VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ----------
HUỲNH HẢNH
CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
HUỲNH HẢNH
CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HỮU CHÍ
Hà Nội, năm 2021
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. BHXH là trụ cột
chính trong hệ thống ASXH ở mỗi quốc gia.
BHXH là sự cần thiết khách quan và là tất yếu, phản ánh nhu cầu khách
quan của đời sống xã hội hiện đại. Người Đức có câu phương ngôn: “Cuộc sống
không có bảo hiểm thì chẳng khác nào trèo lên chiếc thang chỉ có một chân”.
Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014 thì BHXH gồm 02 loại hình:
BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. BHXH bắt buộc gồm các chế độ: ốm
đau, thai sản, TNLĐ - BNN, hưu trí và tử tuất. BHXH tự nguyện gồm các chế
độ: hưu trí và tử tuất.
Trong các chế độ BHXH thì CĐHT có vai trò đặc biệt quan trọng, là
hạt nhân của hệ thống BHXH, là mục tiêu đảm bảo ASXH và là động lực để
NLĐ yên tâm làm việc. CĐHT là một trong những chế độ quan trọng nhất của
hệ thống ASXH, góp phần quan trọng làm cho xã hội được ổn định.
Qua thời gian dài tổ chức thực hiện, CĐHT luôn có vị trí đặc biệt quan
trọng đối với người tham gia BHXH. CĐHT cùng với các chế độ BHXH khác
đã góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ, tạo điều kiện cho họ yên
tâm công tác, lao động, sản xuất và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị
xã hội của đất nước. Nhờ có CĐHT mà NLĐ sau khi hết tuổi lao động hoặc
sau một thời gian công tác nhất định sẽ được nghỉ hưu và được nhận tiền hưu
để ổn định cuộc sống.
Thời gian qua, tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, việc thực hiện các
quy định về BHXH, nhất là việc thực hiện CĐHT đã có nhiều chuyển biến
1
tích cực và đã thu được những kết quả rất quan trọng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được về tình hình tham gia,
công tác thu, chi và giải quyết CĐHT, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc
cần được xem xét, nghiên cứu và giải quyết một cách kỹ lưỡng như: điều kiện
hưởng, thời hạn nghỉ hưu, mức hưởng, thời gian tham gia,…
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Chế độ hưu trí theo pháp luật Bảo hiểm xã
hội bắt buộc từ thực tiễn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu,
đưa ra những giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về CĐHT,
nhằm duy trì và thực hiện tốt chính sách ASXH, góp phần ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ và người
thụ hưởng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
CĐHT là một trong những chế độ quan trọng nhất trong Luật BHXH
của bất kỳ quốc gia nào. Nó xuất hiện từ giai đoạn đầu hình thành các chính
sách BHXH của các quốc gia. Ở Việt Nam, nghiên cứu về CĐHT đã được
quan tâm từ rất lâu. Vấn đề này được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác
nhau, có thể kể đến một số công trình của các tác giả như:
- Tác giả Nguyễn Lệ Huyền với Luận văn thạc sĩ: Bảo hiểm hưu trí –
thực trạng và kiến nghị, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015.
- Tác giả Lý Hoàng Minh với Luận văn thạc sĩ: Thực hiện chính sách
hưu trí ở nước ta hiện nay, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2016.
- Tác giả Dương Thị Thùy Trang với Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về
chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, Trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh, năm 2016.
- Tác giả Hà Thị Hiền với Luận văn thạc sĩ: Chế độ hưu trí theo Luật
Bảo hiểm xã hội năm 2014 ở Việt Nam hiện nay, Học viện Khoa học Xã hội,
năm 2018.
Ngoài ra, có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu của các tác giả đăng
2
trên các tạp chí như:
- “Bảo hiểm hưu trí ở Việt Nam: thực trạng và thách thức” của tác giả
Điều Bá Được đăng trên Tạp chí Tài chính, năm 2013.
- “Cải cách Luật Bảo hiểm xã hội để mở rộng Bảo hiểm hưu trí đối với
người cao tuổi” của tác giả Đặng Như Lợi đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị,
số 12 năm 2014.
Tất cả những công trình, bài viết trên đều tập trung nghiên cứu về vấn
đề CĐHT trong Luật BHXH các thời kỳ. Tuy nhiên, ở góc độ nào đó, chưa có
công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về
pháp luật CĐHT từ thực tiễn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chính vì lý do
đó, đề tài: “Chế độ hưu trí theo pháp luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc từ thực
tiễn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau” sẽ là công trình khoa học đầu tiên
nghiên cứu về pháp luật CĐHT và thực tiễn thực hiện tại thành phố Cà Mau,
tỉnh Cà Mau.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
về CĐHT, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về CĐHT ở
nước ta và thực tiễn thực hiện ở thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Từ đó đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật BHXH về CĐHT tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục đích nêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề:
- Một số vấn đề lý luận về CĐHT.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật hiện hành về CĐHT tại thành phố Cà
Mau, tỉnh Cà Mau; qua đó phân tích, đánh giá thực trạng quá trình tổ chức
3
thực hiện.
- Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật hiện
hành và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH về CĐHT ở thành phố
Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật BHXH Việt Nam hiện hành
về CĐHT và thực trạng thực hiện CĐHT tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu CĐHT của đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau giai đoạn 2017 - 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
- Lênin và duy vật biện chứng để nghiên cứu các nội dung của vấn đề.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ
thể của ngành Luật học như: phương pháp nghiên cứu hệ thống; phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu, kết hợp
nghiên cứu lý luận với thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận và
thực tiễn về hoạt động BHXH nói chung và CĐHT nói riêng.
Làm rõ thực trạng thực hiện CĐHT trên địa bàn thành phố Cà Mau,
tỉnh Cà Mau trong những năm qua.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
CĐHT và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện CĐHT ở Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có thể làm tài liệu cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu
4
khoa học; đồng thời cũng có thể làm tài liệu cho các ngành, đoàn thể tham
khảo. Ngoài ra đề tài còn có thể tham khảo trong quá trình xây dựng chính
sách về CĐHT và nâng cao hiệu quả thực hiện CĐHT tại thành phố Cà Mau,
tỉnh Cà Mau.
7. Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm có 03 chương, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về CĐHT và pháp luật về CĐHT ở
Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện CĐHT theo pháp luật BHXH bắt buộc
tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực hiện CĐHT theo pháp luật BHXH bắt buộc tại thành
5
phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Một số vấn đề lý luận về chế độ hưu trí
1.1.1. Khái niệm chế độ hưu trí
Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải lao động để tạo ra của cải,
vật chất. Nhưng cùng với thời gian, con người sẽ bị già đi, sức khoẻ của họ bị
giảm sút không còn khả năng lao động, không còn khả năng tự đáp ứng nhu
cầu cho cuộc sống. Lúc đó khoản thu nhập của họ có được phần lớn là do
người thân chu cấp nhưng không thường xuyên, số ít được tích luỹ trong quá
trình lao động. Để đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ khi họ hết tuổi lao
động và giúp họ có nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định đời sống, do đó
Nhà nước đã thực hiện CĐHT.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về CĐHT trong hệ thống
các chính sách BHXH.
Có quan điểm cho rằng, “CĐHT được hiểu là việc cung cấp khoản trợ
cấp nhằm thay thế thu nhập và lợi ích khác cho người sống lâu hơn một độ
tuổi được quy định khi họ tham gia BHXH và đủ điều kiện để hưởng trợ cấp
và lợi ích theo quy định về BHXH” [13, tr.11].
Ngoài cách hiểu trên, còn một số cách hiểu khác về CĐHT trong
BHXH như: “CĐHT là chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho người tham gia
BHXH khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa”
[10, tr.9].
Hay “CĐHT là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các điều
kiện và mức hưởng cho những người đã hết tuổi lao động hoặc không còn
6
tham gia quan hệ lao động” [10, tr.9].
Qua nghiên cứu các quan điểm khác nhau về CĐHT ta thấy, các quan
điểm đều cho rằng CĐHT là chế độ áp dụng cho NLĐ khi họ đã hết tuổi lao
động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Ngoài ra, bản chất của
CĐHT là sự đảm bảo thu nhập bằng việc trợ cấp của quỹ BHHT dành cho
người tham gia sau khi họ hết tuổi lao động hoặc không tham gia quan hệ lao
động nữa.
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm CĐHT: Là tổng hợp các
quy phạm pháp luật quy định về các đối tượng, điều kiện, mức đóng và mức
trợ cấp cho những người tham gia BHXH khi đã hết tuổi lao động hoặc không
còn tham gia quan hệ lao động.
CĐHT có sự tách biệt giữa đóng và hưởng, đồng thời là chế độ nằm
ngoài quá trình lao động. Do đó, NLĐ muốn được hưởng CĐHT thì trong quá
trình lao động phải tham gia đóng BHXH. Số tiền mà NLĐ đóng BHXH sẽ
được tích luỹ vào quỹ hưu trí và sau khi nghỉ việc, NLĐ sẽ được chi trả lương
hưu; ngoài ra, những người thuộc thế hệ trước đang hưởng lương hưu cũng
được trích từ quỹ hưu trí này. Như vậy có sự kế thừa giữa các thế hệ lao động
trong việc hình thành quỹ hưu trí.
Đây là đặc trưng thể hiện nguyên tắc số đông bù số ít, đoàn kết, tương
trợ của CĐHT. Thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa NLĐ và NSDLĐ.
NSDLĐ muốn có sự phát triển sản xuất, kinh doanh thì ngoài việc tập trung
thiết bị máy móc, họ cũng phải quan tâm đến cuộc sống của NLĐ. Phải tạo
cho NLĐ việc làm và cũng phải đảm bảo cuộc sống cho họ khi họ hết tuổi lao
động.
1.1.2. Ý nghĩa của chế độ hưu trí
CĐHT có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của mỗi NLĐ. CĐHT
đảm bảo đời sống cho NLĐ khi họ về hưu, vì vậy làm cho xã hội ổn định.
CĐHT là hạt nhân của hệ thống BHXH, giúp NLĐ yên tâm làm việc
7
trong quá trình lao động, tích luỹ khi còn trẻ để khi nghỉ hưu NLĐ có cuộc
sống thoải mái hơn và an nhàn hơn vì có được sự đảm bảo chắc chắn về phần
thu nhập.
CĐHT giúp NLĐ tiết kiệm trong quá trình lao động khi còn trẻ để khi
về già cuộc sống được đảm bảo hơn, giảm bớt gánh nặng cho người thân, gia
đình và xã hội.
CĐHT có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống xã hội. Kết quả thực
hiện CĐHT, phản ánh được trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
và đánh giá được mức độ ASXH đạt được ở mỗi quốc gia.
1.1.3. Vai trò của chế độ hưu trí
CĐHT có vai trò to lớn trong đời sống xã hội. Trong giai đoạn hiện nay,
khi nước ta đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, bên cạnh thuận lợi vẫn còn phải đối mặt với nhiều vấn đề như:
ốm đau, TNLĐ – BNN, mất việc làm, tỷ lệ già hóa dân số ngày càng tăng,…
Những điều này sẽ đặt ra cho các chế độ BHXH, trong đó có CĐHT cần phải
được thực hiện hiệu quả, phát huy đúng vai trò của mình. Những vai trò chủ
yếu của CĐHT:
- Đối với NLĐ, CĐHT sẽ tạo cho họ tâm lý yên tâm và tích cực lao
động khi còn trẻ, đảm bảo đời sống khi về hưu để giảm gánh nặng cho người
thân, gia đình và xã hội. CĐHT đảm bảo được việc thực hiện quyền và lợi ích
chính đáng của NLĐ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội.
Tiền lương mà họ nhận được là kết quả tích luỹ trong suốt quá trình làm việc
đóng góp vào quỹ BHXH. Đây là khoản thu nhập chính đáng và là nguồn thu
nhập chủ yếu để đảm bảo cuộc sống cho NLĐ trong quãng đời còn lại sau quá
trình lao động.
- Đối với NSDLĐ, CĐHT sẽ phân phối một cách hợp lý các chi phí cho
NLĐ, qua đó giúp các tổ chức SDLĐ ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Đối với xã hội, CĐHT phản ánh tính nhân văn sâu sắc, là một trong
8
những nội dung trọng tâm của chính sách đảm bảo ASXH. CĐHT thể hiện
trách nhiệm của Nhà nước đối với những người đã có quá trình lao động,
đóng góp vào quỹ BHXH, nay hết tuổi lao động.
Một vấn đề đặt ra hiện nay là xu hướng dân số ngày càng già hóa, dẫn
đến số lượng người nghỉ hưu ngày càng tăng. Điều này cho thấy rõ CĐHT
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia.
1.1.4. Các hình thức của chế độ hưu trí
CĐHT được thực hiện dưới 03 hình thức:
- BHHT bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và
NSDLĐ bắt buộc phải tham gia. Khi đảm bảo về thời gian đóng BHXH và đủ
điều kiện về tuổi hoặc trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật
thì NLĐ được nghỉ hưu. Ngoài ra, khi bị suy giảm KNLĐ ở mức độ nhất định
theo quy định của pháp luật thì NLĐ cũng có quyền được nghỉ hưu sớm hơn
so với tuổi quy định.
