này.
Chương 4 trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng khai thác, sử
dụng vùng ĐNN ven biển Tiền Hải để từ đó xác định ra các loại hàng hóa, dịch vụ
của vùng ĐNN ven biển huyện Tiền Hải.
Chương 5, chương này trình bày quá trình thực hiện và các kết quả việc lượng
giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển Tiền Hải.
4
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1. Vai trò của lượng giá kinh tế HST
Lượng giá trị kinh tế mang lại những lợi ích cả về lý luận và thực tiễn. Chẳng
hạn, trong các dự án đánh giá tác động môi trường, nghiên cứu lượng giá thành tiền
những tác động môi trường của một dự án phát triển lên HST cũng như cải thiện
chất lượng môi trường của các dự án bảo vệ môi trường sẽ giúp các nhà quản lý,
cán bộ lãnh đạo tránh được những sai sót không đáng có khi quyết định những vấn
đề môi trường (Constanza, Farber, Maxwell, 1989). Thông thường, các nhà quản lý
phải đối mặt với những nhu cầu từ công chúng, công luận, phải tìm ra những luận
cứ có tính thuyết phục khi đưa ra những chính sách môi trường. Hiện nay, các
phương pháp nghiên cứu lượng giá kinh tế thường xuyên được cải tiến, đổi mới
nhằm cung cấp cả về cơ sở lý luận và thực tiễn đóng góp vào việc quản lý bền vững
tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Lượng giá kinh tế HST là một nhiệm vụ hết sức phức tạp nhưng rất cần thực
hiện, đặc biệt trong bối cảnh cơ quan quản lý các cấp từ trung ương tới địa phương rất
khó khăn khi đưa ra các quyết định lựa chọn những giải pháp giữa bảo vệ môi trường
và phát triển kinh tế. Việc lượng giá môi trường hay HST sẽ rất hữu ích nếu nó được sử
dụng như một công cụ góp phần xác định những ưu tiên, chính sách và hành động môi
trường đối với các dự án bảo tồn HST với các giá trị chức năng của chúng.
Lượng giá HST có thể giúp cho các nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên đo được
những chi phí đối với xã hội về những lợi ích kinh tế bị mất trong quá trình khai thác,
sử dụng tài nguyên. Những chi phí xã hội có thể được sử dụng để xác định giá trị của
hành động làm giảm thiểu hoặc loại bỏ tác động tới môi trường. Ví dụ trong trường
hợp bãi biển quá đông, lợi ích xã hội có thể được tăng lên khi giảm bớt số khách hoặc
mở rộng khu du lịch. Chi phí để giảm bớt sự khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản ven
biển lại chính là lợi ích của nghề cá bền vững VVB (Pearce, Markandya, 1989).
1.2. Vai trò của lượng giá giá trị kinh tế trong việc ra quyết định
Trong thực tế, khi đã nhận thức một cách rõ ràng rằng nguồn tài nguyên đóng
vai trò hết sức quan trọng, song điều này cũng chưa đủ để chúng ta đảm bảo việc sử
dụng chúng một cách khôn ngoan. Nhiều nguồn tài nguyên môi trường có tính phức
hợp, đa chức năng và việc vô số hàng hoá và dịch vụ do các nguồn tài nguyên này
5
cung cấp tác động tới phúc lợi của nhân loại như thế nào dường đã không được hiểu
hết một cách đầy đủ và rõ ràng. Trong một vài trường hợp, việc làm cạn kiệt hoặc
phá hủy các nguồn tài nguyên môi trường có thể là đáng được đánh đổi trong trong
phát triển; trong trường hợp khác, cần “nắm giữ”, hạn chế khai thác hoặc khai thức,
sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên này. Việc lượng giá giá trị kinh tế cung cấp
cho chúng ta một công cụ để hỗ trợ cho các quyết định khó khăn liên quan đến tính
hai mặt của vấn đề này.
Việc mất các nguồn tài nguyên môi trường là một vấn đề kinh tế bởi vì các giá
trị quan trọng bị mất đi, một vài trường hợp có lẽ là không thể đảo ngược được,
trong khi nguồn tài nguyên này bị suy thoái hay biến mất. Mỗi một sự lựa chọn
hoặc phương án cho nguồn tài nguyên môi trường - bỏ mặc nó trong hiện trạng tự
nhiên để nó bị suy thoái hoặc chuyển nó sang mục đích khác - quan hệ mật thiết với
giá trị được và mất. Việc quyết định theo đuổi mục đích sử dụng nào đối với một
nguồn tài nguyên môi trường đã cho và cuối cùng liệu tốc độ mất tài nguyên hiện
nay có “quá đáng” hay không, chỉ có thể được đưa ra nếu vấn đề được và mất được
phân tích và đánh giá một cách đúng đắn. Điều này đòi hỏi tất cả các giá trị đang
thu được hoặc mất đi dưới mỗi phương án sử dụng tài nguyên phải được xem xét
một cách cẩn thận.
Việc bảo tồn hiện trạng tự nhiên một khu vực cần chi phí trực tiếp của việc
bảo tồn để thiết lập một vùng bảo vệ, điều này có nghĩa là trả công cho những người
canh gác và giám sát để bảo vệ và duy trì khu vực này và có thể là chi phí để xây
dựng một ‘vùng đệm’ cho cộng đồng địa phương xung quanh. Các phương án phát
triển sẽ bị hy sinh nếu việc bảo tồn được lựa chọn và lợi ích phát triển bị mất đi (do
phương án không được duyệt) sẽ là chi phí liên quan tính thêm cho phương án bảo
tồn. Giá trị này dễ dàng xác định bởi nó thường bao gồm sản phẩm thị trường và
phần thu nhập bên hy sinh (ví dụ, thu nhập của đánh cá và thu nhập của nông
nghiệp để tồn tại, trong trường hợp vùng ĐNN). Vì thế, các chính phủ và các nhà tài
trợ thường xem xét chi phí tổng - chi phí trực tiếp cộng thêm lợi ích phát triển đã bị
mất đi - của việc bảo tồn khi lựa chọn gìn giữ một nguồn tài nguyên môi trường
trong hiện trạng tự nhiên hoặc có quản lý.
Tuy nhiên, một cách tiếp cận tương tự phải được xem xét khi đánh giá các
phương án sử dụng, phát triển nguồn tài nguyên môi trường. Ví dụ, nếu nguồn tài
6
nguyên môi trường được chuyển đổi vào mục đích sử dụng khác, không chỉ chi phí
trực tiếp việc chuyển đổi phải tính vào như một phần của chi phí cho phương án
phát triển này mà phải tính cả giá trị mất đi do nguồn tài nguyên đã chuyển đổi này
không thể cung cấp sản phẩm như trước nữa. Điều này có thể bao gồm việc mất đi
các chức năng môi trường quan trọng và trong trường hợp các hệ tài nguyên phức
hợp như vùng ĐNN là vùng có nhiều nguồn tài nguyên sinh học quan trọng. Đáng
tiếc, nhiều trong số các giá trị này của nguồn tài nguyên môi trường tự nhiên thường
không được mua bán trên thị trường và do vậy, đa số chúng bị bỏ qua không tính tới
trong các quyết định phát triển của nhà nước và tư nhân.
Ví dụ, giá trị thị trường của các nguồn tài nguyên môi trường đã được chuyển
đổi thành một số mục đích thương mại có thể không phản ánh sự mất lợi ích môi
trường. Các quyết định phát triển thường thiên về mục đích sử dụng các nguồn tài
nguyên môi trường, do vậy, việc thiếu khả năng đánh giá một cách đầy đủ hơn các
giá trị kinh tế của việc chuyển đổi hoặc suy thoái các nguồn tài nguyên môi trường
là một yếu tố cơ bản phía sau việc thiết kế các chính sách phát triển không phù hợp.
Kết qủa là có quá nhiều việc chuyển đổi và khai thác quá mức các nguồn tài nguyên
môi trường. Vì sự sai sót này là đặc hữu trong các quyết định của nhà nước và tư
nhân liên quan tới việc sử dụng nguồn tài nguyên môi trường - đặc biệt các nguồn
tài nguyên ĐNN - việc đánh giá một cách đầy đủ hơn lợi ích kinh tế thực của các
phương án sử dụng ĐNN khác nhau là điều cần thiết.
Việc đánh giá là một yếu tố trong nỗ lực nhằm cải thiện việc quản lý các
nguồn tài nguyên môi trường như ĐNN. Đồng thời những nhà ra quyết định phải
tính đến nhiều lợi ích cạnh tranh khi quyết định sử dụng ĐNN thế nào là tốt nhất.
Việc lượng giá giá trị kinh tế có thể giúp cung cấp thông tin cho các nhà quản lý và
ra quyết định nhưng chỉ với điều kiện là nếu các nhà ra quyết định nhận thức được
mục tiêu tổng quát và những hạn chế của việc lượng giá.
Mục tiêu chính của việc lượng giá nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý ĐNN
nói chung là chỉ ra hiệu quả kinh tế tổng quát của việc sử dụng cạnh tranh các
nguồn tài nguyên ĐNN khác nhau. Có nghĩa là, những giả định ngầm là các nguồn
tài nguyên ĐNN phải được phân bổ cho những mục đích sử dụng mang lại cái được
tổng thể hay lợi nhuận tổng thể cho xã hội, được tính bằng sự đánh giá các lợi ích
kinh tế của mỗi phương án sử dụng trừ đi chi phí của chúng. Ai là người thực chất
7
được hưởng lợi và bị thiệt hại từ một việc sử dụng ĐNN nào đó sẽ không phải là
một bộ phận của tiêu chuẩn hiệu quả trong quá trình lượng giá.
Việc lượng giá kinh tế cũng không phải là thuốc bách bệnh cho các nhà ra
quyết định khi phải đưa ra có sự lựa chọn khó khăn liên quan tới việc quản lý nguồn
tài nguyên ĐNN. Thường là, các nhà ra quyết định đã có quyết định theo đuổi chiến
lược quản lý ĐNN nào đó dù chuyển đổi hay bảo tồn và đơn giản là mong muốn
lượng giá giá trị kinh tế để khẳng định lại việc lựa chọn này là có hiệu quả hồi tố.
Việc lượng giá kinh tế liên quan tới việc phân bổ các nguồn tài nguyên ĐNN
nhằm cải thiện phúc lợi của nhân dân. Kết quả là các lợi ích môi trường khác nhau
của ĐNN được đo bằng sự đóng góp của chúng vào việc cung cấp các sản phẩm và
dịch vụ có giá trị cho nhân loại. Tuy nhiên, một số thành viên của xã hội có thể
tranh luận rằng các hệ ĐNN nhất định và các nguồn tài nguyên sinh vật mà nó chứa
có thể có giá trị ‘trội hơn’ vượt xa cái mà nó có thể cung cấp bằng việc đáp ứng nhu
cầu hoặc sở thích của nhân loại. Từ những triển vọng này, việc bảo vệ các nguồn tài
nguyên ĐNN là một vấn đề bổn phận đạo đức hơn là tính hiệu quả hoặc thậm chí
phân phối công bằng. Có thể có những động cơ khác để quản lý ĐNN bằng phương
thức đặc biệt như các cân nhắc về chính trị. Bởi vậy, các giá trị kinh tế chỉ đại diện
cho một loại đầu vào cho quá trình ra quyết định bên cạnh các sự cân nhắc quan
trọng khác.
1.3. Tại sao các nguồn tài nguyên ĐNN bị đánh giá thấp trong các quyết định phát triển
Các nguồn tài nguyên ĐNN thường dễ bị tổn thương bởi các quyết định phân bổ
sai lầm do bản chất các giá trị liên quan tới nó. ĐNN là nguồn tài nguyên đa chức năng
do các tính chất nổi bật của chúng. Nó không chỉ cung cấp cho chúng ta một số các
nguồn tài nguyên quan trọng như thủy sản, gỗ củi, động vật hoang dã, mà còn thực hiện
một số lượng lớn các chức năng sinh thái hỗ trợ hoạt động kinh tế. Nhiều trong số các
dịch vụ này là không theo thị trường hoá vì chúng không thể bán và mua được vì những
hỗ trợ mà chúng mang lại cho hoạt động kinh tế không trực tiếp và nhiều khi không nhận
thấy được. Đặc biệt, các vùng ĐNN nhiệt đới, nhiều giá trị sinh thái của ĐNN thường
không được thị trường hoá và do vậy thường bị bỏ qua trong các quyết định phát triển.
Một số chức năng sinh thái, tài nguyên sinh học và các giá trị tiện nghi do ĐNN
cung cấp có chất lượng mà các nhà kinh tế gọi là hàng hoá công cộng, do vậy hầu như là
8
không thể thương mại hoá dịch vụ, thậm chí nếu chúng ta mong muốn. Ví dụ, dễ nhận
thấy tất cả mọi các cá nhân đều có thể thụ hưởng lợi ích từ dịch vụ điều hòa khí hậu của
vùng ĐNN và không một cá nhân nào có thể bị loại trừ ra khỏi dịch vụ này. Chính do
vậy, mà việc việc thu phí trả cho dịch vụ đó cực kỳ khó khăn bởi vì dù bạn có trả hay
không, thì bạn vẫn có thể hưởng lợi ích này. Trong trường hợp như vậy, các dịch vụ của
ĐNN có khả năng bị đánh giá thấp.
Có một số khó khăn xuất hiện từ chất lượng hàng hoá công cộng của các giá trị
ĐNN có thể là không quan trọng nếu tất cả các lợi ích của ĐNN có thể được hoán đổi
một cách đồng thời, không có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa các mục đích sử dụng khác
nhau. Kết hợp tất cả các giá trị sử dụng lại cùng nhau trong một tình huống đa sử dụng tự
do chấp nhận sẽ dẫn tới sự nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn một vùng
ĐNN trong tình trạng tự nhiên hoặc bán tự nhiên. Tuy nhiên, giữa nhiều cách sử dụng
ĐNN, có những mâu thuẫn hay những sự thay đổi cố hữu, thậm chí cả khi ĐNN được
duy trì trong một tình trạng ít nhiều vẫn là tự nhiên (Turner, 1991). Chẳng hạn, việc quản
lý ĐNN để giải trí hoặc đánh cá thương mại là không thể được khi cùng một lúc sử dụng
để xử lý nước thải. Thậm chí nếu ngay cả trong trường hợp xử lý nước thải có giá trị hơn
thì các tính chất hàng hoá công cộng và phi thị trường của chúng cũng có nghĩa là các giá
trị của chúng không chắc chắn được phản ánh một cách tự động trong các quyết định
mang tính thị trường. Nếu chính sách nhà nước cho phép các cá nhân hưởng ứng với các
tín hiệu thị trường để xác định phân bổ sử dụng ĐNN - gọi là giải pháp ‘thị trường tự do’
- thì không chắc ĐNN sẽ bị sử dụng để xử lý nước thải. Vì vậy, kết quả là việc “đánh giá
thấp” một dịch vụ sinh thái cơ bản một lần nữa có thể dẫn tới việc sử dụng ĐNN không
thích hợp.
ĐNN và tài nguyên của chúng cũng có thể bị đánh giá thấp và do vậy bị phân
bố sử dụng sai do chế độ quyền sở hữu chi phối việc tiếp cận và sử dụng ĐNN. Ví
dụ, vùng ĐNN được quan tâm có thể được tiếp cận tự do ở nơi không áp dụng các
quy định và việc sử dụng nguồn tài nguyên này có thể được mở rộng cho tất cả mọi
người và không bị quy định ràng buộc. Đổi lại, các thu xếp phi chính thức theo
truyền thống có thể chi phối việc sử dụng chúng như các nguồn tài nguyên sở hữu
công cộng hoặc cộng đồng. Cuối cùng, việc sở hữu nhà nước hoặc tư nhân có thể
đặc trưng cho cơ sở tài nguyên ĐNN (Bromley, 1989). Mỗi hình thức của quyền sở
hữu có thể được đặc trưng bởi các điều kiện khai thác tài nguyên riêng. Chẳng hạn,
9
các nguồn tài nguyên có thể tiếp cận tự do thường bị khai thác quá đáng, do vậy các
giá trị sử dụng được giám sát có thể là rất thấp. Kết quả là, nếu các nỗ lực nhằm
đánh giá tài nguyên môi trường dựa trên sự quan sát đơn giản về tỉ lệ sử dụng hiện
hành mà không xem xét đến bối cảnh tổ chức, thì có thể dẫn tới việc đánh giá thấp
nguồn tài nguyên này. Điều này có thể đặc biệt quan trọng nếu việc sắp xếp tổ chức
được thay đổi một cách không chính thức, khi mà các hệ thống sở hữu công cộng
bản xứ được đánh giá lại sau một giai đoạn đắm chìm, hoặc một sự đổi mới được
yêu cầu như là một yếu tố trong một dự án hoặc chương trình tác động tới môt vùng
ĐNN và khi đất đai bất thình lình bị tư nhân hoá hoặc quốc hữu hoá.
Việc đánh giá thấp ĐNN có thể là một vấn đề nghiêm trọng khi mà một vùng
ĐNN đang bị đe doạ chuyển đổi hoàn toàn. Như đã được chỉ ra ở các phần trước, sự
phát triển hoặc chuyển đổi ĐNN có khuynh hướng sản sinh ra các sản phẩm thị
trường hoá, trong khi việc duy trì ĐNN trong tình trạng tự nhiên hoặc tình trạng
được quản lý thường dẫn đến việc bảo tồn các sản phẩm và dịch vụ phi thị trường .
Sự phân rẽ thường xuất hiện trong phương án phát triển - sự khai khẩn thành đất
nông nghiệp, ao nuôi cá và các công trình dân sinh hoặc thương mại - đang được
nhìn nhận rộng rãi là những giá trị sử dụng lớn nhất của ĐNN. Vì những hoạt động
như vậy cũng sinh nguồn thu cho chính phủ nên không có gì ngạc nhiên khi các nhà
ra quyết định cũng ủng hộ việc chuyển đổi ĐNN thành việc sủ dụng ‘thương mại’.
Thậm chí ngay ở cả những nơi mà doanh thu không phải là mục đích đầu tiên
của việc khai thác và chuyển đổi ĐNN thì canh tác, nuôi trồng thủy sản, phát triển
các khu bất động sản và các hoạt động chuyển đổi khác nhìn chung được xem là
quan trọng cho phát triển kinh tế và tăng trưởng khu vực. Nó dường như thường có
‘mối quan hệ’ đáng kể với các ngành khác, đặc biệt là chế biến và xây dựng và có
thể cung cấp những công việc sau đó được ưa thích ở những vùng có ít phương án
công nghiệp khác nhau. Đang có những lý lẽ hoàn hảo cho các nhà lập kế hoạch và
ra quyết định ở nhiều nước để hỗ trợ việc chuyển đổi ĐNN để đổi lấy những giá trị
khác của vùng ĐNN khác. Đổi lại, các chức năng sinh thái phi thị trường và các giá
trị để giải trí do ĐNN tự nhiên hay vùng được quản lý đem lại có thể tạo nên một ít
lợi ích phụ trợ và thay vào đó thậm chí có thể thay thế cho các hoạt động tạo công
ăn việc làm (như xử lý nước, kiểm soát lũ và chống bão) hoặc đòi hỏi sự đầu tư bổ
sung các nguồn tài nguyên công cộng khan hiếm (như các khu du lịch và đường xá
10
cho mục đích giải trí). Một số vùng ĐNN cũng có thể có các tác động ngoại ứng
tích cực như muỗi mang bệnh sốt rét có thể dễ dàng nhận thấy trong khi các chức
năng hỗ trợ gián tiếp khác lại bị lãng quên.
Tóm lại, việc đánh giá thấp tài nguyên ĐNN và các chức năng của chúng là
nguyên nhân cơ bản tại sao các hệ ĐNN bị phân bố sử dụng sai - thường đối với các
hoạt động chuyển đổi hoặc khai thác có thu nhập và doanh thu trực tiếp. Việc lượng
giá giá trị kinh tế có thể cung cấp cho các nhà ra quyết định thông tin sống còn về
chi phí và lợi ích của các phương án sử dụng ĐNN khác nhau mà có thể không
được tính đến trong các quyết định phát triển.
1.4. Tổng quan chung về lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN nói chung và ĐNN ven biển trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Trên thế giới
Trong lịch sử nhân loại, thuật ngữ ĐNN gợi cho nhiều người một vùng đầm lầy
đầy rẫy các sinh vật nhầy nhụa, là nơi chứa những mầm bệnh như bệnh sốt rét. Quan
niệm này về ĐNN như là vùng bỏ đi đã dẫn đến việc tiêu nước tích cực và biến đổi
ĐNN để phục vụ nông nghiệp, nuôi tôm, cá, thành đất công nghiệp hoặc đất ở, v.v..
Chính vì lẽ đó mà diện tích ĐNN trên thế giới bị suy giảm một cách nhanh chóng. Từ
đó, đề ra nhiệm vụ cấp bách phải bảo tồn các vùng ĐNN trên thế giới.
Tại hội nghị ở Brisbane, Australia tháng 3/1996, các bên tham gia Công ước
về ĐNN đã thông qua một kế hoạch chiến lược thừa nhận tầm quan trọng và sự
khẩn cấp tiến hành các phần việc trong định giá kinh tế ĐNN. Chiểu theo mục tiêu
hoạt động 2.4 của kế hoạch chiến lược, Công ước Ramsar sẽ xúc tiến việc lượng giá
kinh tế những nguồn lợi và chức năng của ĐNN thông qua truyền bá các phương
pháp lượng giá.
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu lượng giá giá trị kinh tế ĐNN đã được
tiến hành và những khía cạnh vô hình hơn của môi trường như là những nhân tố giải
trí hoặc thẩm mỹ cũng đã được các nhà kinh tế phát triển thành phương pháp luận
để lượng giá. Năm 1989 Costanza, R. Farber, C. and Maxcell, J đã tiến hanh nghiên
cứu vấn đề về lượng giá và quản lý HST ĐNN. Năm 1991 Barbier, E. Costanza, R.
and Twilley, R. đã đưa ra hướng dẫn lượng giá ĐNN vùng nhiệt đới. Đặc biệt, năm
1997 Edward Barbier, Mike Acreman and Duncan Knowler, thuộc Văn phòng Công
ước Ramsar Gland, Switzerland đã xây dựng Tài liệu hướng dẫn dành cho các nhà
11
hoạch định chính sách về định giá kinh tế ĐNN. Tài liệu này cung cấp cho các nhà
hoạch định chính sách một hướng dẫn về tiềm lực của định giá kinh tế ĐNN và cách
thức tiến hành công việc này.
Như vậy, có thể thấy rằng lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN xuất phát từ yêu
cầu cấp bách cần phải bảo tồn các vùng ĐNN trên thế giới và nó đặc biệt được chú
trọng khi có sự thừa nhận về tầm quan trọng của vùng ĐNN bởi các bên tham gia công
ước Ramsar.
1.4.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam có một số nghiên cứu về lượng giá giá trị vùng ĐNN ven biển
đã được tiến hành. Điển hình là nghiên cứu lượng giá giá kinh tế một số vùng ĐNN
ven biển quan trọng ở Việt Nam do Trường Đại học quốc gia Hà Nội thực hiện.
Nhiều vùng ĐNN ven biển đã được lượng giá như vùng cửa sông Bạch Đằng, cửa
sông Văn Úc, cửa sông Bà Lạt, vùng đất ngập triều Kim Sơn hay vùng đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai, v.v.. Phân tích kinh tế RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí
Minh do Tô Thị Thúy Hằng và Nguyễn Thị Ngọc An thực hiện năm 1999. Nghiên
cứu đã làm rõ giá trị của RNM và tầm quan trọng của RNM đối với người dân địa
phương; phân tích chi phí lợi ích của từng hình thức quản lý và áp dụng mô hình
cho các vùng khác. Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác, tuy nhiên các nghiên cứu
này chủ yếu tập trung vào lượng giá giá trị kinh tế do một HST tại vùng ĐNN đó
mang lại, ví dụ như lượng giá giá trị của HST RNM, HST san hô.
12
Chương 2 ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN
2.1. Định nghĩa và phân loại ĐNN
2.1.1. Định nghĩa
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐNN, tùy theo mỗi quốc gia và
mục đích quản lý, sử dụng ĐNN. Các định nghĩa về ĐNN có thể chia thành hai
nhóm chính. Một nhóm theo định nghĩa rộng như định nghĩa của Công ước Ramsar,
định nghĩa theo các chương trình điều tra ĐNN của Mỹ, New Zealand, Úc và
Canađa và nhóm thứ hai định nghĩa theo nghĩa hẹp. Hiện nay, định nghĩa theo Công
ước Ramsar là định nghĩa được nhiều người sử dụng và nó được sử dụng chính thức
ở Việt Nam trong các hoạt động liên quan đến ĐNN. Do đó, trong luận văn này chỉ
nêu định nghĩa ĐNN theo Công ước Ramsar.
Theo Công ước Ramsar (năm 1971), ĐNN được định nghĩa như sau:
ĐNN được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự
nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hay tạm thời, là nước tĩnh hay nước
chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu
không quá 6m khi triều thấp.
2.1.2. Phân loại ĐNN
Mỗi quốc gia có một cách phân loại ĐNN riêng, thậm chí trong một quốc gia
như Australia hay Hoa Kỳ có nhiều kiểu phân loại ĐNN khác nhau tùy thuộc vào
mục đích quản lý ĐNN của mỗi bang hay mỗi vùng, thí dụ nước Úc có 12 hệ thống
phân loại ĐNN khác nhau. Do có rất nhiều cách phân loại ĐNN nên trong khuôn
khổ của luận văn này chỉ xin nêu phân loại ĐNN theo công ước Ramsar.
Công ước Ramsar (1971) đã phân ĐNN thành 22 kiểu mà không chia thành
các hệ và lớp.
Trong quá trình thực hiện Công ước và thực tiễn áp dụng vào các vùng và các
quốc gia khác nhau, sự phân hạng này đã thay đổi. Vào năm 1994, Công ước
Ramsar đã chia ĐNN thành 3 nhóm chính đó là: 1) ĐNN ven biển và biển (11 loại
hình); 2) ĐNN nội địa (16 loại hình); và 3) ĐNN nhân tạo (8 loại hình) (Davis,
1994 - Ramsar Convention Bureau) với tổng cộng 35 loại hình. Cũng theo Công
ước Ramsar (1997 a,b - 2nd edition), thì các loại hình ĐNN đã được xem xét lại và
13
chia thành 40 kiểu khác nhau. Trong những năm gần đây, hệ thống phân loại ĐNN
đã được xem xét, chỉnh sửa, bổ sung thành 42 kiểu (Xem phụ lục 1).
2.2. ĐNN ven biển
Các vùng ĐNN ven biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã
hội, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai, tích lũy và hạn chế ô nhiễm môi
trường, điều hòa khí hậu, duy trì ĐDSH và bảo vệ môi trường, v.v.. Đặc biệt, ĐNN
ven biển có giá trị rất lớn trong việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu nhằm
điều hòa khí hậu khu vực. Theo tính toán RNM có khả năng tích lũy CO2 cao, ví dụ
RNM 15 tuổi giảm được 90,24 tấn CO2/ha/năm, cân bằng lượng O2, CO2 trong khí
quyển, điều hòa khí hậu địa phương (lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm) và giảm khí gây
hiệu ứng nhà kính. Các thảm thực vật RNM, thảm cỏ biển, rạn san hô bảo vệ bờ
biển khỏi tác động của sóng biển, dòng chảy. Các vùng ĐNN tạo môi trường thuận
lợi cho việc lắng đọng phù sa, góp phần ổn định và mở rộng bãi bồi. Các bãi san hô
ngầm rộng lớn đã giảm cường độ sóng tác động đến bờ biển, các vùng đảo trong
thời kỳ dông bão, sóng thần.
2.2.1. Khái niệm ĐNN ven biển
ĐNN ven biển là những vùng ngập nước thường xuyên hay tạm thời ở ven biển,
có độ ngập nước dưới 6m lúc triều kiệt, bao gồm: vũng, vịnh, eo biển, RNM, thảm cỏ
biển, rạn san hô, vùng biển cửa sông, đầm phá nước mặn hoặc nhiễm mặn, v.v…
2.2.2. Phân loại ĐNN ven biển
Phân loại ĐNN ven biển góp phần hoàn thiện chiến lược quản lý ĐNN ven
biển của Việt Nam, làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách và biện pháp bảo
vệ, phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN ven biển. Ngoài ra, nó còn là cơ sở
để xác định phạm vi vùng ĐNN ven biển. Trong số các hệ thống phân loại ĐNN, hệ
thống phân loại ĐNN của Nguyễn Chu Hồi và một số tác giả khác được xem là phù
hợp cho khai thác, sử dụng vùng ĐNN ven biển. Do đó, luận văn này sử dụng hệ
thống phân loại của Nguyễn Chu Hồi để làm cơ sở xác định phạm vi vùng ĐNN
ven biển. Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của tác giả, đã là vùng ĐNN ven biển thì
phải xét tới ảnh hưởng của độ mặn, chính vì thế mà một số kiểu loại như đồng lúa,
ao nước ngọt, v.v.. không thể coi thuộc vùng ĐNN ven biển. Từ lập luận này và trên
cơ sở phân loại của Nguyễn Chu Hồi, tác giả trình đưa ra bảng phân loại ĐNN ven
14
biển như dưới đây, nhưng về cơ bản về không thay đổi gì lớn mà chỉ là bỏ đi một số
kiểu loại mà tác giả cho là không phù hợp.
Bảng 2.1. Phân loại ĐNN ven biển
Kiểu loại
Phân bố
Nhóm ĐNN ven biển
Phía trong đê biển, nơi không chịu tác động của biển, các châu thổ sông Hồng, Mê Kông
A: Phủ thực vật Cói/ lau sậy ngập nước Vùng lầy nội địa Đầm nuôi thủy sản
Các vùng đất thấp ngập nước ven biển
Rộng khắp ven biển ở miền Trung
B: Không phủ thực vật Đồng muối Lòng sông
Các châu thổ Sông Hồng, Mê Kông, các vùng cửa sông lớn, đầm phá Huế - Bình Định
A: Phủ thực vật RNM Bãi sình lầy Thảm rong tảo - cỏ biển Đầm phá nước lợ
Vùng ĐNN triều
Tập trung ở hai châu thổ lớn, vùng Hải Phòng, vùng triều đến độ sâu 6m
B: Không phủ thực vật Bãi cát Bãi bùn triều Đầm nước lợ Đầm phá nước mặn Vùng cửa sông hình phễu Vùng triều đáy mềm và đáy cứng Các lạch triều Rạn san hô viền bờ
Các đảo hoang nhỏ
Vùng Quảng Ninh, Hải Phòng. Rải rác miền Trung và miền Nam. Ngoài biển khơi
Các đảo đá cacbonat Các đảo đá trầm tích và trầm tích núi lửa Đảo san hô
2.3. Chức năng và giá trị của vùng ĐNN ven biển
Nước ta có diện tích ĐNN ven biển khoảng 1 triệu ha, cùng với đó là các chức
năng và giá trị to lớn mà chúng đem lại. Có thể kể đến như là chức năng sinh thái,
chức năng kinh tế và giá trị ĐDSH.
2.3.1. Chức năng sinh thái của ĐNN ven biển
- Sản xuất sinh khối và năng suất sơ cấp, thứ cấp: Rất nhiều vùng ĐNN ven
biển là nơi sản xuất và xuất khẩu sinh khối làm nguồn thức ăn cho các sinh vật và
15
chính chúng lại là nguồn chất dinh dưỡng cho các loài thực vật tại vùng ĐNN ven
biển phát triển.
- Hấp thụ, tích lũy CO2 và cung cấp O2 góp phần cải thiện các điều kiện vi khí
hậu khu vực: Cũng giống như các loài thực vật khác trên trái đất, cây ngập mặn, cỏ
biển tại các vùng ĐNN ven biển góp phần hấp thụ CO2 và thải O2 qua quá trình
quang hợp, tạo sự cân bằng giữa O2 và CO2 trong khí quyển làm cho vi khí hậu địa
phương được ổn định, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa ổn định.
- Giảm tác động của sóng, gió: Nhờ lớp phủ thực vật, đặc biệt là RNM, thảm
cỏ biển, san hô v.v.. có tác dụng làm giảm sức gió của bão, giảm tác động của sóng
biển từ đó làm giảm xói mòn bờ biển và đồng thời làm làm ổn định, tăng lượng bồi
tụ nền đáy.
- Giữ lại chất dinh dưỡng, làm nguồn phân bón cho cây và thức ăn của các
sinh vật sống trong HST đó.
- Lọc, giữ lại các chất ô nhiễm: Hầu hết các cây ngập mặn tại vùng ĐNN ven
biển đều hấp thụ các chất khoáng từ đất và nước thông qua các cơ chế trao đổi chất
tích cực và thụ động. Ba cơ chế đặc biệt của cây ngập mặn là: cơ chế cản muối đi
vào cơ thể, cơ chế thải muối thừa qua các tuyến tiết muối ở lá và cơ chế tích lũy
muối trong các lá già khi rụng cũng là thải đi lượng muối thừa. Các chất độc hại và
ô nhiễm (kim loại nặng, thuốc trừ sâu, chất độc, v.v..) từ các khu công nghiệp, khu
đô thị thải vào sông, suối, hòa tan trong nước hoặc lắng xuống đáy trong thành phần
các hạt phù sa, trầm tích được nước sông mang ra các vùng cửa sông ven biển. Cây
ngập mặn hấp thụ các sản phẩm này vào trong cơ thể tạo ra các hợp chất ít độc hại
hơn đối với con
- Lưu giữ vốn gen (thông tin di truyền): Nhờ có cơ chế tiết muối đã giúp cho
các loài cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển rất tốt trong môi trường nước biển
mà không một loại cây trồng có thể sống được. Ví dụ, cây mắm có cơ chế tiết muối
và thải muối thừa qua tuyến tiết muối trên lá; cây bần, cây giá để thải lượng muối
thừa chúng có cơ chế tích lũy muối trong các lá già để sau này rụng xuống; và cây
đước, vẹt lại có cơ chế cản muối nhằm hạn chế muối đi vào cơ thể, v.v.. Sở dĩ có để
có được khả năng đó là do chúng có tổ hợp gen đã được chọn lọc trong quá trình
thích nghi và đấu tranh sinh tồn hàng triệu năm.
16
- Cảnh quan, sinh thái: HST RNM, HST san hô tại các vùng ĐNN ven biển là
điều kiện rất tốt cho phát triển du lịch, giải trí ven biển. Các khu Ramsa Xuân Thủy
(Giao Thủy, Nam Định), khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải (huyện Tiền Hải, Thái
Bình), cũng như đầm phá Tam Giang – Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) là nơi thu hút
nhiều du khách du lịch đến tham quan và giải trí.
2.3.2. Chức năng kinh tế ĐNN ven biển
- RNM tại các vùng ĐNN ven biển là nơi cung cấp lâm sản như củi đốt, gỗ
cho xây dựng, cung cấp các loài dược liệu dùng trong y học.
- Thủy sản: các vùng ĐNN là môi trường sống và nơi cung cấp thức ăn cho
các lài thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá, tôm, cua, v.v..
- Cỏ biển tại một số vùng ĐNN ven biển có thể khai thác làm đồ thủ công mỹ
nghệ, lập mái nhà, phân bón, thức ăn gia súc, dược liệu, v.v..
2.3.3. Giá trị đa dạng sinh học
Giá trị ĐDSH là thuộc tính đặc biệt và quan trọng của ĐNN ven biển. Nhiều
vùng ĐNN ven biển là nơi cư trú rất thích hợp của các loài động vật hoang dã, đặc
biệt là các loài chim nước, trong đó có nhiều loài chim di cư. Cò mỏ thìa và các loài
chim di cư ở vùng RNM của sông Hồng có giá trị toàn cầu bởi nó là tài sản đa quốc
gia (hầu hết các loài chim di cư đều như vậy). Việc bảo tồn các loài quý hiếm chính
là bảo tồn ĐDSH, duy trì chức năng các HST với sự ổn định và sức bền trong không
gian và thời gian.
Giá trị ĐDSH của ĐNN ven biển còn bao gồm cả giá trị văn hóa. Giá trị văn
hóa chính là tri thức bản địa của người dân trong nuôi trồng, khai thác, sử dụng các
tài nguyên thiên nhiên và cách thích ứng của còn người với môi trường tự nhiên
(xâm nhập mặn, nước biển dâng). Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng
mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội, ngôn ngữ và văn hóa là không thể tách rời, nó
thể hiện lòng tin của con người và nhào nặn nên “cảnh quan văn hóa”. Thông
thường, nơi nào có giá trị ĐDSH cao thì cũng là nơi cư trú của những người dân
bản địa. Bảo tồn các HST tự nhiên trong đó có HST ĐNN cũng là bảo vệ cái nôi
của văn hóa truyền thống.
17
2.4. Một số HST ĐNN ven biển điển hình
Tại một vùng ĐNN ven biển thường có nhiều HST cùng tồn tại trên đó và các
HST có thể kể đến theo phạm vi phân bố từ bờ ra ngoài vùng nước sâu như sau: đầu
tiên phải kể đến là HST vùng cửa sông, HST bãi bồi, HST RNM, kế đến là HST cỏ
biển và cuối cùng là HST san hô. Đôi khi không có sự tách bạch giữa các HST này,
chẳng hạn như HST vùng cửa sông và HST RNM thường đi liền với nhau.
2.4.1 HST cửa sông ven biển
Cửa sông ven biển là thuỷ vực ven bờ tương đối kín, nơi mà nước ngọt và
nước biển gặp nhau và trộn lẫn vào nhau. Các đặc trưng về địa mạo, lịch sử địa chất
và điều kiện khí hậu tạo nên sự khác biệt về tính chất vật lý và hoá học của các kiểu
cửa sông. Kiểu tiêu biểu nhất là cửa sông châu thổ ven bờ (coastal plain estuary), ví
dụ như cửa Ba Lạt. Kiểu cửa sông thứ hai là cửa sông dạng phễu, kiểu dạng này bắt
gặp nhiều ở VVB miền trung. Ngoài ra, còn phải kể đến cửa sông tại là vịnh nửa kín
(semi-enclose bay) hoặc đầm phá (lagoon). Ở đây các doi cát song song với đường
bờ hình thành và ngăn cản một phần sự trao đổi nước từ biển. Độ muối trong các
đầm khác nhau nhiều, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu.
2.4.1.1. Các đặc trưng môi trường
Chế độ thuỷ lý hoá ở vùng cửa sông thay đổi trong giới hạn lớn làm cho môi
trường gây ra nhiều áp lực đối với sinh vật. Sự thay đổi chế độ muối là đặc trưng cơ
bản ở cửa sông và phụ thuộc vào mùa, địa hình, thuỷ triều và lượng nước ngọt.
Hầu hết các vùng cửa sông đều có nền đáy bùn. Trầm tích được mang đến từ
nước ngọt và nước biển. Vai trò của vật chất từ sông hoặc từ biển trong quá trình
hình thành nền đáy bùn khác nhau giữa các cửa sông. Thành phần cơ học của trầm
tích cũng bị chi phối bởi dòng chảy, nơi dòng chảy mạnh, chất đáy thô hơn; còn nơi
nước tĩnh, chất đáy rất mịn. Các tai biến như lũ lội, bão lớn có thể làm thay đổi lớn
đặc điểm trầm tích và gây chết hàng loạt sinh vật.
Nhiệt độ ở vùng cửa sông thay đổi lớn hơn so với các thuỷ vực ven bờ lân cận.
Biến thiên của giá trị này mang tính mùa vụ và theo điều kiện khí quyển. Nhiệt độ còn
khác nhau giữa các tầng nước. Bề mặt có dao động cao hơn do trao đổi với khí quyển.
Cửa sông được đất liền che chắn 3 phía, nên ảnh hưởng tạo sóng của gió được
giảm thiểu và vì vậy chỉ có sóng nhỏ. Hoạt động yếu của sóng tạo điều kiện cho nền
18
đáy mịn hơn, cho phép thực vật có rễ phát triển và nền đáy ổn định. Dòng chảy ở
cửa sông do triều và nước sông chi phối. Tốc độ dòng chảy mạnh nhất đạt được ở
giữa luồng. Ở một số vùng nơi cửa sông bị đóng vào mùa khô, sự vận chuyển nước
giảm nghiêm trọng có thể dẫn đến ứ đọng nước, hàm lượng O2 giảm, tảo nở hoa và
cá chết. Hầu hết các cửa sông đều có lượng nước ngọt chảy ra liên tục từ nguồn.
Một lượng nước ngọt vận chuyển ra cửa sông trộn lẫn vào nước biển theo mức độ
khác nhau, thể tích của lượng nước này được tải ra khỏi cửa sông hoặc bay hơi để
bù cho thể tích nước tương tự chảy ra từ nguồn. Thời gian cần thiết để đo khối nước
ngọt đã cho được tải ra khỏi cửa sông được gọi là thời gian chảy. Khoảng thời gian
này có thể định lượng được tính ổn định của hệ cửa sông. Thời gian chảy kéo dài rất
quan trọng cho sự duy trì quần xã sinh vật nổi.
Do có số lượng lớn vật lơ lững trong nước vùng cửa sông, ít nhất là vào một
thời kỳ nào đó trong năm, độ đục của thuỷ vực thường rất cao. Độ đục có giá trị cao
nhất khi lượng nước ngọt chảy ra nhiều nhất và giảm dần khi ra phía cửa, nơi lượng
nước biển ưu thế. Ảnh hưởng sinh thái chính của độ đục là làm giảm đáng kể độ
chiếu sáng, vì thế giảm quang hợp của thực vật phù du và thực vật đáy làm giảm
năng suất sinh học. Trong điều kiện độ đục quá cao, sinh khối thực vật phù du gần
như không có và khối lượng vật chất hữu cơ được tạo thành chủ yếu bởi thực vật
bãi lầy nổi.
Sự hoà tan oxy trong nước giảm theo quá trình tăng nhiệt độ và độ muối. Vì
vậy lượng oxy thay đổi khi các thông số này biến thiên. Ở các cửa sông có độ sâu
lớn, thường xuất hiện lớp đẳng nhiệt vào mùa hè và tồn tại sự phân tầng độ muối.
Trong điều kiện đó, trao đổi khí giữa lớp mặt giàu oxy và tầng đáy sâu diễn ra rất
kém. Hiện tượng này cùng với hoạt động sinh học tích cực, sự trao đổi nước chậm
gây ra sự thiếu oxy ở tầng đáy.
2.4.1.2. Quần xã sinh vật
Động vật biển là nhóm lớn nhất ở vùng cửa sông khi xét về phương diện số
lượng loài và được xếp vào hai phân nhóm. Các động vật hẹp muối (stenohaline)
không thể chịu được sự biến thiên độ muối và chỉ sống được ở vùng cửa sông với
độ muối lớn hơn 25 ‰. Đây thực sự là những động vật sống ở biển. Phân nhóm rộng
muối (euryhaline) có thể thích nghi được với độ muối 15 – 18 ‰, thậm chí một số
loài chịu được muối nhạt đến 5 ‰.
19
Các loài nước lợ hay còn gọi là các loài cửa sông điển hình, có chu kỳ sống
hoàn toàn ở vùng cửa sông, sống chủ yếu ở vùng có độ muối trong khoảng từ 5-18
‰ nhưng không xuất hiện trong nước ngọt hay nước biển thực sự. Một số giống loài
nước lợ có thể hạn chế phân bố về phía biển không phải vì yếu tố sinh lý mà do các
mối quan hệ sinh học như cạnh tranh hoặc vật dữ.
Nhóm động vật nước ngọt không thể chịu được độ muối trên 5 ‰ và chỉ sống ở
phần trên cửa sông. Ngoài ra, vùng cửa sông còn có nhóm sinh vật quá độ gồm những
loài như cá di cư. Chúng có thể đi qua cửa sông trên đường đến bãi đẻ ngoài biển hoặc
trong sông. Ví dụ thông thường là cá hồi hoặc cá chình. Một số sinh vật chỉ trải qua
một phần cuộc đời trong cửa sông, thường gặp là giai đoạn ấu trùng.
Số lượng loài động vật cửa sông thường nghèo hơn các quần cư biển hoặc các
vùng nước ngọt lân cận. Đây là vùng khắc nghiệt mà nhiều sinh vật biển hoặc nước
ngọt không thể chịu đựng được. Các sinh vật cửa sông thực sự chủ yếu có nguồn
gốc biển. Sinh vật biển chịu sự giảm độ muối tốt hơn sinh vật nước ngọt chịu đựng
độ muối tăng, vì vậy sinh vật cửa sông có ưu thế bởi động vật biển.
Tính đa dạng kém của thành phần loài ở cửa sông được giải thích bởi vài lý
do. Ý kiến phổ biến nhất cho rằng điều kiện môi trường biến động chỉ cho phép
những loài với sự chuyên hoá chức năng sinh lý đặc biệt để thích nghi. Cách giải
thích thứ hai đề cập đến thời gian địa chất của quá trình hình thành các cửa sông. Sự
tồn tại của chúng không đủ dài để khu hệ cửa sông phát triển đầy đủ. Lý do cuối
cùng có thể là do hình thái vùng cửa sông kém đa dạng nên có ít nơi sống và có ít
loài động vật.
Thành phần loài thực vật lớn ở cửa sông kém phong phú. Hầu hết các vùng
ngập nước thường xuyên đều có đáy mùn không phù hợp để rong bám. Hơn nữa,
nước đục hạn chế độ chiếu sáng, vì vậy vùng nước sâu hầu như không có thực vật.
Tảo Silic khá phổ phong phú trên các bãi triều gần bùn vùng cửa sông. Chúng có
thể di động lên bề mặt hoặc vào trong bùn phụ thuộc vào độ chiếu sáng. Bùn cửa
sông cũng là nơi sống thích hợp của tảo lam sợi. Vi khuẩn là thành phần phong phú
cả trong nước và trong bùn, nơi giàu có vật chất hữu cơ.
Sinh vật phù du ở vùng cửa sông khá nghèo về thành phần loài. Tảo Silic
thường chiếm ưu thế trong mùa nóng và thậm chí quanh năm ở một số khu vực.
20
Động vật phù du cũng nghèo về thành phần cũng như biến động lớn theo mùa. Các
loài cửa sông thực sự chỉ tồn tại ở các cửa sông lớn và ổn định. Ở các cửa sông
nông, thành phần động vật phù du biển điển hình chiếm ưu thế.
2.4.1.3. Các quá trình sinh thái
Năng suất sinh học sơ cấp ở vùng cửa sông chủ yếu do tảo Silic sống đáy. Tuy
nhiên, cửa sông lại có một lượng lớn chất hữu cơ và năng suất thứ cấp cao. Nguồn
năng suất sơ cấp chủ yếu được cung cấp bởi thảm thực vật vùng triều bao quanh cửa
sông. Ngoài ra, cửa sông còn nhận vật chất hữu cơ từ sông và từ biển với lượng
đáng kể. Vùng cửa sông có rất ít động vật ăn thực vật và vì vậy, vật chất có nguồn
gốc thực vật phải được phân huỷ thành mùn bả để đi vào chuỗi thức ăn. Quá trình
này có sự tham gia của vi khuẩn.
Mùn bã hữu cơ lắng đọng hình thành nền đáy giàu vi khuẩn và tảo. Đây là
những nguồn thức ăn quan trọng cho các động vật ăn mùn bã và chất lơ lững. Về
phương diện nguồn thức ăn, khái niệm mùn bã được hiểu với nghĩa rộng bao gồm
các mãnh hữu cơ, vi khuẩn, tảo và thậm chí cả động vật đơn bào. Lương vật chất
hữu cơ rất giàu ở cửa sông, có thể đạt giá trị 110 mg/l cao hơn nhiều so với vùng
biển ngoài 1-3 mg/l.
Năng suất sơ cấp của cột nước thấp, nghèo động vật ăn thực vật và sự phong
phú của mùn bã cho thấy mùn bã là cơ sở của chuỗi thức ăn cửa sông. Tuy nhiên,
điều này không có nghĩa là tất cả động vật ăn mùn bã có thể tiêu hoá các mãnh hữu
cơ. Hầu như chúng chỉ tiêu hoá vi khuẩn và các vi sinh vật khác sống trên các mãnh
hữu cơ và bài tiết nguyên vẹn các mảnh này.
Nhìn chung, nhờ giàu dinh dưỡng và tương đối ít các vật dữ, cửa sông trở
thành nơi nuôi dưỡng ấu trùng của nhiều loài động vật mà khi trưởng thành chúng
sống ở vùng khác. Đây cũng là bãi kiếm ăn của nhiều loài động vật di cư. Bên cạnh
đó, nhờ sự bảo vệ tự nhiên của đầm phá và vùng cửa sông mà nó có giá trị lớn cho
sự phát triển cảng và cảng biển, tiếp đến là các khu công nghiệp và dân cư lân cận.
Cửa sông cũng được xem như là môi trường tiếp nhận các loại rác thải công nghiệp
và sinh hoạt dân cư. Hoạt động đánh bắt thủy sản thường dựa trên HST cửa sông
đầm phá. Cuối cùng thì cửa sông, đầm phá còn được sử dụng cho mục đích nghỉ
ngơi, du lịch giải trí.
21
2.4.2. HST vùng triều
Vùng triều là vùng không ngập nước một khoảng thời gian trong ngày với các yếu
tố tự nhiên thay đổi do nước và không khí chi phối. Quần xã sinh vật thích nghi môi
trường này và sự liên kết giữa sinh vật và môi trường tạo nên HST vùng triều.
2.4.2.1. Môi trường vùng triều
Thuỷ triều là yếu tố quan trọng nhất tác động lên mọi sinh vật vùng triều. Thiếu sự
hoạt động của thuỷ triều với sự lên xuống theo chu kỳ của mực nước biển HST này sẽ
không tồn tại và các yếu tố khác hết bị chi phối. Có ba chế độ thuỷ triều khác nhau gồm
nhật triều, bán nhật triều và hỗn hợp triều. Độ cao thuỷ triều khác nhau từ ngày này sang
ngày khác do so sánh giữa vị trí mặt trời và mặt trăng.
Thuỷ triều cùng với thời gian có thể ảnh hưởng trực tiếp lên sự tồn tại và cấu
trúc quần xã sinh vật vùng triều. Ảnh hưởng đầu tiên là thời gian vùng triều phơi ra
không khí và thời gian ngập nước. Trong thời gian phơi bãi, sinh vật phải chịu đựng
sự dao động nhiệt lớn và dễ bị mất nước. Do hầu hết sinh vật vùng triều phải chờ
ngập nước mới bắt mồi, thời gian phơi bãi càng dài cơ hội kiếm ăn và tích luỹ năng
lượng càng ngắn. Động thực vật khác nhau về khả năng chống chịu với thời gian
phơi bãi và sự chuyên hóa này là một trong những lý do tạo nên sự phân vùng phân
bố. Ảnh hưởng thứ hai lên đời sống sinh vật là thời gian phơi bãi vào ban ngày.
Triều thấp vùng nhiệt đới diễn ra lúc trời tối thuận lợi hơn đối với sinh vật do nhiệt
độ thấp hơn và ít mất nước hơn. Thuỷ triều là chu kỳ có thể dự báo trước và hình
thành nhịp điệu của nhiều loài sinh vật. Nhịp điệu này liên quan đến các quá trình
sinh sản, dinh dưỡng, v.v..
Nhờ đặc trưng vật lý, môi trường nước, nhất là các thuỷ vực lớn như đại
dương có biến thiên nhiệt độ không lớn. Giới hạn nhiệt độ ở biển hiếm quá ngưỡng
gây chết đối với sinh vật. Tuy nhiên, vùng triều thường phải chịu chế độ nhiệt của
không khí. Trong thời gian khác nhau, nhiệt độ có thể vượt quá ngưỡng gây chết
hoặc có ảnh hưởng gián tiếp làm cho sinh vật suy yếu và không thể duy trì hoạt
động bình thường.
Sóng biển ảnh hưởng đến các cá thể và quần thể sinh vật ở vùng triều nhiều
hơn các thuỷ vực khác. Tác động đầu tiên với sinh vật là đập vỡ hoặc xé nát vật thể.
Sự chịu sóng là giới hạn phân bố của các sinh vật không thích nghi sóng và là nhu
22
cầu đối với các sinh vật ưa sóng. Sóng còn có tác động mở rộng vùng triều nhờ đẩy
nước lên cao so với độ cao của triều. Nhờ vậy, nhiều sinh vật có thể sống cao hơn ở
vùng có sóng so với vùng che chắn trong cùng một mức triều.
Độ muối ở vùng cũng thay đổi lớn. Khi triều thấp, mưa lớn hoặc dòng nước từ
đất liền làm giảm độ muối, có thể làm chết sinh vật do khả năng chống chịu hạn chế
của chúng.
2.4.2.2. Thích nghi của sinh vật vùng triều
Các sinh vật vùng triều chủ yếu có nguồn gốc biển. Sự thích nghi cơ bản là
tránh sức ép của điều kiện khí quyển.
Sự mất nước là quá trình diễn ra ngay sau khi sinh vật biển ra khỏi môi trường
nước. Sinh vật vùng triều sống sót được khi phơi bãi khi sự mất nước ở mức tối
thiểu hoặc cấu tạo cơ thể thích nghi với sự mất nước trong một thời gian nhất định.
Cơ chế đơn giản nhất là trốn chạy trong các hang hốc, rãnh hoặc tìm nơi trú ẩn ở
vùng ẩm ướt phủ rong tảo. Rong biển chịu đựng sự mất nước nhờ cấu tạo mô. Sau
khi bị khô do triều rút, chúng nhanh chóng lấy nước và phục hồi hoạt động bình
thường lúc triều lên. Nhiều động vật vùng triều có cơ chế thích nghi khác thông qua
cấu trúc, tập tính hoặc cả hai.
Để thích nghi với nhiệt độ dao động lớn, sinh vật vùng triều phải duy trì cân
bằng nhiệt trong cơ thể. Sinh vật tránh nhiệt độ cao bằng cách giảm sự tăng nhiệt từ
môi trường nhờ kích thước cơ thể lớn hơn. Kích thước lớn có nghĩa là vùng bề mặt
tiếp xúc trên thể tích nhỏ hơn và vùng thoát nhiệt nhỏ hơn.
Nhằm chống lại tác động cơ học của sóng, nhiều sinh vật sống cố định vào nền
đáy như hà, hầu, v.v.. Một số sinh vật khác có cơ quan bám tạm thời nhưng vững
chắc và vận động hạn chế như ví dụ về tơ bám của vẹm. Vỏ dày hoặc thấp và dẹt
cũng là một cách chống sóng.
Hầu hết sinh vật vùng triều có cơ quan hô hấp thích nghi với hấp thụ O2 từ
nước. Chúng có xu thế dấu bề mặt hô hấp trong khoang kín để chống khô. Một số
động vật thân mềm có mang trong màng áo và được vỏ bảo vệ. Các thân mềm ở
triều cao giảm mang và hình thành khoang áo với nhiều mao mạch có chức năng
như phổi để hấp thu khí. Để bảo toàn O2 và nước, hầu hết động vật nằm yên lặng
23
khi triều rút. Cá vùng triều đặc trưng bởi hô hấp qua da do tiêu giảm mang và nảy
nở nhiều mạch máu trên da.
Động vật vùng triều trên nền đáy cứng chỉ kiếm ăn khi ngập triều. Điều này
đúng với tất cả các nhóm ăn thực vật, ăn lọc, ăn mùn bã và ăn thịt. Sinh vật sống
trên nền đáy mềm có thể kiếm ăn khi triều thấp nhờ trong đáy có nước.
Sự thay đổi độ muối lớn là một sức ép cho sinh vật vùng triều bởi lẽ hầu hết
sinh vật vùng triều không có khả năng thích nghi tốt như sinh vật cửa sông. Chúng
không có cơ chế kiểm soát hàm lượng muối trong dịch cơ thể. Do vậy chúng là sinh
vật có khả năng thẩm thấu. Chính vì vậy, mưa lớn có thể gây ra những tai biến lớn.
Do rất nhiều sinh vật vùng triều sống định cư hoặc sống bám, trứng đã thụ tinh
và ấu trùng của chúng phải trôi nổi tự do như sinh vật nổi để phát tán. Do vậy, chu
trình sinh sản của hầu hết các sinh vật này phải đồng bộ với chu kỳ triều nào đó để
bảo đảm hiệu suất thụ tinh. Ví dụ ở vẹm Mytilus edilis thành thục sinh dục trong
thời kỳ triều cường và đẻ trứng vào thời kỳ triều kiệt sau đó.
2.4.2.3. Đặc trưng của các loại bãi triều
Bãi triều đá: So với các loại bãi triều, bờ triều đá, đặc biệt ở vùng ôn đới có
nhiều sinh vật có kích thước lớn cư trú và đạt tính đa dạng về thành phần loài động
thực vật cao nhất. Đặc trưng nổi bật ở tất cả bãi triều đá là sự phân vùng của sinh
vật tức hình thành các dải theo chiều ngang rõ rệt.
Bãi triều cát: yếu tố môi trường quan trọng nhất chi phối đời sống sinh vật ở
các bãi triều cát là không được che chắn sóng biển và mối liên quan của nó đến độ
hạt và độ dốc của bãi. Sóng gây ra sự di chuyển của bãi, làm nền đáy không ổn
định. Sinh vật có hai con đường để thích nghi, chúng có thể vùi vào cát ở độ sâu lớn
hơn nơi mà trầm tích không còn bị sóng xô đẩy. Khả năng này được quan sát thấy ở
các loài sò. Cách thích nghi thứ hai là tốc độ vùi nhanh của một số động vật thuộc
nhóm giun, giáp xác.
Bãi triều bùn: sự phân biệt giữa bãi triều cát và bãi triều bùn là không rõ ràng.
Vùng triều càng được che chắn càng có trầm tích mịn hơn và tích luỹ nhiều chất
hữu cơ hơn. Đáy bùn cũng là đặc trưng của HST cửa sông và quần xã sinh vật của
hai hệ có những nét tương đồng. Bãi triều bùn chỉ xuất hiện ở vùng được che chắn,
không bị sóng vỗ như trong các vịnh kín, đầm và đặc biệt là cửa sông. Bãi triều bùn
24
tích luỹ nhiều chất hữu cơ, tạo nên tiềm năng thức ăn lớn cho sinh vật. Sinh vật
sống ở bãi triều bùn chủ yếu thuộc nhóm sống trong đáy với các ống, hang thông
lên bề mặt. Kiểu dinh dưỡng ưu thế trong môi trường này là ăn chất lắng đọng và
chất lơ lửng.
2.4.2.4. Vai trò của HST vùng triều
HST vùng triều có vai trò rất quan trọng trong HST nước mặn, bao gồm các
chức năng sau:
- Là nơi cư trú, sinh sống của các loài sinh vật biển, như các loài hai mảnh vỏ,
các loài rong tảo, v.v..
- Là nơi cung cấp nguồn lợi kinh tế và cũng là nơi diễn ra sự trao đổi vật chất,
năng lượng, tạo nên nguồn sinh khối lớn trong HST;
- Là nơi cung cấp năng suất sơ cấp cho vùng cửa sông, chủ yếu là thảm thực
vật bao quanh cửa sông, làm tăng sự đa dạng vùng cửa sông;
- HST vùng triều góp phần vào việc điều hòa khí hậu nhờ vào sự hình thành
các thảm thực vật, ngoài ra thảm thực vật còn góp phân hình thành nên HST RNM;
- Chức năng quan trọng của HST vùng triều đóng vai trò quan trọng trong chu
trình dinh dưỡng cũng như góp phần hình thành các khu du lịch, khu vui chơi giải
trí cho con người.
HST vùng triều có vai trò quan trọng, to lớn trong việc duy trì và bảo vệ tính
ĐDSH. Có thể nói rằng, vùng triều là nguồn gốc, là nền tảng cho việc hình thành và
phát triển các HST vùng ven bờ. Do vậy, cần phải có chính sách hợp lý trong việc quản
lý cũng như khai thác tài nguyên vùng triều, từ đó có sự khai thác đúng mức nguồn lực
to lớn này góp phần thúc đẩy nền kinh tế vùng biển một cách bền vững.
2.4.3. HST RNM
Trong HST này, các động thực vật, vi sinh vật trong đất và môi trường tự
nhiên được liên kết với nhau thông qua quá trình trao đổi và đồng hóa năng lượng.
Các quá trình nội tại như cố định năng lượng, tích lũy sinh khối, phân hủy vật chất
hữu cơ và chu trình dinh dưỡng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố bên ngoài
như nước từ sông đổ ra, thủy triều, nhiệt độ và lượng mưa.
25
RNM đóng vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng, là nguồn cung cấp
chất hữu cơ để tăng năng suất VVB, là nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng hoặc nơi sống lâu
dài cho nhiều loài hải sản có giá trị như cá, tôm, cua, v.v..
RNM có các chức năng và giá trị rất quan trọng như: cung cấp các sản phẩm
gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương các loài cá, tôm,
cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố định các bãi bùn
ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng, bão và sóng thần; là
nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã (chim, thú lưỡng cư, bò sát), gồm
các loài địa phương và các loài di cư. Theo Phan Nguyên Hồng có 111 loài cây
ngập mặn có thể làm thuốc, thực phẩm; 13 loài cho thức ăn gia súc; 33 loài có tác
dụng bảo vệ đê, chắn sóng, gió, xói mòn đất.
Hình 2.1. RNM thuộc vườn quốc gia Xuân Thủy
Tuy nhiên, diện tích RNM đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng do các hoạt
động chuyển đổi diện tích rừng sang nuôi trồng thủy sản, quai đê lấn biển; do xói lở
bờ biển. Trong hai thập kỷ qua, có hơn 200.000 ha RNM bị phá để nuôi tôm. Mất
RNM có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng: mất nguồn ĐDSH phong phú của
HST, mất nơi cư trú, sinh đẻ của nhiều loài, gây phèn hóa, ô nhiễm môi trường, gây
xói lở vùng bờ biển và cửa sông. Ví dụ ở Tây Nam Cà Mau, sau một năm khoanh
đầm nuôi tôm làm giảm khoảng 20 loài động vật đáy, các loài chim ở sân chim Bạc
Liêu, Đầm Dơi di cư đi nơi khác. Ở Tiền Hải (Thái Bình), phá 2.500 ha RNM làm
đầm nuôi tôm gây thiệt hại lớn cho môi trường (hàm lượng H2S, COD vượt quá tiêu
chuẩn cho phép gây nhiễm mặn diện tích lớn, xói lở các vùng xung quanh và làm
26
mất nơi cư trú của chim di cư); đời sống của người dân ở đây suy giảm, nhiều dân
chài nghèo không có công ăn việc làm.
2.4.4. HST thảm cỏ biển
Thảm cỏ biển chính là lá phổi của đại dương và có thể so sánh việc mất thảm
cỏ biển với việc mất rừng mưa nhiệt đới.
Hình 2.2. Thảm cỏ biển ở Hòn Bịp (Vịnh Vân Phong)
Ở Việt Nam, chưa có những nghiên cứu chính thức và toàn diện về thảm cỏ
biển như một HST. Nhiều đợt khảo sát tiến hành từ 1995 đến 2001 tại 23 điểm của
12 tỉnh đã phát hiện được 15 loài cỏ biển (trên tổng số 60 loài trên thế giới) sống
trong các thảm cỏ có tổng diện tích 5.583 ha và được coi là có tính đa dạng cao nhất
Đông Nam Á về số loài cỏ biển.
2.4.4.1. Năng lượng của HST
Do có đủ lá, rễ, hoa, quả và hạt nên cỏ biển vẫn bảo tồn nguyên vẹn khả năng
quang hợp như tổ tiên xa xưa của chúng trên cạn, tức là tạo ra chất hữu cơ từ khí
cacbonic và nước dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. Nhờ đó mà cỏ biển có khả
năng bẫy giữ khí cacbonic góp phần làm giảm loại khí nhà kính gây biến đổi khí
hậu nguy hiểm bậc nhất này. Mỗi mét vuông cỏ biển mỗi năm có thể bẫy giữ 1.000g
cacbon, gấp từ 3 đến 5 lần khả năng quang hợp của các loài thực vật cạn sống gần
biển. Có được khả năng này là nhờ cỏ biển có bộ rễ rất phát triển, giúp chúng tiêu
27
thụ lượng nitơ (đạm) mà các nhóm vi khuẩn kị khí sống trong đáy bùn đã chuyển
hoá thành nitrat.
2.4.4.2. Năng suất sinh học HST thảm cỏ biển
Thảm cỏ biển được mệnh danh là “rừng mưa nhiệt đới dưới biển” vì tính phức
tạp về cấu trúc và tính ĐDSH đi kèm, cũng như năng suất sinh học rất cao, 1 ha cỏ
biển mỗi năm tạo ra 25 tấn lá, đủ cung cấp thức ăn cho 40.000 con cá, và 50 triệu
động vật không xương sống nhỏ. Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển vàHải đảo Việt Nam, “Cứ 1m2 cỏ biển sản sinh ra 10 lít ôxy
hoà tan/ngày cho nên đây là nơi thuận lợi cho sinh sản, ươm nuôi các giống hải sản
và là những bãi hải sản quan trọng ven bờ". Nghiên cứu ở vùng biển Địa Trung Hải cho thấy, nếu bảo vệ tốt cỏ biển thì cứ 400m2 sẽ là nơi cung cấp khoảng 2000 tấn
hải sản/năm. Tổng số loài cư trú trong cỏ biển thường cao hơn vùng biển bên ngoài
2-8 lần.