- BHHT tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người
tham gia căn cứ vào mức thu nhập của mình để lựa chọn phương thức đóng,
mức đóng cho phù hợp; đồng thời, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng
BHXH để người tham gia hưởng CĐHT và tử tuất. Cũng như hình thức
BHHT bắt buộc, NLĐ được nghỉ hưu khi đảm bảo thời gian đóng BHXH và
đủ điều kiện về tuổi đời.
Với hình thức BHHT tự nguyện, NLĐ không được nghỉ hưu sớm hơn
tuổi quy định do điều kiện lao động, tính chất công việc hoặc bị suy giảm
KNLĐ.
- BHHT bổ sung là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện nhằm
mục tiêu bổ sung thu nhập cho người tham gia quỹ khi đến tuổi về hưu dưới
hình thức tài khoản hưu trí cá nhân, được đầu tư và tích lũy theo quy định của
9
pháp luật.
1.1.5. Các nguyên tắc cơ bản của chế độ hưu trí
CĐHT cũng tuân theo các nguyên tắc chung của BHXH, cụ thể:
- Một là, mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng BHXH và có chia sẽ giữa những người tham gia BHXH.
Nguyên tắc này được thể hiện trên các mặt: có đóng BHXH thì được
hưởng chế độ; thời gian tham gia đóng BHXH nhiều, mức đóng góp cao thì
mức trợ cấp lương hưu, trợ cấp tử tuất được hưởng với mức cao và ngược lại.
Tuy nhiên, với đặc tính của bảo hiểm thì chia sẽ giữa những người tham gia là
không thể thiếu, nguyên tắc chia sẽ của BHXH được thể hiện ở tất cả các chế
độ.
- Hai là, mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương
tháng của NLĐ, mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu
nhập tháng do NLĐ lựa chọn.
Nguyên tắc này quy định người tham gia BHXH bắt buộc đóng BHXH
theo tỷ lệ xác định trên cơ sở tiền lương, tiền công mà không đóng BHXH
trên mức thu nhập thực tế như: tiền lương tăng thêm, các khoản phụ cấp khác
(trừ phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên
nghề), thu nhập do lương tăng thêm, do thực hiện chế độ khoán sản phẩm
đem lại. Việc quy định nguyên tắc này vừa đảm bảo cho việc sản xuất, kinh
doanh cho các doanh nghiệp được ổn định, vừa đảm bảo cho thực hiện quản
lý thu BHXH trong điều kiện thực tế hiện nay.
Đối với BHXH tự nguyện, mức đóng BHXH được quy định trên cơ sở
mức thu nhập do người tham gia lựa chọn tùy vào khả năng kinh tế của họ
nhưng không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu, đây là quy định hợp lý nhằm
thu hút và tạo điều kiện để đông đảo NLĐ trong xã hội có thể tham gia đóng
BHXH.
- Ba là, NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian
10
đóng BHXH tự nguyện để được hưởng CĐHT và chế độ tử tuất trên cơ sở
thời gian đã đóng BHXH. Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH
một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH.
Với nguyên tắc này, giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có sự
liên thông, đảm bảo cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động có nhiều
cơ hội được hưởng CĐHT do thời gian đóng BHXH được tính bằng tổng thời
gian đóng BHXH của 2 loại hình. Tuy nhiên, theo quy định của Luật BHXH
thì trong cùng một thời điểm, NLĐ chỉ được tham gia đóng BHXH bắt buộc
hoặc BHXH tự nguyện.
- Bốn là, Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai,
minh bạch, được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các
quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước
quy định và chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định.
Nguyên tắc này quy định quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch
toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng
mục đích, nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ
cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về
chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi
các quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyền lợi
của người tham gia BHXH.
- Năm là, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo
đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
Nguyên tắc này, việc thực hiện BHXH đối với NLĐ phải được nghiên
cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù
hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ, NSDLĐ khi tham gia BHXH và
khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH.
Ngoài các nguyên tắc chung, CĐHT cũng có những nguyên tắc riêng,
11
bao gồm:
- Một là, đảm bảo mọi thành viên trong xã hội có quyền tham gia và
hưởng quyền lợi về BHXH.
- Hai là, có sự phân biệt hợp lý hưởng CĐHT giữa lao động nam và lao
động nữ.
Mức đóng và phương thức đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất là như nhau
giữa lao động nam và lao động nữ. Tuy nhiên, có sự khác nhau về độ tuổi
được hưởng.
Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính hưởng
lương hưu là như nhau, nhưng mức hưởng cũng có sự khác nhau về công thức
tính.
- Ba là, đảm bảo cho NLĐ về mức thu nhập để có thể duy trì được cuộc
sống khi bị mất sức lao động tạm thời hay khi tuổi già không còn KNLĐ.
- Bốn là, bảo đảm sự thống nhất và liên tục của BHXH nói chung và
BHHT nói riêng.
CĐHT là chế độ mang tính chất hoàn trả và ít nhiều có sự tách biệt giữa
đóng và hưởng vì người tham gia bảo hiểm đóng suốt thời kỳ lao động để
được hưởng trợ cấp khi về hưu. Điều này thể hiện tính kế thừa liên tục giữa
những NLĐ để hình thành quỹ hưu trí. Thời gian đóng và hưởng có thể chênh
lệch nhau nhiều hay ít phụ thuộc vào tuổi thọ và số năm tham gia công tác của
từng NLĐ.
- Năm là, giảm độ tuổi nghỉ hưu đối với NLĐ làm việc trong một số
ngành nghề, lĩnh vực nhất định.
Nguyên tắc này quy định NLĐ làm những công việc nặng nhọc, độc
hại, làm việc ở những nơi vùng sâu, vùng xa hoặc trong lực lượng vũ trang sẽ
được nghỉ hưu sớm hơn nhưng không phải trừ tỷ lệ lương hưu.
Tại Khoản 3, Điều 169, Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019 quy
định: NLĐ làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm
12
nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng
không quá 05 tuổi so với quy định tại Khoản 2, Điều này tại thời điểm nghỉ
hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Sáu là, đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng tham gia BHXH và
đảm bảo ổn định về kinh tế - xã hội.
CĐHT có vai trò rất quan trọng trong chính sách BHXH của mỗi quốc
gia. Đa phần NLĐ đều tham gia CĐHT, CĐHT tác động đến đời sống của
NLĐ, gia đình họ và cho xã hội. Để đời sống của NLĐ nói riêng và nền kinh
tế - xã hội nói chung không bị tác động, cần thực hiện tốt CĐHT, đồng thời
đảm bảo sự công bằng của người tham gia BHXH.
- Bảy là, tuổi hưởng CĐHT nâng lên khi tuổi thọ của NLĐ tăng.
Khi nền kinh tế phát triển thì mức sống và tuổi thọ của NLĐ cũng
không ngừng được nâng lên. Do đó, có thể kéo dài tuổi nghỉ hưu của NLĐ để
họ tiếp tục cống hiến khi còn sức khoẻ tốt; đồng thời sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực xã hội.
Tuy nhiên, tuổi thọ NLĐ được nâng lên thì số người cao tuổi ngày càng
tăng, đồng nghĩa với NLĐ sẽ có thời gian dài để hưởng lương hưu, trong khi
đó tỷ lệ người tham gia BHXH chưa cao. Số người về hưu ngày càng tăng sẽ
ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo cân đối thu, chi quỹ BHXH. Do đó, phải có
sự điều chỉnh về mặt chính sách, cụ thể là tăng tuổi nghỉ hưu.
Nhưng việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cần phải thận trọng, được
tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng. Đồng thời, phải thực hiện trên cơ sở điều tiết
các chính sách chung về lao động, tiền lương, BHXH, nhiều chính sách xã hội
khác và phải có lộ trình thực hiện.
Theo quy định tại Bộ Luật Lao động năm 2019 thì tuổi nghỉ hưu của
NLĐ trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho
đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với
13
lao động nữ vào năm 2035.
1.2. Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ hưu trí
1.2.1. Chế độ hưu trí bắt buộc
1.2.1.1. Đối tượng tham gia
- Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, đối tượng tham
gia BHXH bắt buộc thuộc các trường hợp NLĐ là công dân Việt Nam, bao
gồm:
+ Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định
thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn
từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa NSDLĐ với
người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp
luật về lao động;
+ Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03
tháng;
+ Cán bộ, công chức, viên chức;
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác
trong tổ chức cơ yếu;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an
nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo
học được hưởng sinh hoạt phí;
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật,
NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có
hưởng tiền lương;
14
+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
- NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép
lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định
của Chính phủ.
- NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp
tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, SDLĐ theo hợp HĐLĐ.
1.2.1.2. Chế độ hưởng
a) Chế độ hưu trí hằng tháng đầy đủ
CĐHT là chế độ bảo hiểm dành cho những NLĐ khi hết tuổi lao động,
không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội
của từng quốc gia mà độ tuổi nghỉ hưu của NLĐ được quy định khác nhau ở
từng nước. Thậm chí, ngay tại mỗi quốc gia do có sự thay đổi về điều kiện
kinh tế - xã hội ở các giai đoạn khác nhau, cũng có những quy định về độ tuổi
nghỉ hưu của NLĐ không giống nhau.
Ở nước ta, theo Nghị định số: 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của
Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu, cụ thể như sau:
- Theo Điều 4, tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều kiện lao động bình
thường được quy định cụ thể như sau:
+ Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều
kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ
55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng
đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi và cứ mỗi năm tăng thêm 04
15
tháng đối với lao động nữ cho đến khi đủ 60 tuổi.
- Theo Điều 5, nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện
lao động bình thường của NLĐ được quy định cụ thể như sau: NLĐ thuộc các
trường hợp dưới đây có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi
so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Điều 4 của Nghị định 135 ngày 18/11/2020
của Chính phủ tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác:
+ NLĐ làm công việc nguy hiểm, độc hại, nặng nhọc hoặc đặc biệt
nguy hiểm, độc hại, nặng nhọc mà có thời gian làm việc từ đủ 15 năm trở lên.
+ NLĐ làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
mà thời gian làm việc từ đủ 15 năm trở lên.
Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH ban hành danh mục vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
+ NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên.
+ NLĐ có tổng thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
LĐTB&XH ban hành và thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu
vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 từ đủ 15 năm trở lên.
* Điều kiện hưởng lương hưu
Điều kiện quan trọng để NLĐ hưởng CĐHT được quy định dựa trên các
yếu tố về giới tính; ngành nghề, môi trường làm việc hay mức suy giảm
KNLĐ. Tuy nhiên, để NLĐ được hưởng CĐHT thì điều kiện cơ bản và quan
trọng là phải thoã 2 yếu tố: độ tuổi và thời gian tham gia đóng BHXH.
Theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019, điều kiện
chung để được hưởng CĐHT hằng tháng đầy đủ là:
- Thứ nhất, khi nghỉ việc NLĐ có đủ 20 năm trở lên đóng BHXH nếu
16
đáp ứng một trong các trường hợp sau đây:
+ Trong điều kiện lao động bình thường, năm 2021 lao động nam đủ 60
tuổi 03 tháng và lao động nữ đủ 55 tuổi 04 tháng. Kể từ năm 2022, cứ mỗi
năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động
nữ.
Theo lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu thì lao động nam đủ 62 tuổi vào
năm 2028 và lao động nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035.
+ NLĐ bị suy giảm KNLĐ; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm
việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở
tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tuổi nghỉ hưu của Bộ
Luật Lao động Việt Nam năm 2019 tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác và có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ
15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trước
ngày 01 tháng 01 năm 2021;
+ NLĐ có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò có tuổi
thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của NLĐ quy định tại Khoản 2,
Điều 169 của Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019;
+ Trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, NLĐ bị nhiễm HIV do tai
nạn rủi ro nghề nghiệp.
- NLĐ là những người làm việc trong lực lượng vũ trang có đủ 20 năm
trở lên tham gia đóng BHXH được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
+ So với tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam
năm 2019, NLĐ có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi. Trừ trường hợp có quy định
khác;
+ So với tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt nam
17
năm 2019, NLĐ có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề,
công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;
+ Trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, NLĐ bị nhiễm HIV do tai
nạn rủi ro nghề nghiệp.
- Đối với cán bộ, công chức cấp xã hoặc là người hoạt động không
chuyên trách ở xã, phường, thị trấn là lao động nữ, khi nghỉ việc mà có từ đủ
15 năm đến dưới 20 năm tham gia đóng BHXH và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy
định của Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019 thì được hưởng lương hưu.
- Ngoài ra, theo quy định của Chính phủ, một số trường hợp được nghỉ
hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường và
nghỉ hưu ở tuổi cao hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường
(Nghị định số: 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ quy định về
tuổi nghỉ hưu).
Có thể nói, điều kiện để NLĐ nghỉ hưu theo quy định của pháp luật
hiện hành đã có sự thay đổi so với trước đây. Điều này là phù hợp với tình
hình thực tế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phù hợp với xu thế hội
nhập với các nước trên thế giới trong giai đoạn hiện nay.
* Mức lương hưu hằng tháng
NLĐ được hưởng CĐHT theo quy định với mức lương hưu hằng tháng
được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân
tiền lương tháng đóng BHXH trong đó:
- Các yếu tố như: công việc, nơi làm việc, chức danh nghề nghiệp, giới
tính, tuổi, thời gian tham gia đóng BHXH ảnh hưởng đến tỷ lệ hưởng lương
hưu đối với NLĐ và được tính như sau:
+ Tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình
quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH đối
18
với NLĐ nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến trước ngày 01 tháng 01
năm 2018. Sau đó, nếu NLĐ tiếp tục đóng BHXH hàng năm thì cứ mỗi năm
được tính thêm 2% đối với lao động nam và 3% đối với lao động nữ; mức tối
đa bằng 75%;
+ Từ ngày 01/01/2018 trở đi, NLĐ nghỉ hưu được tính như sau:
Trường hợp lao động là nữ giới: Tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng
được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho 15
năm đóng BHXH. Sau đó, nếu NLĐ tiếp tục đóng BHXH hàng năm thì cứ
mỗi năm được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%;
Trường hợp lao động là nam giới: Tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng
được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho 16
năm đóng BHXH nếu nghỉ hưu vào năm 2018; nghỉ hưu vào năm 2019 là 17
năm; nghỉ hưu vào năm 2020 là 18 năm; nghỉ hưu vào năm 2021 là 19 năm;
nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi là 20 năm đóng BHXH. Sau đó, nếu NLĐ tiếp
tục đóng BHXH hàng năm thì cứ mỗi năm đóng được tính thêm 2%; mức tối
đa bằng 75%. Cụ thể tại bảng số liệu dưới đây:
Bảng 1.1. Tỷ lệ hưởng lương hưu của lao động nam và nữ
Năm nghỉ hưu
Số năm đóng BHXH tương ứng để đạt tỷ lệ hưởng lương hưu bằng 45% đối với
Tỷ lệ tăng thêm cho mỗi năm đóng BHXH sau khi đạt 45% nhưng tối đa không quá 75% Lao động nữ Lao động nam Lao động nữ Lao động nam
2016 15 năm 15 năm 3% 2%
2017 15 năm 15 năm 3% 2%
2018 15 năm 16 năm 2% 2%
2019 15 năm 17 năm 2% 2%
2020 15 năm 18 năm 2% 2%
2021 15 năm 19 2% 2%
Từ năm 15 năm 20 năm 2% 2% 2022 trở đi
19
Nguồn: BHXH Việt Nam.
- Để NLĐ hưởng mức lương hưu hằng tháng thì mức bình quân tiền
lương tháng đóng BHXH được tính cụ thể như sau:
+ Tính theo số năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu. Số năm đóng
BHXH trước khi nghỉ hưu phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia BHXH.
Cụ thể theo bảng số liệu dưới đây:
Bảng 1.2. Thời gian bắt đầu tham gia BHXH và số năm đóng BHXH
trước khi nghỉ hưu để tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH
Số năm đóng BHXH trước khi Thời gian bắt đầu tham gia nghỉ hưu để tính mức bình quân BHXH tiền lương tháng đóng BHXH
Từ ngày 31/12/1994 trở về trước 05 năm cuối
Từ ngày 01/01/1995 - 31/12/2000 06 năm cuối
Từ ngày 01/01/2001 - 31/12/2006 08 năm cuối
Từ ngày 01/01/2007 - 31/12/2015 10 năm cuối
Từ ngày 01/01/2016 - 31/12/2019 15 năm cuối
Từ ngày 01/01/2020 - 31/12/2024 20 năm cuối
Từ ngày 01/01/2025 trở đi Toàn bộ thời gian tham gia
Nguồn: BHXH Việt Nam.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của NLĐ tham gia đóng
BHXH trước ngày 01/01/2016 được điều chỉnh bằng hệ số tiền lương nhân
với mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của NLĐ bắt đầu tham
gia đóng BHXH từ ngày 01/01/2016 trở đi được điều chỉnh tương tự như
NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ
quyết định (trên cơ sở quy định của Chính phủ về chỉ số giá tiêu dùng của
20
từng thời kỳ).
+ Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu cho
NLĐ có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ
quyết định được tính là toàn bộ thời gian đóng BHXH.
+ Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu cho
NLĐ vừa có thời gian tham gia đóng BHXH thuộc đối tượng do Nhà nước
quy định, vừa có thời gian tham gia đóng BHXH do NSDLĐ quyết định được
tính là mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH chung của tổng 2 thời
gian trên.
b) Chế độ hưu trí hằng tháng với mức thấp hơn
* Điều kiện hưởng
Khi hết tuổi lao động theo quy định và có thời gian đóng BHXH từ đủ
20 năm trở lên, NLĐ sẽ được hưởng CĐHT hằng tháng. Tuy nhiên, vì nhiều lí
do khác nhau trong cuộc sống khiến họ khó có thể tham gia được quan hệ lao
động nữa như: ốm đau, bệnh tật, TNLĐ,… làm NLĐ bị suy giảm sức khỏe,
suy giảm KNLĐ, buộc họ phải nghỉ việc trước tuổi.
Mặc dù chưa đủ tuổi về hưu theo quy định nhưng NLĐ vẫn được hưởng
CĐHT hằng tháng trong trường hợp nghỉ việc trước tuổi nếu đảm bảo một số
điều kiện theo quy định, tuy nhiên mức lương hưu hằng tháng so với những
người nghỉ hưu đúng tuổi sẽ thấp hơn.
- Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014, Nghị định số: 135/2020/NĐ-
CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu và Bộ Luật
Lao động Việt Nam năm 2019 quy định, NLĐ có đủ 20 năm đóng BHXH trở
lên khi nghỉ việc được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ
điều kiện hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 61% đến dưới 81% và có tuổi thấp hơn tối đa
05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật Lao động năm 2019;
+ NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm
21
nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định;
+ NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên và có tuổi thấp hơn tối đa 10
tuổi so với tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật Lao động năm 2019;
- NLĐ là những người làm việc trong lực lượng vũ trang khi nghỉ việc
có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, bị suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên được
hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương
hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ So với tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam
năm 2019, NLĐ có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi;
+ NLĐ làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
theo quy định có thời gian từ đủ 15 năm trở lên.
* Mức lương hưu hàng tháng
Được tính dựa trên mức tiền lương tháng đóng BHXH và thời gian
tham gia đóng BHXH. Cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi theo quy định, mức
lương hưu của NLĐ sẽ giảm 2% cho cả lao động nam và lao động nữ.
Trường hợp mức giảm là 1% nếu như tuổi nghỉ hưu của NLĐ có thời
gian lẻ đến đủ 06 tháng;
Trường hợp không giảm tỷ lệ % nếu như tuổi nghỉ hưu của NLĐ có
thời gian lẻ từ trên 06 tháng.
c) Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
NLĐ khi nghỉ hưu theo quy định, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ
cấp một lần nếu như NLĐ có thời gian tham gia đóng BHXH cao hơn số năm
tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% và cứ mỗi năm đóng BHXH, mức trợ
cấp cho NLĐ được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương đóng BHXH.
Để được hưởng khoản trợ cấp này thì lao động nữ phải tham gia đóng
BHXH từ năm thứ 26 trở đi, lao động nam từ năm thứ 31 trở đi và mốc thời
gian được tính là trước ngày 01/01/2018.
Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2018 trở đi, đối với lao động nữ có sự thay
22
đổi về thời gian đóng BHXH để đạt tỷ lệ tối đa 75% là đủ 30 năm đóng
BHXH. Như vậy, từ năm 2018 để được nhận trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu thì lao
động nữ phải có thời gian tham gia đóng BHXH từ năm thứ 31 trở đi.
Đối với lao động nam, để đạt tỷ lệ tối đa 75% thì từ năm 2018 trở đi
mỗi năm tăng thêm 01 năm và cho đến năm 2022 lao động nam phải có đủ 35
năm đóng BHXH mới được hưởng tỷ lệ tối đa 75% (cụ thể: năm 2018 = 31
năm, 2019 = 32 năm, 2020 = 33 năm, 2021 = 34 năm, 2022 = 35 năm). Như
vậy, lao động nam nghỉ hưu trong năm 2018 thì phải có thời gian đóng
BHXH từ năm thứ 32 trở đi mới được nhận khoản trợ cấp một lần khi nghỉ
hưu. Đến năm 2022, để được nhận trợ cấp 01 lần khi nghỉ hưu thì phải có thời
gian đóng BHXH từ năm thứ 36 trở đi.
d) Bảo hiểm xã hội một lần và bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội
NLĐ không đủ điều kiện để hưởng CĐHT hằng tháng khi nghỉ việc thì
họ được hưởng BHXH một lần hoặc được bảo lưu thời gian đóng BHXH để
chờ cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu để được hưởng CĐHT hằng tháng hoặc khi
có điều kiện thì tiếp tục đóng BHXH.
* Bảo hiểm xã hội một lần
- Điều kiện hưởng BHXH một lần
NLĐ có yêu cầu và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Đảm bảo tuổi hưởng lương hưu theo quy định nhưng chưa đủ thời
gian đóng BHXH để hưởng CĐHT hằng tháng và không tiếp tục tham gia
đóng BHXH tự nguyện;
+ Định cư ở nước ngoài;
+ Tham gia đóng BHXH bắt buộc sau một năm nghỉ việc nhưng chưa
đủ 20 năm đóng BHXH;
+ Đang mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung
thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang
giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.
+ Quân nhân khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà chưa đủ điều kiện
23
để hưởng lương hưu.
- Mức hưởng BHXH một lần
Tính theo số năm mà NLĐ đã tham gia đóng BHXH, cứ mỗi năm mức
hưởng BHXH một lần được tính như sau:
+ Bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH đóng
trước năm 2014;
+ Bằng 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH đóng từ
năm 2014 trở đi;
+ NLĐ sẽ được hưởng BHXH 01 lần với mức hưởng bằng số tiền đã
đóng BHXH nếu họ tham gia đóng BHXH chưa đủ một năm; đồng thời mức
hưởng không quá 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
Có thể thấy, mức hưởng BHXH 01 lần đã được điều chỉnh tăng đối với
những năm đóng BHXH từ năm 2014. Việc tăng mức hưởng đem lại nhiều
quyền lợi hơn cho người tham gia. Tuy nhiên, đây cũng là nguyên nhân khiến
nhiều NLĐ thấy lợi ích trước mắt là hưởng BHXH một lần mà không thực
hiện bảo lưu thời gian đóng BHXH.
* Bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội
NLĐ được bảo lưu thời gian đóng BHXH khi họ nghỉ việc mà chưa đủ
điều kiện theo quy định để hưởng lương hưu hoặc chưa hưởng BHXH một lần.
đ) Tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội hằng tháng
- Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014, nếu thuộc một trong các
trường hợp sau thì người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng
bị tạm dừng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng, bao gồm:
+ Thứ nhất, xuất cảnh ra nước ngoài trái phép;
+ Thứ hai, mất tích và bị Toà án tuyên bố là mất tích;
+ Thứ ba, cơ quan chức năng có thẩm quyền có căn cứ xác định người
đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng không đúng quy định
24
của pháp luật.
- Các trường hợp sau đây theo quy định của Luật BHXH Việt Nam
năm 2014, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm
dừng sẽ được hưởng tiếp lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng, bao gồm:
+ Một là, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng xuất
cảnh trở về nước định cư hợp pháp theo quy định của pháp luật;
+ Hai là, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối
với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng. Đồng thời,
ngoài việc người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng tiếp tục
được hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng còn được truy lĩnh tiền
lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng kể từ thời điểm dừng hưởng.
e) Chế độ Bảo hiểm xã hội đối với người đang hưởng lương hưu và trợ
cấp Bảo hiểm xã hội hằng tháng ra nước ngoài định cư
Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014, thực hiện giải quyết hưởng trợ
cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng
tháng ra nước ngoài để định cư.
- Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu ra nước
ngoài để định cư được tính theo thời gian đã đóng BHXH, cụ thể như sau:
+ Trước năm 2014, mỗi năm đóng BHXH được tính bằng 1,5 tháng
lương hưu đang hưởng;
+ Từ năm 2014 trở đi, mỗi năm đóng BHXH được tính bằng 02 tháng
lương hưu đang hưởng;
Sau đó mỗi tháng đã hưởng lương hưu thì mức trợ cấp một lần trừ 0,5
tháng lương hưu, mức trợ cấp một lần tối thiểu bằng 03 tháng lương hưu đang
hưởng.
- Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng trợ cấp BHXH hằng
25
tháng ra nước ngoài để định cư được tính bằng 03 tháng trợ cấp đang hưởng.
1.2.2. Chế độ hưu trí tự nguyện
1.2.2.1 Đối tượng tham gia
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, đối tượng tham
gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không
thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Cụ thể, theo Điều 2, Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH, ngày
18/02/2016 của Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện thì đối tượng tham gia
BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
- NLĐ đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian
tham gia đóng BHXH để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật;
- Trước ngày 01/01/2018, NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn dưới
03 tháng; từ ngày 01/01/2018 trở đi, NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn
dưới 01 tháng;
- Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã;
- Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân
phố, khu, khu phố;
- Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không
hưởng tiền lương;
- Những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản
thân và gia đình;
- NLĐ giúp việc gia đình;
- Các đối tượng tham gia khác;
26
- Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
1.2.2.2. Chế độ hưởng
a) Chế độ hưu trí hằng tháng
* Điều kiện hưởng
- Theo quy định của pháp luật hiện hành, NLĐ tham gia BHXH tự
nguyện được hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Tuổi nghỉ hưu của lao động nam và lao động nữ đảm bảo theo quy
định của Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019;
+ Thời gian tham gia đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên.