2.4.4.3. Chức năng và giá trị của HST thảm cỏ biển
Các thảm cỏ biển là nơi sinh sống, đẻ trứng và trú ẩn của nhiều loài sinh vật
biển khác nhau như động vật đáy, cá biển, rùa biển, bò biển. Bước đầu các nhà khảo
sát đã phát hiện 125 loài động vật đáy và 158 loài rong biển sống trong và dưới
thảm cỏ biển. Trong thảm cỏ biển có nhiều loài có giá trị kinh tế cao sinh sống như
ngó đen, ngó đỏ, hến, cua, tôm, hải sâm,v.v.. Ngoài ra, cỏ biển còn là nguồn thức ăn
cho nhiều loài động vật không xương sống, bò sát, cá biển, thú biển. Đặc biệt, cỏ
biển là thức ăn cho loài bò biển - loài thú biển quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt
chủng. Rễ của cỏ biển phát triển chằng chịt cắm sâu vào lớp đất bề mặt, nên cỏ biển
có tác dụng bảo vệ bờ biển, chống xói lở khi sóng to, gió lớn; làm giảm tốc độ dòng
chảy và ổn định nền đáy, v.v.. Cỏ biển còn được khai thác để làm phân bón, thức ăn
cho gia súc.
Tuy nhiên, HST thảm cỏ biển cũng là một trong những HST nhạy cảm và rất
dễ bị tổn thương khi môi trường thay đổi. Hiện nay, thảm có biển ở nước ta đã bị
suy thoái nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường, đánh bắt thủy sản bằng thuốc nổ,
các hoạt động khai thác các vùng đất bồi có cỏ biển vào mục đích nông nghiệp, nuôi
trồng thủy sản làm cho diện tích bãi cỏ biển bị thu hẹp, gây mất nơi cư trú của các
nguồn lợi hải sản có giá trị và hạn chế sự phất triển của cỏ biển, làm suy giảm chất
28
lượng môi trường nước và trầm tích, mất cân bằng dinh dưỡng, sinh thái và ĐDSH,
giảm trữ lượng cá và nguồn trứng cá và cá con trong HST này.
2.4.5. HST rạn san hô
HST rạn san hô là một HST đa dạng nhất hành tinh, nó chỉ phân bố ở vùng
biển nông ven bờ. Theo tính toán, toàn bộ các rạn san hô chỉ chiếm chưa đến 1%
diện tích đại dương nhưng lại là nơi sinh sống của 25% các loài sinh vật biển trên
toàn thế giới.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, dọc ven biển nước ta hiện có trên 200
điểm rạn san hô với khoảng 400 loài san hô khác nhau thuộc 80 giống, 17 họ. Với
chủng loại san hô phong phú, đa dạng về số lượng giống loài như vậy, HST rạn san
hô Việt Nam có thể so sánh với những vùng san hô đa dạng nhất trên thế giới như
Australia, Caribbe, Mabili (Philippin), v.v..
2.4.5.1. Năng suất sinh học HST rạn san hô
HST rạn san hô còn có năng suất sinh học cao, là nguồn sản sinh ra hữu cơ,
cung cấp thức ăn không chỉ cho chính nó, cho các sinh vật sống trong rạn mà còn có
ý nghĩa cho toàn vùng biển. Vì vây, đây là nơi lưu trữ nguồn gen của nhiều loài hải
sản. Rạn san hô cũng là một HST rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường
sống nên nó còn có ý nghĩa chỉ thị môi trường.
2.4.5.2. Chức năng và giá trị của HST rạn san hô
Các rạn san hô thuộc vùng biển nước ta là nơi cư trú, nuôi dưỡng và sinh sản
của 398 loài cá, trong đó có hàng trăm loài cá được dùng làm cá cảnh có giá trị kinh
tế cao, 155 loài động vật thân mềm , 94 loài giáp sát, 37 loài da gai và 174 loài rong
biển, v.v..
Nghiên cứu của Liên minh Sinh vật biển quốc tế (LMA) đã chỉ rõ những nơi
có rạn san hô phát triển tốt, ngành khai thác thủy sản có thể đạt sản lượng khi khai thác 37 tấn các loại hải sản/km2/năm; Ở các rạn san hô chết chỉ đạt dưới 5 tấn/năm.
Đối với ngành du lịch, cảnh quan ngầm của HST rạn san hô, thảm cỏ biển là
nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận của du lịch biển. Vì vậy, đối với các ngành
kinh tế khai thác lợi thế từ biển trong đó có ngành du lịch thì việc bảo vệ các rạn san
hô có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển bền vững. Hiện nay, Việt Nam có
khoảng 170 điểm du lịch và nghỉ dưỡng nằm ở các VVB trải dọc từ Bắc chí Nam,
29
trong đó có nhiều vùng biển đẹp nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Cảnh Dương, Lăng
Cô, Non Nước, Mỹ Khê, Vịnh Nha Trang, Mũi Né, v.v.. Không xa ngoài khơi của
những vùng biển đó là thế giới động, thực vật biển bao la đầy bí ẩn và hấp dẫn,
trong đó có rạn san hô thực sự là một cảnh sắc tuyệt đẹp mà Nha Trang là một ví dụ
điển hình.
HST rạn san hô có cấu trúc phức tạp, rất nhạy cảm với sự đe dọa của môi
trường, đặc biệt là những đe dọa từ con người như đánh bắt cá bằng thuốc nổ, hóa
chất độc hại, khai thác san hô làm vật liệu xây dựng, đồ lưu niệm. Độ phủ san hô
sống trên rạn đang bị giảm dần theo thời gian, nhiều nơi độ phủ giảm trên 30%.
Điều này cho thấy rạn san hô đang bị phá hủy và có nhiều chiều hướng suy thoái
mạnh. Sự biến đổi diện tích và những tổn thương của rạn san hô gây nhiều thiệt hai:
giảm ĐDSH, sinh thái và chất lượng môi trường nước biển; mất nguồn lợi sống của
cộng đồng VVB và thiệt hại cho ngành thủy sản, du lịch.
2.5. Hiện trạng và công tác quản lý ĐNN ven biển
Hiện nay, theo GS.TS Mai Trọng Nhuận tác giả cuốn sách "Tổng quan hiện trạng
ĐNN VN sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar" trong 15 năm qua, diện tích ĐNN
tự nhiên đã giảm đi nhanh chóng, cụ thể là các khu RNM tự nhiên ven biển đã mất dần,
thay vào đó là các đầm nuôi thủy sản, các công trình du lịch và một số ít diện tích trồng
rừng. Diện tích RNM đã giảm 183.724ha trong 20 năm qua (từ năm 1995). Trong khi
diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng lên 1,1 triệu ha năm 2003. Diện tích ĐNN ven
biển năm 1982 là 494.000 ha, đến năm 2000 là 606.792 ha do mở rộng diện tích nuôi
tôm. Mà nguyên nhân là trong những năm gần đây, do tốc độ công nghiệp hóa, đô thị
hóa và hiện đại hóa đất nước, một diện tích rất lớn ĐNN đã bị chuyển hóa sang mục
đích sử dụng khác; tính chất, giá trị của ĐNN vì vậy bị mai một. Đồng thời, sự phát
triển này đã làm cho môi trường nói chung, ĐNN nói riêng đang có chiều hướng xấu
do chất thải công nghiệp, ô nhiễm dầu, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, chất hữu cơ
và các chất độc hại trong khai thác tài nguyên.
Mặc dù, có vai trò rất lớn về nhiều mặt nhưng ĐNN ven biển thường rất nhạy
cảm với các hoạt động của con người và các tác động của thiên nhiên. Do đó, việc
quản lý vùng ĐNN ven biển một cách hiệu quả, sao cho vừa khai thác hợp lý những
tài nguyên ĐNN ven biển để phục vụ cho cuộc sống con người nhưng vẫn duy trì
30
được các chức năng và thuộc tính của chúng đang trở thành mối quản tâm của các
nhà quản lý và nhà ra quyết định liên quan đến ĐNN ven biển.
Ở Việt Nam cho đến trước năm 2003, chưa có cơ quan duy nhất chịu trách
nhiệm về quản lý ĐNN ở cấp trung ương. Tuỳ theo chức năng được Chính phủ phân
công, mỗi bộ quản lý ĐNN theo lĩnh vực của ngành mình và việc phân công nhiệm
vụ các bộ ngành và địa phương trong bảo tồn và phát triển đó được cụ thể ở Nghị
định số 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 23/9/2003 về bảo tồn và
phát triển bền vững các vùng ĐNN. Các Bộ chính được phân công nhiệm vụ theo
Nghị định này bao gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ NN và PTNT. Tại cấp
tỉnh, thành phố, việc quản lý ĐNN do Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh, Sở NN và PTNT đảm nhận.
Công tác quản lý ĐNN đang gặp nhiều thách thức như thiếu thông tin, dữ liệu,
khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu những đánh giá tổng thể và cập nhật về hiện
trạng ĐNN. Đầu tư nhân lực cho bảo tồn và sử dụng ĐNN chưa tương xứng với giá
trị và tiềm năm của ĐNN.
Về vấn đề khung pháp lý cho quản lý ĐNN, Việt Nam đã xây dựng và tổ chức
thực hiện một kế hoạch hành động liên quan đến bảo tồn và phát triển ĐNN. Một số
văn bản chính liên quan đến kế hoạch hành động này gồm: chiến lược quản lý hệ
thống khu bảo tồn của Việt Nam đến năm 2010; Nghị định Chính phủ số
109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 và Thông tư số 18/2004/TT-BTNMT
ngày 23 tháng 8 năm 2004 về bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN. Theo nghị định
này, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN. Quyết định số 04/2004/QĐ-BTNMT phe
duyệt kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN giai đoạn 2004-
2010; Kế hoạch hành động Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Nhận thức tầm quan trọng của ĐNN, Việt Nam đã tham gia Công ước Ramsar
về ĐNN năm 1989 và là thành viên thứ 50. Hiện nay đã có 2 khu ĐNN được đưa
vào danh sách Ramsar và nhiều khu có khả năng để đưa vào danh sách.
Trong thời gian tới, một hệ thống đồng bộ về thể chế, pháp luật và quản lý
ĐNN cần được xây dựng ở mọi cấp. Việc xây dựng và thực hiện các quy định về
quản lý tài nguyên ĐNN cần được tăng cường.
31
Chương 3 LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN
3.1. Hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển
3.1.1. Hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển
Trong kinh tế học thì hàng hóa và dịch vụ là sản phẩm của lao động. Trong đó,
hàng hóa và dịch vụ khác nhau ở chỗ hàng hóa được vật thể hóa, còn dịch vụ thì không.
Còn đối với HST, hàng hóa và dịch vụ là sản phẩm của tự nhiên, do tự nhiên làm ra. Các
sản phẩm này được tạo ra do quá trình vận động không ngừng của tự nhiên kéo dài hàng
triệu năm, thậm chí hàng tỉ năm. Do không ai có thể chứng kiến được quá trình tạo ra đó
mà nhiều người lầm tưởng rằng đây là những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên và cứ thế
khai thác một cách triệt để. Có những loại hàng hóa, dịch vụ có thể thấy rõ ngay giá trị
như thủy sản (tôm, cua, cá, v.v..), lâm sản (gỗ, củi), thuốc chữa bệnh, v.v.. nhưng nhiều
dịch vụ mà giá trị của nó có thể những thế hệ con cháu chúng ta sau này mới được hưởng
thụ. Chẳng hạn như khoảng 10-20% các loài thực vật trong cánh rừng nhiệt đới vẫn chưa
được phát hiện, mà có một số tổ hợp gen của những loài này có giá trị to lớn cho dược
phẩm, y học.
Còn đối với vùng ĐNN ven biển, chính các HST ở vùng ĐNN ven biển đã tạo
ra hàng hóa và dịch vụ, chúng tồn tại dưới dạng nguyên liệu hay sản phẩm của tự
nhiên. Vùng ĐNN ven biển cung cấp nhiều loại hàng hóa, bao gồm các sản phẩm
như gỗ, củi đốt từ RNM hay vật liệu lập mái nhà, làm đồ thủ công mỹ nghệ, thức ăn
cho gia súc từ cỏ biển, v.v.. những sản phẩm này chủ yếu được sử dụng bởi người
dân địa phương. Hay các sản phẩm thủy sản, như các loài tôm, cua, cá, v.v.. Các
loại hàng hóa này được mua bán, trao đổi trên thị trường.
Tuy nhiên, giá trị to lớn của vùng ĐNN ven biển không phải chỉ ở hàng hóa mà
còn ở khả năng cung cấp những dịch vụ cần thiết và quan trọng cho con người. Các
dịch vụ này liên quan mật thiết với chức năng HST và hầu hết đều không thể trao đổi
trên thị trường, do đó các dịch vụ này thường không tính thành tiền, thậm chí không thể
tính thành tiền. Sau đây là một số dịch vụ cơ bản của vùng ĐNN ven biển:
- Dịch vụ điều hòa khí hậu
Việc hưởng thụ “dịch vụ ” không khí mát mẻ, trong lành sau những giờ làm
việc căng thẳng sẽ góp phần tăng năng suất lao động và sức khỏe của người dân
thành phố. Dịch vụ này có ý nghĩa toàn cầu, bởi vì nhờ có RNM, thảm cỏ biển tại
32
các vùng ĐNN ven biển mà lượng khí CO2 sinh ra do các hoạt động của con người
khi đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, v.v..), đốt phá rừng… được hập
thụ và tích lũy thông quá trình quang hợp tạo nên các chất hữu cơ trong mô cơ thể
hay còn được gọi là quá trình tích lũy các bon, từ đó góp phần làm giảm đáng kể
lượng khí CO2, một khí gây hiệu ứng nhà kính, giúp làm giảm biến đổi khí hậu.
- Dịch vụ bảo vệ bờ biển và dân sinh ven biển
RNM, thảm cỏ biển và rạn san hô tại các vùng ĐNN ven biển được xem như
là một bức tường xanh bảo vệ đê biển, cuộc sống của cồng đồng dân cư ven biển
trước tác động của sóng, gió do bão biển, triều cường gây ra. Biểu hiện rõ ràng nhất
của dịch vụ này là làm giảm thiệt hại về người và tài sản bởi sóng, gió do bão và
triều cường gây ra. Đặc biệt, khi có sóng thần xảy ra thì dịch vụ này càng có giá trị
to lớn. Kết quả nghiên cứu về tác dụng giảm sóng của RNM trồng mới ở Tỉnh Thái
Bình, cho thấy RNM góp phần làm giảm đáng kể năng lượng sóng biển trước khi
tác động vào đê biển. Khi cây còn nhỏ thì năng lượng sóng giảm chủ yếu phụ thuộc
vào mật độ cây, khi cây lớn thì năng lượng sóng giảm đi tới 20% trong khoảng cách
100m (Mazda và cộng sự, 1997).
Bên cạnh đó hệ thống cây và rễ cây chằng chịt của RNM và các thảm cỏ biển,
rạn san hô góp phần làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích lắng
đọng, từ đó giúp mở rộng diện tích vùng ĐNN.
- Dịch vụ cung cấp nơi sinh sống, đẻ trứng, trú ẩn và thức ăn cho nhiều loài
sinh vật
Dịch vụ này dựa trên cơ sở sinh khối và năng suất các HST ĐNN ven biển.
Sinh khối thực vật HST ĐNN ven biển bao gồm: cây ngập mặn, cỏ biển, thực vật
phù du (rong, tảo) được gọi là vốn hay tư bản tự nhiên của HST thông qua việc duy
trì các chuỗi, lưới thức ăn và các chuỗi sinh địa hóa tại vùng ĐNN ven biển. Do đó,
nếu mất các thảm phủ thực vật này là mất tất cả.
- Dịch vụ lọc, giữ lại các chất ô nhiễm
Vùng ĐNN ven biển là điểm cuối của nguồn chất thải đổ ra từ lục địa và chất
thải do tràn dầu được sóng mang vào. Vùng ĐNN ven biển được coi như “bể lọc” tự
nhiên, có tác dụng giữ lại các chất lặng đọng và chất độc (chất thải sinh hoạt và
33
công nghiệp). Các vùng cửa sông ở Ấn Độ, Mỹ, Oxtrâylia đã trồng rất nhiều cây
ngập mặn ở ven cửa sông ô nhiễm để tận dụng dịch vụ này. Tuy nhiên, cần thấy
rằng không phải tất cả các chất độc hại đều được phân hủy mà một phần chúng vẫn
tồn lưu trong cơ thể thực vật rồi đi vào chuỗi và lưới thức ăn của HST.
- Dịch vụ giao thông vận tải
Vận tải thủy trong các kênh rạch tại các vùng ĐNN ven biển là hình thức vận
tải giao lưu hàng hóa hiệu quả, ít tốn kém so với xây dựng đường xá, cầu cống trong
các vùng đầm lầy mặn.
- Dịch vụ lưu trữ và cung cấp nước:
Hệ rễ cây ngập mặn góp phần làm cho đất tơi xốp dễ thấm nước tạo nên dịch
vụ lưu giữ nguồn nước vào mùa mưa và cung cấp nước cho các vùng phụ cận vào
mùa khô, như trường hợp ở các vùng cát ven biển Bình Thuận, Phú Yên, Khánh
Hòa, v.v..
- Dịch vụ lưu giữ vốn gen (thông tin di truyền)
Những thông tin di truyền nằm trong tổ hợp gen các loài cây ngập mặn tạo ra
những giá trị quan trọng. Đặc biệt các chủng vi sinh vật RNM còn mang thông tin
di truyền tồn tại cho đến ngày ngay qua đấu tranh sinh tồn hàng triệu năm. Đó là
những nguồn gen quý cho việc cải thiện các giống vật nuôi và cây trồng, thuốc chữa
bệnh trong tương lai.
- Dịch vụ du lịch và giải trí ven biển
Vùng ĐNN ven biển cung cấp nhiều dịch vụ du lịch, giải trí ven biển tùy
thuộc vào trình độ nhận thức, mức sống và thói quen của người dân. Các dịch vụ
này bao gồm việc đi chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên, quan sát chim di cư tại một
số khu RNM, đi du lịch tắm biển tại những nơi có bãi tắm đẹp hay là đi tận hưởng
không khí trong lành và được ăn những món ăn đặc sản của vùng ĐNN ven biển
như ngao, sò, tôm, cua, v.v... Một số nơi như VQG Xuân Thủy, Khu bảo tồn thiên
nhiên Tiền Hải đã phát triển du lịch sinh thái mang lại hiệu quả cao cả về giáo dục
tuyên truyền, phát triển kinh tế, xã hội
- Các dịch vụ khác:
Ngoài các dịch vụ trên thì vùng ĐNN ven biển còn cung cấp phương tiện và
34
thông tin cho nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, là cảm hứng cho thơ ca hội hòa, giá trị
nhân văn, nhân bản, bản sắc văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng.
Những đặc trưng cơ bản của các loại hàng hóa và dịch vụ vùng ĐNN ven biển
được trình bày tóm tắt trong bảng dưới đây.
Bảng 3.1. Đặc trưng cơ bản của các loại hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển
Hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển
Đặc trưng của hàng hóa, dịch vụ ĐNN ven biển
Gỗ, củi, dược liệu cho y học, vật liệu lập mái nhà, đồ thủ công mỹ nghệ, các loại thủy hải sản , v.v..
Giá trị hàng hóa và dịch vụ được trao đổi trên thị trường, thường được sử dụng trong phân tích kinh tế
Giá trị hàng hóa và dịch vụ được không trao đổi trên thị trường, đôi khi được đưa vào trong phân tích kinh tế
Cung cấp nơi cung cấp thức ăn, nơi ở cho con non các loài thủy hải sản, ĐDSH, loài quý hiếm, nghiên cứu, giáo dục và thẩm mỹ, v.v..
Khả năng lọc chất thải độc hại, cung cấp các chất dinh dưỡng, hạn chế gió bão, nước biển dâng, xói lở bờ biển, v.v..
Giá trị hàng hóa và dịch vụ được không trao đổi trên thị trường, thường không được biết đến
Thông thường, những loại dịch vụ HST nói chung và các HST ĐNN ven biển nói
riêng cung cấp không thể vật thể hóa nhưng lại có giá trị vô cùng to lớn đối với sự tồn
tại của con người, một số dịch vụ có thể trao đổi trên thị trường nhưng phần lớn thì
không trao đổi được. Ví dụ như các rạn san hô có thể ví như những đập phá sóng ngầm
dưới đáy biển, có tác dụng làm giảm tác động của sóng biển do bão gió và sóng thần,
góp phần bảo vệ đê biển, bảo vệ cộng đồng dân cư ven biển, những giá trị ấy không thể
tính thành tiền, bởi vì không gì có thể quý hơn sinh mạng con người.
Về mặt hàng hóa, người ta có thể trao đổi trên nguyên tắc vật ngang giá, về
mặt dịch vụ người ta đưa ra các loại phí dịch vụ, nhằm đảm bảo bù đắp được toàn
bộ chi phí lao động sồng và lao động vật thể hóa cần thiết để sản xuất ra dịch vụ.
Trong xã hội không ai cung ứng không công sản phẩm lao động của mình cho
người khác, bởi vì một lẽ giản đơn: không ai có thể sống bằng không khí để lao
động và cung ứng sản phẩm lao động của mình. Đó là quy luật kinh tế - quy luật giá
trị mà C. Mác đã khám phá ra. Phí dịch vụ hay giá dịch vụ giữa người mua và người
bán dịch vụ trong cơ chế thị trường là một sự trả công sòng phẳng.
3.1.2. Mối quan hệ giữa chức năng và hàng hóa, dịch vụ ĐNN ven biển
Sở dĩ vùng ĐNN ven biển có được các chức năng về sinh khối, lọc, giữ các
35
chất ô nhiễm, lưu giữ vốn gen, v.v.. là do các quá trình sinh học, vật lý và hóa học
vận động trong các HST ĐNN ven biển tạo nên khả năng tự duy trì và thích ứng với
những điều kiện môi trường luôn thay đổi. Sự vận động của các chức năng này tạo
nên các hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho con người như việc cung cấp thủy sản,
nơi cư trú, đẻ trứng cho các loài sinh vật biển, chu trình các bon, hấp thu dinh
dưỡng, v.v..
Thông thường, chức năng của vùng ĐNN ven biển được xem xét cả đối với
con người và thiên nhiên, trong khi đó, hàng hóa và dịch vụ ĐNN ven biển chỉ được
xem xét về mặt lợi ích đối với con người.
Bảng 3.2. Mối quan hệ giữa chức năng và hàng hóa, dịch vụ ĐNN ven biển
STT
Chức năng
Hàng hóa, dịch vụ
Sinh khối và năng suất sơ cấp
Nguyên vật liệu (gỗ, củi)
1
2
Sinh khối và năng suất sơ cấp và thứ cấp
Cung cấp thực phẩm (cá, tôm, cua, ngao, v.v..)
Nơi nuôi dưỡng và bảo vệ
3
Chuỗi và lưới thức ăn, định cư và di cư
Điều hòa khí hậu
4
Quang hợp, hô hấp, điều hòa các hợp chất hóa học
Giảm tác động của sóng, gió
Bảo vệ bờ biển, dân sinh ven biển
5
Giữ lại chất dinh dưỡng
6
Tích tụ, tái chu trình các nguyên tố dinh dưỡng
Lọc, giữ lại các chất ô nhiễm
Xử lý chất thải
7
Lưu giữ vốn gen
Đa dạng sinh học
8
Cảnh quan, sinh thái
Du lịch, giải trí
9
Thực tế cho thấy, vùng ĐNN ven biển là nơi cung cấp rất nhiều dịch vụ công
cộng duy trì sự tồn tại của các loài sinh vật trên trái đất nhưng đều bị loài người
quên đi trong các hạch toán kinh tế, mặc dù người ta thấy chúng đều có giá trị
nhưng không ai bỏ tiền ra để duy trì nó cả. Đây chính là một trong những khó khăn
lớn khi nghiên cứu lượng giá giá trị vùng ĐNN ven biển trên thực tê.
3.2. Giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển
Giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển thể hiện ở sự đồng tiến hóa giữa kinh tế và
sự hiểu biết về môi trường tự nhiên của con người. Làm rõ giá trị kinh tế ĐNN ven
biển chính là góp phần tìm ra những giải pháp kinh tế thích hợp để khai thác, sử
36
dụng hợp lý tài nguyên, cũng như bảo tồn các HST tự nhiên tại các vùng ĐNN ven
biển. Điều này có ý nghĩa định hướng trong việc đế xuất các thể chế, hành vi và giải
pháp kinh tê – xã hội bền vững thông qua các nghiên cứu liên ngành giữa tự nhiên
và kinh tế cũng như tương tác của các hệ thống này với nhau.
Thực ra, có rất nhiều loại giá trị, trong đó giá trị kinh tế thường được sử dụng
rất hữu ích trong các lựa chọn về kinh tế. Các lựa chọn này làm cơ sở cho việc tìm
kiếm các giải pháp sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Lịch sử tiến hóa của xã hội loài người gắn liền với các hoạt động kinh tế. Các cuộc
cách mạng kinh tế thường có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Giá trị kinh tế được
sử dụng như thước đo các nền văn minh, các giá trị vật chất và dễ được chấp nhận
trong so sánh và lựa chọn giải pháp.
Gần đây nhất trong dự thảo “Hướng dẫn phân tích chi phí - lợi ích của công
tác bảo tồn ĐDSH tại một số VQG đại diện tiêu biểu cho HST đất ngập nước” do
Viện Khoa học quản lý môi trường, Tổng cục Môi trường xây dựng tháng 10 năm
2011, có đề cập “Giá trị kinh tế đất ngập nước” là toàn bộ các khối lợi ích có thể
mang lại cho các đối tượng sử dụng khác nhau sinh sống ở thế hệ hiện tại hay tương
lai, bao gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.
3.3. Lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển
3.3.1. Lượng giá giá trị kinh tế ĐNN ven biển
Chúng ta có hiểu lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển là nỗ lực nhằm
áp các giá trị định lượng đối với hàng hoá và dịch vụ do các nguồn tài nguyên môi
trường tạo ra, dù có hay không có sẵn giá thị trường. Và theo các nhà kinh tế giá trị
kinh tế của bất kỳ loại hàng hoá và dịch vụ nào nói chung được đo theo nghĩa chúng
ta sẵn lòng trả bao nhiêu cho loại hàng hoá đó, ít hơn giá trị để làm ra nó. Ở nơi mà,
nguồn tài nguyên môi trường đơn giản là tồn tại và cung cấp cho chúng ta các sản
phẩm và dịch vụ không có giá, thì chỉ có giá mà chúng ta mong muốn trả sẽ thể hiện
giá trị của nguồn tài nguyên cung cấp cho chúng ta hàng hoá đó, cho dù trong thực
tế chúng ta có trả tiền hay không.
Lượng giá là dạng bài toán quan trọng trong phân tích kinh tế, nó cung cấp
thông tin quan trọng việc bảo tồn vùng ĐNN. Lượng giá cung cấp một cách thức
định lượng lợi ích mà con người nhận được từ vùng ĐNN, các chi phí liên quan
37
đến sự mất mát của họ, lợi ích tương đối của việc sử dụng đất và tài nguyên phải
xem xét (tương thích) với bảo tồn vùng ĐNN. Việc lượng giá giúp dự báo và hiểu
được các quyết định kinh tế và ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế tới tính nguyên
vẹn và tình trạng vùng ĐNN.
Do sự rộng lớn, đa dạng và thường không rõ ràng về ranh giới của HST, kinh
tế và quản lý vùng ĐNN và do nhiều hàng hóa, dịch vụ ĐNN không bao giờ được
mua, bán trên thị trường nên chúng rất khó khăn để lượng giá. Các lợi ích kinh tế
tạo ra bởi vùng ĐNN, chi phí kinh tế liên quan tới suy thoái, làm biến mất vùng
ĐNN thường xuyên bị bỏ qua bởi chính phủ, các ngành công nghiệp cũng như là
người sử dụng tài nguyên tại vùng ĐNN đó. Cũng như các kết quả trong các quyết
định hay các hoạt động đang được thực hiện có tác động tiêu cực đến vùng ĐNN.
Thiếu sót này có nghĩa là tiềm năng của vùng ĐNN để tạo ra thu nhập, phí sinh hoạt
và các loại ích khác đã được nhấn mạnh trong việc bảo tồn, chính sách phát triển,
quy hoạch và trong thực tế.
Việc tính toán bằng tiền hàng hóa và dịch vụ từ ĐNN nhằm mục đích làm cho
chúng có thể so sánh trực tiếp với các lĩnh vực khác của nền kinh tế khi các hoạt
động được quy hoạch, các chính sách được xây dựng và các quyết định được thực
hiện. Đặc biệt, lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển giúp:
- Chứng minh giá trị to lớn liên quan đến việc bảo tồn ĐNN và nhấn mạnh
rằng ĐNN cung cấp định lượng lợi ích kinh tế đối cá nhân, hộ gia đình, chính phủ,
kinh tế quốc gia và lợi ích toàn cầu.
- Nhấn mạnh chi phí đáng kể phát sinh do suy thoái vùng ĐNN và mất mát về
hiệu quả kinh tế, công bằng, tăng trưởng và chi tiêu công.
- Biện minh cho việc bảo tồn ĐNN là đầu tư có lợi về kinh tế và lựa chọn sử
dụng đất của chính phủ, khu vực tư nhân và cộng đồng địa phương.
- Cải thiện và hợp lý hóa quản lý ĐNN bằng cách tích hợp giữa kinh doanh và
kinh tế liên quan trong các chiến lược bảo tồn;
- Cung cấp các ưu đãi trong cho việc bảo tồn vùng ĐNN bằng cách bảo đảm
đầy đủ lợi ích kinh tế tích lũy từ các vùng ĐNN cho nhóm người có trách nhiệm và
chịu (chi trả) các chí phí cho họ liên quan đến việc bảo tồn
38
- Xác định các nguồn kinh phí và cơ chế tài chính bền vững cho bảo tồn ĐNN
từ cộng đồng, doanh nghiệp, chính phủ và quốc tế.
Thông thường, việc lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển hầu hết tập
trung vào mục đích sử dụng như: gỗ, củi, thủy sản, v.v.. trong khi các giá trị truyền
thống, môi trường mà vùng ĐNN ven biển cung cấp thường bị lãng quên. Một
trong những nguyên nhân là vì những giá trị này thường rất khó tính thành tiền theo
giá thị trường.
Ở các nước phát triển, nhận thức của các nhà quản lý, cán bộ lãnh đạo đạt
được một trình độ hiểu biết cao nên những hàng hóa và dịch vụ không tính được
thành tiền thì sẽ không cần thiết phải đưa vào phân tích. Song cần phải cung cấp
những thông tin cơ bản để những người ra quyết định chọn ra được những giải pháp
quản lý thích hợp nhất, bởi vì những giải pháp quản lý không hợp lý sẽ kéo theo sự
đổ vỡ về kinh tế, sự xuống cấp về môi trường, làm mất đi sinh kế truyền thống của
ngư dân, dẫn đến sự bất ổn về kinh tế, xã hội và chính trị. Trong khi đó, phân tích
thành tiền các giá trị vùng ĐNN ven biển, đặc biệt là các dịch vụ không tính được
thành tiền quan trọng đối với các nền kinh tế đang phát triển, trình độ dân trí và cán
bộ lãnh đạo còn ở mức hạn chế.
3.3.2. Tổng giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển
Hàng hóa và dịch vụ của vùng ĐNN ven biển, một số loại hàng hóa được mua
bán, trao đổi trên thị trường, chúng có một mức giá nhất định và việc xác định giá
trị của chúng là đơn giản. Tuy nhiên, hầu hết các dịch vụ mà vùng ĐNN ven biển
không xác định được giá trên thị trường và thuộc sở hữu chung, tức có thể xem xét
như hàng hoá công cộng thì việc xác định giá trị của chúng dưới dạng tiền tệ sẽ gặp
nhiều khó khăn. Vì vây, để xem xét được một cách đầy đủ các giá trị hàng hóa và
dịch vụ vùng ĐNN ven biển, chúng ta phải nhìn nhận trên góc độ TEV.
Theo tác giả Turner và Adger,1995, TEV vùng ĐNN ven biển, bằng tổng của
giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Việc xét đến các giá trị phi sử dụng có nghĩa
là mặc dù một số dịch vụ của vùng ĐNN ven biển tuy chưa được sử dụng về mặt
kinh tế thì nó vẫn có giá trị. Và việc phân chia các loại giá trị chỉ mang tính chất
tương đối.