- Đối với NLĐ đã có thời gian tham gia đóng BHXH mà chưa đủ 20
năm nhưng đảm bảo đủ điều kiện về tuổi theo quy định thì tiếp tục đóng
BHXH cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu.
* Mức lương hưu hằng tháng
- Mức lương hưu hằng tháng của NLĐ tham gia đóng BHXH tự nguyện
được tính bằng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH nhân với tỷ lệ
hưởng lương hưu hằng tháng theo quy định. Trong đó: tỷ lệ hưởng lương hưu
hằng tháng được tính như sau:
+ Từ ngày 01/01/2016 đến trước ngày 01/01/2018: NLĐ đủ điều kiện
để hưởng lương hưu hằng tháng theo quy định thì được tính bằng 45% mức
bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH,
sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với
nữ; tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của NLĐ tham gia đóng BHXH tự
nguyện tối đa bằng 75%.
+ Từ ngày 01/01/2018 trở đi: mức lương hưu hàng tháng của NLĐ đủ
điều kiện để được hưởng lương hưu theo quy định được tính bằng 45% mức
bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH
như sau:
Đối với lao động nam: 16 năm khi nghỉ hưu vào năm 2018, 17 năm khi
nghỉ hưu vào năm 2019, 18 năm khi nghỉ hưu vào năm 2020, 19 năm khi nghỉ
27
hưu vào năm 2021, 20 năm khi nghỉ hưu vào năm 2022.
Đối với lao động nữ: 15 năm khi nghi nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi.
Sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính thêm 2% đối với lao
động nam và lao động nữ; tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của lao động
nam và lao động nữ tham gia đóng BHXH tự nguyện tối đa bằng 75%.
- Mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, mức bình quân
thu nhập tháng đóng BHXH được tính bằng bình quân các mức thu nhập
tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian đóng BHXH.
Trong đó, mức thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức
bình quân thu nhập tháng đóng BHXH của NLĐ được điều chỉnh trên cơ sở
chỉ số giá sinh hoạt tiêu dùng theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ.
b) Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, NLĐ được hưởng
trợ cấp một lần khi đảm bảo điều kiện sau: có thời gian tham gia đóng BHXH
tự nguyện vượt số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%; đồng thời
khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu NLĐ còn được hưởng trợ cấp một lần.
Mức trợ cấp một lần mà NLĐ hưởng được tính theo số năm đóng
BHXH vượt số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, đồng thời
mỗi năm nếu NLĐ tiếp tục đóng BHXH tự nguyện thì sẽ được tính bằng 0,5
tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
c) Bảo hiểm xã hội một lần
* Điều kiện hưởng
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, NLĐ tham gia
đóng BHXH tự nguyện có yêu cầu thì được giải quyết hưởng BHXH một lần
nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Đủ điều kiện theo quy định về tuổi nhưng thời gian tham gia đóng
BHXH tự nguyện chưa đủ 20 năm và NLĐ không tiếp tục tham gia đóng
28
BHXH nữa;
- NLĐ tham gia đóng BHXH tự nguyện sau một năm không tiếp tục
đóng BHXH nữa mà tổng thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm;
- NLĐ ra nước ngoài để định cư;
- NLĐ tham gia đóng BHXH tự nguyện đang bị mắc một trong những
bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng,
phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh
khác theo quy định của Bộ Y tế.
* Mức hưởng BHXH một lần
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, đối với NLĐ
tham gia đóng BHXH tự nguyện được hưởng BHXH một lần thì mức hưởng
được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính như sau:
- Trước năm 2014, bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng
BHXH;
- Từ năm 2014 trở đi, bằng 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng
đóng BHXH.
Đối với trường hợp NLĐ có thời gian tham gia đóng BHXH tự nguyện
chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH một lần bằng số tiền đã đóng BHXH.
Tuy nhiên, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
Đối với đối tượng được Nhà nước hỗ trợ, mức hưởng BHXH một lần
được thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 77, Luật BHXH Việt Nam
năm 2014, trong đó không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự
nguyện, trừ trường hợp người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm
đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng,
nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy
định của Bộ Y tế.
d) Một số quy định khác khi hưởng lương hưu
Bảo lưu thời gian đóng BHXH, tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu được
29
quy định tương tự như đối với CĐHT bắt buộc.
1.2.3. Chế độ hưu trí bổ sung
Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014, Bảo hiểm hưu trí bổ sung là
chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho
CĐHT trong BHXH bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của NLĐ
và NSDLĐ dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích
luỹ thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật.
1.2.3.1. Đối tượng tham gia đóng góp
Theo quy định của Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của
Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện, đối tượng tham gia
đóng góp chương trình hưu trí tự nguyện gồm:
- NSDLĐ và NLĐ theo quy định của pháp luật.
- Cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, không làm việc theo HĐLĐ.
1.2.3.2. Phương thức tham gia đóng góp
- Tham gia đóng góp chương trình hưu trí thông qua NSDLĐ, bao gồm:
+ NSDLĐ đóng góp vào quỹ hưu trí cho NLĐ của doanh nghiệp mình
trên cơ sở yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, không có sự đóng
góp của NLĐ;
+ NSDLĐ và NLĐ cùng đóng góp vào quỹ hưu trí theo văn bản thỏa
thuận giữa NLĐ và NSDLĐ.
- Tham gia đóng góp trực tiếp chương trình hưu trí, bao gồm:
+ NLĐ đóng góp hoàn toàn vào quỹ hưu trí, không có sự đóng góp của
NSDLĐ;
+ Cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, không làm việc theo HĐLĐ theo quy định
của Bộ Luật Lao động đóng góp vào quỹ hưu trí.
1.2.3.3. Nguyên tắc chi trả từ quỹ hưu trí
- Đối tượng được nhận chi trả từ tài khoản hưu trí cá nhân bao gồm:
+ Người tham gia quỹ;
30
+ NSDLĐ đóng góp cho NLĐ.
- Số tiền thanh toán từ tài khoản hưu trí cá nhân phụ thuộc vào giá trị
tài khoản hưu trí cá nhân và kế hoạch chi trả quy định tại hợp đồng tham gia
quỹ hưu trí và văn bản thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc tham gia quỹ
hưu trí.
- Trong quá trình chi trả, tài khoản hưu trí cá nhân được tiếp tục đầu tư
tại quỹ hưu trí theo lựa chọn của người tham gia quỹ.
- Người tham gia quỹ nhận chi trả từ tài khoản hưu trí cá nhân được lựa
chọn nhận chi trả theo chế độ hàng tháng hoặc một lần. Nhà nước khuyến
khích chi trả theo chế độ hàng tháng (lương hưu) thông qua chính sách thuế
quy định tại Nghị định này và văn bản hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài
chính.
- Thời gian nhận chi trả hàng tháng khi người tham gia quỹ đến tuổi
nghỉ hưu tối thiểu là 10 năm. Mức chi trả hàng tháng khi đến tuổi về hưu do
đối tượng nhận chi trả lựa chọn nhưng tối đa không vượt quá tổng giá trị tài
Khoản hưu trí cá nhân ở thời điểm nghỉ hưu chia cho 120 tháng. Sau 10 năm,
người tham gia quỹ có thể nhận chi trả một lần.
- Trường hợp mức chi trả hàng tháng được xác định theo quy định tại
Khoản 5 Điều 24, Nghị định này thấp hơn mức lương cơ sở theo quy định
hiện hành thì mức chi trả hàng tháng tối đa không vượt quá mức lương cơ sở
cho đến khi tất toán tài khoản hưu trí cá nhân.
1.2.3.4. Chi trả cho người tham gia quỹ
- Người tham gia quỹ đăng ký kế hoạch chi trả từ tài khoản hưu trí cá
nhân cho doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí tại hợp đồng tham gia quỹ hưu trí
và văn bản thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc tham gia quỹ hưu trí theo
quy định tại Điều lệ quỹ hưu trí.
- Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí yêu cầu tổ chức lưu ký thanh toán
31
thanh toán tiền cho người tham gia quỹ hưu trí.
- Trước khi thanh toán tiền cho người tham gia quỹ, tổ chức lưu ký có
trách nhiệm khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật
về thuế.
- Người thừa kế hợp pháp của người tham gia quỹ được thừa hưởng
mọi quyền lợi và nghĩa vụ trong trường hợp người tham gia quỹ bị chết hoặc
mất tích theo quy định về thừa kế của Bộ Luật dân sự.
1.2.3.5. Chi trả cho người sử dụng lao động
- NSDLĐ được nhận lại phần đóng góp của mình cho NLĐ và kết quả
đầu tư từ phần đóng góp này sau khi trừ đi chi phí hoạt động của quỹ hưu trí
khi NLĐ không đáp ứng các điều kiện tại văn bản thỏa thuận ký giữa NSDLĐ
và NLĐ về việc tham gia chương trình hưu trí quy định tại Điểm b Khoản 2,
Điều 8 Nghị định này.
- Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí yêu cầu tổ chức lưu ký thanh toán
tiền cho NSDLĐ theo quy định tại Điều lệ quỹ hưu trí và văn bản thỏa thuận
giữa NLĐ và NSDLĐ về việc tham gia quỹ hưu trí.
1.2.4. Quỹ hưu trí
1.2.4.1. Mức đóng của NLĐ và NSDLĐ tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, hằng tháng tuỳ theo
từng đối tượng là NLĐ mà họ đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 8%, 22% trên
mức tiền lương tháng và 8% trên mức lương cơ sở.
Đối với NSDLĐ, hằng tháng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất cho từng đối
tượng là NLĐ là 14% trên quỹ tiền lương và 14%, 22% trên mức lương cơ sở.
1.2.4.2. Mức đóng của NLĐ tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014, NLĐ hằng tháng
đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn để đóng vào quỹ hưu
trí và tử tuất. Mức thu nhập tháng cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở và
32
thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn.
Đồng thời, Luật BHXH Việt Nam năm 2014 cũng nói rõ, Nhà nước sẽ
hỗ trợ tiền đóng BHXH cho NLĐ tham gia BHXH tự nguyện. Mức hỗ trợ, đối
tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ sẽ được căn cứ cụ thể
vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách Nhà nước trong
từng thời kỳ, giai đoạn mà quy định chi tiết, cụ thể.
Nhà nước hỗ trợ cho đối tượng tham gia BHXH tự nguyện từ năm 2018
là 30%, 20%, 10% tương ứng với mức thu nhập của hộ nghèo nông thôn, cụ
thể như sau:
Bảng 1.3. Mức hỗ trợ của Nhà nước đối với các đối tượng tham gia
BHXH tự nguyện
Đối tượng Mức hỗ trợ TT
1 Người thuộc đối tượng hộ nghèo 46.200 đồng/tháng
2 Người thuộc đối tượng hộ cận nghèo 38.500 đồng/tháng
3 Người thuộc đối tượng khác 15.400 đồng/tháng
Nguồn: BHXH Việt Nam.
1.2.4.3. Thiết lập quỹ hưu trí bổ sung
- Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí có Giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí theo quy định tại Nghị định số
88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ
sung tự nguyện được thiết lập quỹ hưu trí theo các quy định tại Nghị định
này.
- Căn cứ vào nhu cầu của người tham gia quỹ và yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí
tự quyết định về số lượng quỹ hưu trí và mục tiêu đầu tư quỹ hưu trí phù hợp
với quy định tại Điều 20 Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của
Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện .
- Đối với mỗi quỹ được thành lập, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí
33
phải:
+ Xây dựng và ban hành Điều lệ quỹ hưu trí. Điều lệ quỹ hưu trí do
doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí quyết định trên cơ sở đảm bảo các nội dung
cơ bản quy định tại Điều 14 Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016
của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện;
+ Lựa chọn và ký hợp đồng với 01 tổ chức lưu ký để thực hiện lưu ký
tài sản quỹ hưu trí và các nghĩa vụ quy định tại Điều 15 Nghị định số
88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ
sung tự nguyện;
+ Lựa chọn và ký hợp đồng với 01 ngân hàng giám sát để thực hiện
giám sát hoạt động quản lý quỹ hưu trí và các nghĩa vụ quy định tại Điều 16
Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình
hưu trí bổ sung tự nguyện.
1.2.5. Thủ tục hưởng chế độ hưu trí
1.2.5.1. Về hồ sơ
a) Hồ sơ hưởng lương hưu đối với NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc
- Sổ BHXH;
- Quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho nghỉ việc hoặc văn bản
chấm dứt HĐLĐ;
- Biên bản giám định của Hội đồng Giám định y khoa về mức suy giảm
KNLĐ hoặc Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền chứng nhận bị
nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
b) Hồ sơ hưởng lương hưu đối với lao động đang tham gia BHXH tự
nguyện, người bảo lưu thời gian tham gia BHXH gồm cả người đang chấp
hành hình phạt tù, gồm:
- Sổ BHXH;
- Đơn đề nghị hưởng lương hưu;
34
- Giấy uỷ quyền của người đang chấp hành hình phạt tù;
- Đối với trường hợp xuất cảnh trái phép, phải có văn bản của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền về việc trở về nước định cư hợp pháp.