39
Vậy TEV: là tổng giá trị quy thành tiền của các giá trị hợp phần của vùng
ĐNN ven biển và được minh họa theo sơ đồ:
Hình 3.1. Sơ đồ TEV
Hay tính toán công thức sau:
TEV = UV + NUV = (DUV + IUV + OV) + EV + BV
Trong đó:
TEV: Tổng giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển
UV: Giá trị sử dụng của vùng ĐNN ven biển
NUV: Giá trị phi sử dụng của vùng ĐNN ven biển
DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp của vùng ĐNN ven biển
IUV : Giá trị sử dụng gián tiêp của vùng ĐNN ven biển
OV: Giá trị lựa chọn trong tương lai của vùng ĐNN ven biển
BV: Giá trị để lại của vùng ĐNN ven biển
EV: Giá trị tồn tại của vùng ĐNN ven biển
- Giá trị sử dụng: là giá trị từ việc sử dụng hiện thời các hàng hóa và dịch vụ
vùng ĐNN ven biển. Giá trị sử dụng bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử
dụng gián tiếp và giá trị lựa chọn.
+) Giá trị sử dụng trực tiếp: là các giá trị từ nguyên liệu hay sản phẩm tự
nhiên, được sử dụng trực tiếp cho sản xuất, tiêu thụ và bán như cung cấp năng
lượng, là nơi trú ẩn, cung cấp thức ăn, củi, gỗ, mật rong, thủy sản (tôm, cua, cá), du
lịch giải trí, giao thông thủy, v.v..
40
+) Giá trị sử dụng gián tiến: là những giá trị có liên quan đến chức năng của
môi trường trong việc hậu thuẫn cho hoạt động kinh tế, hoạt động sống của con
người, bao gồm các lợi ích bảo vệ đê biển, hạn chế gió bão, ngập lụt, v.v..
+) Giá trị lựa chọn: Là những giá trị phụ thuộc vào tính chất môi trường hoặc
đặc thù của HST. Nó bao gồm những lợi ích từ các nguồn tài nguyên phục vụ cho
nhu cầu sử dụng hiện tại của con người.
- Giá trị phi sử dụng: Là những giá trị thường nằm trong tiềm thức của người
đánh giá về nó nhưng lại không có chỗ đứng trên thị trường (không có giá thị trường).
Đây chính là vấn đề phức tạp nhất trong kinh tế học môi trường mà người ta cho rằng
cần phải có những cách đánh giá tích cực để phục vụ cho việc hoạch định chính sách.
Hiện nay các nhà kinh tế học môi trường đã đưa ra quan điểm cho rằng có hai giá trị cơ
bản thuộc nhóm này. Đó là: giá trị để lại (BV) và giá trị tồn tại (EV)
+) Giá trị để lại: Đây là giá trị phụ thuộc vào khả năng đáp ứng dịch vụ sinh
thái hoặc dịch vụ môi trường cho thế hệ tương lai và nằm trong tầm nhận thức của
con người về vấn đề đó.
+) Giá trị tồn tại: là giá trị nội tại của vùng ĐNN, nó chỉ đơn giản là sự tồn tại
HST thì sẽ tạo ra giá trị, ngay cả khi ta chưa bao giờ đến hoặc hy vọng sẽ đến. Đây
là giá trị nằm trong bản thân của sự vật mà con người cho rằng nó không thể mất đi.
Giá trị tồn tại có thể sử dụng trong hiện tại hay tương lai như văn hóa, mỹ thuật, bảo
tồn và hiệu quả kế thừa.
Bảng 3.3. Các thành phần của tổng giá trị kinh tế và một số phương pháp lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển
Tổng giá trị kinh tế
Phương pháp
Lâm sản: gỗ, củi
Giá thị trường
Thủy sản, làm muối
Giá thị trường
Giá thị trường, giá thay thế gián tiếp, hàm năng suất/sản lượng
Mật ong Cói Thuốc chữa bệnh
Giá trị sử dụng trực tiếp
Du lịch và giải trí ven biển, văn hóa, giáo dục
Phương pháp chi phí du lịch, giá theo mức độ hưởng thụ…
Môi trường nhân văn
Giá theo mức độ hưởng thụ, chi phí thay thế…
Chi phí tránh được thiệt hại
Giá trị sử dụng
Làm giảm ảnh hưởng của gió,
41
Tổng giá trị kinh tế
Phương pháp
gián tiếp
bão, nước biển dâng
Lưu giữ và tái chu trình chất thải và ô nhiễm
Giá trị thay đổi theo năng suất
Duy trì đa dạng sinh học
Chi phí định vị lại
Cung cấp môi trường cho các loài chim di trú
Cung cấp nơi nuôi dưỡng
Cung cấp nơi sinh đẻ
Chi phí thay thế
Cung cấp dinh dưỡng
Tái tạo dinh dưỡng
Giá trị lựa chọn
Lượng giá ngẫu nhiên
Giá trị để lại
Lượng giá ngẫu nhiên
Giá trị tồn tại
Lượng giá ngẫu nhiên
3.4. Phân tích chi phí - lợi ích
Trên đây chúng ta mới chỉ đưa ra cách xác định các giá trị kinh tế của vùng
ĐNN ven biển, giá trị này có thể do tự nhiên mang lại hoặc do một hoạt động hay
việc thực hiện một dự án tại vùng ĐNN ven biển đó mang lại. Song lợi ích đem lại
của hoạt động này chưa chắc đã hiệu quả. Do đó, để thấy rõ được các giá trị về mặt
kinh tế của vùng ĐNN ven biển người ta phải sử dụng các công cụ phân tích kinh
tế. Một trong các công cụ hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý đó là
phân tích chí phí - lợi ích
Phân tích chi phí - lợi ích là một công cụ phân tích hiệu quả kinh tế trong các
quá trình ra quyết định thực hiện chính sách có tính kinh tế-xã hội. Nó tính toán giá
trị hiện thời của các chi phí - lợi ích ròng giúp cho việc ra quyết định có thể mang
lại lợi ích lớn nhất với chi phí thấp nhất. Trong một số trường hợp, nó cũng có thể
chỉ ra sự mất cân đối trong phân bố chi phí lợi ích giữa các nhóm xã hội. Phân tích
chi phí lợi ích cung cấp thông tin rất hữu ích cho quá trình ra quyết định về chính
sách. Tuy nhiên, nó chỉ đề cập đến vấn đề kinh tế, còn những vấn đề khác như đạo
đức, sự tham gia của cộng đồng hay trong các quyết định về văn hóa xã hội, sự công
bằng hay sự bền vững thì ít khi được sử dụng.
Việc phân tích chi phí lợi ích các dự án hay chính sách thường dựa trên công
thức sau:
42
NPV = ∑ (Bt – Ct)/(1+rt)
Trong đó:
NPV: Giá trị hiện thời
Bt: Lợi ích tại thời điểm t
Ct: Chi phí tại thời điểm t
r: Tỷ lệ chiết khấu
t: Thời đoạn
Giá trị hiện thời (NPV) trong trường hợp này là tổng các giá trị hiện thời mỗi
thời điểm. Dự án được chấp nhận khi NPV >0 và ngược lại sẽ bị bác bỏ.
Trong phân tích chi phí - lợi ích có 2 dạng là phân tích tài chính và phân tích
kinh tế. Phân tích tài chính dựa trên quan điểm của nhà đầu tư, còn phân tích kinh tế
dựa trên quan điểm xã hội, tính tới cả chi phí và lợi ích đối với tài nguyên và môi
trường.
Đối với các dự án khôi phục và bảo tồn vùng ĐNN ven biển, lợi ích được biểu
hiện bằng tổng giá trị kinh tế, bao gồm: giá trị sử dụng và các giá trị phi sử dụng.
Đó là các loại giá trị: giá trị sử dụng trực tiếp; giá trị sử dụng gián tiếp; giá trị sử
dụng lựa chọn trong tương lai và giá trị tồn tại. Thời gian phân tích tối thiểu là 25
năm. Các tỉ lệ chiết khấu được tính trên sự tham khảo các thông số quốc gia công bố
về tỉ kệ tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng dân số, tỉ lệ lạm phát, lãi suất tiết kiệm và tỉ lệ
thay đổi công nghệ trong tương lai, v.v.. Thông thường, các tỉ lệ này có thể là 1,2,3
,5và 10%.
3.5. Các chỉ số lợi ích HST vùng ĐNN ven biển
Trong thực tế, tiền không phải là công cụ duy nhất để lượng giá giá trị kinh tế.
Các công trình nghiên cứu gần đây đã đề xuất một hệ thống các chỉ số về lợi ích
HST, điều này sẽ phù hợp để cán bộ lãnh đạo và quản lý có thể dựa vào đó sắp xếp
ưu tiên lợi ích môi trường trên một đồng vốn bỏ ra. Công cụ lượng giá dựa trên chỉ
số này ít tốn kém và dễ sử dụng. Trong một số quyết định quan trọng về bảo tồn các
loài sinh vật quý hiếm, sức khỏe cho con người, v.v.. vấn đề lợi ích kinh tế cần phải
xếp sau lợi ích về mặt môi trường và bảo tồn. Tuy nhiên, ngay trong những trường
43
hợp này thì các nhà hoạch định chính sách vẫn phải đắn đo xem xét các giải pháp
trên cơ sở phân tích kinh tế.
Hệ thống các chỉ số lợi ích HST vùng ĐNN ven biển, được xây dựng dựa trên
các thông tin về vùng ĐNN đó, bao gồm:
- Các loại bản đồ cơ sở và chuyên đề về vùng ĐNN, loại đất, chế độ thủy văn,
địa hình, địa chất, sinh vật, các loài quý hiếm, hiện trạng khai thác sử dụng vùng
ĐNN, ô nhiễm, v.v..;
- Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, trong đó chú trọng đến dự báo
phát triển và rủi ro do các quy hoạch đó gây ra đối với vùng ĐNN ven biển và vùng
xung quanh;
- Hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế thực hiện các quyền sở hữu đất, giá
trị tài sản, thuế, phân vùng quy hoạch phát triển, vùng bảo tồn nghiêm ngặt, vùng có
thể khai thác kết hợp với bảo tồn;
- Các kết quả khảo sát, đánh giá du lịch sinh thái, tỷ lệ tham gia, mức sẵn lòng
chi trả, v.v..
Tuy nhiên, mọi người đều công nhận kể cả việc lượng giá thành tiền hay sử
dụng các chỉ số lợi ích thì đều không đủ để nói lên hết giá trị của HST, bởi vì con
người với các hoạt động kinh tế không thể biết tương lai của họ. Sự vô cảm, thiếu
hiểu biết và sự quản lý yếu kém đều tác động tới các quá trình và cấu trúc HST.
Ngoài các giá trị kinh tế, các HST tự nhiên còn có những giá trị thẩm mỹ, đạo đức
và văn hóa. Những giá trị này không thể đo được bằng cách tiếp cận truyền thống.
Chúng thường không được phản ánh trong một phép cộng đơn giản các giá trị hay
chỉ số.
3.6. Các phương pháp lượng giá kinh tế ĐNN ven biển
Ứng với mỗi giá trị trong TEV của vùng ĐNN ven biển, ta có các phương
pháp lượng giá cụ thể ứng với từng giá trị kinh tế của vùng ĐNN ven biển . Các
phương pháp này được phân thành 2 nhóm sau:
- Phương pháp lượng giá có sử dụng đường cầu
- Phương pháp lượng giá không sử dụng đường cầu
44
3.6.1. Các phương pháp lượng giá có sử dụng đường cầu
Đây là phương pháp dựa trên cơ sở những nghiên cứu và nền tảng của kinh
tế học vận dụng vào lượng giá giá trị của hàng hoá môi trường trong việc xây dựng
mô hình của hàm cầu. Mô hình này là cơ sở để chúng ta tính toán lợi ích và giá trị
phúc lợi của tiêu dùng. Do đó, các phương pháp trong nhóm này phải xây dựng cho
được hàm cầu hay hàm lợi ích. Nghĩa là người ta phải xây dựng cho được giá trị lợi
ích của môi trường mang lại. Đó là cơ sở xem xét, đánh giá, hoạch định chính sách
về mặt kinh tế như thế nào là phù hợp với giá trị của chất lượng môi trường.
Cụ thể trong nhóm này có các phương pháp sau:
- Phương pháp giá thị trường
- Phương pháp hàm sản xuất
- Phương pháp giá theo mức độ hưởng thụ - HPM
- Phương pháp chi phí du lịch - TCM
- Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên - CVM
3.6.1.1. Phương pháp giá thị trường
Cách đơn giản nhất để xác định giá trị hàng hóa của vùng ĐNN là xem xét giá
thị trường của chúng. Đó là những gì mà ta mất tiền để mua chúng hoặc chúng có
đáng giá để bán. Giá thị trường phản ánh giá mà người ta sẵn sàng chi trả cho các
sản phẩm vùng ĐNN, giá trị mà họ đặt cho chúng.
Vùng ĐNN ven biển cung cấp nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cho con người,
giá trị của một số hàng hóa mà nó cung cấp, chẳng hạn như mật ong, cói, thủy sản,
v.v.. có thể đo được bằng cách sử dụng giá thị trường tức giá bán trên thị trường.
Giá trị của nó chính là tổng lợi ích kinh tế thực hay thặng dư kinh tế và được tính
bằng tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất. Trong đó, thặng dư tiêu dùng
bằng số tiền cao nhất mà người ta muốn trả trừ đi số tiền trả thực tế và thặng dư sản
xuất là tổng số tiền bán được trừ đi tổng chi phí trong quá trình sản xuất. Ngoài ra,
các giá trị dịch vụ do vùng ĐNN ven biển đem lại, như hấp thu chất thải làm sạch
nguồn nước, tăng năng suất thủy hải sản, v.v.. được xác định thông qua lợi ích từ
sản phẩm cuối cùng. Các dịch vụ như cảnh đẹp, nguồn cảm hứng cho sáng tác, nghệ
thuật, đạo đức, v.v.. thì không thể bán trên thị trường. Tuy nhiên, giá cả mà con
45
người muốn trả hoặc mức độ sẵn lòng chi trả cho các dịch vụ này có thể đưa vào
lượng giá. Chẳng hạn như người ta thường trả giá cao hơn cho những ngôi nhà có
cảnh đẹp, có thể quan sát chim, đi câu cá, v.v.. Các loại chi phí này có thể sử dụng
để thay thế những giá trị thường bị bỏ qua hoặc đánh giá thấp hơn đối với vẻ đẹp
cảnh quan và du lịch.
Phương pháp giá thị trường phản ánh mức độ sẵn lòng chi trả được biểu thị cụ
thể trên giá cả hàng hóa và dịch vụ được mua bán trên thị trường. Các số liệu về giá
cả, số lượng, sở thích, chi phí đều có thể dễ dàng thu thập và thường được các nhà
kinh tế sử dụng trong lượng giá kinh tế. Thu thập dữ liệu về giá thị trường, mua và
bán hàng hóa là cách rất tốt trong việc định lượng giá trị hàng hóa của vùng ĐNN,
những hàng hóa này có thể được mua, bán dễ dàng. Ví dụ như cá, tôm, cua, ngao tất
cả thông thường được bán ở các chợ địa phương. Đồ thủ công mỹ nghệ như thảm,
giỏ làm từ cỏ biển thường có một thị trường tại các trung tâm đô thị và cửa hàng
bán lẻ. Giá của tất cả các sản phẩm này có thể dùng để tính toán thu nhập tích lũy từ
việc bán các hàng hóa của vùng ĐNN cũng như áp dụng đối với hàng hóa hộ gia
đình vì chúng đại diện thu nhập tiềm năng từ việc sử dụng vùng ĐNN.
Giá thị trường, nơi mà chúng tồn tại được chắc chắn là một cách hữu ích để
định lượng giá trị kinh tế. Tuy nhiên, một số hàng hóa chỉ sử dụng cho mục đích
sinh hoạt và không bao giờ bán. Trong một số trường hợp khác thì giá có thể bị bóp
méo bởi thuế, trợ cấp, độc quyền hay nhiều sự can thiệp vào thị trường làm cho nó
không phản ánh đúng giá trị thực sản phẩm của vùng ĐNN. Phương pháp này chỉ
nên áp dụng hạn chế cho một số loại hàng hóa dịch vụ do chức năng HST mang lại.
Nó không phản ánh giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ do giá cả trên thị trường
còn tùy thuộc vào mùa vụ, chính sách xuất, nhập khẩu, cũng như các nhân tố khác.
Nơi mà thị trường không tồn tại cho các sản phẩm của vùng ĐNN, hay thị
trường bị bóp méo, cần thiết phải tìm ra phương pháp thay thế để lượng giá.
3.6.1.2. Phương pháp hàm sản xuất
Hàm sản xuất là một hàm số biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu
tố đầu vào (vốn, lao đông, tài nguyên) của sản xuất. Tài nguyên hay cụ thể là hàng
hóa và dịch vụ vùng ĐNN ven biển cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất. Chẳng
hạn như việc khôi phục và bảo vệ RNM ven biển sẽ góp phần tăng thêm nguồn lợi
46
thủy sản. Như vậy, lợi ích kinh tế của việc khôi phục và bảo vệ RNM ven biển sẽ
được đo bằng phần năng suất, sản lượng các loài thủy sản tăng thêm trong cũng như
ngoài vùng RNM. Cụ thể trong trường hợp RNM được trồng mới và khôi phục tại
các tỉnh ven sông Hồng, để giúp các nhà quản lý biết lợi ích kinh tế của các dự án
này về mặt nguồn lợi thủy hải sản, phương pháp hàm sản xuất được áp dụng trong
trường hợp này vì RNM là nơi trú ẩn, cư trú và sinh sản của các loài sinh vật như
cá, tôm, cua, v.v.. Đặc biệt, các thực vật RNM là sinh vật sản xuất trong chuỗi và
lưới thức ăn của HST, tác động trực tiếp đến năng suất nguồn lợi thủy sản ven biển.
Thực tế cho thấy sau khi RNM được trồng và khôi phục ở VVB huyện Giao Thủy,
tỉnh Nam Định thì số lượng con giống thủy sản, đặc biệt là cua con tăng lên một
cách rõ rệt. Nhự vậy, lợi ích từ nguồn thủy hải sản tăng lên liên quan tới trồng
RNM, về mặt kinh tế đó là sự giảm chi phí đầu vào của quá trình sản xuất loại hàng
hóa là các loài thủy hải sản.
Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, đòi hỏi sự phối hợp giữa các nhà
sinh thái học và kinh tế học và các số liệu thu thập phải phản ánh được những thay
đổi về chất lượng và số lượng nguồn nguyên liệu từ tài nguyên thiên nhiên bao gồm
các chi phí sản xuất cho hàng hóa cuối cùng; cung cầu đối với hàng hóa cuối cùng;
cung cầu đối với các nhân tố khác của quá trình sản xuất. Các thông tin này được
sử dụng liên quan tới tác động của những thay đổi số và chất lượng dẫn đến những
thay đổi về thặng dư sản xuất hoặc tiêu dùng, từ đó đánh giá được lợi ích kinh tế.
Phương pháp này có ưu điểm là khá đơn giản, dễ hiểu, kết quả tính toán đảm
bảo được độ chính xác. Nó có thể đưa ra những so sánh dễ nhìn thấy rõ ràng giữa
những tính toán kinh tế có tính tới yếu tố môi trường và những tính toán không tính
tới yếu tố môi trường giúp các nhà hoạch định chính sách có những lựa chọn phù
hợp. Tuy nhiên để lượng giá 1 số yếu tố thì không hề đơn giản và nếu tính cả những
thay đổi của nguồn tài nguyên thiên nhiên tác động lên giá thị trường của các loại
hàng hóa cuối cùng hoặc giá đầu vào thì việc tính toán sẽ trở nên vô cùng phức tạp.
Do đó, phương pháp này chỉ sử dụng thích hợp với những loại hàng hóa và dịch vụ
làm đầu vào cho các quá trình sản xuất. Trên thực tế, khi lượng giá vùng ĐNN ven
biển không phải tất cả các dịch vụ đều liên quan tới năng suất của các loại hàng hóa
được mua bán trên thị trường.
47
3.6.1.3. Phương pháp giá theo mức độ hưởng thụ - HPM
HPM dựa trên cơ sở sự hưởng thụ của con người do dịch vụ môi trường mang
lại. Phương pháp giá này được sử dụng để lượng giá những tiện nghi, sự thoải mái
mà môi trường mang lại (cảnh quan đẹp, gần các khu du lịch, giải trí, v.v..), đặc biệt
trong lĩnh vực bất động sản. Ngoài ra, nó còn sử dụng để đánh giá các chi phí liên
quan đến chất lượng môi trường (ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, tiếng ồn). Ta
có thể lấy ví dụ, nếu 2 ngôi nhà có diện tích, cơ sở hạ tầng và khoảng cách đến
trung tâm là như nhau nhưng ngôi nhà thứ nhất được đặt tại ví trí có cảnh quan đẹp
và chất lượng môi trường tốt hơn ngôi nhà thứ nhất thì giá trị ngôi nhà thứ nhất sẽ
lớn hơn giá trị của ngôi nhà thứ hai. Phần giá trị lớn hơn này chính là giá trị về cảnh
quan, chất lượng môi trường.
Giá của các loại hàng hóa thị trường đi liền với những đặc tính và dịch vụ mà
nó cung cấp. Do vậy, để biết được những lợi ích của dự án bảo tồn môi trường ở
một khu đô thị vốn chật chội và ô nhiễm. Phương pháp giá theo mức độ hưởng thụ
được áp dụng trong trường hợp này vì giá nhà ở khu vực sẽ liên quan trực tiếp với
dự án và các số liệu về mua bán bất động sản có thể dễ dàng thu thập. Trong trường
hợp này người ta có thể sử dụng các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và một số
phương pháp khác. Tuy nhiên, những phương pháp đó khó áp dụng và tốn kém.
Ưu điểm của phương pháp này là dễ chấp nhận về mặt thực tiễn, rất thuận lợi
trong việc thu thập số liệu, các kết quả nghiên cứu để thể hiện rõ mối tương quan
giữa hàng hóa với chất lượng môi trường. Song nó chỉ sử dụng được ở những nơi
xác định được giá cả hàng hoá môi trường. Trong những trường hợp người nghèo,
họ chỉ cần một ngôi nhà để ở mà không cần quan tâm đến những yếu tố khác thì
những đặc tính môi trường không được phản ánh trong giá bất động sản.
3.6.1.4. Phương pháp chi phí du lịch - TCM
Phương pháp TCM được sử dụng để lượng giá giá trị dịch vụ du lịch - giải chí
tại vùng ĐNN ven biển, trong đó các phân tích chi phí lợi ích dựa trên các yếu tố:
chi phí đi lại, chi phí phòng ngủ, ăn uống, giá vé vào của, diện tích và chất lượng
môi trường khu vui chơi giải trí, du lịch. Cơ sở của phương pháp này là thời gian và
chi phí mà chúng ta đến du lịch ở một địa điểm nào đó. Như vậy, mức độ sẵn lòng
chi trả của du khách đến thăm một địa điểm có thể được xác định bằng số lần với
các chi phí du lịch khác.
48
Mỗi cá nhân đến du lịch tại một địa điểm nào đó phải chịu một chi phí nhất
định. Các cá nhân khác nhau du lịch đến một địa điểm phải chịu những chi phí du
lịch khác nhau. TCM ước lượng giá trị của một điểm du lịch dựa trên phản hồi của
khách du lịch với những chi phí khác nhau. Hàm ước lượng:
Y = f(X1, X2, X3, X4, X5)
Y: Cầu du lịch
X1: Chi phí du hành
X2: thu nhập
X3: đặc điểm của địa điểm du lịch
X4: chi phí du lịch đến địa điểm thay thế
X5: đặc điểm kinh tế xã hội của khác du lịch
Áp dụng cách tiếp cận TCM cá nhân
Tiếp cận TCM cá nhân chủ yếu dựa trên phỏng vấn du khách. Cũng giống như
đối với việc thu thập số liệu theo vùng, số liệu thu thập phỏng vấn du khách được
đưa vào phân tích thống kê và mang lại kết quả khá chính xác. Những thông tin
khảo sát du khách bao gồm: nơi ở, khoảng cách tới nơi du lịch, số lần du lịch nơi
này trong năm qua, thời gian đi lại, thời gian ở lại khu du lịch, chi phí, thu nhập
hoặc giá trị của thời gian, những nơi khác mà khách du lịch cũng đến trong cùng
chuyến du lịch và thời gian cho mỗi địa điểm, mục đích chuyến đi ( chỉ đi du lịch
hay kết hợp mục đích khác) và các đặc trưng kinh tế xã hội khác của du khách, nhận
thức về chất lượng môi trường và chất lượng điểm du lịch, điểm du lịch dự phòng
mà du khách có thể đến thay cho địa điểm này, v.v..
Số liệu khảo sát trên được sử dụng đưa vào phân tích hồi qui tuyến tính mối
quan hệ giữa số lần du lịch, chi phí du lịch và các biến khác. Mô hình hồi qui cho ta
đường cầu về du khách trung bình tới khu du lịch và phần dưới đường cầu cho ta
thặng dư tiêu dùng trung bình. Nếu ta nhân giá trị này với tổng số dân nơi du khách
từ đó đến ta sẽ có tổng thặng dư tiêu dùng cho vùng này.
Nhờ có các số liệu bổ xung khác về du khách kể các địa điểm thay thế, chất
lượng điểm du lịch được thu thập nên việc số lượng giá sẽ được tinh chỉnh bằng
49
cách thêm các nhân tố khác vào mô hình thống kê. Nhờ thông tin về chất lượng
điểm du lịch, giá trị dịch vụ và các thông tin khác, có thể đánh giá chất lượng khu
du lịch. Để làm được điều này cần vẽ 2 đường cầu cho mỗi mức độ chất lượng.
Diện tích nằm giữa 2 đường cầu biểu thị sự thay đổi thặng dư tiêu dùng khi chất
lượng khu du lịch thay đổi.
Tóm lại, TCM được sử dụng để lượng giá lợi ích về mặt du lịch – giải trí mà
vùng ĐNN ven biển đem lại, với các số liệu cần thu thập bao gồm: số người và số tiền
sẵn lòng chi trả để đến du lịch tại đó. Cơ sở của phương pháp TCM là chi phí thời gian
và đi lại tức là mức độ sẵn lòng chi trả có thể được đánh giá dựa trên số lần du lịch và
các chi phí khác nhau của du khách. Gần đây, phương pháp này được mô hình hóa dựa
trên những kỹ thuật kinh tế chuẩn về lượng giá bằng việc sử dụng thông tin và hành vi
thông thường chứ không phải cách trả lời phỏng đoán dựa trên các kịch bản giả định.
Đây cũng là phương pháp khá đơn giản, ít tốn kém và dễ áp dụng.
Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp TCM, ta phải giả định rằng các du
khách đến địa điểm du lịch với chỉ một mục đích. Đối với những trường hợp du
khách có từ 2 mục đích trở lên thì công việc lượng giá sẽ rất phức tạp trong việc
lượng giá cho từng mục đích một. Mặt khác, thời gian đi du lịch có thể được sử
dụng theo nhiều cách và thời gian của du khách đến khu du lịch được xem là “ chi
phí cơ hộ”. Nếu du khách là một người thích đi du lịch thì thời gian đi du lịch trở
thành lợi ích chứ không phải là chi phí, và một số hạn chế khác.
3.6.1.5. Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên - CVM
CVM là một cách tốt để lượng giá những sản phẩm vùng ĐNN ven biển mà
không có giá thị trường, không được tiêu thụ trực tiếp, có giá trị văn hóa lớn hay
truyền thống ngoài việc sử dụng thực tế. Chúng cũng hữu ích trong trường hợp cả
khi giá thị trường tồn tại, nó khó có thể dùng để ước tính lượng tiêu thụ hàng hóa
của vùng ĐNN.
Đối với hàng hóa vùng ĐNN không có thị trường, người ta đặt một giá trị cho
chúng. Giá trị này sẽ đồng thời phản ánh các thuộc tính khác nhau của sản phẩm
vùng ĐNN bao gồm cả giá trị tiêu thụ của chúng, hiệu quả về mặt xã hội và giá trị
truyền thống. CVM trở thành một trong những kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất
được sử dụng để định lượng các lợi ích môi trường mà không có thị trường và có
50
giá trị đồng thời kết hợp với nhiều thành phần. Chúng cũng là một trong những
phương pháp duy nhất có thể được sử dụng để dự tính các giá trị lựa chọn và giá trị
tồn tại liên quan đến vùng ĐNN ven biển.
CVM không dựa trên quan sát hành vi của thị trường hoặc giá cả mà mà thay
vì suy luận giá trị người ta đặt vào hàng hóa vùng ĐNN bằng cách hỏi các câu hỏi
trực tiếp. Họ thiết lập một kịch bản giả định mà các sản phẩm có thể được mua hoặc
bán với mức giá gợi ý, bao nhiêu người sẽ sẵn sàng trả tiền để sử dụng hoặc tiêu thụ
sản phẩm đó hoặc bồi thường bao nhiêu họ sẽ sẵn sàng chấp nhận cho sự mất mát
của cho việc sử dụng của họ. Họ đặt câu hỏi như “có bao nhiêu người sẵn sằng trả
tiền cho một bó cỏ lợp”, hay bồi thường bao nhiêu họ sẽ sẵn sàng chấp nhận mất
quyền sở hữu đầm nuôi trồng thủy sản X”.
CVM là một phương pháp trực tiếp để ước lượng mức sẵn lòng chi trả. CVM dựa
trên ý tưởng đơn giản là nếu bạn muốn biết giá sẵn lòng chi trả của một người cho tính
chất nào đó của môi trường, bạn hãy đơn giản hỏi họ. Nói “đơn giản” nhưng cuối cùng
sẽ thấy nó trở nên chẳng đơn giản chút nào mặc dù ý tưởng ban đầu dường như rất rõ
ràng. Phương pháp gọi là “lượng giá ngẫu nhiên” bởi vì nó cố làm người được hỏi nói
họ hành động thế nào nếu họ được đặt trong một tình huống giả định. Nếu hàng hoá
chúng ta đang xem xét là hàng hoá thị trường chúng ta chỉ cần quan sát hành vi của con
người trên thị trường. Nhưng khi hàng hoá không có thị trường, chẳng hạn đặc tính
chất lượng môi trường, chúng ta chỉ có cách là hỏi họ chọn như thế nào nếu được đặt
trong một tình huống nhất định, nghĩa là nếu họ được giả định phải quyết định trong thị
trường các đặc tính chất lượng môi trường đó.
Khi nhận thức được nâng cao thì người ta càng sẵn lòng chi trả cho lợi ích môi
trường dù đó là giá trị sử dụng bị động hoặc chi phí sử dụng mà thông thường
chúng ta thường bị lãng quên trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, mỗi người sẵn
lòng chi trả bao nhiêu tiền còn tùy thuộc vào cách ứng xử, hành vi của họ. Do đó,
một số người cho rằng kết quả của phương pháp CVM chưa thật chính xác. Thực ra
làm sao có thể lượng giá chính xác được khi mà các kết quả nghiên cứu tùy thuộc
vào quá nhiều yếu tố, đặc biệt là các yếu tố tâm lý, trình độ nhận thức và văn hóa.
Giả sử, một Khu RNM là môi trường cho một số loài sinh vật quý hiếm nhưng
lại có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản, người ta phải so sánh giá trị của việc nuôi
51
trồng thủy sản với lợi ích môi trường cho các loài sinh vật hoang dã. Thông thường
những vùng như thế này nằm ở nơi xa xôi hẻo lánh nên rất ít người tới tham quan.
Bởi vậy, giá trị phi sử dụng là phần lớn nhất trong giá trị kinh tế của vùng. Nếu sử
dụng TCM thì lợi ích bảo tồn sẽ bị đánh giá thấp do rất ít khách du lịch tới đây.
Phương pháp CVM được chọn để áp dụng trong trường hợp này vì tầm quan trọng
của giá trị phi sử dụng và mức độ ý nghĩa của chúng.
Trong trường hợp lượng giá các dịch vụ HST ở một vùng, địa điểm nhất
định, đầu tiên phải xác định chính xác các loại dịch vụ cần lượng giá và ai là những
người sẽ được hỏi, chẳng hạn như đối với những dự án bảo vệ môi trường cho các
loại sinh vật hoang dã do nhà nước quản lý thì các cán bộ chỉ đạo, quản lý, các cơ
sở kinh doanh, các hiệp hội, người dân đều được phỏng vấn. Quá trình khảo sát,
phỏng vấn có thể thực hiện dưới nhiều hình thức như gọi điện thoại, gửi thư, e-mail,
v.v.. Tuy nhiên, cách tiếp cận phỏng vấn có sự tham gia của người được phỏng vấn
sẽ mang lại hiệu quả cao, nhất là đối với những câu hỏi phức tạp đòi hỏi sự hiểu
biết, lý giải nhất định. Trong một số trường hợp phải sử dụng các phương tiện nghe
nhìn, tranh ảnh màu để mọi người hiểu được các kịch bản trước khi đánh giá giá trị
của chúng.
Thông thường, các câu hỏi phỏng vấn khảo sát phải được thiết kế chi tiết, từ
dễ đến khó, từ hiểu biết đến lượng giá. Các thông tin cơ bản về HST và dịch vụ
HST, các kịch bản và kiến thức cơ bản về lượng giá, v.v.. cần được cung cấp đầy
đủ. Trong nghiên cứu, chúng ta có thể đưa ra các giải pháp thay thế để tính toán,
như đối với trường hợp phá rừng nguyên sinh làm đồn điền cao su, hồ tiêu, khai
thác mỏ, phá RNM làm đầm tôm, v.v..
Hình 3.2. Phỏng vấn người dân tại xã Nam Phú – Tiền Hải
52
Khi tiến hành khảo sát cần chọn mẫu ngẫu nhiên và chuẩn để xử lý thống kê.
Trong quá trình xử lý số liệu cần phân loại cụ thể các câu trả lời cho từng câu hỏi kể
cả những người không trả lời hoặc có câu trả lời không hợp lý. Các kết quả thu
được phải được phân tích thống kê theo số người được hỏi hoặc theo hộ gia đình,
sau đó tính trên tổng dân số trong vùng để tính toán tổng lợi ích.
Nhìn chung, việc áp dụng CVM là một quá trính phức tạp, tốn kém và lâu dài,
chất lượng số liệu phụ thuộc vào nhiều giai đoạn, các câu trả lời phải tập trung vào
những vấn đề môi trường cụ thể, ở một địa điểm cụ thể, kết quả khá nhạy cảm vì
phụ thuộc vào những con người cụ thể được phỏng vấn. Các nhân tố cơ bản tác
động lên quá trình thiết kế các câu hỏi định giá hàng hóa và dịch vụ, khả năng thay
thế và khả năng đảo ngược tình thế, v.v.. số lượng người chịu ảnh hưởng của các
dịch vụ này để chọn mẫu thích hợp; các kịch bản cần xây dựng dựa trên những dự
báo về sự thay đổi dịch vụ môi trường liên quan đến các chương trình, dự án, đầu
tư, chính sách của chính phủ, v.v.. từ các kênh thông tin (tranh ảnh màu, video, tờ
rơi..); các câu hỏi cần được phân ra nhiều dạng (các câu hỏi mở, đóng, lựa chọn
phương án tối ưu, v.v..). Thực chất các câu trả lời phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu
nhập của họ, ý thức trách nhiệm, tính cộng đồng và việc cung cấp những thông tin
cơ bản cho họ trước khi lượng giá từng trường hợp.
Có thể nói, phương pháp CVM rất mềm dẻo khi lượng giá kinh tế những giá
trị ảo. Tuy nhiên, nếu người được hỏi có kiến thức và phân biệt được các dịch vụ
mà vùng ĐNN ven biển đem lại thì kết quả khảo sát sẽ rất khả quan. Phương pháp
CVM được sử dụng rất nhiều trong lượng giá tổng giá trị kinh tế bao gồm các loại
giá trị phi sử dụng hoặc giá trị sử dụng bị động. Nó còn được sử dụng trong lượng
giá những giá trị sử dụng cũng như giá trị tồn tại, giá trị lựa chọn và giá trị để lại
cho đời sau, v.v.. Mặc dù kỹ thuật khảo sát, phỏng vấn phức tạp đòi hỏi cán bộ
phỏng vấn phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực HST, hàng hóa và dịch vụ, số
liệu thu thập được phân tích khá đơn giản và dễ hiểu. Phương pháp này được sử
dụng rộng rãi trong khá nhiều các công trình nghiên cứu trong suốt hai thập kỷ qua.
Một khó khăn lớn mà chúng ta phải vượt qua là trong thực tế khi con người
lựa chọn mua một loại hàng hóa nào đó thì quyết định đó phản ánh sự sẵn lòng chi
trả thực sự của họ, nhưng khi ta yêu cầu người đó lượng giá về một dịch vụ mà
vùng ĐNN ven biển đem lại thì họ thường không quen làm việc này nên không biết
53
cách làm hoặc đặt giá không đúng thực tế. Mặt khác cũng sẽ có sự khác nhau khá
lớn giữa số tiền thực tế người ta phải trả để mua một loại hàng hóa nào đó với số
tiền mà họ chỉ sẵn lòng chi trả trên lời nói.
3.6.2. Các phương pháp lượng giá không sử dụng đường cầu
Đây là các phương pháp dựa trên cơ sở các cách tiếp cận không đòi hỏi phải
sử dụng hàm cầu. Nghĩa là việc xác định tổng lợi ích không cần phải xem xét miền
giới hạn cho bởi hàm cầu. Về cơ bản có các phương pháp sau:
- Phương pháp giá của hàng hóa thay thế
- Các phương pháp chi phí thay thế, chi phí hoán đổi và chi phí thiệt hại tránh được
- Phương pháp chuyển giao lợi ích
- Phương pháp liều lượng đáp ứng
- Phương pháp chi phí cơ hội
3.6.2.1. Phương pháp giá của hàng hóa thay thế
Ngay cả khi sản phẩm vùng ĐNN ven biển không có thị trường trực tiếp,
chúng thường có sản phẩm thay thế tương tự mà sản phẩm này thì có thể mua hoặc
bán được. Chẳng hạn thực phẩm tự nhiên thường không sẵn có để sử dụng, con
người có thể đáp ứng nhu cầu của mình bằng cách mua các sản phẩm thay thế, ví dụ
dầu hỏa có thể là sản phẩm thay thế cho củi đốt, tấm lợp bằng thép có thể thay thế
cho lập mái nhà bằng cỏ biển, vận tải bằng đường bộ có thể thay thế cho vận tải
bằng đường thủy.
Giá của các hàng hóa thay thế này phản ánh đại diện cho những gì mà nó sẽ
chi phí để mua các hàng hóa thay thế tốt nhất nếu như sản phẩm vùng ĐNN ven
biển không có sẵn. Chúng có thể được sử dụng để đại diện cho giá trị của hàng hóa
vùng ĐNN ven biển bởi vì chúng phản ánh số tiền mà chúng có giá trị về mặt chi
phí bảo lưu.
Một ví dụ là nhiều hộ gia đình ở Tây Kisoorooza sử dụng cây Thảo Chỉ cho
nhiều mục đích khác nhau như: xây dựng nhà ở, dệt thảm, giỏ và làm củi đốt. Và do
chúng không có giá thị trường nên giá trị của chúng thường được tính toán bằng
cách xem xét giá của thị trường thay thế hoặc các sản phẩm thay thế.
54
Bảng 3.4. Sử dụng giá thị trường của các hàng hóa thay thế để lượng giá giá trị sử dụng cây Thảo Chỉ ở quận Bushenyi, Uganda
Mục
Số hộ gđ
Hàng hóa thay thế
Tổng giá trị (US$)
Giá trị/hộ gđ (US$)
Mái nhà bằng cỏ Gạch
7.283
21
152.950
Trần nhà bằng cỏ Ván gỗ
6.250
15
93.750
Thảm cỏ
Thảm cao su
16.800
20
336.000
Giỏ
Chậu
10.000
40
400.000
Nhiên liệu
Củi đốt
26.000
40
1.040.000
TỔNG
2.022.700
Nguồn: Adapted from Nsingwire, S., 1995, A Monetary Estimate of the Human Uses of Papyrus, Nation Wetland Programe
3.6.2.2. Các phương pháp chi phí thay thế, chi phí hoán đổi và chi phí thiệt hại tránh được
Các phương pháp chi phí thiệt hại tránh được, chi phí hoán đổi và chi phí thay thế
được sử dụng để lượng giá các dịch vụ ĐNN ven biển dựa trên hoặc chi phí tránh được
thiệt hại do mất dịch vụ, chi phí hoán đổi dịch vụ ĐNN ven biển hoặc chi phí cung cấp
dịch vụ thay thế. Các phương pháp này không đo đạc khắt khe các giá trị kinh tế mà nó
dựa trên mức độ sẵn lòng chi trả cho một loại hàng hóa hoặc dịch vụ. Điểm cốt lõi của
các phương pháp này là lượng giá những chi phí thiệt hại tránh được do mất các dịch
vụ của vùng ĐNN ven biển hoặc thay thế chúng. Những chi phí thiệt hại tránh được đó
chính là giá trị của các dịch vụ từ vùng ĐNN ven biển.
Các phương pháp này còn được gọi là các phương pháp dựa trên phân tích chi
phí. Nó được áp dụng trong các trường hợp như: lượng giá chất lượng nước được
cải thiện thông qua phân tích chi phí hạn chế ô nhiễm; lượng giá dịch vụ chống xói
mòn, xói lở của một khu rừng; lượng giá dịch vụ làm sạch nguồn nước mà vùng
ĐNN mang lại bằng cách tính chi phí lọc và xử lý nguồn nước bằng hóa chất; lượng
giá dịch vụ bảo vệ đê biển của các HST RNM, san hô và cỏ biển bằng cách tính chi
phí xây dựng các tuyến đê kiên cố, lượng giá dịch vụ nơi nuôi dưỡng, sinh đẻ của
các loài thủy hải sản ven biển thông qua việc đánh giá chi phí của các chương trình
khôi phục bãi đẻ và các xí nghiệp ươm và cung cấp nguồn giống thủy hải sản.
Ví dụ: Khi đề xuất việc bảo tồn một vùng ĐNN bị xuống cấp, để cải thiện
khả năng của chúng trong việc hạn chế ngập lụt cho các vùng xung quanh, các nhà
55
quản lý muốn biết lợi ích của dự án này. Phương pháp dựa trên phân tích chi phí
được áp dụng để lượng giá dịch vụ hạn chế lũ lụt của ĐNN, dễ làm và ít tốn kém.
Công việc đầu tiên phải thực hiện là đánh giá các dịch vụ hạn chế ngập lụt do ĐNN
mang lại, bao gồm các trạng thái ĐNN trong điều kiện hiện thời và trong trường
hợp vùng ĐNN được bảo tồn tốt hơn. Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được có
thể thực hiện theo hai cách tiếp cận khác nhau. Cách thứ nhất là sử dụng những
thông tin về hạn chế ngập lụt thu thập được ở phần trên để đánh giá thiệt hại về tài
sản khi ngập lụt xảy ra trong trường hợp vùng ĐNN không được bảo tồn. Cách tiếp
cận thứ hai là xác định xem những người chủ sở hữu tài sản kế bên đã phải chi phí
bao nhiêu tiền để bảo vệ tài sản của họ khi ngập lụt xảy ra. Những chi phí có thể
tránh được này chính là lợi ích mà việc bảo tồn ĐNN mang lại.
Phương pháp chi phí hoán đổi được sử dụng để đánh giá những giải pháp
hoán đổi cho những dịch vụ HST bị tác động. Trong trường hợp trên, những dịch vụ
hạn chế ngập lụt không thể hoán đổi trực tiếp được nên việc áp dụng không hợp lý.
Phương pháp chi phí thay thế được sử dụng để đánh giá những chi phí cung cấp bổ
sung cho những dịch vụ HST bị tác động. Chẳng hạn như trong trường hợp này,
người ta có thể xây dựng một tuyến đê bao để bảo vệ tài sản khỏi ngập lụt do vỡ đê,
và những chi phí cho việc xây dựng bảo dưỡng một tuyến đê này được xem là lợi
ích của việc bảo tồn vùng ngập nước. Tuy nhiên, về mặt tính toán chúng ta có thể sử
dụng những chi phí xây dựng một tuyến đê thay cho vùng ĐNN, nhưng về giá trị
bảo tồn thì không gì có thể thay thế được HST ĐNN.
Các kết quả nghiên cứu đánh giá thành tiền các chi phí thiệt hại tránh được
hay chi phí thay thế, bổ sung đều nói lên lợi ích của việc bảo tồn vùng ĐNN và có
thể so sánh với một phần chi phí bảo tồn để thấy được giá trị của việc bảo tồn vùng
ĐNN lợi ích tới mức nào mà thôi.
Ví dụ: Tàu chở dầu Zoe Colocotroni đã bị va đụng với một chiếc tàu khác và
gây sự cố tràn dầu trên vùng biển Puerto Rico. Sự việc đã được phân tích theo luật
pháp. Tuy nhiên, người ta chưa xác nhận được tổng số tiền mà chủ tàu phải đền bù
do tác động của dầu tràn tác động lên các HST ở đây. Những người được ủy thác đã
được sử dụng phương pháp chi phí hoán đổi để đánh giá thiệt hại thành tiền. Đầu
tiên họ tính số lượng sinh vật ở các bậc dinh dưỡng bị chết do dầu tràn sau đó tính
ra chi phí phải mua những sinh vật này từ một bản danh mục khoa học. Kết quả là
56
tòa án Mỹ đã bác bỏ việc sử dụng phương pháp chi phí hoán đổi trong trường hợp
này, bởi vì những người được ủy thác đã không chứng minh được chính xác số
lượng sinh vật bị chết và khả năng tồn lưu các chất đọc hại trong đại dương. Thực
chất, trong thời gian thực hiện một kế hoạch như vậy, các sinh vật cũng sẽ tự sinh
sản và khôi phục một phần nào đó. Tòa kết luận, cho phí để mua sinh vật đã không
tính được chính xác những thiệt hại đối với HST.
Tóm lại, phương pháp chi phí thiệt hại tránh được thường được sử dụng
trong định giá các loại tài nguyên thiên nhiên có chức năng bảo vệ, phòng tránh
hoặc giảm thiểu thiệt hại, đó chính là lợi ích do HST cung cấp. Chẳng hạn như, một
vùng ĐNN góp phần bảo vệ cho các vùng phụ cận tránh được ngập lụt, lợi ích này
được đánh giá bằng thiệt hại đã tránh được hoặc các chi phí mà các chủ đất phải xây
dựng hệ thống ngăn lũ lụt.
Trong khi phương pháp chi phí thay thế lại sử dụng tổng chi phí dùng thay
thế một HST và dịch vụ, thì phương pháp chi phí hoán đổi sử dụng tổng chi phí
dùng để hoán đổi một HST và dịch vụ bằng các hình thức khác nhau. Chẳng hạn
như, các dịch vụ góp phần giảm ngập lụt của một vùng ĐNN cho các vùng phụ cận
có thể được thay bằng việc xây dựng các đê bao ngăn, cản lũ…Tuy nhiên, về cơ sở
lý luận các phương pháp này không cho những số liệu chính xác tuyệt đối mà chỉ
đưa ra tổng chi phí cao nhất (tiền hoặc hàng hóa) mà chúng ta muốn từ bỏ một loạt
hàng hóa hoặc dịch vụ để mua loại hàng hóa và dịch vụ của HST có lợi ích được
tính bằng chi phí thiệt hại tránh được hoặc chi phí thay thế hay hoán đổi.
Trong thực tế, khi áp dụng các phương pháp trên, bước đầu tiên là cần sự
hợp tác giữa các nhà sinh thái học và kinh tế học để đánh giá các dịch vụ môi
trường. Điều này liên quan tới việc xác định loại dịch vụ nào, chúng được cung cấp
ra sao, cung cấp cho ai, mức độ cung cấp…Chẳng hạn như, trong trường hợp hạn
chế lũ lụt, chúng ta cần phải đánh giá khả năng, phạm vi xảy ra mức độ tác động lên
tài sản có thể bị thiệt hại, mất mát, các thiệt hại này xảy ra hàng năm hay chu kỳ vài
năm, tổng số tiền chi phí cho việc khôi phục, đền bù thiệt hại… Đối với phương
pháp chi phí thay thế hay hoán đổi, cần phân loại các giải pháp, biện pháp thay thế
với các chi phí của chúng. Sau đó, lấy ý kiến của công chúng về một giải pháp hợp
lý, điều đó có nghĩa là công chúng phải được thấu hiểu và chấp nhận các dịch vụ
thay thế hoặc hoán đổi cho các dịch vụ HST.
57
Có thể nói, các phương pháp trên chỉ cung cấp những số liệu lượng giá kinh
tế mang tính tương đối đối với các loại hàng hóa và dịch vụ HST không mua bán
trên thị trường bằng các giải pháp thay thế cho các giá trị sử dụng đối với các loại
dịch vụ khó định giá. Mặt khác, các chi phí trên cũng không thực hiện hết tất cả các
mặt lợi ích mà các dịch vụ HST mang lại, đó là các lợi ích xã hội, nhân văn. Hơn
nữa, khi hỏi ý kiến cộng đồng về một giải pháp tối ưu trong một loạt các giải pháp
thay thế có thể, điều này đôi khi thể hiện ý chí cộng đồng hơn là về kinh tế. Đó cũng
là những điểm hạn chế khi sử dụng phương pháp chi phí thay thế hay hoán đổi.
3.6.2.3. Phương pháp chuyển giao lợi ích
Đây là phương pháp lượng giá kinh tế bằng cách chuyển giao những kết quả
từ những nghiên cứu trước ở một khu vực này sang một khu vực khác có điều kiện
được xem là tương đương. Nói một cách khác, phương pháp này được sử dụng để
lượng giá các dịch vụ HST bằng cách chuyển thông tin đã có từ nghiên cứu trước
vào trong hoàn cảnh và địa điểm khác. Chẳng hạn như, giá trị cung cấp thức ăn và
nơi ở cho các lời thủy hải sản của RNM đã được nghiên cứu ở một vùng nào đó
nhưng có thể áp dụng cho các vùng khác nhau giảm chi phí về thời gian, tài chính
và nhân lực. Điều quan trọng là kết quả của những nghiên cứu trước phải được
kiểm nghiệm về độ tin cậy và khả năng sử dụng.
Khi áp dụng phương pháp này cần nghiên cứu kỹ những kết quả của công
trình nghiên cứu trước về lượng giá loại dịch vụ HST và khả năng chuyển giao một
cách hợp lý, đặc biệt là những đặc điểm dân cư, truyền thống, dân trí ( sự hiểu biết
và trách nhiệm) cũng như sở thích của họ phải tương tự nhau thì số liệu chuyển giao
mới hợp lý. Điều này cần có sự góp ý của các chuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ
và người dân địa phương. Các nhà nghiên cứu phải hiểu cặn kẽ về công trình nghiên
cứu đã có trước, kể cả số liệu thô, số liệu khảo sát thực tế, số người được phỏng
vấn, v.v.. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ nên áp dụng trong một số trường hợp đặc
biệt vì việc thu thập và đánh giá số liệu trên thực tế của một vùng cụ thể sẽ có sức
thuyết phục hơn nhiều.
Có thể tham khảo hợp nghiên cứu lượng giá dự án bảo tồn ĐNN Saginaw, Mỹ.
Vùng đất nước ngập mặn chạy dọc ven biển này đãn được bảo tồn và cần lượng giá
các dịch vụ HST của chúng. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chuyển
giao lợi ích để giảm bớt chi phí khi cho rằng kết quả nghiên cứu đã có từ trước về
58
lượng giá kinh tế vùng ĐNN ven biển Erie (Mỹ) khá tương tự với vùng Saginaw và
được sử dụng để chuyển giao. Kết quả về lượng giá kinh tế tương tự nhau ở cả hai
vùng là 1250 -22500 US$/ ha. Điều này cũng dựa trên giả định rằng trình độ dân trí,
kinh tế và sự hiểu biết trách nhiệm ở hai vùng là tương đương nhau.
3.6.2.4. Phương pháp liều lượng đáp ứng
Đây là phương pháp dựa trên cơ sở phản ứng của con người và sinh vật trước
tác động của các nhân tố môi trường.
Ví dụ: dùng để đo nồng độ ô nhiễm trong nước, trong không khí, trong đất…
Đây là phương pháp dễ được xã hội thừa nhận, mức độ tin cậy cao và việc
xây dựng mô hình tính toán là đơn giản. Song phương pháp này đòi hỏi phải có
phương tiện kỹ thuật đo lường, kiến thức tương đối toàn diện và trong nhiều trường
hợp việc xác lập mức thiệt hại do nồng độ ô nhiễm gây ra theo giá thị trường không
dễ dàng nên kết quả không có tính thuyết phục
3.6.2.5. Phương pháp chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là chi phí người ta chấp nhận để bỏ tiền ra nhằm đạt được 1 mục
đích nào đó. Dạng chi phí này rất phù hợp trong bối cảnh kinh tế thị trường khi chúng
ta đứng trước 1 sự lựa chọn có nhiều lợi ích hoặc dịch vụ mà chúng ta bỏ tiền ra để
cuối cùng chấp nhận 1 phương án nào đó. Số tiền bỏ ra đó chính là chi phí cơ hội.
Đây là phương pháp dễ tiến hành, độ tin cậy cao song vẫn có thể gặp khó khăn
trong quá trình điều tra.
3.6.3. Các phương pháp lượng giá được sử dụng cho luận văn
Với những thông tin có thể xác định được trên thị trường, những nguồn số liệu
có thể điều tra trực tiếp từ người dân và cán bộ quản lý tại địa phương thì việc
lượng giá các giá trị kinh tế của vùng ĐNN ven biển sẽ trở nên dễ dàng hơn khi ta
áp dụng tính toán bằng những phương pháp sau:
- Phương pháp giá thị trường;
- Phương pháp chi phí thay thế;
- Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên;
- Phương pháp chuyển giao lợi ích.
59
3.7. Kinh nghiệm lượng giá giá trị kinh tế ĐNN ven biển tại một số nước trên
thế giới
Mục này cung cấp những thí dụ thực tiễn về việc sử dụng các phương pháp
lượng giá khác nhau trong thực địa, với những loại đất ngập nước khác nhau và bao
gồm các miền địa lý đa dạng. Đó là: vùng đầm lầy ven biển ở miền Đông Nam nước
Mỹ; RNM ở Indonesia và RNM Costa Rica. Tuy không thể nói rằng tính bao quát
của các thí dụ đã là hoàn toàn nhưng việc xem xét các nghiên cứu đó cũng làm nổi
lên một số nhận xét. Trước hết, việc phối hợp các phương pháp tiếp cận sinh thái và
kinh tế có tầm quan trọng quyết định, đặc biệt khi mục tiêu là định giá các chức
năng sinh thái. Việc này không đòi hỏi nhiều kỹ thuật toán học phức tạp bằng đòi
hỏi mở rộng hợp tác không ngừng giữa các nhà kinh tế và sinh thái. Những nghiên
cứu này còn chứng minh rằng không nên coi lượng giá là kết quả cuối cùng mà nó
cần được hướng đến một số vấn đề chính sách. Những vấn đề này có thể từ việc đơn
giản là nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đất ngập nước đến những lựa
chọn trong hàng loạt phương án để đáp ứng mục đích nào đó đã nêu ra, với việc bảo
vệ ĐNN tiêu biểu cho một phương án.
3.7.1 Đánh giá vùng đầm lầy ven biển ở miền Đông Nam nước Mỹ
Những đầm lầy ven biển của vùng Louisiana chiếm tới 40% toàn bộ tài
nguyên ĐNN ven biển của Mỹ (Bergstrom và cộng sự, 1990). Bởi vậy, những vùng
ngập nước này rất quan trọng đối với các lợi ích giải trí, thu hoạch sản phẩm thương
mại và dịch vụ sinh thái mà chúng mang lại. Tuy nhiên, cũng giống như những đầm
lầy ở bất kỳ đâu, chúng đang bị đe doạ bởi những phương án sử dụng cạnh tranh và
thay đổi cả bên trong và bên ngoài làm ảnh hưởng tới hoạt động chức năng của
chúng, và kết quả là những lợi ích vùng đầm đang bị mất đi. Bergstrom và cộng sự
(1990) đã liệt kê các yếu tố chính đe doạ khu vực là những công trình phát triển
thương mại, hoạt động hàng hải, sự xâm nhập và rút đi của nước mặn, và lưu ý rằng tỉ
lệ tổn thất ĐNN ở mức độ 104 tới 155 km2 mỗi năm (theo Craig và cộng sự, 1979).
Nghiên cứu được xét tới ở đây liên quan tới nỗ lực đánh giá nhiều phương án
sử dụng trực tiếp và gián tiếp quan trọng của vùng ngập mặn ven biển Louisiana,
trong khuôn khổ đánh giá tổng thể (Farber and Costanza, 1987; Costanza et al.,
1989). Hơn cả một trường hợp liên quan tới mối đe doạ đơn thuần là chuyển đổi hay
cải tạo, vấn đề ở đây là một trong những bản chất tự nhiên tổng thể hơn, làm cho
60
cách tiếp cận đánh giá tổng thể là phù hợp hơn. Hơn nữa, nhu cầu xem xét một loạt
đầy đủ các giá trị liên quan tới khu vực đầm lầy còn rõ ràng hơn nếu như các quyết
định được đưa ra về qui mô các nỗ lực bảo tồn có thể được điều chỉnh. Trong khi
các ước tính về các giá trị liên quan tới những chức năng nhất định hay các giá trị sử
dụng trực tiếp của khu đầm lầy ven biển của Louisiana đã được thực hiện từ trước,
nghiên cứu được trình bày ở đây là nghiên cứu đầu tiên cố gắng tập hợp những giá
trị này cho một hệ thống ĐNN duy nhất - trong trường hợp này là các khu đầm lầy
vùng Terrebonne Parish ở đồng bằng lưu vực sông Mississippi .
Costaza và cộng sự đã có thể đưa ra một ước tính đáng tin cậy cho 4 giá trị sử
dụng khác nhau, trong khi biết rằng có nhiều giá trị quan trọng khác không thể định
lượng do không có đủ dữ liệu. Những giá trị mà họ xem xét là việc đánh bắt mang
tính thương mại một số loài thuỷ sản khác nhau, bẫy bắt thú lấy lông, nghỉ ngơi giải
trí và chống bão. Vì những giá trị này rất khác nhau, việc xác định chúng đòi hỏi
nhiều kỹ thuật lượng giá khác nhau.
Nhiều loài cá và giáp xác sinh sống dựa vào những khu đầm lầy ven biển, và
một số trong đó có giá trị thương mại cao. Tổn thất của các khu đầm lầy có ảnh
hưởng xấu tới những loài này dẫn tới sản lượng đánh bắt duy trì ở mức thấp hơn.
Cũng như với việc phân tích lợi ích của việc giảm lượng khí Nitơ trong các khu
đầm ở Thụy điển, sự đánh giá việc cung cấp môi trường sống do các khu đầm ở
Louisiana mang lại đòi hỏi việc liên kết các quá trình sinh thái với các lợi ích kinh
tế liên quan tới việc đánh bắt cá thương phẩm. Giải pháp này nhìn nhận vai trò của
đầm lầy như một nguồn lực đầu vào cho sản xuất cá và cần phải mô hình hóa năng
suất cận biên về sinh khối cá quần cư tại khu vực đầm lầy. Vấn đề cần tập trung vào
tác động của sản lượng gia tăng thấp hay thất thu ở mức thấp của khu vực đầm lầy
(bởi vậy sử dụng thuật ngữ “cận biên”), hơn là sự tàn phá hoàn toàn, vì đây chính là
cách nói mà sự thay đổi hay tổn thất của khu đầm lầy chắc chắn sẽ sảy ra.
Rất may là số liệu về ngành đánh bắt thuỷ sản của vùng bờ biển Louisiana là
khá tốt, bởi vậy hỗ trợ sinh thái nhờ các khu đầm đối với một số loài có thể ước tính
được hoặc kết quả từ các vùng gần bờ lân cận và tương tự có thể được điều chỉnh
thích hợp cho mục đích này. Năng suất cận biên đánh bắt hàng năm cho hai loài
tôm được các nhà nghiên cứu ước tính khoảng từ 0,90 tới 1,60 lb/mẫu Anh (tương
đương 0,4 ha) . Tổng hợp các nguồn lợi này với giá mua thêm tàu tạo ra một phép
61
ước tính sơ bộ giá trị các lợi nhuận sản xuất tôm của khu đầm lầy ven biển (theo
thời giá năm 1983) đạt được từ 1,89$ - 3,36$ cho mỗi mẫu Anh. Một quy trình
tương tự được áp dụng cho các loài thuỷ sản thương phẩm quan trọng khác, là cá
mòi dầu, sò và cua xanh. Với cua xanh, số liệu của khu đầm ven biển Florida được
sử dụng dựa trên nghiên cứu của Lynne và cộng sự (1981). Với những loài này, giá
trị năng suất cận biên đánh bắt hàng năm biến động thấp 0,67$ mỗi mẫu Anh với
cua xanh tới 8,04 $ mỗi mẫu Anh với sò. Tổng hợp các giá trị vào khoảng 25 $ năng
suất cận biên hàng năm cho mỗi mẫu Anh của khu vực đầm lầy trong việc hỗ trợ
các loài thuỷ sản thương phẩm khác nhau.
Để tạo ra một biện pháp kinh tế thích đáng đánh giá những lợi ích nghề cá đòi
hỏi một qui trình phức tạp hơn nhiều có sử dụng giá trị năng suất cận biên hàng
năm, mà chúng ta đã ước tính ở trên, cùng với thông tin về nhu cầu, để tính toán cái
mà các nhà kinh tế gọi là thặng dư cung và cầu. Ellis và Fisher (1987) minh hoạ
cách tiếp cận này bằng cách sử dụng số liệu từ nghiên cứu về cua xanh như nói tới ở
trên, đã chứng minh rằng các giá trị ước tính có thể hoàn toàn khác so với các giá trị
ước tính chỉ dựa vào năng suất cận biên, bởi vậy các giá trị này có thể dẫn tới sai
lầm nếu diễn giải nó như một phép đo phúc lợi kinh tế thực. Freeman (1991) đã
thực hiện phân tích thêm một bước nữa và chứng minh rằng các giá trị kinh tế thực
sẽ phụ thuộc vào liệu rằng đánh bắt cua xanh được quản lý như một nguồn tài
nguyên đã bị điều tiết hay không.
Việc ước tính những lợi ích bẫy bắt thú lấy lông của khu đầm cũng đòi hỏi việc
xem xét năng suất cận biên của chúng vì mục đích này. Tuy nhiên chỉ có sẵn số liệu
năng suất trung bình, như được xác định bởi tổng thu hoạch chia cho tổng diện tích môi
trường sống của thú có lông. Điều này có thể dẫn tới hoặc là ước lượng quá mức hoặc
là thấp dưới mức sản lượng thực, nhưng cũng là đủ trong nhiều trường hợp đánh giá
khác nhau. Các loài chính bẫy được là loài chuột hương và hải ly, tính tổng cộng
khoảng 78% của thu hoạch lông thú tại chỗ. Thu hoạch trung bình 0,98 và 0,88 tấm da
trên mỗi mẫu Anh tương ứng và giá tại thời điểm nghiên cứu biến động 6$ - 7$ mỗi
tấm da (thời giá 1980-1981). Nhân mức lợi nhuận này cho năng suất trung bình của
mỗi mẫu Anh vùng đầm lầy thu hoạch lông ước tính xấp xỉ 12 $.
Các vùng ĐNN ven biển vùng Louisiana cũng quan trọng cho những người đi
săn, thể thao, ngư dân, các nhà nhiếp ảnh, bơi thuyền và những người sử dụng giải
62
trí không mang tính thương mại khác. Những lợi ích này được đánh giá bằng cách
sử dụng hai cách tiếp cận nhằm định lượng mức thuận trả cho việc đó là cách tiếp
cận định giá dự phòng như được mô tả trong nhiều nghiên cứu trước đây và phương
pháp TCM. Từ mối quan hệ giữa chi phí du lịch, khoảng cách tới khu thắng cảnh và
tham quan, giá trị khu đầm có thể luận ra được. Các giá trị kinh tế tính được đại
diện cho mức thặng dư người tiêu dùng và bởi vậy là một đơn vị đo giá trị kinh tế
tốt hơn.
Số liệu cần thiết để áp dụng cho các hai kỹ thuật được thu thập bằng cách sử
dụng các bảng hỏi để tại chỗ cho các du khách, họ sẽ trả lời sau bằng thư tín.
Khoảng 7.837 bảng hỏi được phát, 1.126 đã trả lời với tỉ lệ là 14.4%. Thông tin chi
phí du lịch, cùng với số liệu về lương do du khách cung cấp dược sử dụng để tính
mức thuận trả tổng cộng hàng năm để thăm quan khu đầm khoảng 3,9 triệu US$.
Trình bày dưới dạng giá trị trung bình cho mỗi mẫu Anh, khoảng 6$ cho mỗi mẫu
Anh (0,4 ha), nhưng một số nhà nghiên cứu đã thận trọng khi sử dụng giá trị trên
mỗi đơn vị diện tích đại diện cho các giá trị giải trí, mà thay vào đó là một giá trị
cho mỗi người sử dụng (du khách) (Bergstrom và cộng sự, 1990). Những giải pháp
thay thế được xét ở những nơi mà tiền lương áp dụng cho mùa du lịch (nhằm phản
ánh chi phí cơ hội của nó) bị giảm tới 60% hay 30% giá trị của nó, dẫn tới giá trị
mức thuận trả thấp hơn.