- Trường hợp người mất tích trở về, hồ sơ có Quyết định có hiệu lực
pháp luật của Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích.
c) Hồ sơ hưởng Bảo hiểm xã hội một lần, gồm:
- Sổ BHXH;
- Đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của NLĐ;
- Bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc
tịch Việt Nam đối với người ra nước ngoài để định cư hoặc bản dịch tiếng
Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây:
+ Hộ chiếu do nước ngoài cấp;
+ Thị thực có xác nhận việc cho phép nhập cảnh với lý do định cư ở
nước ngoài;
+ Xác nhận đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài; xác nhận hoặc
thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05 năm trở lên của cơ quan nước ngoài
có thẩm quyền cấp.
- Trích sao hồ sơ bệnh án thể hiện NLĐ đang bị mắc một trong những
bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng,
phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh
khác theo quy định của Bộ Y tế
1.2.5.2. Giải quyết hưởng lương hưu, BHXH một lần
- Cơ quan BHXH nhận hồ sơ của NSDLĐ trong thời hạn 30 ngày tính
đến thời điểm NLĐ được hưởng lương hưu.
- NLĐ đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, người tham gia BHXH tự
nguyện nộp hồ sơ quy định cho cơ quan BHXH trong thời hạn 30 ngày tính
đến thời điểm NLĐ được hưởng lương hưu,
- NLĐ nộp hồ sơ quy định cho cơ quan BHXH trong thời hạn 30 ngày
35
tính tới thời điểm NLĐ đủ điều kiện và có yêu cầu hưởng BHXH một lần.
- Cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho
NLĐ, trường hợp không giải quyết thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người
hưởng lương hưu hoặc trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo
quy định đối với trường hợp hưởng BHXH một lần.
Tiểu kết chương
Chương 1 đã tổng hợp và nêu rõ những vấn đề lý luận về CĐHT như
khái niệm, ý nghĩa, vai trò, các hình thức, các nguyên tắc. Đồng thời, chương
1 cũng đã tập trung nghiên cứu pháp luật về CĐHT ở Việt Nam hiện nay, cụ
thể là Luật BHXH năm 2014 về CĐHT bắt buộc và CĐHT tự nguyện về các
nội dung: đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, mức hưởng, nguồn hình thành
quỹ và thủ tục hưởng chế độ. Kết quả nghiên cứu của chương 1 sẽ là cơ sở
cho việc phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về CĐHT áp
36
dụng tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau trong chương 2.
Chương 2
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ
THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Cà Mau,
tỉnh Cà Mau
Thành phố Cà Mau là thành phố trực thuộc tỉnh Cà Mau, nằm phía
Đông Bắc tỉnh Cà Mau. Phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Bắc và Tây Bắc
giáp huyện Thới Bình, phía Tây giáp huyện Trần Văn Thời, phía Tây nam
giáp huyện Cái Nước, phía Nam giáp huyện Đầm Dơi.
Diện tích tự nhiên của thành phố Cà Mau là 249,29 km2, bằng 4,71%
diện tích toàn tỉnh. Địa giới hành chính của thành phố Cà Mau có 10 phường
và 7 xã. Bao gồm: phường 1, phường 2, phường 4, phường 5, phường 6,
phường 7, phường 8, phường 9, phường Tân Xuyên, phường Tân Thành và
các xã An Xuyên, Tân Thành, Tắc Vân, Lý Văn Lâm, Định Bình, Hòa Thành,
Hòa Tân.
Đến đầu năm 2017, dân số thành phố Cà Mau có 55.222 hộ, với
224.414 người, chiếm 18% dân số của tỉnh. Trong đó, 112.149 là nam và
112.266 là nữ.
Ở khu vực thành thị có 36.233 hộ, với 143.862 người. Ở khu vực nông
thôn có 18.989 hộ, với 80.552 người. Thành phố Cà Mau được thành lập theo
Nghị định số 21/1999/NĐ-CP, ngày 14/4/1999 của Chính phủ và được công
nhận đô thị loại 2 vào ngày 02/9/2010.
Thành phố Cà Mau nằm trên trục quốc lộ 1 đi từ Cần Thơ đến Năm
Căn, có quốc lộ 63 đi Kiên Giang và nhiều tuyến sông lớn như Gành Hào,
Quản Lộ - Phụng Hiệp, kinh xáng Bạc Liêu chảy ngang, thuận tiện giao thông
37
và phát triển kinh tế - xã hội.
2.2. Vị trí và chức năng của BHXH thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
BHXH thành phố Cà Mau là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh Cà Mau
đặt tại địa bàn thành phố, có chức năng giúp Giám đốc BHXH tỉnh tổ chức
thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm
thất nghiệp, bảo hiểm y tế; quản lý các quỹ: BHXH, bảo hiểm thất nghiệp,
BHYT trên địa bàn thành phố theo quy định của BHXH Việt Nam và quy
định của pháp luật.
BHXH thành phố Cà Mau chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc
BHXH tỉnh Cà Mau về các mặt công tác của ngành và của UBND thành phố
Cà Mau về mặt hành chính Nhà nước trên địa bàn.
BHXH thành phố Cà Mau có nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau:
BHXH thành phố Cà Mau là BHXH cấp huyện trực thuộc tỉnh. Vì vậy,
có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như một BHXH cấp quận, huyện, thị xã
trực thuộc tỉnh. Theo Quyết định số 969/QĐ-BHXH, ngày 29/7/2019 của
BHXH Việt Nam thì nhiệm vụ, quyền hạn của BHXH thành phố Cà Mau,
gồm các nội dung sau:
- Xây dựng kế hoạch phát triển BHXH thành phố dài hạn, ngắn hạn và
chương trình công tác hàng năm; sau khi kế hoạch, chương trình được phê
duyệt thì tổ chức thực hiện.
- Tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật và chế độ có liên
quan đến bảo hiểm cho NLĐ, người dân.
- Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của ngành được BHXH cấp trên
phân cấp, cụ thể:
+ Cấp sổ BHXH, thẻ BHYT;
+ Khai thác, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ. Thu các
khoản đóng bảo hiểm của các tổ chức và cá nhân tham gia;
38
+ Giải quyết, chi trả các chế độ bảo hiểm theo quy định;
+ Hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện, tiêu chuẩn
theo quy định để khám chữa bệnh BHYT.
- Kịp thời giải quyết cho NLĐ và người dân các khiếu nại, kiến nghị
liên quan đến việc thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm theo quy định.
- Cải cách thủ tục hành chính.
- Quản lý, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, tài liệu hành chính và hồ sơ hưởng
các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT.
- Tổ chức tập huấn cho các tổ chức, cá nhân tham gia về nghiệp vụ bảo
hiểm.
- Phối hợp với các ngành, các cấp giải quyết các vấn đề có liên quan
đến việc thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm theo quy định.
- Thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các
chính sách, chế độ bảo hiểm theo quy định.
- Khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực
bảo hiểm.
- Theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, BHXH thành
phố cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin, tài liệu có liên quan.
- Quản lý viên chức, NLĐ của BHXH thành phố.
- Tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin, khai
thác và bảo mật dữ liệu công nghệ thông tin; thực hiện chế độ thông tin, thống
kê, báo cáo, thi đua – khen thưởng theo phân cấp của BHXH tỉnh.
- Ngoài các nhiệm vụ trên, BHXH thành phố còn thực hiện các nhiệm
vụ khác do Giám đốc BHXH tỉnh chỉ đạo.
2.3. Trực trạng thực hiện chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH bắt
buộc tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
2.3.1. Những kết quả đạt được
Thời gian qua, BHXH tại thành phố Cà Mau đã nhận thức được vai trò
39
quan trọng của CĐHT cũng như hiểu rõ được tâm tư, nguyện vọng của người
tham gia nên BHXH thành phố Cà Mau đã không ngừng cố gắng để thực hiện
tốt CĐHT và đã đạt được một số kết quả như sau:
2.3.1.1. Đối tượng tham gia chế độ hưu trí
* Đối tượng tham gia chế độ hưu trí bắt buộc
Giai đoạn 2017 – 2019, trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có
nhiều diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội
của toàn cầu và Việt Nam.
Cùng với đó, nước ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, biến
đổi khí hậu, tình hình thiên tai diễn ra cực đoan, bất thường gây thiệt hại lớn ở
nhiều khu vực trong cả nước, trong đó có tỉnh Cà Mau như: hạn hán, xâm
nhập mặn, giông lốc, mưa đá, sạt lở,….
Những vấn đề trên đã tác động rất lớn đến tình hình hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống cán bộ CCVC, của người dân
trong tỉnh.
Tuy nhiên, trong tình hình đó để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
chính trị của ngành, BHXH thành phố Cà Mau đã vận dụng sáng tạo, linh
hoạt các biện pháp để khai tác, mở rộng đối tượng tham gia. Kết quả đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn qua các năm được thể hiện cụ
thể trong bảng dưới đây:
Bảng 2.1. Số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn
thành phố Cà Mau qua các năm 2017, 2018, 2019
Số đơn vị tham gia Số người lao động tham gia
Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
520 643 783 8.339 8.836 1.032
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm 2017, 2018, 2019 của BHXH thành
40
phố Cà Mau.
Bảng số liệu trên cho ta thấy, nhìn chung số đơn vị và số đối tượng
tham gia BHXH bắt buộc của thành phố Cà Mau tăng dần qua các năm 2017,
2018, 2019; nhất là về số đơn vị trên địa bàn thành phố.
- Về số đơn vị tham gia: có 520 đơn vị tham gia BHXH bắt buộc vào
năm 2017, đến năm 2018 có 643 đơn vị tham gia (tăng 123 đơn vị so với năm
2017) và 783 là số đơn vị tham gia vào năm 2019 (tăng 140 đơn vị so với năm
2018 và tăng 263 đơn vị so với năm 2017).
Kết quả của việc tăng số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc qua các năm
có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu và quan trọng là do có nhiều đơn vị,
doanh nghiệp mới được thành lập trên địa bàn thành phố Cà Mau và một số
doanh nghiệp lớn được mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh; do ý thức được
nâng cao nên chủ SDLĐ có trách nhiệm hơn trong việc tham gia đóng BHXH
cho NLĐ của đơn vị, doanh nghiệp mình. Đồng thời, bằng các biện pháp sáng
tạo, linh hoạt trong công tác thông tin, tuyên truyền, vận động của BHXH
thành phố mà Luật BHXH được phổ biến rộng rãi đến NLĐ và chủ SDLĐ.
- Về số lao động tham gia: Nếu năm 2017 chỉ có 8.339 người tham gia
thì đến năm 2018 đã tăng lên 8.836 người (tăng 497 người). Sự gia tăng đó là
do số đơn vị tham gia BHXH tăng lên, một số đơn vị cũng mở rộng quy mô
nguồn nhân lực, dẫn đến số lao động tham gia BHXH cũng tăng; không
những thế, vì nhận thức của các đơn vị SDLĐ về BHXH cũng được nâng cao
hơn trước nên nhiều đơn vị đã tham gia BHXH cho hầu hết lao động của
mình.
Tuy nhiên, đến năm 2019 số lao động tham gia BHXH bắt buộc đã
giảm xuống còn 1.032 người (giảm 7.804 người so với năm 2018). Số đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc giảm so với năm 2018, nguyên nhân là do
các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố
gặp khó khăn, thu hẹp sản xuất, giảm lao động; chính sách tinh giản biên chế;
41
chuyển lao động tham gia theo công ty “mẹ” tại các tỉnh, thành phố khác.
2.3.1.2. Công tác thu, chi trả Bảo hiểm xã hội
* Công tác thu
Hàng năm, BHXH thành phố Cà Mau đều giao chỉ tiêu thu cho từng
cán bộ phụ trách trên cơ sở kế hoạch thu của BHXH tỉnh. Được phân giao chỉ
tiêu, từng cán bộ phụ trách thu có nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu sát với thực
tế các đơn vị và lao động được giao phụ trách. Bên cạnh nhiệm vụ thu, công
tác giảm nợ đọng luôn được BHXH thành phố quan tâm, tập trung chỉ đạo sát
sao đến từng cán bộ trực tiếp phụ trách các đơn vị có số nợ BHXH cao. Ngoài
ra, BHXH thành phố còn thực hiện tốt công tác tuyên truyền và hướng dẫn
cho các đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn thành phố thực hiện Luật BHXH.
BHXH thành phố Cà Mau đã chủ động phối hợp với ban pháp chế
HĐND, các ban, ngành của thành phố Cà Mau kiểm tra các đơn vị, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh về việc thực hiện Luật Lao động, Luật BHXH trên
địa bàn thành phố.
Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong công tác thu và giảm nợ đọng,
cùng với đó là sự tích cực, nhiệt tình, nỗ lực, không ngại khó của tập thể cán
bộ, viên chức cơ quan nên thời gian qua BHXH thành phố Cà Mau đã hoàn
thành tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, nhất là đạt và vượt các chỉ tiêu kế
hoạch do BHXH tỉnh giao. Cụ thể như sau:
* Kết quả thu Bảo hiểm xã hội
Do số người tham gia BHXH bắt buộc ngày càng tăng nên BHXH
thành phố luôn xác định mục tiêu trong công tác thu là phát triển, khai thác
mở rộng đối tượng tham gia, tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài
nhà nước. Việc thu BHXH bắt buộc luôn được BHXH thành phố quan tâm,
mỗi cán bộ, viên chức đều là những tuyên truyền viên tích cực, trách nhiệm
42
với công việc. Kết quả thu được thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Bảng 2.2. Bảng kết quả thu BHXH của BHXH
thành phố Cà Mau, giai đoạn 2017 – 2019
Năm Số tiền
2017 109.639.130.000
2018 124.749.913.146
2019 136.146.344.558
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của BHXH thành phố Cà Mau.
Trong giai đoạn 2017-2019 BHXH thành phố Cà Mau đã thu được
370.535.387.704 đồng, nhìn chung số thu đều đạt so với kế hoạch và tăng qua
các năm; đồng thời đảm bảo thu đúng, thu đủ, thanh toán đối chiếu nhanh
gọn, chính xác, mở số sách đầy đủ, đúng quy định.
* Về số thu
Những năm qua, BHXH thành phố Cà Mau đã làm tốt công tác thu
BHXH, BHYT và BHTN; giai đoạn 2017 – 2019, BHXH thành phố Cà Mau
đã thu được 741.947.836.941 đồng. Cụ thể từng nội dung thu được thể hiện
trong bảng sau:
Bảng 2.3. Bảng nội dung thu giai đoạn năm 2017 - 2019 của BHXH
thành phố Cà Mau
2017 2018 2019
Thu BHXH bắt buộc 107.854.456.000 122.580.785.000 132.353.147.493
Thu BHXH tự nguyện 1.784.674.000 2.169.128.146 3.793.197.065
Thu BHTN 7.470.820.000 8.703.449.000 9.374.748.867
Thu BHYT 99.717.705.000 120.186.140.000 122.797.905.144
Thu lãi phạt chậm 920.313.000 1.179.813.000 1.061.555.226 đóng BHXH, BHYT
43
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của BHXH thành phố Cà Mau.
Như vậy, từ bảng số liệu trên cho thấy các nguồn thu tăng đều qua từng
năm và tổng nguồn thu BHXH, BHYT và BHTN giai đoạn 2017 – 2019 là
741.947.836.941 đồng. Giai đoạn 2017 – 2019, trên địa bàn thành phố Cà
Mau có 18.207 người thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, với số tiền
thu được là 362.788.388.493 đồng, chiếm 48,89% trong tổng số thu.
Với kết quả thu đã đạt được, cho ta thấy số thu của BHXH bắt buộc
chiếm tỷ lệ cao nhất trong các số thu bảo hiểm còn lại. Điều này nói lên rằng,
công tác thu BHXH bắt buộc là nhiệm vụ quan trọng và là nhiệm vụ chủ đạo
của BHXH thành phố Cà Mau trong giai đoạn hiện nay.
Trên địa bàn thành phố, có nhiều đơn vị thực hiện tốt công tác thu, cụ
thể như: Văn phòng HĐND - UBND thành phố, Liên đoàn Lao động thành
phố, UBND phường 5, khối các trường THCS, Công ty TNHH Dược phẩm
Mỹ Anh (Theo báo cáo tổng kết các năm của BHXH thành phố Cà Mau).
2.3.1.3. Công tác chi trả chế độ Bảo hiểm xã hội
Thời gian qua, công tác chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng tham
gia luôn được BHXH thành phố Cà Mau quan tâm triển khai thực hiện; đảm
bảo kịp thời, đầy đủ, chính xác và đúng quy định của pháp luật.
Tổng số kinh phí đã chi trả trong giai đoạn 2017-2019 là
993.804.031.680 đồng. Cụ thể được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.4. Kinh phí chi trả chế độ BHXH của BHXH
2017
2018
2019
Năm
Số người
Số tiền
Số người
Số tiền
Số người
Số tiền
Nguồn chi
NSNN
868
33.696.711.800
887
34.073.446.300
902
34.065.087.396
Quỹ BHXH
7.218
251.575.110.794
7.379
294.874.133.898
7.579
345.519.541.492
Quỹ HT- TT
6.080
242.345.840.743
6.453
284.049.320.496
6.843
333.409.059.393
thành phố Cà Mau, giai đoạn 2017 – 2019
44
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của BHXH Thành phố Cà Mau.
Như vậy, trong giai đoạn 2017 – 2019, BHXH thành phố Cà Mau đã
chi trả chế độ BHXH cho 24.833 đối tượng được hưởng với số tiền là
993.804.031.680 đồng. Trong đó, số tiền chi trả từ nguồn quỹ HT-TT là
859.804.220.632 đồng, chiếm 86,5% trong tổng số tiền đã chi trả của BHXH
thành phố. Qua đó, cho thấy khối lượng công việc chi trả BHXH, mà đặc biệt
là chi trả từ nguồn HT-TT chiếm phần lớn, vì vậy cần được quan tâm và đầu
tư hơn cả.
* Về số chi
Những năm qua, BHXH thành phố Cà Mau đã làm tốt công tác chi
CĐHT từ BHXH bắt buộc; giai đoạn 2017 – 2019, BHXH thành phố Cà Mau
đã chi 850.869.314.695 đồng. Cụ thể từng nội dung chi được thể hiện trong
bảng sau:
Bảng 2.5. Bảng nội dung chi CĐHT từ BHXH bắt buộc, giai đoạn
năm 2017 - 2019 của BHXH thành phố Cà Mau
2017 2018 2019
Chi từ quỹ HT-TT 242.345.840.743 284.049.320.496 333.409.059.393
- Trong đó: Chi 173.095.891.200 203.573.566.183 237.023.219.042
BHXH bắt buộc hàng
tháng
- Chi BHXH bắt buộc 67.427.563.911 77.324.061.694 92.425.012.665
01 lần
- Chi BHXH tự 1.822.385.632 3.151.692.619 3.960.827.686
nguyện
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của BHXH thành phố Cà Mau.
Như vậy, từ bảng số liệu trên cho thấy các nguồn chi tăng đều qua từng
năm và tổng nguồn chi CĐHT từ BHXH giai đoạn 2017 – 2019 là
859.804.220.632 đồng. Giai đoạn 2017 – 2019, trên địa bàn thành phố Cà
45
Mau có 18.207 người thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, với số tiền
chi CĐHT từ BHXH bắt buộc là 850.869.314.695 đồng, chiếm 98,96% trong
tổng số chi từ nguồn quỹ HT-TT. Điều này cho thấy, tỷ lệ chi của CĐHT từ
BHXH bắt buộc chiếm tỷ lệ cao nhất tại thành phố Cà Mau.
Thời gian qua, việc chi trả cho các đối tượng hưởng CĐHT từ BHXH
bắt buộc hằng tháng được BHXH thành phố thực hiện thông qua 17 đại lý chi
trả bưu điện của các xã, phường cho 18.207 người, với trên 23 tỷ đồng mỗi
tháng ổn định vào ngày mùng 05 hàng tháng.
Để công tác chi trả các chế độ BHXH đối với các đối tượng tham gia
đảm bảo đúng thời gian, đủ số lượng, chính xác, đạt hiệu quả và đúng quy
định; BHXH thành phố luôn quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát và
thường xuyên cử người đến các điểm chi trả của Bưu điện để trực tiếp nắm
tình hình.
Bên cạnh chi trả chế độ BHXH bằng tiền mặt; những năm qua, BHXH
thành phố Cà Mau đã thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH qua tài
khoản thẻ ATM với hàng ngàn người hưởng hằng tháng, đảm bảo người tham
gia được nhận chế độ đầy đủ, nhanh chóng, chính xác, kịp thời, an toàn, đúng
thời gian quy định. Việc chi trả chế độ BHXH qua tài khoản thẻ ATM giúp
cho người thụ hưởng chế độ BHXH không phải đến địa điểm tập trung để
nhận tiền và ký danh sách chi trả, tiết kiệm thời gian và chi phí. Đồng thời,
đối với cơ quan chi trả, việc tổ chức thực hiện phương thức này bảo đảm mục
tiêu an toàn tiền mặt trong quá trình vận chuyển và lưu trữ, tránh được sai sót,
giảm bớt áp lực, thời gian trong tổ chức chi trả và các bước trung gian qua các
điểm chi trả.
Tiện ích của việc chi trả chế độ BHXH qua tài khoản thẻ ATM là vậy.
Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn thành phố mới chỉ có 7.864 người nhận chế
độ BHXH qua tài khoản thẻ ATM, chiếm 35% trong tổng số người được nhận
46
chế độ BHXH. Tỷ lệ này còn thấp so với số người nhận chế độ trên địa bàn.
Nguyên nhân làm cho tỷ lệ này thấp là do địa bàn thành phố khá rộng,
đa số người hưởng chế độ ở địa bàn cách xa xã, phường nên đi lại khó khăn
gây ảnh hưởng đến việc đăng ký nhận tiền chế độ qua tài khoản ATM và một
phần tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt trong thời gian qua của người hưởng;
vì một số ít NLĐ chưa được tiếp cận với việc sử dụng thẻ ATM và cảm thấy
xa lạ, không biết cách sử dụng nên gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp số
tài khoản hay trong việc rút tiền; vì đa phần đối tượng hưởng trợ cấp lương
hưu và trợ cấp BHXH là những người lớn tuổi, việc sử dụng thẻ ATM còn
mới mẻ dẫn đến thực hiện các thao tác, bấm máy bị sai không rút tiền được và
bị nuốt thẻ nên các đối tượng lớn tuổi cũng không mặn mà với hình thức nhận
trợ cấp BHXH qua tài khoản cá nhân; vì hệ thống ngân hàng lắp đặt máy
ATM còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và máy thường bị lỗi,
hết tiền, muốn rút phải mất nhiều thời gian chờ đợi.
Điều này đòi hỏi BHXH thành phố Cà Mau phải phát huy hơn nữa vai
trò của mình trong việc tuyên truyền, vận động người hưởng chế độ về tiện
ích khi mở thẻ ATM; phối hợp với ngân hàng mở thẻ miễn phí cho các đối
tượng nhận trợ cấp hàng tháng, lắp đặt thêm các máy tại các trung tâm xã,
phường, trường học,… tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ
ATM được dễ dàng, thuận tiện và đáp ứng nhu cầu của đối tượng.
2.3.1.4 Về việc giải quyết các thủ tục Bảo hiểm xã hội
- Giải quyết các hồ sơ BHXH: việc tiếp nhận và trả kết quả theo quy
định về các loại hồ sơ, thủ tục, chính sách BHXH; thời gian qua, BHXH
thành phố Cà Mau đã triển khai, thực hiện khá tốt và ngày càng phát huy hiệu
quả; đáp ứng được niềm tin của các đối tượng tham gia đối với ngành bảo
hiểm, đồng thời tạo được sự liên thông giữa các bộ phận nghiệp vụ trong cơ
quan BHXH thành phố và giữa cơ quan BHXH thành phố Cà Mau với các
47
phòng nghiệp vụ của BHXH tỉnh trong việc luân chuyển hồ sơ.
Giai đoạn 2017 - 2019, BHXH thành phố Cà Mau đã tiếp nhận 134.918
hồ sơ. Các hồ sơ khi được tiếp nhận, cán bộ được phân công phụ trách thực
hiện đúng quy trình, đảm bảo các thủ tục theo quy định, không gây khó khăn,
phiền hà đối với người gửi hồ sơ; trường hợp hồ sơ chưa đảm bảo đã phối hợp
với bộ phận chuyên môn giải quyết sớm hơn thời hạn. Cán bộ tiếp nhận
hướng dẫn người dân tận tình, đầy đủ, hạn chế tối đa trường hợp phải lập lại
hồ sơ nhiều lần. Không có hồ sơ giải quyết quá hạn phải xin lỗi. Cụ thể tiếp
nhận qua giao dịch điện tử là 95.452 hồ sơ, dịch vụ bưu chính là 5.721 hồ sơ,
trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là 33.745 hồ sơ. Trả kết quả qua
dịch vụ bưu chính 15.653 hồ sơ, trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
là 96.723 hồ sơ, không phát sinh trả kết quả là 18.046 hồ sơ.
Quy chế tiếp công dân của cơ quan, các thủ tục, hồ sơ giải quyết chế độ
đối với người tham gia BHXH được BHXH thành phố thực hiện niêm yết
công khai tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; cán bộ, viên chức chấp hành
tốt kỷ luật, kỷ cương, thực hiện tốt Nội quy của cơ quan và Quy chế văn hóa
nơi làm việc.
Để đáp ứng đầy đủ, kịp thời, chính xác yêu cầu ngày càng cao về
CNTT; những năm qua công tác quản lý; thu, chi chế độ BHXH, in tờ rời sổ
BHXH, công tác kế toán,…đều được BHXH thành phố Cà Mau triển khai
thực hiện trên phần mềm ứng dụng CNTT.