Việc đánh giá những giá trị giải trí của khu ĐNN sử dụng phương pháp định
giá dự phòng dựa vào những câu trả lời cho một câu hỏi trực tiếp, cho phép bảng
hỏi lựa chọn một trong hai khả năng (nghĩa là một giá trị đơn được trình bày và du
khách chỉ trả lời có hay không khi được hỏi liệu rằng họ có sẵn sàng trả số tiền đó
để bảo tồn khu đất ngập mặn hay không). Mức thuận trả trung bình để bảo tồn khu
đất ngập mặn ước tính khoảng 103,48 US$ cho mỗi hộ gia đình. Ngược lại, một
nghiên cứu định giá dự phòng phương án thay thế của các giá trị giải trí trên một
vùng rộng lớn hơn của vùng ĐNN Louisiana đã tìm ra một giá trị mức thuận trả
khoảng 360 US$ cho mỗi hộ gia đình. Người ta không chắc chắn hai bộ giá trị ước
tính có thể so sánh được với nhau không (Bergstrom và cộng sự, 1990).
Để ngoại suy giá trị của một giá trị tổng cộng hàng năm, các nhà nghiên cứu
đã sử dụng số liệu giấy phép đánh bắt thuỷ sản có thông tin về số lượng các cá nhân
đánh bắt thuỷ sản trong khu vực trong năm (1982-1983). Việc thống nhất phép đánh
63
giá mức thuận trả được trình bày trên cơ sở mỗi hộ gia đình với số các cá thể có
giấy phép đánh bắt thuỷ sản đòi hỏi phải có một số giả định. Nếu có thể cho rằng
chỉ có một giấy phép cho mỗi hộ gia đình thì giá trị Mức thuận trả tổng cộng trong
năm sẽ là 5,7 triệu US$, trong đó giả thiết rằng mỗi thành viên hộ gia đình có một
giấy phép dẫn tới giá trị tổng hợp trong năm sẽ là 2,7 triệu US$. Giá trị tính được sử
dụng phương pháp chi phí du lịch nằm trong khoảng giữa hai giá trị này.
Lợi ích vùng đầm cuối cùng được tính đến là chức năng chống bão. Bờ biển
vịnh Mexico của bang Louisiana chịu những cơn bão nhiệt đới bất chợt có thể gây
thiệt hại lớn tới vùng bờ biển và tài sản trong đất liền do những đợt sóng thuỷ triều
trào dâng và gió to. Sử dụng những thông tin về tần xuất bão và những số liệu gây
thiệt hại do bão, các nhà nghiên cứu đã ước tính "chức năng gây hại" của một cơn
bão để liên kết giữa những thiệt hại tiềm tàng với khoảng cách từ nơi bão đổ bộ.
Tổn thất của vùng ngập nước ven biển làm giảm chức năng phòng hộ những tài sản
trong đất liền và dẫn tới sự tăng mức thiệt hại có thể dự đoán được bằng mô hình.
Ví dụ, sự lùi vào 1 dặm của ĐNN ven biển theo nghiên cứu sẽ dẫn tới tổn thất dự
đoán khoảng 5,57 triệu US$ mỗi năm. Một con số lùi vào thực tế hơn là 207 feet dải
ven bờ sẽ dẫn tới một tổn thất dự đoán thêm là 128,30 US$ cho mỗi dặm Anh suốt
dọc dải ven bờ hàng năm.
Bảng 3.5 trình bày những giá trị ước tính cho ĐNN Terrebonne theo dạng hiện
giá thuần sử dụng các tỉ lệ chiết khấu là 8% và 3%. Những giá trị này đòi hỏi phải
có diễn giải, vì dân cư trong khu vực này tăng nhanh, các nhà nghiên cứu đã thống
nhất một mức tăng 1,3% hàng năm vào ước tính lợi nhuận. Tất cả các dữ liệu đều
được trình bày dưới dạng trên mỗi dặm Anh, mặc dù có thể có một số khó khăn
trong cách diễn giải một số giá trị theo cách này( nghĩa là giá trị giải trí). Từ những
phép tính tập hợp, rõ ràng rằng các chức năng sinh thái , như là chống bão , có thể là
những hợp phần rất quan trọng trong giá trị kinh tế tổng thể của một vùng ĐNN. Ở
đây các giá trị này chiếm tới gần 80% của tổng ước tính.
Các giá trị trong Bảng 3.5 chỉ trình bày một vài giá trị sử dụng trực tiếp và
gián tiếp của vùng đất ngập mặn ven biển Louisiana, và không bao gồm các giá trị
phi sử dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã minh hoạ các khả năng định giá trong
một khung định giá tổng thể trong đó số liệu tương đối chính xác, và đồng thời chỉ
ra các giới hạn có thể gặp phải. Nếu chỉ một vài giá trị sử dụng có thể định lượng
64
một cách đáng tin cậy trong những trường hợp như vậy thì dường như có lý khi kết
luận là một số nghiên cứu chắc chắn sẽ nắm bắt được toàn bộ dải các giá trị sử dụng
và phi sử dụng liên quan tới một vùng ĐNN. Tuy nhiên, việc cung cấp cho các nhà
ra quyết sách những thông tin ít nhất ở quy mô này có thể cải thiện đáng kể triển
vọng phân bổ sử dụng tài nguyên tốt hơn.
Bảng 3.5. Các giá trị ĐNN ven biển ở Louisiana, Mỹ (US$/ mẫu Anh, thời giá 1983)
Giá trị
Hiện giá thuần trên mỗi mẫu Anh, chiết khấu 8%
Hiện giá thuần trên mỗi mẫu Anh, chiết khấu 3%
Đánh bắt thuỷ sản thương phẩm
317
846
Săn bắn
151
401
Nghỉ ngơi giải trí
1.915
181
Chống bão
1.915
7.549
Tổng cộng
8.977
2.429
Nguồn: Costanza và cộng sự (1989).
3.7.2. Định giá và bảo tồn RNM ở Indonesia
Phân tích kinh tế của các vùng đất ngập mặn ở Bintuni Bay, Irian Jaya,
Indonesia, minh hoạ việc sử dụng cách tiếp cận đánh giá tổng thể và đặc biệt là tầm
quan trọng của những mối liên kết môi trường trong phân tích kinh tế các hệ thống
RNM nhiệt đới (Ruitenbeek 1992, 1994).
RNM ở Indonesia đang bị đe doạ do lạm dụng các tài nguyên của chúng. Việc
khai thác quá mức các hệ thống RNM để lấy than củi, lấy gỗ, làm ao nuôi thả cá hay
những sử dụng tài nguyên tương tự thường dựa trên việc đánh giá hạn hẹp của chỉ
một trong nhiều những cách sử dụng có khả năng sinh lợi của các hệ thống sinh thái
này mà thường bỏ qua nhiều mối liên kết quan trọng giữa tất cả các cách sử dụng
trực tiếp và gián tiếp của vùng RNM. Trong số 300,000 hecta vùng RNM của vịnh
Bintuni Bay, áp lực từ công nghiệp xuất khẩu gỗ miếng đe doạ trực tiếp tới HST
RNM, đồng thời cũng đe doạ khả năng hỗ trợ nghề nuôi tôm thương phẩm, sản xuất
bột cọ thương phẩm và sản xuất hộ gia đình truyền thống từ việc săn bắn, đánh bắt
thuỷ sản, hái lượm và sản xuất. Hệ thống RNM cũng có giá trị sử dụng gián tiếp
quan trọng thông qua chức năng môi trường kiểm soát sói mòn và lắng đọng trầm
tích, phòng hộ sản xuất nông nghiệp trong vùng. Thêm nữa, ĐNN được nhận định
65
là có tầm quan trọng sinh thái và HST đa dạng, có thể có một giá trị ĐDSH cao nếu
như chúng được giữ nguyên vẹn.
Tổng giá trị thu nhập của hộ gia đình từ các nguồn có thể bán trên thị trường
và không bán được ước tính khoảng 9 triệu Rupi mỗi năm mỗi hộ gia đình, trong đó
6.5 triệu Rupi có thể được coi là giá trị sử dụng truyền thống của RNM cho việc săn
bắn, đánh bắt thuỷ sản, hái lượm và sản xuất (2000 Rupi = 1 US$). Sản lượng tôm
thương phẩm đạt xấp xỉ 70 tỉ Rupi mỗi năm, và nếu sản lượng đánh bắt luôn được
thương phẩm hoá, thì giá trị qui đổi của sản lượng này được dự đoán vượt 30 tỉ
Rupi mỗi năm. Sản lượng bột cọ Sago có thể đạt tới một mức bền vững vào năm
2000 và cho lợi 68 tỉ Rupi mỗi năm. Để so sánh, các phương án phá RNM được lựa
chọn chỉ có giá trị cực đại khoảng 40 tỉ Rupi mỗi năm.
Trong nghiên cứu này, các giá trị được qui về những lợi nhuận của việc kiềm
chế xói mòn và lợi ích ĐDSH. Lợi nhuận qui đổi của việc kiềm chế xói mòn dựa
trên giá trị sử dụng gián tiếp của nó trong việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp địa
phương. Giá trị này được ước tính vào khoảng 1,9 triệu Rupi cho mỗi hộ gia đình.
Các giá trị ĐDSH được coi có thể nắm bắt thông qua những luồng viện trợ bổ sung
và những chuyển khoản quốc tế khác cho các dự án bảo tồn, có giá trị qui đổi
khoảng 30,000 Rupi cho mỗi hecta.
Phân tích kinh tế đã so sánh những phương án quản lý rừng khác nhau về
những ảnh hưởng của chúng tới giá trị kinh tế tổng cộng của vùng RNM. Các
phương án lâm nghiệp bao gồm từ việc chặt toàn bộ RNM để sản xuất gỗ ép tới các
chế độ khai khẩn có chọn lọc với các qui mô khác nhau cho tới cấm chặt. Một đặc
điểm quan trọng của phân tích là nó đã hợp nhất một cách rõ ràng các mối liên kết
giữa cải tạo RNM, sản xuất thuỷ sản vùng ven bờ, sử dụng truyền thống và những
lợi nhuận qui đổi của việc kiềm chế xói mòn và duy trì ĐDSH. Tới chừng mực mà
những liên kết này còn tồn tại, một số
Các giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp trở nên loại trừ lẫn nhau với sự khai
thác tập trung RNM hơn thông qua các phương án lâm nghiệp. Phương án quản lý
rừng tối ưu bởi vậy phụ thuộc vào sức mạnh của các mối liên kết môi trường.
Các kết quả được tóm tắt trong Hình 4.1. Trường hợp các mối liên kết "rất
mạnh" cho thấy mối liên kết tuyến tính ngay giữa những thay đổi về diện tích rừng
66
và phương án sử dụng sinh lợi khác. Trường hợp liên kết "yếu hơn" liên quan tới
những tác động phi tuyến với độ trễ 5 tới 10 năm. Phân tích chỉ ra rằng phương án
chặt toàn bộ chỉ là tối ưu nếu như không tồn tại những mối liên kết môi trường -
một giả định rất phi thực tế. Trường hợp phương án cấm chặt chỉ tối ưu nếu các mối
liên kết môi trường rất chặt, nghĩa là sự biến đổi và cải tạo RNM sẽ dẫn tới các tác
động tuyến tính ngay lập tức trong toàn bộ HST. Trong trường hợp các mối liên kết
môi trường là tuyến tính nhưng có độ trễ 5 năm, phương án chặt có chọn lọc RNM
có một hiện giá thuần là 70 tỉ Rupi lớn hơn so với phương án chặt hoàn toàn và chỉ
lớn hơn 3 tỉ Rupi so với phương án cấm chặt. Kể cả khi tồn tại những tương tác yếu,
chính sách chặt chọn lọc 80% với việc tái trồng rừng được ưa thích hơn phương án
chặt toàn bộ. Biết rằng vẫn còn có yếu tố không chắc chắn đáng kể về động lực của
HST RNM, và rằng việc thay thế và cải tạo có thể sẽ không thể đảo ngược và sẽ thể
hiện các chi phí cao, phân tích cho thấy có rất ít lợi ích kinh tế cho việc chặt rừng
với số lượng lớn ( ví dụ hơn 25%) ở các vùng ngập mặn vịnh Bintuni Bay.
Hình 3.3. Giá trị kinh tế tổng cộng của hệ RNM dưới sự thay đổi của các mối liên kết môi trường
Các mối liên kết môi trường - từ không có cho tới rất mạnh: A = Chặt hoàn toàn RNM sau 20 năm B = Chặt hoàn toàn RNM sau 30 năm C = Chặt RNM có chọn lọc 80% D = Chặt RNM có chọn lọc 40% E = Chặt RNM có chọn lọc 25% F = Cấm chặt RNM Nguồn: Ruitenbeck (1992)
67
Lợi nhuận thuần tổng cộng gồm: a/Sản lượng gỗ ép từ chặt RNM, b/ Sản
phẩm tôm và cá đánh bắt thương phẩm, c/ sản lượng bột Sogo thương phẩm, d/ Sản
phẩm truyền thống từ săn bắn, đánh bắt thuỷ sản, hái lượm và sản xuất hàng công
nghệ phẩm, e/lợi ích kiềm chế xói mòn quy đổi, và f/ ĐDSH có thể nắm bắt.
Tóm lại, nghiên cứu phân tích RNM Bintuni Bay cho thấy tầm quan trọng của
lượng giá kinh tế các mối liên kết sinh thái trong các quyết định phát triển vùng
ĐNN. Nếu không tính tới những mối liên kết đó thì có thể dẫn tới những sai lầm
nghiêm trọng trong các quyết sách, dẫn tới tình trạng chỉ chú tâm vào một phương
án sinh lợi chính. Phân tích cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc định giá giá trị sử
dụng truyền thống của các vùng ĐNN nhiệt đới, các chức năng môi trường của
chúng và tiềm năng tạo ra các giá trị sử dụng và phi sử dụng trong tương lai.
3.7.3. RNM Costa Rica
Địa điểm và loại rừng: Do độ ẩm cao và độ mặn dao động biên độ lớn nên
thực vật ngập mặn có cả cây gỗ lớn và cây bụi hỗn giao. Phần lớn các loài ưu thế
đều thuộc chi đước (Rhizopora mangle, R. harrisonii, R.Racemosa), có cây cao tới
45m, một số loài thuộc chi mắm( Avicennia germinans, A.bicolor, A.tonduzii). Đây
là những vùng mang lại nhiều giá trị về kinh tế thủy, hải sản, nhiều loài động vật
quí hiếm. Đồng thời đây cũng là những điểm du lịch rất hấp dẫn. Tình trạng hiện
nay cũng rất đáng lo ngại do phần lớn diện tích RNM bị khai phá chuyển sang các
đầm nuôi tôm và các loài thủy sản.
Mục đích nghiên cứu: sử dụng lượng giá kinh tế HST RNM làm công cụ xây
dựng chính sách khôi phục và bảo tồn HST RNM làm công cụ xây dựng chính sách
khôi phục và bảo tồn HST RNM trước những sức ép ngày càng gia tăng từ phát
triển kinh tế, đặc biệt là xu hướng chuyển đổi đất RNM sang nuôi tôm và các loài
thủy sản khác.
Phương pháp nghiên cứu: Lượng giá kinh tế HST RNM của Costa Rica dựa
trên cách tiếp cận TEV bao gồm các giá trị sử dụng trực tiếp và các giá trị sử dụng
gián tiếp. Cách phân chia các thành phần của tổng giá trị kinh tế, mô tả cụ thể,
phương pháp tiến hành và đánh giá chi phí được tóm tắt như sau:
- Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm: lâm sản (gỗ cho xây dựng, củi đun, vỏ
cây lấy tanin, v.v..; lâm sản ngoài gỗ (cây cỏ làm thuốc chữa bệnh); nguồn lợi sinh
68
vật hoang dã (mật ong, săn bắt thú lấy thịt, lông, rùa, trứng chim, v.v..); thủy hải sản
(các loại thủy hải sản đánh bắt trong vùng RNM và bên ngoài RNM); du lịch và giải
trí; giao thông thủy, v.v..
- Giá trị sử dụng gián tiếp: Đó là các giá trị chức năng như duy trì năng suất
sinh học và năng suất kinh tế; lợi ích từ việc giảm thiểu các chi phí phòng ngừa, chi
phí tránh được, chi phí thay thế, sửa chữa…
Kết quả nghiên cứu chính: Giá trị sử dụng trực tiếp từ việc đánh bắt thủy hải
sản vào khoảng 62,66 US$/ha và giá trị ròng là 600 US$/ ha/ năm. Lợi ích từ việc
sử dụng thực vật RNM làm thuốc chữa bệnh là 15 US$/ha. Chi phí trung bình của
mỗi du khách khi đến thăm quan, du lịch và giải trí vùng RNM là 70,67 đô la US$/
du khách khi áp dụng phương pháp phân tích chi phí du lịch và khoảng 47,11 US$/
du khách khi áp dụng phương pháp phân tích chi phí cơ hội ( Contanza et al 1989).
Giá trị trung bình lợi ích thu được từ du lịch giải trí trong khu vực 10000 ha rừng
mưa nhiệt đới Costa Rica là 35 US$/du khách.
Lợi ích từ giao thông đường thủy trong vùng RNM chính là chi phí giảm đi
được khi sử dụng các phương tiện tàu thuyền chuyển theo kênh rạch. Khi sử dụng
phương pháp “sẵn lòng chi trả”, các kết quả nghiên cứu cho thấy giá dịch vụ giao
thông thủy chỉ có 0,50 US$/km, trong khi nếu sử dụng phương tiện vận tải đường
bộ là 2 US$/km.
69
Chương 4 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG ĐNN VEN BIỂN TIỀN HẢI, THÁI BÌNH
4.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý:
Tiền Hải là một huyện ven biển với 28 km chiều dài đường bờ biển, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thái Bình, có toạ độ địa lý: 20o17’ đến 20o28’ độ vĩ Bắc; từ 106o27’ đến 106o35’ độ kinh Đông. Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp
huyện Kiến Xương, phía Nam giáp huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định (ranh giới là
sông Hồng), phía Bắc giáp huyện Thái Thụy (ranh giới là sông Trà Lý).
Vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình kéo dài từ cửa Trà Lý tới cửa Ba
Lạt, chạy qua 8 xã ven biển của huyện Tiền Hải là Đông Hải, Đông Long, Đông
Hoàng, Đông Minh, Nam Cường, Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú. Đặc biệt,
vùng ĐNN từ cửa Lân đến cửa Ba Lạt là KBTTN ĐNN Tiền Hải, đã được công
nhận vào năm 1994, tiếp giáp với khu Ramsar Xuân Thuỷ (tỉnh Nam Định). Khu
bảo tồn thiên nhiên ĐNN Tiền Hải có diện tích 12.500 ha và 3 xã vùng đệm là Nam
Hưng, Nam Phú, Nam Thịnh. Trong vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, RNM tập trung
chủ yếu ở các xã Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú, Đông Long, Đông Hoàng. Tại
các bãi bồi, bãi triều phía ngoài đê và các đầm nuôi trồng thủy sản phía trong đê là
nơi nuôi trồng thủy hải sản. Cồn Vành và Cồn Thủ là 2 cồn chạy dài từ cửa Lân đến
cửa Ba Lạt (Hình 4.1).
70
Hình 4.1. Bản đồ vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình
71
Hình 4.2. Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, thuộc vùng ĐNN ven biển Tiền Hải
4.1.1.2. Địa hình
Vùng ĐNN ven biển được hình thành nhờ sự bồi tụ phù sa của 2 con sông lớn
là sông Hồng và sông Trà Lý trong một thời gian dài dưới tác động của quá trình
72
động lực sông – biển. Quá trình này hình thành các cồn ngầm chắn cửa lớn như
Cồn Vành, Cồn Thủ, Cồn Đen và các bãi bỗi, lạch triều, bãi sú vẹt, lau sậy, v.v..
làm cho vùng ĐNN ven biển Tiền Hải có dạng lượn sóng, cao dần ra biển và có xu
hướng hơi nghiên theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
4.1.1.3. Khí hậu
- Nhiệt độ: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C – 240C. Tổng lượng nhiệt hàng năm khoảng 8500 Cal. Mùa đông
kéo dài từ tháng mười một đến tháng ba, nhưng do ảnh hưởng của biển nên khí hậu
ấm áp. Trong mùa hè khí hậu mát mẻ, tháng 7 là tháng nóng nhất. Lượng mua trung
bình năm từ 1600 – 1800 mm, tập trung vào thời gian từ tháng 7 đến tháng 10 hàng
hàng năm.
- Số giờ nắng: Trung bình hàng năm khoảng 1653 giờ, thời kỳ từ tháng 5 đến
tháng 12 có khá nhiều nắng, đạt trên 100 giờ nắng/tháng. Tháng 7 nhiều nắng nhất,
có tới 215,9 giờ; các tháng ít nắng nhất là tháng 2,3: 39,4 – 42,8 giờ/tháng
- Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 86%
- Bốc hơi không khí trung bình là 871mm/năm
- Lượng mây: So với những nơi khác ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Thái Bình
có chế độ mây thuộc loại trung bình. Lượng mây tổng quan trung bình năm đạt
khoảng 7,6/10 bầu trời.
- Lượng mưa: Cùng với lượng nước ngọt đổ ra từ hệ thống sông Hồng và sông
Thái Bình thì lượng mưa tại chỗ là nguồn cung cấp nước ngọt cho thảm TVNM tại
vùng ĐNN. Lượng mưa có tác động pha lãng nồng độ muối trong đất đặc biệt trong
những ngày nóng nắng, độ bốc hơi cao giúp cho thảm TVNM phát triển tốt. Tại khu
vực nghiên cứu lượng mưa trung bình năm là 135 mm, phân bố lượng mưa không
đồng đều chênh lệch lớn giữa 2 mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa trung bình tháng
dao động từ 6,6mm đến 314,6mm, tương ứng với tháng 4 lượng mưa rất thấp
(121mm) nhưng tới tháng 9 là mùa mưa lượng mưa có thể lớn nhất miền Bắc lên tới
3260 mm. Sự bất cập trong yếu tố lượng mưa làm cho sự sinh trưởng thảm TVNM
nơi đây kém so với những khu vực khác.
- Chế độ gió: 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.
73
Gió mùa Đông Nam hoạt động từ tháng 5 - tháng 10, gió thổi từ ngoài biển
vào mang theo nhiều hơi nước gây ra mưa rào. Tốc độ gió 4 -5 km/s.
Gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng 11 - 4 thường lạnh, khô và gây ra mưa
phùn. Trung bình một năm có khoảng 28-30 đợt gió tràn về VVB Bắc Bộ tác động
tới khu vực nghiên cứu. Mỗi khi có đợt gió tràn về làm cho tốc độ gió tăng lên đột
ngột khoảng 10-15m/s, tối đa có thể lên tới 25m/s và nhiệt độ giảm xuống dưới 15oC, thậm trí dưới 10oC gây chết cho CNM đặc biệt là bần chua (Sonneratia
caseolaris ) là loài kém chịu rét.
Ngoài ra vào tháng 5, 6 xuất hiện các đợt gió Tây khô, nóng cũng gây ra
những ảnh hưởng xấu cho thảm TVNM.
- Bão: Địa điểm nghiên cứu nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của
bão do không có đảo che chắn. Bão, áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào thời kỳ
từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, thường xuyên hơn là từ tháng 6 đến tháng 9 và
nhiều nhất là các tháng 7,9. Hàng năm có từ 1-4 cơn bão trực tiếp đổ vào Tiền Hải
với sức gió 40-50m/s. Bão thường làm nước biển dâng, vào lúc triều cường sóng
biển dâng cao đến 3m.
Tóm lại khí hậu tại khu BTTN Tiền Hải có vị trí tiếp giáp với biển nên ngoài
khí hậu lục địa nơi đây còn chịu ảnh hưởng sâu sắc khí hậu biển: Nhiệt độ cao, mưa
nhiều, độ ẩm tương đối lớn. Tuy nhiên tại đây còn gặp những hiện tượng cực đoan
như bão, đặc biệt là gió mùa đông bắc làm cho nhiệt độ hạ xuống rất thấp, tác động
không tốt tới sinh trưởng, phát triển của cây ngập mặn.
4.1.1.3. Đất đai – thổ nhưỡng
Tiền Hải là một trong 5 kiểu đồng bằng duyên hải của đồng bằng sông Hồng
được mô tả: Đây là vùng delta sông Hồng rõ rệt, đất mặn chiếm đa số, sau đến đất
sét dạng cồn, đất phèn chỉ lác đác. Đất đai Tiền Hải được tạo bởi phù sa sông theo
nguyên lý động lực sông - biển với những dải hình sin có hướng song song với đê
biển. Toàn huyện có 4 nhóm đất chính: Nhóm đất cát: chủ yếu là ở vùng có địa hình
cao phía trong và ngoài đê; Nhóm đất mặn (phù sa nhiễm mặn ) là loại đất có diện
tích lớn nhất phân bố ở hầu hết các xã trong huyện tập trung nhiều ở phía Đông;
Nhóm đất phù sa; Và nhóm đất phèn mặn
74
- Đất cát biển: Nằm trên xã Nam Phú phần lớn đang được dùng để trồng phi
lao loại đất này có lượng hạt thô lớn, dung tích hấp thu thấp, độ keo liên kết kém,
hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo.
- Đất mặn:
+ Đất mặn sú vẹt: Phân bố ở khu ngoài đê vùng bãi bồi ven sông Hồng và một
phần diện tích ngoài biển hiện đang được trồng rừng.
+ Đất mặn nhiều: phân bố nhiều ở khu vực ven đê sông Hồng và khu vực được
cải tạo trong đê nuôi trồng thuỷ sản.
+ Đất mặn ít: phân bố trong nội đồng xã.
- Trầm tích bãi triều : Hàng năm lưu lượng nước từ thượng nguồn sông Hồng
đổ về hạ lưu qua cửu Balạt và cửa Trà Lý khu vực Tiền Hải kéo theo lượng bùn,
trầm tích hữu cơ hàm lượng muối khoáng ...Hàm lượng các chất này bị các dòng
chảy đại dương và hệ thống cồn ven biển ngăn lại không cho trầm tích đổ ra biển do
đó khu vực này được bồi đắp hàng năm với một diện tích rộng. Tất cả các yếu tố
trên tạo ra vùng triều Tiền Hải có chất đáy chủ yếu là bùn và bùn – cát hàm lượng
muối khoáng cao, tốc độ lắng nhanh.
4.1.1.4. Chế độ thủy hải văn
- Chế độ dòng chảy: ba con sông chính (sông Hồng, sông Lân và sông Trà Lý)
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bãi bồi ven biển. Hàng năm hệ thống sông Hồng đổ ra biển khoảng 115.109 m3 nước và 115.106 tấn bùn cát. Mùa lũ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 10. Độ đục trung bình của mùa lũ là 1,1 kg/m3. Toàn vùng
có tốc độ tiến ra biển trung bình khoảng 80 – 100m/năm.
- Thủy triều: VVB Tiền Hải chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều đều, trong
một tháng triều cường kéo dài từ 3 đến 5 ngày, triều kiệt kéo dài từ 2 đến 3 ngày.
Độ lớn triều trung bình từ 1,5 – 1,8 m, độ lớn triều cao nhất từ 3,3 – 3,9 m và độ lớn
triều thấp nhất là 1,25m.
- Độ pH và độ mặn:
Độ pH dao động trong khoảng từ 6,5 đến 8,0. Độ pH tháng 1 cao hơn tháng 5
và tháng 6 từ 0,05 đến 0,1. Độ mặn thay đổi từ 5 – 26%. Độ pH và độ mặn trong
75
vùng biến đổi phụ thuộc vào lượng nước trong sông đổ ra, nước biển và hoạt của
các động vật thủy sinh.
4.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
Vùng RNM thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên ĐNN ven biển Tiền Hải, đã thống
kê được tổng số 181 loài thuộc 145 chi của 69 họ thực vật có mạch. Lớp Hai lá
mầm có số loài, chi và họ nhiều nhất, 122 loài (chiếm 67,4% tổng số loài) thuộc 56
họ. Ngành Dương xỉ có số loài chiếm tỷ lệ ít nhất, 8 loài (4,4%) thuộc 6 chi của 5
họ. Các loài thuộc lớp Một lá mầm có 51 loài (chiếm 28,2%) thuộc 8 họ, chúng là
những loài có số lượng cá thể lớn trong các bãi cỏ (Mai Sỹ Tuấn và cs, 2007; Phan
Nguyên Hồng (chủ biên), 2004). Các loài cây ngập mặn chủ yếu là cây trồng với
loài bần, trang trên ĐNN triều. Các xã Nam Hưng và Nam Thịnh có diện tích rừng
trồng tập trung khá cao (tương ứng là 1.350 ha và 1.600 ha vào năm 2006) so với 1
số xã khác như Đông Minh (10 ha), trong đó có RNM.
Những loài thực vật tạo nên sinh cảnh đa dạng, môi trường sinh thái phù hợp
với nhiều thủy sản, chim hoang dã đặc biệt là những loài chim di trú như Phramites,
cyperus, Rhizosolenia, Chaetomorpha, Clenophora, Enteromorpha, Glacilaria. Thực
vật nổi là 1 bộ phận cực kỳ quan trọng đối với môi trường vùng ĐNN. Thực vật nổi
có tới 57 giống, 111 loài, 3 loài biến dạng, 12 loài thuộc 4 ngành tảo khuê. Riêng
rong biển có tới 32 loài, 21 giống thuộc 4 ngành, trong đó có giống rong câu chỉ
vàng và 15/32 loài rong khác có giá trị kinh tế.
Cũng như VQG Xuân Thủy, vùng ĐNN ven biển Tiền Hải với các cồn nổi là
cồn Vành, cồn Thủ là nơi ở cho chim di trú. Tại vùng này có tới 150 loài chim,
phần lớn chúng là chim nước, những loài này thường trú chân ở đây từ 2-3 tuần lễ
vào tháng 10, 11 hàng năm rồi di chuyển xa hơn về phía Nam và khoảng tháng 3
năm sau khi chúng trên đường trở về nơi sinh sản (Birdlife, 2006). Trong những
loài chim di trú qua “ga chim” Tiền Hải có những loài đã được ghi vào Sách Đỏ của
tổ chức bảo vệ chim quốc tế (ICBP) và tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên
thiên nhiên quốc tế (IUCN), WWF – Tổ chức bảo tồn chim quốc tế như: Bồ Nông
(Pelecanus philippensis), Cò thìa (Ptalalea minor), Mòng biển đầu đen (Laurus
saundersi), Cò trắng Trung Hoa (Egretta culaphotes), Ngỗng trời (Anser anser),
Choắt chân màng, Choi choi.
76
Thành phần động vật đáy ở VVB ngập triều Tiền Hải có số họ nhiều, tới 46
họ, số giống của mỗi họ ít, nhiều họ chỉ có 1 giống và 1 loài (26 họ), còn lại số
giống trong từng họ từ 2 trở lên chiếm tới gần nửa số họ (20/46). Nhiều họ rất đa
dạng về số giống như Nereidae, Peneidae, Grapsidae, Ocypodidae, Veneridae.
Nhiều họ có số lượng loài đông đảo như Ocypodidae có tới 19 loài, Grapsidae tới
13 loài. Nhìn chung những họ này có tác động lớn đến HST RNM về sử dụng lượng
thức ăn có nguồn gốc mùn bã hữu cơ, đào hang trong nền đáy (Nguyễn Hữu Dực và
cs, 2007).
4.2. Hàng hóa và dịch vụ vùng ĐNN ven biển Tiền Hải
Vùng ĐNN ven biển Tiền Hải cung cấp một số các loại sản phẩm chính như
gỗ củi, cây thuốc nam, cói, mật ong, rau câu và thủy hải sản.
Ngoài cung cấp một số hàng hóa như trên, vùng ĐNN ven biển Tiền Hải còn
cung cấp các dịch vụ: Nạp nước ngầm, ổn định khí hậu, giữ lại chất cặn, chất độc,
giữ lại chất dinh dưỡng, sản xuất sinh khối, du lịch – giải trí. Đặc biệt là tác dụng
làm giảm tác động của sóng biển, dòng chảy gây ra do bão gió, thủy triều. RNM ở
Tiền Hải ngoài bảo vệ an toàn đê biển, RNM còn góp phần bảo đảm an toàn cho các
đầm nuôi trồng thủy sản. Theo như người dân xã Nam Thịnh trước khi chưa có
RNM, đầm nuôi trồng thủy sản ở đây năm nào cũng bị vỡ, thậm chí có năm vỡ đến
2 lần. Nhưng từ khi có RNM, đầm chưa bị vỡ lần nào.
Vùng ĐNN huyện Tiền Hải có một tiềm năng du lịch lớn, là cơ sở cho địa
phương phát triển ngành “công nghiệp không khói” này khi được khai thác và kết
hợp một cách hợp lý với các tài nguyên du lịch văn hoá, các lễ hội truyền thống của
người dân ven biển và lịch sử khác trong vùng
4.3. Hiện trạng khai thác, sử dụng và công tác quản lý vùng ĐNN ven biển Tiền Hải
Thế mạnh, tiềm năng lớn mà thiên nhiên đã cho người dân trong vùng đó là
nguồn hải sản tự nhiên. Đánh bắt bằng tay và công cụ, thuyền máy nhỏ diễn ra sôi
động ở vùng bãi bồi ven biển, trên các kênh rạch, ở các vùng có và không có RNM.
Đăng, cào, nạo, lưới, lưới điện là những công cụ thường được sử dụng để đánh bắt
ở khu vực gần bờ. Sản phẩm chính là các loại cua, ngao, tôm cá nhỏ, một số loài hai
mảnh vỏ (móng tay, trùng trục, vv). Người dân (đại đa số là dân nghèo) thường khai
thác hải sản bằng tay ở khu vực RNM được phục hồi. Trong những lúc nông nhàn,
77
thậm chí cả đêm tối họ vẫn có thể kiếm được tiền nhờ bắt hải sản tự nhiên. Lúc thuỷ
triều cạn, người dân ra các bãi triều để mò, đào, làm đăng đó để bắt các loài hải sản
tự nhiên. Nhất là từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm, ngoài việc đánh bắt ban ngày,
đêm tối họ mang đèn đi soi cua con về bán lại cho các chủ đầm hoạc bán cho người
thu gom mang đi nơi khác bán cho người nuôi trồng. Một số diện tích bãi bồi trên
địa bàn nghiên cứu dự định cho đấu thầu nhưng không được đa số người dân đồng
ý, do vậy, hiện để cho dân khai thác. Thu thập của người đánh bắt thô sơ từ ngao
vào khoảng 20 - 100.000 đồng.
Hình 4.3. Bắt móng tay trên bãi biển Đồng Châu
Đặc biệt là nuôi trồng thủy hải sản đã tạo ra nguồn thu nhập lớn cho người dân
nơi đây. Nuôi trồng thuỷ hải sản vùng nước mặn cho sản phẩm chính là các loại
tôm, cua và ngao. Hàng nghìn hécta mặt nước ở các bãi bồi cửa sông, ven biển đã
biến thành vùng nuôi ngao, vạng. Có những hộ ở đây thu nhập vài trăm triệu đồng
từ nuôi ngao. Ngao có một số loài chính như sau: ngao tự nhiên, ngao tấm, ngao
móng tay, ngao cúc, ngao thịt. Năm 2002, toàn huyện có 3.500 ha đầm nuôi thủy
sản, cho sản lượng hơn 9.000 tấn thủy sản (không kể sản lượng ngao), đưa tổng sản
lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản toàn huyện lên gần 15.000 tấn. Con tôm sú,
tôm rảo, con ngao đã trở thành những con bạc, con vàng của vùng biển Tiền Hải.
Diện tích nuôi tôm sú toàn huyện đã đạt 900 ha. Mô hình chuyển đổi đất lúa và đất
muối sang nuôi tôm ở các xã Đông Ninh, Nam Thịnh và Nam Cường đã thành công
rực rỡ, đưa hiệu quả kinh tế tăng gấp 3-4 lần so với trước khi chuyển đổi. Hàng
nghìn ha mặt nước ở các bãi bồi cửa sông, ven biển bỏ không trước đây, giờ đã biến
thành vùng nuôi ngao. Có những hộ ở đây thu nhập vài trăm triệu đồng từ nuôi
ngao. Ngoài thị trường địa phương, con ngao đã bò đi tiêu thụ ở khắp nơi và xuất
78
hiện ngày càng nhiều ở Hà Nội. Ngao Tiền Hải đang dần trở thành một thương hiệu
sản phẩm quý của Thái Bình.
Hình 4.4. Nuôi ngao tại vùng bãi triều xã Đông Minh - Tiền Hải
Ngoài các loài thủy sản nuôi trồng kể trên, tại nhiều đầm người dân nơi đây
còn nuôi rau câu. Rau câu được thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 5 dương lịch hàng
năm. Rau câu được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thạch. Rau câu khô chủ yếu
được chuyển qua Hải Phòng (phần lớn được chuyển đi Trung Quốc).
Tuy nhiên, ngoại trừ Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, vùng ĐNN tại các xã
còn lại do sự phát triển quá nhanh và không có quy hoạch đã làm suy giảm đáng kể
tài nguyên vùng ĐNN.
Ở Thái Bình, Hội Chữ thập đỏ tỉnh là đơn vị cấp tỉnh tham gia tích cực vào
công tác phục hồi RNM. Ngoài Uỷ ban nhân dân huyện, một số đơn vị như Ban
quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên ĐNN Tiền Hải, Hội Chữ thập đỏ huyện Tiền Hải
đã và đang trực tiếp tham gia vào công tác phục hồi và quản lý RNM ở huyện.
Những tác động của bởi các hoạt động của người dân đến vùng bãi bồi, RNM ven
biển, vùng cửa sông và vùng ngập triều Tiền Hải, Thái Bình với một số vấn đề đáng
chú ý như sau:
- Nguồn lợi hải sản vùng RNM, bãi bồi có xu hướng suy giảm.
- Quản lý nguồn nước thải là vấn đề cần được quan tâm. Đây là nơi khai thác
kinh tế của những người khá và giàu. Một số hoạt động và yếu tố tự nhiên chính ảnh
hưởng tới vùng bãi bồi, RNM như việc quai đắp ao tôm trái phép làm mất đi hàng
trăm ha RNM làm mất căn bằng sinh thái ĐNN.
79
- Săn bắt chim, thú trái phép, làm hủy hoại các ấu trùng tôm, cua, cá.
- Chặt phá rừng phi lao trên các cồn cát để lấy gỗ làm cột đáy, lấy gỗ xây
dựng, làm củi đó làm giảm nơi sinh sống của các loài chim thú bản địa.
- Chăn thả trâu, bò, dê trong RNM mới trồng làm hiệu quả trồng rừng bị hạn chế.
- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan trong nội đồng, tiêu diệt các loài thiên
địch có ích, làm ảnh hưởng đến sinh thái môi trường.
Việc khai thác, quản lý tài nguyên vùng ĐNN ven biển cũng làm nảy sinh
một số mâu thuẫn (Bảng 4.1).
Bảng 4.1. Mâu thuẫn và giải pháp giữa một số nhóm có liên quan đến khai thác, phục hồi, quản lý vùng ĐNN Lý do
Mâu thuẫn
Giải pháp
Thiệt hại cây non
Khai thác TS bằng tay > < trồng RNM
Tuyên truyền, vận động, thường xuyên thông tin đại chỳng. Nội qui, qui chế bảo vệ RNM.
Khai thác bằng máy > < trồng RNM
Phải có biển cấm, biển báo cho khu vực rừng mới trồng.
Phá hoại cây non, hủy diệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên
Nuôi trồng TS > < tổ trồng RNM
Qui hoạch cụ thể khu nuôi trồng thủy sản và trồng RNM
Phá hoại cây để quai đầm và làm chết cây
Nuôi gia súc, gia cầm > < tổ trồng rừng
Do dẫm chết cây và đào cây non
Cấm thả gia súc, gia cầm vào RNM đã qui hoạch.
KTTS bằng tay > < Nuôi trồng thủy sản
Phân định ranh giới giữa nuôi trồng và khai thác.
Người nuôi chiếm diện tích khai thác và ngược lại
Tự bảo vệ và trông coi
Nuôi gia súc, gia cầm > < nuôi trồng thủy sản
Gia súc gia cầm gây ô nhiễm và phá đầm
KTTS bằng tay > < KTTS bằng máy
Thỏa thuận giữa 2 bên, nếu không được thỡ chớnh quyền giải quyết.
KTTS = máy lấy sản phẩm của KTTS = tay
Như vậy, có mâu thuẫn giữa những người nuôi hải sản và những người đánh
bắt. Vào mùa tôm đẻ, những người đăng đáy đó đánh mất nhiều tôm rảo giống
khiến cho các đầm thiếu nguồn giống tự nhiên, ảnh hưởng đến thu hoạch. Cần phải
có sự can thiệp của chính quyền và các đoàn thể cũng như sự thỏa hiệp giữa những
người đánh bắt và nuôi trồng để vừa bảo vệ được nguồn giống lâu bền. Một trong
các giải pháp được đề xuất như tránh hoặc hạn chế đánh bắt các hải sản trong mùa
đẻ trứng, cộng đồng giúp nhau để tránh khai thác cạn kiệt nguồn lợi.
80
Cũng như các người nghèo khác, khi rơi vào tình trạng nghèo, họ phải sử dụng
hết khả năng của họ để kiếm sống, đặc biệt là tiến ra ven biển với hy vọng duy trì
cuộc sống dựa vào nguồn tài nguyên biển vẫn thường được coi là tài sản chung này
và trực tiếp làm ảnh hưởng đến RNM và HST ven biển (Thọ và cs, 2004). Nói khác
đi "Nghèo khổ khắp nơi đó đưa lại hậu quả là ngày càng có nhiều người từ các cộng
đồng ven biển và đô thị phải chuyển sang nghề đánh bắt hải sản để kiếm sống, tranh
nhau cùng khai thác các nguồn tài nguyên đang cạn kiệt dần" (Watkins, 1997).
Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, trên 10% trong tổng dân số toàn huyện. Tiền Hải cũng
là huyện có mức sống không cân đối bởi vì số dân có mức sống trung bình và khá
không nhiều chiếm khoảng 64,92% (trung bình 53,73% và khá 11,19%), số còn lại
nằm ở hai cực giàu có và nghèo. Tỷ lệ hộ giàu cao bởi vì trước đây họ có vốn và họ
tận dụng được lợi thế của vùng biển để nuôi trồng hải sản, đặc biệt là xã Nam
Thịnh. Khi người giàu đầu tư thêm vào nuôi trồng hải sản làm cho diện tích đánh
bắt hải sản tự nhiên của người dân nghèo bị thu hẹp và hậu quả là người nghèo bị
giảm đi phần thu nhập từ bắt hải sản tự nhiên dẫn đến ngày càng nghèo thêm. Điều
đó làm cho khoảng cách giàu-nghèo ngày càng xa. Đây cũng là tình trạng diễn ra ở
nhiều vùng ĐNN ven biển (Phan Thị Anh Đào và cs, 2005, Nguyễn Hoàng Trí và
cs, 2004). Việc tư nhân hóa diện tích bãi triều sẽ gây nên tổn thương ở bộ phận
thường khai thác bãi triều trước đó, là một nguy cơ gây ra mất công bằng về thu
nhập, dẫn đến thiếu bền vững trong phát triển kinh tế xã hội lâu dài (Adger 1997) và
trong quản lý bảo tồn tài nguyên vùng bãi bồi, RNM.
Một số quyết định liên quan đến sử dụng đất, đặc biệt dùng để nuôi trồng thủy
sản của cơ quan quản lý, chính quyền và của tổ chức xã hội có thể dẫn đến các tác
động xấu đến tài nguyên rừng, được người dân đề cập đến. Vì mục đích kinh tế
trước mắt, Chính quyền cho phộp chuyển đất RNM sang làm đầm nuôi trồng hải
sản. Muốn thực hiện tốt việc bảo vệ RNM thì chính quyền các cấp cần có qui hoạch
cụ thể cho từng vùng, nơi nào cần trồng RNM, trồng các dải rừng phòng hộ rộng
như thế nào để vừa có tác dụng tốt trong việc chắn sóng, bảo vệ đê biển vừa có đất
cho các hoạt động khác như đánh bắt, nuôi trồng, giao thông thuận lợi. Mặt khác,
cần phát triển du lịch sinh thái ở vùng RNM nhưng phải quản lý tốt các hoạt động
du lịch để tránh ô nhiễm môi trường.
81
Chương 5 LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Các giá trị vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình được tiến hành lượng giá
và phương pháp lượng giá tương ứng được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 5.1. Các giá trị được tiến hành lượng giá và các phương pháp lượng giá tương ứng
Các giá trị được lượng giá
Phương pháp lượng hó
TT
Phương pháp giá thị trường
1
Thuỷ sản
Phương pháp giá thị trường
2 Mật ong
Phương pháp giá thị trường
Cói
3
4
Phương pháp chi phí tránh được
Giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng
5
Giá trị lựa chọn
Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên
6
Giá trị để lại
Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên
7
Giá trị tồn tại
Phương pháp giá thị trường
5.1. Phương pháp xác định và lượng giá các giá trị
5.1.1. Giá trị thủy sản (GTts) Trước tiên, nói đến giá trị của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, chúng ta không
thể không nhắc đến giá trị trực tiếp - nguồn thủy sản trong vùng ĐNN mang lại, bao
gồm thủy sản khai thác tự nhiên tại các bãi triều, RNM, vùng cửa sông, vùng ven bờ
và thủy sản từ nuôi trồng của người dân trong vùng. Với việc buôn bán và xuất
khẩu thủy sản của người dân thì phương pháp tối ưu để xác định giá trị này đó là
”Phương pháp giá thị trường”.
5.1.1.1. Giá trị thủy sản khai thác tại bãi triều, lạch triều trong và ngoài vùng
RNM (TS1)
Tại các bãi triều, lạch triều ở trong cũng như ngoài vùng RNM được người
dân dùng tay hoặc các công cụ thô sơ để đánh bắt thủy sản ở đây. Giá trị thủy sản
đánh bắt thô sơ được tính đơn giản như sau:
TS1 = N x TNtb
Trong đó:
- TS1: Giá trị thủy sản đánh bắt thô sơ;
- N: là số người tham gia đánh bắt thường xuyên ;
82
- TN: Thu nhập trung bình năm của một người đánh bắt thô sơ.
5.1.1.2. Đánh bắt bằng thuyền máy nhỏ công suất dưới 150 CV tại vùng ven
bờ và các vùng cửa sông (TS2)
Giá trị thủy sản đánh bắt bằng thuyền máy nhỏ công suất dưới 150 CV tại
vùng ven bờ và các vùng cửa sông được tính như sau:
TS2 = N x T x TNtbt
Trong đó:
- TS2: Giá trị thủy sản đánh bắt bằng thuyền máy nhỏ dưới 150 CV
(đồng/năm)
- N: Số lao động tham gia đánh bắt thường xuyên
- T: Số tháng đánh bắt trong một năm
- TNtbt: Thu nhập trung bình tháng của một người
5.1.1.3. Giá trị thủy sản nuôi trồng thủy sản (TS3)
Ngoài giá trị thủy sản đánh bắt tự nhiên tại các bãi triều, trong RNM và tại
vùng ven bờ, các cửa sông thì giá trị thủy sản từ hoạt động nuôi trồng cũng có giá
trị rất đáng kể đối với người dân trong vùng. Giá trị thủy sản nuôi trồng chính là
tổng lợi ích kinh tế thực hay thặng dư kinh tế và được tính bằng tổng của thặng dư
tiêu dùng và thặng dư sản xuất. Tuy nhiên, trong luận văn này chỉ xét đến thặng dư
sản xuất và được tính theo công thức sau:
TS3 = DT – CP
Trong đó:
- TS3: Giá trị thủy sản nuôi trồng thủy sản (đồng)
- DT: Tổng doanh thu từ nuôi trồng thủy sản (đồng), được tính như sau:
DT = ∑ Sli x Pi
+) Sli: Sản lượng của loài thủy sản nuôi trồng thứ i
+) Pi: Giá bán của loài thủy sản nuôi trồng thứ i
- CP: Tổng chi phí nuôi trồng thủy sản (đồng), được tính như sau:
83
DT = ∑CPi Với CPi chi phí nuôi trồng loài thủy sản thứ i
5.1.2. Giá trị từ mật ong (GTmo) Trong RNM ngoài giá trị lâm sản như củi gỗ, phải kể đến giá trị thuốc nam từ một
số cây ngập mặn và giá trị mật ong nuôi trong RNM. Tuy nhiên, cây thuốc nam lấy từ
RNM được người dân trực tiếp sử dụng, không trở thành hàng hóa nên trong luận văn
không tiến hành lượng giá giá trị này. Giá trị từ mật ong chính là tổng lợi ích kinh tế thực
hay thặng dư kinh tế và được tính bằng tổng của thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản
xuất. Trong luận văn này chỉ xét đến thặng dư sản xuất và được tính theo công thức sau:
GTmo = DTmo – CPmo
Trong đó:
- GTmo: Giá trị từ mật ong
- DTmo: Tổng doanh thu từ mật ong
DTmo = Slmo x P
+) Slmo: Tổng sản lượng mật ong trong một năm (kg)
+) P: Giá bán của 1 kg mật ong (đồng/kg)
- CPmo: Tổng chi phí cho nuôi ong
CPmo = CPtb x N
+) CPtb: Chi phí trung bình cho một đàn
+) N: Số lượng đàn ong
5.1.3. Giá trị từ trồng cói (GTcoi) Cói, một loại cây ngập mặn, cũng được trồng rộng rãi ở các vùng nhiễm mặn, tại
vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, cói được trồng nhiều nhất ở xã Nam Cường. Cói thường
được sử dụng làm nguyên liệu dệt chiếu, làm đồ thủ công và một số ít dùng để buộc cua.
Và giá trị từ cói được tính như sau:
GTcoi = Slcói x Pcói
Trong đó:
- GTcoi: Giá trị từ cói (đồng)
84
- Slcoi: Tổng sản lượng cói trong 1 năm (kg)
- Pcoi: Giá bán cói trong năm đó (đồng/kg)
5.1.4. Giá trị từ việc làm giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng
Nhờ có RNM, đã làm giảm tác động của gió, bão, nước biển dâng đến tài nguyên,
hạ tầng và sinh kế của người dân ven biển . Để lượng giá chúng ta có thể dùng phương
pháp chi phí thiệt hại tránh được, tức là lượng giá trị thông qua giá trị của đê biển, vùng,
đầm nuôi trồng thủy sản, tài sản của người dân không bị thiệt hại do ảnh hưởng của gió,
bão, nước biển dâng. Tuy nhiên, trong thực tế khi xảy ra bão, thiệt hại về tài sản của
người dân VVB Tiền Hải là rất bé nên coi như không xét đến. Và giá trị này được xác
định như sau:
GTbao = X1 + X2
Trong đó:
GTbao: Giá trị làm giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng X1: Tổng chi phí xây dựng đê tại vị trí có RNM (đồng) X2: Giá trị thủy sản bị mất khi không có RNM (đồng)
5.1.5. Giá trị lựa chọn và giá trị để lại
Các giá trị lựa chọn và giá trị để lại thường rất khó để lượng giá được thành tiền và
để lượng giá chúng người ta thường sử dụng phương pháp lượng giá ngẫu nhiên. Do có
cùng phương pháp lượng giá nên chúng được tiền hành đồng thời.
5.1.5.1. Giá trị lựa chọn
Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng để xác định mức sẵn
lòng chi trả (WTP) trung bình cho mục đích bảo tồn các HST ĐNN ven biển Tiền Hải
nhằm duy trì và phát triển chúng, phục vụ cho nhu cầu sử dụng hiện tại.
5.1.5.2. Giá trị để lại
Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên (CVM), nhằm ước tính được giá trị mà các cá
nhẫn sẵn lòng chi trả để bảo tồn các HST ĐNN ven biển cho sử dụng sau này của con
cháu họ.
5.1.5.3. Các bước lượng giá
Để lượng giá giá trị lựa chọn và giá trị để lại của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải,
nghiên cứu đã xây dựng thị trường giả định cho mức sẵn lòng chấp nhận về việc bảo tồn
85
các HST ĐNN ven biển. Hai kịch bản giả định mà nghiên cứu đưa ra là có hai quỹ.
Trong đó quỹ 1 được dùng cho bảo tồn, khôi phục và phát triển các HST ĐNN ven biển,
nhằm duy trì chúng phục vụ cho nhu cầu sử dụng hiện tại của người dân VVB Tiền Hải
và quỹ 2 được dùng cho bảo tồn, khôi phục và phát triển các HST ĐNN ven biển, nhằm
duy trì chúng phục vụ cho nhu cầu sử dụng của thế hệ tương lai sống tại đó. Và cụ thể
có các bước sau đây:
- Bước 1: Thiết kế bảng phỏng vấn
Phương pháp tiến hành thu thập thông tin được tác giả tiến hành theo phương pháp
hỏi trực tiếp người được hỏi.
Bảng hỏi có kết cấu gồm ba phần như sau:
Thứ nhất: Những thông tin chung liên quan đến đối tượng hỏi như tên, tuổi, giới
tính, trình độ học vấn, thu nhập bình quân, v.v.. Thường mức sẵn lòng chi trả (WTP) của
họ có ảnh hưởng ít nhiều đến trình độ nhận thức của họ về tầm quan trọng của một tài
sản môi trường nào đó, hay như mức thu nhập bình quân có liên quan trực tiếp đến số
tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra.
Trong bảng hỏi nhất thiết không thể thiếu phần này vì đây là cơ sở lý giải cho
những mức sẵn lòng chi trả (WTP) khác nhau của những đối tượng khác nhau.
Thứ hai: Những thông tin về sự hiểu biết của người được phỏng vấn về đối tượng
nghiên cứu (HST ĐNN ven biển).
Thứ ba: Mức sẵn lòng chi trả (WTP) của đối tượng được hỏi. Đối tượng được hỏi
sẽ được cung cấp thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ đó có thể dễ dàng trả lời
câu hỏi trong bảng phỏng vấn.
Trong phiếu điều tra có đưa ra trước các mức tiền đối với từng quỹ để người dân
lựa chọn sẽ đóng góp mức tiền đóng góp mà họ cho là thích hợp và một vài thông tin cá
nhân khác đối với người được hỏi (cụ thể xem tại bảng phỏng vấn trong phần phụ lục).
- Bước 2: Tiến hành điều tra phỏng vấn thực địa
Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, bao gồm 3 xã vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên
Tiền Hải là Nam Thịnh, xã Nam Hưng và xã Nam Phú. Ở đây, đã có nhiều dự án tuyên
truyền cho người dân về bảo vệ các HST biển nên sự hiểu biết của người dân chắc chắn
sẽ hơn những xã nằm xa Khu bảo tồn thiên nhiên. Do đó, trong phạm vi của đề tài này,
86
đối tượng của điều tra chỉ gồm các hộ dân của 3 xã nói trên. Thông tin được thu thập
bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối với từng hộ gia đình, mỗi gia đình sẽ được điều tra
bằng 1 phiếu đại diện.
- Bước 3: Tổng hợp số liệu thu thập được
- Bước 4: Xác định giá trị
+ Đề tài sử dụng phần mềm MFIT3 để hồi quy số liệu thu thập được, từ đó xác
định WTP trung bình.
+ Xác định giá trị
GT = WTP trung bình x Tổng số hộ dân trong vùng
- Bước 5: Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới WTP
5.1.6. Giá trị tồn tại
Đây là giá trị rất khó đo lường vì giá trị tồn tại khi lượng giá thường bị ảnh hưởng
bởi tính chủ quan của mỗi cá nhân. Sự đo lường kinh nghiệm thường được xác định dựa
trên sự viện trợ của các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong nước và quốc tế. Các bước để
lượng giá giá trị tồn tại, bao gồm:
- Bước 1: Thu thập số liệu về các dự án đầu tư với mục đích bảo tồn các HST ĐNN
ven biển Tiền Hải trong những năm vừa qua;
- Bước 2: Quy đổi dòng tiền của các dự án về thời điểm tính toán
- Bước 3: Xác định tổng vốn đầu tư trung bình hàng năm cho vùng ĐNN ven biển
Tiền Hải
5.2. Ước tính các giá trị
5.2.1. Giá trị thủy sản (GTts) 5.1.1.1. Giá trị thủy sản khai thác tại bãi triều, lạch triều trong và ngoài vùng
RNM (TS1)
Theo số liệu do Phòng Tài nguyên và Môi trường Tiền Hải tổng hợp, năm 2010
đánh bắt thô sơ, có khoảng 350 người đi khai thác thường xuyên, thu nhập trung bình của một người đánh bắt thô sơ là 70.103 đồng/ngày (1 năm đi đánh bắt được khoảng 230
ngày). Từ đây ta có:
N = 350 người; TNtb = 70.103 x 230 = 16,1.106 (đồng).
87
Vậy giá trị thủy sản khai thác tại các bãi triều, lạch triều trong và ngoài vùng RNM
là: TS1 = 350 x 16,1.106 = 5.635.106 (đồng).
5.1.1.2. Đánh bắt bằng thuyền máy nhỏ dưới 150 CV tại vùng ven bờ và các
vùng cửa sông (TS2)
Theo số liệu do Phòng Tài nguyên và Môi trường Tiền Hải tổng hợp, năm 2010 có
khoảng 40 tàu thuyền thường xuyên đánh bắt tại vùng ben bờ. Ước tính sản lượng đánh
bắt trung bình khoảng 7.800 tấn/năm tôm, cá các loại. Giải quyết cho 1.250 lao động có việc làm ổn định với mức lương trung bình 3,5.106 đồng/người/tháng (năm đánh bắt 10
tháng). Từ đây ta có:
N = 1.250 (người); T = 10 tháng; TNtbt = 3,5.106 (đồng)
Vậy đánh bắt bằng thuyền máy nhỏ dưới 150 CV tại vùng ven bờ và các vùng cửa
sông là: TS2 = 1.250 x 10 x 3,5.106 = 43.750.106 (đồng).
5.1.1.3. Giá trị thủy sản nuôi trồng thủy sản (TS3)
a. Tính tổng doanh thu từ nuôi trồng thủy sản (DT)
Theo số liệu do Phòng Tài nguyên và Môi trường Tiền Hải cung cấp, ta có được
diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2010 như trong bảng dưới đây:
Bảng 5.2. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2010
Loại
Diện tích (ha)
Sản lượng (103 Kg)
Năng suất (Kg/ha)
Ngao
1.600
27.200
17.000
Tôm sú
1.120
22,4
20
Tôm rảo
1.120
33,6
30
Cua
700
4,9
7
Cá Vược
60
300
5.000
Rau câu
850
1.700
5.000
TỔNG
5.450
29.260,9
88
Bảng 5.3. Tổng doanh thu từ thủy sản nuôi trồng năm 2010
Loại
Giá bán (103 đ/kg)
Sản lượng (103 Kg)
Doanh thu (106 đ)
Ngao
20
27.200
544.000
Tôm sú
180
22,4
4.032
Tôm rảo
50
33,6
1.680
Cua
150
4,9
735
Cá Vược
120
300
36.000
Rau câu
5
1.700
8.500
TỔNG DOANH THU
594.947
b. Tính tổng chi phí đầu tư cho nuôi trồng thủy sản
- Chi phí nuôi ngao
Theo như báo cáo nghiên cứu phân tích lợi ích- chi phí các phương án sử dụng
ĐNN Giao Thuỷ của Dự án thí điểm Quản lý tổng hợp vùng ven bờ tỉnh Nam Định Hoạt
động nuôi ngao vạng nhìn chung không đòi hỏi đầu tư ban đầu nhiều. Tuy nhiên, hàng
năm người chủ vây vạng phải chịu các chi phí cải tạo, chi phí mua giống, thuê lao động
trông coi cũng như thuê nhân công vào vụ khai thác. Tổng chi phí hàng năm, trung bình là 84.106 đồng/ha (bao gồm chi phí san bãi, ngao giống, tiền sửa chữa vây, cọc, chòi canh
và thiết bị khác). Do điều kiện và cách nuôi ngao ở Giao Thủy và Tiền Hải gần tương tự
nhau nên ta có thể coi chi phí nuôi ngao cho tại vùng ĐNN ven biển Tiền Hải cũng là 84.106 đồng/ha.
- Chi phí nuôi tôm:
Ngày nay, thủy sản nuôi trồng ở Tiền Hải chủ yếu là nuôi ngao, cá vược và rau câu
còn tôm, cua nuôi rất ít và gần như nuôi tự nhiên nên chi phí nuôi tôm, cua chủ yếu là chi
phí cho việc mua giống. Theo như điều tra của tác giả chi phí nuôi tôm sú là 800.000 đồng/ha, tôm rảo là 0,2.106 đồng/ha.
- Chi phí nuôi cá vược: 18.106 đồng
- Chi phí nuôi cua và rau câu: theo điều tra của tác giả, một số chủ đầm tôm còn mua giống rau câu và cua với chi phí trung bình 106 đồng/ha đối với rau câu và 150.103
đồng/ha đối với cua.
89
Bảng 5.4. Tổng doanh thu từ thủy sản nuôi trồng năm 2010
Loại
Diện tích (ha)
Chi phí trung bình (103 đ/ha)
Tổng chi phí từng loại (106 đ /ha)
Ngao
84.000
1.600
134.400
Tôm sú
800
1.120
896
Tôm rảo
200
1.120
224
Cua
150
700
105
Cá Vược
18.000
60
1.080
Rau câu
1.000
850
850
TỔNG
137.555
c. Tính giá trị thủy sản nuôi trồng
TS3 = DT + CP = 594.947.106 - 137.555.106 = 457.392.106 (đồng)
Vậy giá trị từ nuôi thủy sản là:
TS = TS1 + TS2 + TS3 = 5.635. 106 + 43.750. 106 + 457.392. 106
= 506.777. 106 (đồng)
5.1.2. Giá trị từ mật ong (GTmo) Theo một nghiên cứu gần đây về RNM huyện Tiền Hải, Thái Bình của TS. Lê
Xuân Tuấn, Trung tâm nghiên cứu HST RNM, Trường ĐHSP Hà Nội, mật ong là một
sản phẩm quan trọng từ RNM, chúng hầu hết được bán trực tiếp cho người sử dụng trong
xã, huyện, khách du lịch, cán bộ về nghiên cứu ở địa phương, sinh viên. Mật ong bắt đầu
được thu hoạch từ đầu tháng 5 đến tháng 8 hàng năm (dương lịch). Năng suất trung bình
là 10kg/đàn/năm. Tổng số đàn ong ở 3 xã Đông Minh, Nam Thịnh, Nam Phú vào
khoảng 115 đàn.
- Tổng doanh thu từ mật ong:
DTmo = Slmo x P
Trong đó: Slmo = 10 x 115 = 1.150 kg/năm và giá bán 1kg mật ong năm 2010 là
120.103 đồng. Do đó ta có: DTmo = 1.150 x 120.103 = 138.106 (đồng)
- Tổng chi phí cho nuôi ong:
CPmo = CPtb x N
Trong đó: Chi phí trung bình cho một đàn là CPtb = 110.103 (đồng/đàn), N = 115
90
Do đó ta có: CPmo = CPtb x N = 120.103 x 115 = 12,65.106 (đồng)
- Giá trị từ mật ong (GTmo):
GTmo = DTmo - CPmo = 138.106 – 12,65.106 = 125,65.106 (đồng).
5.1.3. Giá trị từ trồng cói (GTcoi) Theo Phòng Tài nguyên và Môi trường, huyện Tiền Hải, năm 2010, diện tích cói
ước khoảng 20ha, xen kẽ trong RNM, không có diện tích trồng mới hàng năm. Năng suất cói đạt khoảng 1 tấn/ha/năm. Giá cói vào khoảng 3.103 đồng/kg, thường được sử
dụng làm nguyên liệu dệt chiếu, làm đồ thủ công và một số ít dùng để buộc cua. Và với giá cói vào khoảng 3.103 đồng/kg thì ta có thể tính được giá trị từ cói là:
GTcoi = Slcói x Pcói = 20 x 103 x 3.103 = 60.106 (đồng).
5.1.4. Giá trị làm giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng
Tuyến đê biển của huyện Tiền Hải dài 23 km, song diện tích RNM tập trung chủ
yếu ở các xã Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú, Đông Long, Đông Hoàng nên theo ước
tính sơ bộ chỉ có khoảng 7 km đê biển là có RNM ở phía trước đê. Hiện chi phí cho một
gói thầu xây dựng đê biển dài 200 m, với cao trình đỉnh đê +5m, tường đỉnh bằng bê
tông cao 1,2m, mái phía biển được lát cấu kiện bê tông, phía trong đất liền trồng cỏ Vectiver là vào khoảng 5.109 đồng. Suy ra ta có: X1 = 7 x 5.109 = 35.109 (đồng).
Thiệt hại lớn nhất khi có bão gió mạnh đổ bộ vào vùng ĐNN ven biển Tiền Hải là
diện tích thủy sản nuôi trồng của người dân nhưng nhờ có RNM mà thiệt hại đó được
giảm đi đáng kể. Do điều kiện thời gian có hạn nên việc xác định xem có bao nhiêu diện
tích nuôi trồng thủy sản được RNM che chắn là chưa làm được. Trong nghiên cứu của
luận văn này tác giả giả định rằng chỉ có 20% diện tích thủy sản nuôi trồng được che
chắn bởi RNM. Vậy giá trị thủy sản bị mất khi không có RNM là: X2 = 0,2 x 506,707.109 = 101,355.109 (đồng)
Vậy ta có:
GTbao = X1 + X2 = 35.109 + 101,335.109 = 136,335.109 đồng
5.1.5. Giá trị lựa chọn và giá trị để lại
Sau khi tổng hợp phiếu điều tra phỏng vấn người dân, trong số những người được
phỏng vấn có 4 % không sẵn lòng chi trả cho Quỹ 1 và 6 % không sẵn lòng chi trả cho
Quỹ 2. Tuy nhiên, những người không sẵn lòng chi trả không có nghĩa là họ không nhận
91
thức được vai trò và giá trị của vùng ĐNN ven biển. Lý do không đóng góp của họ là họ
cho rằng số tiền của họ sẽ bị sử dụng lãng phí và họ muốn đóng góp trực tiếp công sức
của mình hơn là việc đóng tiền, ví dụ như việc tự nguyện tham gia trồng RNM.
Đối với hộ sẵn lòng chi trả, mức WTP được lựa chọn nhiều nhất là 20.000 đồng
(chiếm tỷ lệ 22 %) đối với cả 2 Quỹ. Kết quả tổng hợp được thể hiện ở 2 bảng sau:
Bảng 5.5. Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho quỹ 1
WTP (nghìn đồng) Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
4 0 2
18 10 9
22 20 11
14 30 7
12 40 6
10 50 5
6 60 3
6 70 3
4 80 2
90 4
2 Bảng5.6. Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho quỹ 2
WTP (nghìn đồng) Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
6 18 22 14 16 6 6 6 4 2 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 3 9 11 7 8 3 3 3 2 1
Để ước lượng giá trị lựa chọn và giá trị để lại ta phải xây dựng mô hình hồi quy
mức sẵn lòng chi trả cho từng quỹ , với dạng chung như sau:
WTP = INPT + ∑βjXji + ui
Trong đó:
92
i: là số quan sát, j: là số biến
INPT: là hệ số chặn; βj: là hệ số hồi quy của biến thứ j trong mô hình
Xji: là giá trị của quan sát thứ i của biến thứ j
ui: yếu tố ngẫu nhiên (trong luận văn này không xét đến yếu tố này, vì ta
không biết được các yếu tố này nên nếu đưa vào thì kết qua ta thu được khi xét đối
với các biến trước đó sẽ trở nên vô nghĩa)
Có nhiều biến có thể ảnh hưởng tới WTP, tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ
xét đến các biến: giới tính (X1), tuổi (X2), trình độ học vấn (X3), nghề nghiệp (X4),
thu nhập (X5). Như vậy mô hình có thể được viết như sau:
WTP = INPT + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 (1)
Trong các biến có ảnh hưởng đến WTP có 3 biến chất lượng, là biến giới tính
(X1), trình độ học vấn (X3), nghề nghiệp (X4). Để lượng giá được biến chất lượng,
trong phân tích hồi quy người ta sử dụng biến giả. Khi đó biến giả cũng giống như
biến số lượng thông thường. Các biến được đưa vào trong mô hình như sau:
- X1 = 1 nếu người trả lời phỏng vấn là nam
hoặc: 0 nếu người trả lời phỏng vấn là nữ
- X3 = 0 nếu người trả lời phỏng vấn có trình độ từ cấp 1 trở xuống
hoặc: 1 nếu người trả lời phỏng vấn có trình độ cấp 2
hoặc: 2 nếu người trả lời phỏng vấn có trình độ cấp 3
hoặc: 3 nếu người trả lời phỏng vấn có trình độ từ Trung cấp trở lên
- X4 = 1 nếu người trả lời phỏng vấn có nghề nghiệp liên quan đến vùng ĐNN
ven biển
hoặc: 0 nếu người trả lời phỏng vấn có nghề nghiệp không liên quan đến
vùng ĐNN ven biển
Để xác định được WTP trung bình cho từng Quỹ, các hệ số hồi quy trong
phương trình (1) và mô hình hồi quy tương ứng cho các trường hợp giá trị lựa chọn
và giá trị để lại, luận văn này sử dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ
nhất (OLS) trong phần mềm MFIT3. Sau khi sử dụng phần mềm MFIT3 ta có được
kết quả như sau:
5.1.5.1. Giá trị lựa chọn
- Mô hình hồi quy mức sẵn lòng chi trả cho Quỹ 1:
93
WTP1 = - 2,653 – 3,996 X1 + 0,247 X2 + 11,008 X3 + 14,815 X4 + 0,010 X5 (nghìn
đồng)
- Mức sẵn WTP1 trung bình là 34,800 (nghìn đồng), hay 34.800 đồng.
- Mặt khác, theo số liệu điều tra gần đây, dân số trung bình của 3 xã vùng đệm
khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải là 16.014 người trong đó dân số của xã Nam
Thịnh là 6.620 người (1.588 hộ), xã Nam Hưng là 5.372 người (1.420 hộ) và xã
Nam Phú là 4635 nhân khẩu (1.246 hộ). Vậy tại thời điểm phỏng vấn giá trị lựa chọn
của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải là:
GTlưachon = WTP1 trung bình x Tổng số hộ dân
= 34.800 x 4.254 =148,04.106 (đồng)
Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới WTP1
Để biết sự ảnh hưởng của các biến đưa vào mô hình tới WTP1, ta tiến hành
kiểm định cặp giả thiết sau:
H0: βj = 0 hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê
H1: βj ≠ 0 hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê
- Nếu α > p thì bác bỏ H0, chấp nhận H1
- Nếu α < p thì chưa có đủ cơ sở bác bỏ H0 (với p-value = [Prob] và α = 0,05)
Ảnh hưởng của giới tính tới WTP1: Với β1 = -3,996 ≠ 0, p-value = 0,374 > α =
0,05 nên hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Do vậy, chưa thể khẳng định
giới tính có ảnh hưởng tới WTP hay không. Điều này có thể do sai số khi lấy mẫu vì
tỷ lệ nam nữ tham gia phỏng vấn chênh lệch nhau và không phản ánh đúng tỷ lệ
nam nữ hiện tại của địa phương.
Ảnh hưởng của tuổi tới WTP1: Với β2 = 0,247 ≠ 0, p-value = 0,346 > α = 0,05
nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Do vậy, chưa thể khẳng định tuổi có ảnh
hưởng tới WTP hay không.
Ảnh hưởng của trình độ học vấn tới WTP1: Với β3 = 11,008 ≠ 0, p-value =
0,002 < α = 0,05 nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Đây là ảnh hưởng cùng
chiều. Cụ thể khi các nhân tố khác không đổi, nếu trình độ học vấn của người được
phỏng vấn tăng thêm 1 bậc thì WTP sẽ tăng thêm 11,008 nghìn đồng. Điều này có
thể giải thích khi trình độ học vấn của người dân được nâng cao, họ càng nhận thức
được vai trò của vùng ĐNN đối với cuộc sống của bản thân cũng như cộng đồng.
Do đó họ sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho việc bảo tồn vùng ĐNN.
94
Ảnh hưởng của nghề nghiệp tới WTP1: Với β4 = 14,815 ≠ 0, p-value = 0,010 <
α = 0,05 nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Đây là ảnh hưởng thuận và những
người có thu nhập gắn liền với vùng ĐNN sẽ sẵn sàng chi trả cao hơn 14,815 nghìn
đồng so với những người không có thu nhập liên quan đến vùng ĐNN. Bởi lẽ,
những người có nguồn thu nhập liên quan đến vùng ĐNN sẽ nhận thức được tầm
quan trọng của vùng ĐNN đối với sự phát triển kinh tế của vùng và hơn cả là với
cuộc sống của chính bản thân họ.
Ảnh hưởng của thu nhập tới WTP1: Với β5 = 0,011 ≠ 0, p-value = 0,028 < α =
0,005 nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê và đây là ảnh hưởng cùng chiều. Nếu
thu nhập của người dân tăng thêm 1000 đồng thì WTP 1 sẽ tăng thêm 11.000 đồng.
Có thể nói khi thu nhập càng tăng thì sự sẵn lòng chi trả càng lớn. Điều này có thể
được giải thích khi thu nhập của họ tăng thì ngoài việc chi tiêu đảm bảo cho cuộc
sống hàng ngày, họ có thể chi trả cho các việc khác nữa. Song cũng có thể hiểu theo
cách khác rằng những người có thu nhập cao ở địa phương đa phần là do khai thác,
sử dụng nguồn tài nguyên biển. Chính nguồn tài nguyên đó đã giúp cho cuộc sống
của gia đình họ được nâng cao. Do đó họ đánh giá cao hoạt động bảo tồn vùng
ĐNN và vì vậy họ sẵn sàng đóng góp cho quỹ bảo tồn.
Ngoài ra, ta còn có:
R2 = 0,63031 tức là các biến độc lập giải thích được 63,03 % sự biến động của
biến phụ thuộc (WTP1)
Hệ số chặn bằng -2,653 chứng tỏ: nếu X1, X2, X3, X4, X5 đều bằng 0 thì WTP
là -2,653 (nghìn đồng). Điều này chứng tỏ vẫn có những nhân tố khác chi phối WTP
mà đề tài chưa xét.
5.1.5.2. Giá trị để lại
- Mô hình hồi quy mức sẵn lòng chi trả cho Quỹ 2:
WTP1 = - 4,795 – 1,575 X1 + 0,314 X2 + 8,042 X3 + 17,762 X4 + 0,008 X5 (nghìn
đồng)
- Mức sẵn WTP1 trung bình là 32,400 (nghìn đồng), hay 32.400 đồng.
- Mặt khác, tổng số hộ dân 3 xã vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải là
4.254 hộ. Vậy tại thời điểm phỏng vấn giá trị để lại của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải là:
95
GTđểlại = WTP2tb x Tổng số hộ dân
= 32.400 x 4.254 =137,83.106 (đồng)
Tương tự như phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới WTP1, ta tiến hành phân
tích ảnh hưởng của các nhân tố tới WTP2 như sau:
Ảnh hưởng của giới tính tới WTP1: Với β1 = - 1,575 ≠ 0, p-value = 0,732 > α =
0,05 nên hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Do vậy, cũng giống như phân
tích đối với WTP1 chưa thể khẳng định giới tính có ảnh hưởng tới WTP hay không.
Ảnh hưởng của tuổi tới WTP1: Với β2 = 0,314 ≠ 0, p-value = 0,244 > α = 0,05
nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Do vậy, chưa thể khẳng định tuổi có ảnh
hưởng tới WTP hay không.
Ảnh hưởng của trình độ học vấn tới WTP1: Với β3 = 8,042 ≠ 0, p-value =
0,026 < α = 0,05 nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Đây là ảnh hưởng cùng
chiều, tức là khi các nhân tố khác không đổi, nếu trình độ học vấn của người được
phỏng vấn tăng thêm 1 bậc thì WTP sẽ tăng thêm 8,042 nghìn đồng. Và cũng giống
như trên khi trình độ học vấn của người dân được nâng cao, họ càng nhận thức được
vai trò của vùng ĐNN đối với cuộc sống của bản thân cũng như cộng đồng. Do đó
họ sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho việc bảo tồn vùng ĐNN.
Ảnh hưởng của nghề nghiệp tới WTP1: Với β4 = 17,762 ≠ 0, p-value = 0,008 <
α = 0,05 nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Đây là ảnh hưởng cùng chiều, tức là
những người có thu nhập gắn liền với vùng ĐNN sẽ sẵn sàng chi trả cao hơn 17,762
nghìn đồng so với những người không có thu nhập liên quan đến vùng ĐNN.
Ảnh hưởng của thu nhập tới WTP1: Với β5 = 0,008 ≠ 0, p-value = 0,101 > α =
0,005 nên hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê. Do vậy, chưa thể khẳng định thu nhập
có ảnh hưởng tới WTP hay không.
Ngoài ra, ta còn có:
R2 = 0,57889 tức là các biến độc lập giải thích được 57,89 % sự biến động của
biến phụ thuộc (WTP1)
Hệ số chặn bằng -4,795 chứng tỏ: nếu X1, X2, X3, X4, X5 đều bằng 0 thì WTP
là -4,795 (nghìn đồng). Điều này chứng tỏ vẫn có những nhân tố khác chi phối WTP
mà đề tài chưa xét.
96
5.1.6. Giá trị tồn tại
Giá trị này sẽ được xác định dựa trên tổng các luồng vốn đầu tư trung bình
trong và ngoài nước/năm.
Theo Phòng Tài nguyên và Môi trường Tiền Hải từ năm 2000 đến nay các dự
án đầu tư với mục đích bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vùng ĐNN ven biển Tiền Hải
hoặc Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, được liệt kê ở bảng dưới đây:
Bảng 5.7. Danh mục các dự án đầu tư
Năm đầu tư
Tên nhà đầu tư
Tên dự án đầu tư
Giá trị đầu tư (106 đ)
1.900
2000
TT nghiên cứu Tài nguyên & MT
Mô hình ao tôm sinh thái
40
2004
Đề tài cấp huyện
Ứng dụng mô hình trồng dừa, keo, chanh trên bờ đầm
160
2005
Cục môi trường
Tăng cường năm lực cho BQL
2000-2009
Dự án trồng rừng
Chỉ nhận công trồng
TT nghiên cứu Tài nguyên & MT
Họ tự thực hiện
2008-2011
TT bảo tồn sinh vật biển và PT cộng đồng MCD
Hỗ trợ cộng đồng nghèo ven biển và bảo vệ MT
Như vậy các dòng tiền quy về thời điểm tính toán là sẽ được tính như sau:
Trong đó: PV là giá trị tiền hiện tại
FV là giá trị tiền tương lai
n là số năm quy đổi
r là lãi suất năm (chọn mức lãi suất r = 10%/năm)
Theo bảng trên nếu chỉ tính riêng 3 dự án đầu, ta có:
FV = 1.900.106 x (1+0,1)10 + 40. 106 x (1+0,1)6 + 160. 106 x (1+0,1)5 = 5,26.109 (đồng)
Vậy tổng số vốn đầu tư trung bình trong 1 năm (A) là:
97
A =
Hay EV = A= 329,83.106 (đồng)
3.2.5. Tổng hợp các giá trị kinh tế đã tính toán
Cuối cùng luận văn đã tính toán được một số giá trị, cụ thể được thể hiện ở
bảng dưới đây:
Bảng 5.8. Các giá trị kinh tế của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải Giá trị (x 106 đồng)
Các giá trị được lượng giá
TT
1
Thuỷ sản
506.777
2 Mật ong
125,65
Cói
3
60
136.335
4
Giảm ảnh hưởng của gió, bão, nước biển dâng
5
Giá trị lựa chọn
148,04
6
Giá trị để lại
137,83
7
Giá trị tồn tại
329,83
TỔNG GIÁ TRỊ
643.913,4
Trên đây là các giá trị mà đề tài ước tính được. Kết quả minh chứng một
phần giá trị to lớn mà vùng ĐNN nơi đây mang lại. Song do hạn chế về thời gian, số
liệu nên đề tài vẫn chưa ước tính được các giá trị như:
+ Giá trị củi, gỗ
+ Du lịch – giải trí
+ Giá trị là nơi cư trú, bãi đẻ, nuôi dưỡng con non
+ Lưu giữ vốn gen
+ Tăng lượng bồi tụ trầm tích
+ Làm muối
+ Nơi neo đậu của các tàu đánh cá
+ Chưa xem xét ảnh hưởng của việc nuôi trồng về mặt môi trường, tức phân
tích chi phí – lợi ích
98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ việc nghiên cứu tổng quan ĐNN ven biển, phương pháp lượng giá giá trị
kinh tế vùng ĐNN ven biển và từ kết quả lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven
biển Tiền Hải, Thái Bình, một số kết luận được rút ra dưới đây:
1) Về tiềm năng, hiện trạng và quản lý vùng ĐNN ven biển
Tiềm năng của vùng ĐNN ven biển nước ta là rất lớn, chúng là nơi cung cấp
thủy sản, gỗ, củi, mật ong, thuốc nam, cũng như các dịch vụ sinh thái quan trọng.
Song vùng ĐNN này đang bị tác động rất lớn do sự khai thác quá mức của con
người, dẫn đến xu hướng suy thoái tài nguyên, môi trường vùng ĐNN. Để có thể
quản lý tốt tài nguyên vùng này, cần chú trọng giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh
trong quá trình khai thác và quản lý tài nguyên. Cũng như việc quy hoạch, quản lý
và bảo tồn vùng ĐNN, bảo tồn ĐDSH cần được chú trọng, đầu tư thích đáng.
2) Về phương pháp lượng giá giá trị kinh tế ĐNN ven biển
Giá trị hàng hóa và dịch vụ vùng ĐNN ven biển được đánh giá đầy đủ thông
qua tổng giá trị kinh tế của vùng ĐNN. Ứng với mỗi giá trị của vùng ĐNN ven biển
có các phương pháp lượng giá khác nhau. Mỗi phương pháp có yêu cầu khác nhau
và đặc biệt một số phương pháp kết quả phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của người
dân tại vùng ĐNN.
3) Về kết quả lượng giá
Thông qua các giá trị đã tính toán được ở trên, chúng ta đã phần nào thấy
được tầm quan trọng của vùng ĐNN ven biển huyện Tiền Hải để từ đó đưa ra các
chính sách khai thác, sử dụng hợp lý vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, nhằm hướng tới
phát triển bền vững. Nếu khai thác, sử dụng hợp lý vùng ĐNN ven biển Tiền Hải
theo hướng bền vững thì tổng giá trị kinh tế của vùng ĐNN này sẽ ngày càng tăng
lên, phục vụ tốt cho đời sống người dân nơi đây.
2. Một số kiến nghị
1) Việc tiến hành lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển là tương đối
phức tạp, nên cần phải có nhiều nghiên cứu sâu rộng hơn nữa.
99
2) Các phương pháp lượng giá giá trị kinh tế vùng ĐNN ven biển cần được
kiểm nghiệm bởi các nhà chuyên môn và cải tiến để có thể áp dụng trong điều kiện
Việt Nam.
3) Để khai thác, sử dụng hợp lý vùng ĐNN ven biển bên cạnh việc ban hành
các văn bản mang tính quy phạm pháp luật, cần tiến hành lượng giá giá trị kinh tế
vùng ĐNN ven biển và lồng ghép các kết quả lượng giá vào quá trình ra quyết định.
Dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ chuyên môn còn hạn chế, cộng với
thời gian có hạn, thiếu số liệu, hay cỡ mẫu điều tra chưa đủ lớn, quá trình thu thập
số liệu diễn ra trong 1 thời gian nhất định nên mới chỉ phản ánh phần nào giá trị
thực tế tại địa điểm nghiên cứu và chưa lượng giá được hết các giá trị của vùng
ĐNN.
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục bảo vệ Môi trường (2001). Các vùng đất
ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường Việt Nam, Hà Nội.
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003). Bảo tồn và phát triển bền vững đất
ngập nước Việt Nam. IUCN, Hà Nội.
3. Công ước Ramsar (1971). Công ước về đất ngập nước. Iran.
4. Hoàng Xuân Cơ (2005). Giáo trình kinh tế môi trường. Nhà xuất bản giáo dục.
5. Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2006). Hệ thống phân loại đất ngập
nước Việt Nam, Hà Nội.
6. Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005). Tổng quan hiện trạng đất ngập
nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar, Hà Nội.
7. Nguyễn Chu Hồi, Lê Diên Dực, Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Khắc Kinh
(1996). Việt Nam - Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ và Quản lý đất ngập nước: Hiện
trạng, Sử dụng, Bảo vệ và Quản lý. Kỷ yếu Hội thảo, Hà Nội
8. Phan Nguyên Hồng (2004). Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển
đồng bằng sông Hồng. Nhà xuất bản nông nghiệp.
9. Lê Văn Khoa (2008). Đất ngập nước. Nhà xuất bản giáo dục.
10. Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn
và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.
11. Sở kế hoạch và đầu tư Thái Bình. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế –
xã hội VVB tỉnh Thái Bình giai đoạn đến 2020.
12. Trần Trung Thành, Lê Xuân Tuấn (2009). Nghiên cứu bước đầu về việc khai
thác và quản lý tài nguyên vùng rừng ngập mặn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
13. Thông tư số 23/2010/TT-BTNMT ngày 26 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về điều tra khảo sát, đánh giá hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển và đất ngập nước vùng ven biển và hải đảo.
14. Thông tư số 36/2010/TT-BTNMT ngày 14 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra khảo sát, đánh giá hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển và đất ngập nước vùng ven biển và
hải đảo.
15. Nguyễn Hoàng Trí (2006). Lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn
– Nguyên lý và ứng dụng. Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
101
16. Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD). Nam Phú
PRA – Technical report VN.
17. Ủy ban nhân dân huyện Tiền Hải. Báo cáo tổng hợp Tiền Hải 2010.
Tiếng Anh
18. ADB, 1996. Economic Evaluation of Environmental Inpacts: A
Workbook. Environment Division, Office of Environmet and Social Development. Asian Development Bank. Manila, Philippines.
19. Barbier, E. Acreman, M. and Knowler, D. (1997). Economic valuation of
wetlands. A guide for policy makers and planners.
20. Barbier, E. Costanza, R. and Twilley, R. (1991). Guidelines for Tropical
Wetland Evaluation. CATIE: Turrialba, Costa Rica.
21. Constanza, R. Farber, C. and Maxcell, J. (1989). The valuation and
Management of Wetland Ecosystems. Ecological Economics.
22. Emerton, L. (2008). Economic Tools for valuing Wetlands in Eastern
Africa.
102
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 HỆ THỐNG PHÂN LOẠI ĐNN THEO CÔNG ƯỚC RAMSAR
Đất ngập nước ven biển và biển (Marine and Coastal Wetlands)
A
1
Các vùng biển nông ngập nước thường xuyên ở độ sâu dưới 6 mét khi triều thấp; bao gồm cả các vịnh và eo biển.
B
2
Các thảm thực vật biển dưới triều; bao gồm các bãi tảo bẹ, các bãi cỏ biển, các bãi cỏ biển nhiệt đới.
C
3
Các rạn san hô.
D
4
Các bờ đá biển; kể cả các đảo đá ngoài khơi, vách đá biển.
E
5
Các bờ cát, bãi cuội hay sỏi; bao gồm các roi cát, mũi đất nhô ra biển và các đảo cát; kể cả các hệ cồn cát và các lòng chảo ẩm ướt.
F
6
Các vùng nước cửa sông; nước thường trực của các vùng cửa sông và các hệ thống cửa sông của châu thổ.
G
7
Các bãi bùn gian triều, các bãi cát hay các bãi muối.
H
8
Các đầm lầy gian triều; bao gồm các đầm lầy nước mặn, các đồng cỏ nước mặn, các bãi kết muối, các đầm nước mặn nổi lên; kể cả các đầm nước ngọt và lợ thủy triều.
I
9
Các vùng đất ngập nước có rừng gian triều; bao gồm rừng ngập mặn, các đầm dừa nước và các đầm có cây nước ngọt.
J
10
Các đầm/ phá nước lợ/mặn ven biển; các đầm/ phá nước lợ đến nước mặn ít nhất có một lạch nhỏ nối với biển.
K
11
Các đầm/ phá nước ngọt ven biển; bao gồm các đầm/ phá châu thổ nước ngọt.
12
Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động ven biển và biển
Zk (a)
Đất ngập nước nội địa
L
13
Các đồng bằng châu thổ thường xuyên có nước.
M
14
Các sông/suối/lạch thường xuyên có nước; bao gồm cả các thác nước.
N
15
Các sông/suối/lạch có nước theo mùa/không liên tục/bất thường.
O
16
Các hồ nước ngọt có nước thường xuyên (trên 8ha); bao gồm các hồ lớn uốn chữ U/hình móng ngựa.
P
17
Các hồ nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục (trên 8ha); bao gồm cả các hồ ở đồng bằng ngập lũ.
Q
18
Các hồ nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên.
R
19
Các hồ và bãi nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên.
20
Các đầm/ vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên.
Sp
21
Các đầm/ vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước theo mùa/không liên tục.
Ss
103
Tp
22
Các đầm/ vũng nước ngọt có nước thường xuyên; các ao hồ (dưới 8ha); các đầm nước và đầm lầy trên đất vô cơ; có thảm thực vật nổi mọng nước ít nhất trong phần lớn mùa sinh trưởng.
Ts
23
Các đầm/ vũng nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục trên đất vô cơ; kể cả bãi lầy, hố/ hốc đá, đồng cỏ ngập theo mùa, đầm cỏ lác/ lách.
U
24
Các vùng đất than bùn không có rừng; bao gồm đầm lầy than bùn có cây bụi hoặc trống, các đầm lầy/ bàu, các đầm lầy thấp.
25
Va
Các vùng đất ngập nước núi cao; kể cả các đồng cỏ núi cao, các vùng nước tạm thời do tuyết tan.
26
Vt
Các vùng đất ngập nước lãnh nguyên; bao gồm các vũng nước lãnh nguyên, các vùng nước tạm thời do tuyết tan.
W
27
Các vùng đất ngập nước cây bụi chiếm ưu thế; các đầm lầy cây bụi, các đầm nước có cây bụi chiếm ưu thế, các rừng cây bụi, cây dương đỏ; trên đất vô cơ.
28
Xf
Các vùng đất ngập nước nước ngọt có cây lớn chiếm ưu thế; kể cả rừng đầm lầy nước ngọt, rừng ngập theo mùa, đầm lầy cây gỗ; trên đất vô cơ.
29
Các vùng đất than bùn có rừng; rừng đầm lầy đất than bùn.
Xp
Y
30
Suối, ốc đảo nước ngọt.
31
Các vùng đất ngập nước địa nhiệt.
Zg
32
Zk (b)
Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động nội địa.
Đất ngập nước nhân tạo
1
33
Các đầm/ ao nuôi trồng thủy sản (như các đầm nuôi tôm/cá).
2
34
Các ao; bao gồm các ao nông nghiệp, các ao nuôi, các bể chứa nhỏ (nhìn chung nhỏ hơn 8ha).
3
35
Đất được tưới tiêu; bao gồm các kênh mương tưới tiêu và các ruộng lúa.
4
36
Đất nông nghiệp ngập theo mùa (bao gồm các đồng cỏ ngập nước hoặc đồng cỏ dùng để chăn thả gia súc hoặc được quản lý một cách tích cực).
5
37
Các điểm khai thác muối; các ruộng/ hồ muối, nước mặn…
6
38
Các khu vực trữ nước; hồ chứa/đập nước/đập chắn/ đập tràn (nhìn chung trên 8 ha).
7
39
Các nơi đào; các mỏ cuội/gạch/sét; các mỏ đất mượn, các moong mỏ.
8
40
Các vùng xử lý nước thải; các bãi chứa nước thải sinh hoạt, các ao lắng, các bể ôxy hóa, v.v..
9
41
Các con kênh, rạch thoát nước, các mương nhỏ.
42
Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động nhân tạo.
Zk(c)
104
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
PHỤ LỤC 2 BẢNG PHỎNG VẤN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thái Bình, ngày tháng năm 2010
BẢNG PHỎNG VẤN
Khác còn ít
Bảng phỏng vấn này phục vụ mục đích nghiên cứu. Tôi hy vọng ông/bà bớt chút thời gian quý báu của mình để trả lời những câu hỏi dưới đây. Những thông tin đó sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình và đồng thời cũng góp phần lượng giá được giá trị lựa chọn và giá trị để của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình. I. Thông tin cá nhân 1.Họvà tên:………………………………………………….……………………………………………… 2. Giới tính: Nam Nữ 3. Địa chỉ:…………………………………………………………………………..………………………… 3. Trình độ học vấn: Không đi học Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trung cấp, cao đẳng Đại học và trên ĐH 5. Nghề nghiệp:……………………………………………………………..……………………………… 6. Thu nhập bình quân năm của gia đình:…………………………………………..(đồng/năm) II. Thông tin về sự hiểu biết của người dân về tầm quan trọng của vùng ĐNN ven biển Tiền Hải 1.Ông/bà biết về tầm quan trọng của vùng ĐNN ven biển nơi ông/bà sinh sống? Có Không 2. Vậy ông/bà cho biết mức độ quan trọng của vùng ĐNN ven biển nơi ông/bà sinh sống? Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng Không quan trọng 3. Ông/bà cho biết hiện trạng khai thác, sử dụng vùng ĐNN ven biển Tiền Hải Chưa khai thác gì Khai thác nhiều Khai thác quá mức, bừa bãi 4. Ông/bà cho biết hiện trạng môi trường tại vùng ĐNN ven biển Tiền Hải Chưa bị ô nhiễm Ô nhiễm nhẹ Ô nhiễm nặng Ô nhiễm trầm trọng III. Mức độ sẵn lòng chi trả
Vùng ĐNN ven biển Tiền Hải, Thái Bình có là vùng ĐNN cung cấp nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, chúng có giá trị to lớn về mặt kinh tế, đặc biệt là về mặt sinh thái và ĐDSH cao. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang bị đe dọa
105
nghiêm trọng do việc khai thác chưa hợp lý, dẫn đến nguồn lợi của rừng ngày một cạn kiệt khiến cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết vấn đề trên, giả sử cần phải lập 2 quỹ: - Quỹ 1: Dùng để bảo tồn, khôi phục và phát triển các HST ĐNN ven biển, nhằm duy trì chúng phục vụ cho nhu cầu sử dụng hiện tại của người dân
- Quỹ 2: Dùng để bảo tồn, khôi phục và phát triển các HST ĐNN ven biển, nhằm duy trì chúng phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con cháu ông/bà trong tương lai. Ông/bà hãy chọn và đánh dấu vào một trong các lựa chọn dưới đây: I. Đối với quỹ 1 1. Ông/bà có sẵn lòng đóng góp cho quỹ không? Có Không 2. Mức đóng góp cao nhất mà bác/ anh/ chị đồng ý đóng góp là bao nhiêu? 10.000 đồng 30.000 đồng 50.000 đồng 70.000 đồng 20.000 đồng 40.000 đồng 60.000 đồng 80.000 đồng
Mức đóng góp khác: ………………………………….………………………………………
II. Đối với quỹ 2 1. Bác/ anh/ chị có sẵn lòng đóng góp cho quỹ 2 hay không? Có Không 2. Mức đóng góp cao nhất mà bác/ anh/ chị đồng ý đóng góp là bao nhiêu? 10.000 đồng 30.000 đồng 50.000 đồng 70.000 đồng 20.000 đồng 40.000 đồng 60.000 đồng 80.000 đồng
Mức đóng góp khác: …………………………………..………………………………………
III. Lý do 1. Bác/ anh/ chị hãy cho biết lý do tại sao đóng góp cho quỹ?
a. Nguồn lợi của rừng vô cùng quan trong với cuộc sống của bản thân b. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của bản thân mỗi người c. Lý do khác: .................................................................................................................................
2. Bác/ anh/ chị hãy cho biết lý do tại sao không đóng góp cho quỹ?
a. Nguồn lợi của rừng không quan trọng với cuộc sống của bản thân b. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước c. Lý do khác: ....................................................................................................................................... ......................................................................................................
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ông/bà!
106
PHỤ LỤC 3 THÔNG TIN VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC PHỎNG VẤN 1) Tổng hợp số liệu thu thập được đối với cả 2 quỹ
- Giới tính:
Trong tổng số 50 người được phỏng vấn có 28 nam (56%) và 21 nữ (44%)
- Tuổi:
Trong tổng số 50 người được phỏng vấn, số tuổi cao nhất là 75 tuổi và số tuổi thấp nhất là 29 tuổi.
Bảng: Tuổi người được phỏng vấn
Nhóm tuổi
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
25 – 35 35 – 50 Trên 50
15 27 7
32 54 14
- Trình độ học vấn
Phiếu điều tra đưa ra 4 cấp độ học vấn: Không đi học và cấp 1 trở xuống, hết cấp 2, hết cấp 3 và trên cấp 3. Qua thu thấp số liệu cho thấy: tỷ lệ học đến cấp 2 cao nhất (40%), tỷ lệ trên trên cấp 3 thấp nhất (6%).
Bảng: Trình độ học vấn của người được phỏng vấn
Trình độ học vấn
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Không đi học – Cấp 1 Hết cấp 2 Hết cấp 3 Trên cấp 3
13 20 14 3
26 40 28 6
- Nghề nghiệp
Trong 50 người được phỏng vấn, có 24 người có nghề nghiệp liên quan đến vùng ĐNN (chiếm 48%).
- Thu nhập
Bảng: Thu nhập hàng tháng của người tham gia phỏng vấn
Thu nhập (nghìn đồng)
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
500 1.000 1500 2.000 2.500 3.000
6 18 17 5 2 2
12 36 34 10 4 4
107
2)Ước lượng các hệ số hồi quy
Bảng: Ước lượng mô hình hồi quy WTP1 theo các biến bằng phần mềm MFIT3
Bảng: Ước lượng mô hình hồi quy WTP2 theo các biến bằng phần mềm MFIT3