Cụ thể, BHXH thành phố Cà Mau thời gian qua đã áp dụng phần mềm
quản lý văn bản và điều hành, tổ chức giao dịch hồ sơ điện tử. Việc ứng dụng
CNTT vào hoạt động chuyên môn của ngành, đã góp phần đưa công tác cải
cách TTHC đạt bước tiến quan trọng. Qua đó, đưa quy trình tiếp nhận và trả
kết quả hồ sơ diễn ra nhanh chóng, kịp thời, thuận lợi và đảm bảo chính xác.
- Trong công tác cấp sổ: Giai đoạn 2017 - 2019, BHXH thành phố Cà
48
Mau đã cấp 10.261 sổ BHXH cho người lao động tham gia BHXH. Trong đó:
cấp mới là 5.632 sổ, cấp lại (do mất, hỏng, đổi sổ BHXH, thay đổi thông tin
trong sổ BHXH) là 4.629 sổ.
- Trong quản lý chế độ chính sách: thực hiện đúng chế độ, chính sách
cho người đang hưởng chế độ BHXH là nhiệm vụ hết sức quan trọng, có tính
nhân văn sâu sắc. Để đảm bảo quyền và lợi ích cho người tham gia BHXH,
BHXH thành phố Cà Mau thực hiện chi trả các chế độ, chính sách đảm bảo
đúng theo quy định của pháp luật; đồng thời, thường xuyên kiểm tra, giám sát
các đơn vị, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các chính sách, chế độ
và giải quyết kịp thời nguyện vọng và quyền lợi chính đáng cho các đối tượng
tham gia.
Bên cạnh đó, có những trường hợp như: người hưởng chế độ BHXH
không còn sống, hoặc chuyển đi nơi khác sinh sống, hoặc hết thời gian được
hưởng,…BHXH thành phố chủ động phối hợp với ngành, đơn vị có liên quan
cắt giảm kịp thời, tránh tình trạng chi trả sai quy định.
Đồng thời, BHXH thành phố cũng thường xuyên kiểm tra để phát hiện
kịp thời những trường hợp người tham gia BHXH hưởng quá chế độ, hưởng
không đúng chế độ để thu hồi đầy đủ số tiền hưởng sai trả lại quỹ.
2.3.1.5. Công tác kiểm tra
Kiểm tra là đòn bẩy để thúc đẩy các nhiệm vụ, hoạt động công tác khác
nên ngoài nhiệm vụ chuyên môn của ngành, BHXH thành phố Cà Mau rất
quan tâm, chú trọng đến công tác kiểm tra. Bởi kiểm tra có ý nghĩa hết sức
quan trọng, nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của tập thể, cá nhân của
ngành; qua kiểm tra đánh giá đúng kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ của
cán bộ, viên chức liên quan đến thực hiện chế độ, chính sách cho đối tượng
tham gia BHXH, đồng thời phát hiện những sai sót, hạn chế để kịp thời có
những giải pháp khắc phục và thực hiện được tốt hơn trong thời gian tới.
Để đánh giá kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành,
49
hàng năm BHXH thành phố Cà Mau tự tổ chức hoặc phối hợp với các ngành,
đơn vị của thành phố tổ chức các đoàn để kiểm tra các đơn vị là chủ SDLĐ về
các nội dung: công tác thu, chi trả chế độ, chính sách BHXH, ….
Giai đoạn năm 2017-2019, BHXH thành phố Cà Mau đã kiểm tra và
phối hợp kiểm tra các đơn vị là chủ SDLĐ, cụ thể như sau:
- Kiểm tra 65 đơn vị SDLĐ.
- Tham mưu thành lập đoàn kiểm tra đối với 04 đơn vị SDLĐ có số nợ
đọng BHXH kéo dài trên địa bàn.
- Thành lập đoàn kiểm tra, giám sát đối với 08 xã, phường và đại lý thu
BHXH trong việc trả lương hưu, trợ cấp BHXH.
- Phối hợp với Liên đoàn Lao động và HĐND thành phố giám sát 03
đơn vị về việc thực hiện Luật Lao động, Luật BHXH, Luật BHYT đảm bảo
quyền lợi cho NLĐ.
- Đối với đơn thư, khiếu nại của đơn vị SDLD và NLĐ, BHXH thành
phố Cà Mau xử lý kịp thời, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Nhìn chung, qua kiểm tra, giám sát các đơn vị cơ bản thực hiện, chấp
hành tốt quy định của Nhà nước về BHXH. Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố
hiện tại không ít đơn vị vẫn còn nợ đọng, nợ kéo dài. Việc giảm nợ BHXH
đối với một số doanh nghiệp vẫn chưa khả thi do ý thức của các doanh nghiệp
chấp hành pháp luật chưa cao, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
nhỏ và vừa. Ngoài ra, có nhiều đơn vị gần như không còn hoạt động thậm chí
không hoạt động, bị phá sản, giải thể hoặc có đơn vị vẫn còn hoạt động nhưng
chủ bỏ trốn dẫn đến việc nợ BHXH không có khả năng thu hồi. Chính vì điều
này, đã làm cho nhiều doanh nghiệp nợ BHXH kéo dài trong nhiều năm mà
chưa có khả năng thanh toán. Trong khi đó, cơ quan BHXH không thể quản lý
hết số doanh nghiệp nợ BHXH trên địa bàn. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt
hành chính đối với các doanh nghiệp vi phạm đóng BHXH của cơ quan
BHXH vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến hiện tại việc xử phạt hành
50
chính đối với các doanh nghiệp nợ BHXH trên địa bàn thành phố Cà Mau gặp
nhiều khó khăn. Vấn đề này làm ảnh hưởng không nhỏ đến thực hiện nhiệm
vụ chính trị của ngành bảo hiểm mà còn tác động tiêu cực đến tiến độ thu và
thực hiện chế độ chi trả BHXH của thành phố.
Theo báo cáo năm 2019 của BHXH thành phố Cà Mau, trên địa bàn
thành phố có 04 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu gặp khó khăn
trong kinh doanh, vi phạm pháp luật, thu hẹp sản xuất, tạm ngưng hoạt động,
chủ doanh nghiệp bỏ trốn, bị bắt giam, không có khả năng trả nợ với hơn 50
tỷ đồng.
Bảng 2.6. Bảng tổng số nợ BHXH, BHTN, BHYT của BHXH
thành phố Cà Mau, giai đoạn 2017 – 2019
Năm Số tiền
2017 14.500.597.813
2018 11.112.407.421
2019 16.080.943
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm của BHXH Thành phố Cà Mau.
2.3.1.6. Về công tác tuyên truyền
Để có được kết quả trên, công tác tuyên truyền chính sách BHXH luôn
được cấp ủy đảng, chính quyền các cấp của thành phố quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo sát sao theo tinh thần Nghị quyết 28 của Ban Chấp hành Trung ương
Khóa XII. Lực lượng làm công tác tuyên truyền tích cực, chủ động vào cuộc
đã thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Nội dung tuyên truyền đúng định
hướng, khẳng định vai trò, vị trí của chính sách BHXH trong hệ thống ASXH.
Các hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm của
các tàng lớp nhân dân.
2.3.2. Nguyên nhân đạt được những kết quả trên
Một là, BHXH thành phố Cà Mau thường xuyên nhận được sự quan
tâm, lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của BHXH tỉnh Cà Mau, của Thành uỷ,
51
HĐND, UBND Thành phố Cà Mau và sự phối hợp, kết hợp thường xuyên của
các ban, nghành, đoàn thể, các cơ quan thông tin truyền thông và các cơ sở y
tế trên địa bàn thành phố trong triển khai nhiệm vụ của nghành, tuyên truyền
thực thi chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, còn có sự phối
hợp tích cực, đồng bộ, nhịp nhàng và có trách nhiệm của các đơn vị tham gia
BHXH trên địa bàn thành phố với cơ quan BHXH thành phố; đặc biệt là NLĐ
và NSDLĐ có sự nhận thức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm đối với việc
tham gia BHXH.
Hai là, chế độ, chính sách đối với BHXH nói chung và BHXH bắt buộc
nói riêng không ngừng được hoàn thiện và ngày càng có lợi nhiều hơn cho
người tham gia. Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 ban hành, đã khắc phục
được những vướng mắc, bất cập cơ bản của Luật BHXH năm 2006. Đồng
thời, các văn bản điều chỉnh những thay đổi về chế độ, chính sách của BHXH
nói chung của các ngành chức năng được ban hành kịp thời. Tất cả điều này
tạo điều kiện thuận lợi cho BHXH thành phố Cà Mau thực hiện và hoàn thành
tốt nhiệm vụ của mình.
Ba là, do sự nỗ lực, trách nhiệm của toàn thể cán bộ, CCVC ngành
BHXH, thực hiện tốt công tác thông tin, vận động, tuyên truyền, phổ biến
chính sách, pháp luật BHXH đến đông đảo NLĐ và chủ SDLĐ.
Bốn là, việc ứng dụng CNTT trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nói
chung và trong việc chi trả, chế độ BHXH nói riêng đảm bảo kịp thời, an
toàn, chính xác, đầy đủ.
Năm là, NLĐ và NSDLĐ ngày càng nhận thức đầy đủ về quyền lợi và
trách nhiệm của mình đối với việc tham gia BHXH.
2.3.3. Một số tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, trên thực tế hiện nay việc khai thác và phát triển đối tượng
tham gia BHXH chưa nhiều, tốc độ phát triển đối tượng tham gia không cao,
dưới mức tiềm năng của thành phố, số đơn vị SDLĐ tham gia BHXH còn
52
chậm. Điều này cho thấy, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước trong
thời gian qua đã tác động gây ảnh hưởng không nhỏ tới doanh nghiệp làm cho
việc phát triển mới đơn vị tham gia BHXH gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ hai, không ít doanh nghiệp vẫn còn nợ đọng quỹ BHXH. Trên thực
tế, vẫn có nhiều đơn vị SDLĐ và NLĐ trong diện bắt buộc theo quy định của
pháp luật nhưng chưa tham gia BHXH. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc thực
hiện các chế độ nói chung và việc thực hiện chi trả CĐHT nói riêng. Đồng
thời, ảnh hưởng đến tiến độ thu và thực hiện CĐHT của thành phố.
Thứ ba, một số doanh nghiệp đăng ký tham gia đóng BHXH cho lao
động của đơn vị mình, nhưng thực tế số người đăng ký tham gia đóng BHXH
thường ít hơn rất nhiều so với số lao động đang làm việc tại đơn vị và nhiều
trường hợp đơn vị tham gia đóng BHXH với mức thấp so với thu nhập thực tế
của NLĐ ở đơn vị mình, điều này làm ảnh hưởng đến kết quả thu BHXH của
thành phố.
Thứ tư, vẫn còn tình trạng trục lợi BHXH của một số đơn vị, doanh
nghiệp. Một số doanh nghiệp vẫn tham gia đóng BHXH nhưng không đúng
thời gian và mức quy định, cố ý chây ỳ, do mức lãi suất phạt chậm đóng thấp
nên doanh nghiệp vẫn chấp nhận chịu phạt tiền chậm đóng và chỉ đóng cho
NLĐ trên cơ sở mức lương, tiền công nhưng thấp hơn so với mức lương, tiền
công mà NLĐ thực nhận. Trên thực tế, có nhiều trường hợp NLĐ bị trích tiền
BHXH nhưng chủ doanh nghiệp không nộp cho cơ quan bảo hiểm.
2.3.4. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, công tác thông tin, tuyên truyền tuy đã được tăng cường
nhưng vẫn chưa sâu rộng, chưa phù hợp với các nhóm đối tượng, một bộ phận
người dân vẫn chưa hiểu về chính sách BHXH… Công tác tuyên truyền, phổ
biến chính sách, chế độ BHXH chưa thực sự hấp dẫn với người dân, các hội
nghị, đối thoại trực tiếp với nhân dân chưa nhiều, hiệu quả chưa cao… dẫn
đến người dân chưa hiểu đầy đủ chính sách BHXH, thậm chí còn nhầm lẫn
53
với các loại hình bảo hiểm thương mại.
Thứ hai, một bộ phận chủ SDLĐ và NLĐ nhận thức còn hạn chế về vai
trò, ý nghĩa của BHXH đối với cuộc sống và của việc tham gia BHXH. Tình
trạng cố ý không hiểu về trách nhiệm và quyền lợi của bản thân khi tham gia
BHXH của chủ SDLĐ và NLĐ vẫn còn không ít. Một số đơn vị, doanh
nghiệp vẫn còn trốn tránh trách nhiệm tham gia đóng BHXH cho NLĐ đang
làm việc tại đơn vị và doanh nghiệp mình như: hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ,
doanh nghiệp mang tính chất gia đình, doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chính
vì điều này đã làm cho tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH trên địa bàn còn thấp, chưa
tương xứng với tiềm năng và sự phát triển của thành phố - là trung tâm chính
trị,kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh.
Thứ ba, tính tuân thủ pháp luật về BHXH của NLĐ, chủ SDLĐ chưa
cao, nhiều doanh nghiệp cố tình chây ỳ, nợ BHXH, chấp nhận bị phạt để sử
dụng nguồn tiền này làm vốn sản xuất kinh doanh; đồng thời, do kinh tế gặp
khó khăn nên một số doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, kinh doanh
hoặc phải tạm ngừng hoạt động, giải thể, phá sản dẫn đến cắt giảm lao động,
chậm đóng, nợ đọng BHXH. Ngoài ra, vào đầu mỗi năm (01/01 hàng năm)
mức lương tối thiểu vùng được Chính phủ điều chỉnh tăng cũng làm cho
nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, nhất là các doanh nghiệp ít
vốn đầu tư, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ.
Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHXH
luôn được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao, đồng thời công tác khởi kiện
các doanh nghiệp nợ tiền đóng BHXH đã được tăng cường nhưng hiệu quả
thu hồi tiền nợ chưa nhiều so với số tiền mà doanh nghiệp nợ tiền đóng
BHXH. Tổ chức Công đoàn còn lúng túng trong việc khởi kiện ra Tòa án đối
với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH của doanh nghiệp gây ảnh hưởng
54
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, tập thể người lao động.
Tiểu kết chương
Chương 2 luận văn tập trung phân tích, đánh giá tình hình thực hiện
CĐHT theo pháp luật BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Cà Mau, tỉnh
Cà Mau.
Bên cạnh kết quả đạt được, trong quá trình triển khai thực hiện CĐHT
theo pháp luật BHXH bắt buộc, BHXH thành phố Cà Mau vẫn còn những tồn
tại, hạn chế nhất định. Những tồn tại, hạn chế này đều xuất phát từ những
nguyên nhân cụ thể.
Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra ở chương 2 là
cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và năng cao hiệu
quả thực hiện CĐHT theo pháp luật BHXH bắt buộc tại thành phố Cà Mau
55
trong chương 3.
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ
THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí
CĐHT cùng với các chế độ BHXH khác giúp cho NLĐ ổn định cuộc
sống, yên tâm làm việc để có thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội, góp
phần đảm bảo ASXH. CĐHT là loại trợ cấp mang tính thường xuyên, lâu dài,
do đó để phát huy tác dụng của loại trợ cấp này một cách tốt nhất cần phải có
những quy định đúng đắn.
Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến BHXH nói chung, chính sách,
chế độ BHXH nói riêng đều có sự điều tiết và định hướng của Nhà nước,
trong đó trách nhiệm của cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương là
góp phần làm tăng trưởng nguồn quỹ và đảm bảo nguồn chi trả cho người
nghỉ hưu và trợ cấp BHXH.
Ngoài ra, trong bối cảnh nước ta đang hội nhập sâu rộng với các nước
có nền kinh tế phát triển trên thế giới, kinh tế nước ta đang có bước phát triển
vượt bậc, thu nhập của người dân từng bước được nâng lên, do đó đời sống
của các tầng lớp dân cư được nâng cao, nhu cầu về BHXH của NLĐ ngày
càng đa dạng. Chính vì vậy mà chính sách về BHXH nói chung và CĐHT nói
riêng ngày càng được hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng cho mọi
đối tượng tham gia BHXH để phù hợp với thời kỳ hội nhập và phát triển.
Với mục tiêu xây dựng xã hội của đất nước ta trở thành “xã hội dân
chủ, công bằng và văn minh” Đảng và Nhà nước ta đã và đang cố gắng thực
hiện cải cách TTHC, hoàn thiện những thể chế về chính trị, kinh tế và văn
56
hóa. Hoàn thiện CĐHT cũng góp phần vào công cuộc này của Đảng và Nhà
nước, bởi lẽ CĐHT thể hiện rõ công bằng xã hội. Quyền và lợi ích của mọi
NLĐ khi tham gia đóng BHXH là như nhau, không phân biệt người tham gia
thuộc thành phần nào và vị thế xã hội ra sao,.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí
3.2.1. Về mặt thể chế
3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Bảo hiểm xã hội
Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển thì pháp luật đóng vai trò
hết sức quan trọng, ngày càng hoàn thiện và trở thành công cụ quản lý xã hội
để mọi người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đối với
BHXH cũng vậy. Hiện nay, nước ta đang trong quá trình phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu mà nước
ta đạt được trong thời gian qua thì vẫn còn không ít những khó khăn, thách
thức mà chúng ta phải đối mặt, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến các
hoạt động kinh tế xã hội của đất nước, trong đó có BHXH. Vì vậy, cần có một
hệ thống pháp lý đầy đủ, hoàn chỉnh để có thể ổn định và quản lý được các
hoạt động của BHXH. Hiện Bộ Luật Lao động năm 2019 và văn bản hướng
dẫn thi hành đã có những quy định thay đổi về tuổi và lộ trình nghỉ hưu cho
NLĐ theo hướng tăng tuổi nghỉ hưu. Vì vậy, các văn bản BHXH liên quan
đến CĐHT cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Loại bỏ, điều chỉnh hoặc bổ sung toàn bộ các văn bản quy phạm pháp
luật trước đây và hiện hành về hoạt động BHXH sao cho đồng bộ, đầy đủ,
phù hợp với nhu cầu quản lý trong điều kiện mới của nền kinh tế thị trường,
định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đồng thời, khả năng thực thi của các
văn bản pháp lý trong BHXH cũng cần phải được nâng cao.
Hiện nay có rất nhiều đơn vị, doanh nghiệp vi phạm pháp luật về
BHXH, nhất là hành vi trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi BHXH; trong
khi đó, chế tài xử phạt hành chính đối với các doanh nghiệp vi phạm đóng
57
BHXH của cơ quan BHXH vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc xử
phạt hành chính đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BHXH gặp
nhiều khó khăn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến thực hiện nhiệm vụ chính trị
của ngành bảo hiểm mà còn tác động tiêu cực đến tiến độ thu và thực hiện chế
độ chi trả BHXH. Do đó, các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BHXH cần
phải được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện theo hướng cơ quan quản lý Nhà
nước về BHXH và cơ quan quản lý quỹ BHXH có thẩm quyền xử phạt các
doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BHXH.
Để đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng, chia sẽ, bền vững đối
với người tham gia đóng BHXH, cần phải hoàn thiện các quy định về đóng –
hưởng BHXH sao cho phù hợp.
Thiết kế, xây dựng hệ thống BHXH đa tầng để NLĐ và NSDLĐ tham
gia.
3.2.1.2. Mở rộng đối tượng tham gia
Nghiên cứu xu hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và
đưa ra nhiều hình thức tham gia để NLĐ lựa chọn, nhằm từng bước thực hiện
CĐHT cho tất cả NLĐ trong các thành phần kinh tế.
3.2.2. Kiến nghị về tổ chức thực hiện chế độ hưu trí
3.2.2.1. Hoàn thiện bộ máy hoạt động của Bảo hiểm xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, bộ máy hoạt động của cơ quan BHXH các
cấp cần phải được kiện toàn và củng cố về hoạt động và quản lý. Nhất là ở
cấp huyện, để thuận tiện trong công tác theo dõi, quản lý hoạt động của
CĐHT và thực hiện chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu cần hình
thành một bộ phận chức năng riêng trong cơ quan BHXH để chuyên thực hiện
và theo dõi quản lý công tác này, thực hiện được việc này sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả nghiệp vụ quan trọng trong công tác thực hiện CĐHT cho người
về hưu. Thực tế cho thấy, công tác chi trả có tác động rất lớn tới người hưởng
58
các chế độ bảo hiểm và những người tham gia BHXH, nếu thực hiện tốt công
tác này thì cơ quan BHXH sẽ được nâng cao uy tín. Đây là điều kiện rất quan
trọng và thật sự cần thiết cho sự phát triển ngành BHXH.
Nâng cao năng lực cho những người trực tiếp làm công tác chi trả chế
độ BHXH và công tác quản lý đối tượng. Thường xuyên tổ chức tập huấn,
thông tin, phổ biến chế độ, chính sách về BHXH cho đội ngũ cán bộ, nhân
viên chi trả để kip thời giải đáp thắc mắc của người hưởng.
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH
hằng tháng cho người tham gia BHXH. Thời gian qua, công tác chi trả chế độ
BHXH cho người tham gia qua thẻ đã mang lại hiệu quả rõ nét trong thực
hiện cái cách TTHC, tạo điều kiện rất thuận lợi cho người thụ hưởng, qua đó
khẳng định kết quả ứng dụng CNTT đối với lĩnh vực ASXH.
Cán bộ chi trả chế độ BHXH, nhất là cán bộ, nhân viên ngành Bưu điện
chủ động trong công tác quản lý đối tượng hưởng chế độ. Thường xuyên theo
dõi, cập nhật thông tin người hưởng để chi trả tránh sai sót, chi trả không
đúng quy định, đặc biệt là đối với những đối tượng hưởng tiền chế độ qua tài
khoản thẻ ATM, đối tượng không thường xuyên ở nơi cư trú.
3.2.2.2. Về mức hưởng và cách tính trợ cấp
Trợ cấp hưu trí là khoản trợ cấp khi về già NLĐ có tham gia BHXH
được hưởng. Do đó, trợ cấp hưu trí cần phải được tính trên cơ sở đảm bảo đời
sống và nhu cầu tối thiểu của người nghỉ hưu. Đồng thời, mức lương hưu phải
được trả trên cơ sở NLĐ đóng nhiều hưởng nhiều, NLĐ đóng ít hưởng ít;
ngoài ra, mức lương hưu còn được trả trên cơ sở mức đóng góp của NLĐ
trong thời mà họ làm việc.
Đối với NLĐ chưa đủ tuổi về hưu theo quy định mà hưởng trợ cấp 01
lần đưa vào CĐHT là không phù hợp. Vì họ chưa đủ tuổi gọi là già và chưa
đủ tích lũy cần thiết để hưởng trợ cấp trong CĐHT, mà đây chỉ là quỹ BHXH
59
trả lại một phần số tiền cho NLĐ khi họ không còn quan hệ lao động.
Theo quy định của Luật BHXH Việt Nam năm 2014: nếu số năm đóng
BHXH của NLĐ cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%
thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
Mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được tính theo số năm mà NLĐ đóng
BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%. Cứ mỗi
năm mà NLĐ đóng BHXH tăng thêm so với số năm tương ứng để được
hưởng 75% thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng
đóng BHXH.
Cách tính như trên là chưa đảm bảo tính công bằng giữa đóng và hưởng
BHXH, chưa thật sự khuyến khích NLĐ tham gia đóng BHXH nhiều năm.
Bởi vì nếu NLĐ nhận chế độ BHXH một lần thì một năm sẽ được trả 1,5
tháng, còn nếu tham gia BHXH từ năm 2014 thì mỗi năm sẽ được trả 02
tháng lương bình quân. Do đó, kiến nghị cứ mỗi năm sẽ được trả bằng 01
tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH nếu như NLĐ đóng
BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% hoặc bỏ trợ
cấp 01 lần với nhóm đối tượng này mà tính vào tiền trợ cấp hằng tháng, mức
trợ cấp sẽ được tính nâng lên so với hiện nay. Với cách tính này sẽ khuyến
khích NLĐ tích cực tham gia đóng BHXH nhiều hơn và cuộc sống của họ sẽ
được đảm bảo khi về già; đồng thời, đảm bảo được tính công bằng giữa đóng
và hưởng BHXH.
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
BHXH bắt buộc về chế độ hưu trí tại Thành phố Cà Mau
3.3.1. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền
Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và xem đây là
nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của BHXH thành phố Cà Mau. Đặc biệt là
tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, nghị quyết của
Đảng và chính sách pháp của Nhà nước liên quan đến chế độ và quyền lợi của
60
người tham gia BHXH đến đông đảo người dân, NLĐ và CSDLĐ. Đồng thời
BHXH thành phố cần chủ động tham mưu, đề xuất với lãnh đạo thành phố Cà
Mau có những chỉ đạo đối với ban ngành, đoàn thể các cấp bằng nhiều hình
thức tuyên truyền, triển khai sâu rộng các chính sách pháp luật về BHXH đến
đông đảo đoàn viên, hội viên và nhân dân trên địa bàn thành phố.
BHXH thành phố cần phải chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn
thể, đơn vị liên quan, nhất là các cơ quan truyền thông, báo, đài, các đơn vị
SDLĐ để tổ chức các hình thức tuyên truyền sao cho phù hợp; hình thức
tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, có chất lượng, công tác tuyên truyền
phải được triển khai qua nhiều kênh trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong công tác
phối hợp, BHXH thành phố cần phải phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với cơ
quan báo chí, truyền thông để kịp thời cung cấp thông tin chính thống nhằm
lan toả thông điệp về bản chất nhân văn các chính sách BHXH của Đảng và
Nhà nước đến công chúng.
CĐHT là chế độ chủ yếu và quan trọng nhất của chính sách BHXH nên
công tác tuyên truyền cho chế độ này cần phải thực hiện đa dạng cả về nội
dung lẫn hình thức.
Về nội dung tuyên truyền cần phải ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu, những
vấn đề mà NLĐ quan tâm và nhiều thủ tục mà họ chưa hiểu rõ thì cần tập
trung tuyên truyền. Cụ thể, tuyên truyền về quyền và lợi ích của NLĐ được
hưởng khi hết tuổi lao động, tuyên truyền về thủ tục, hồ sơ để xét hưởng các
CĐHT hàng tháng hoặc BHXH một lần, trình tự thủ tục hưởng các
CĐHT…Qua công tác tuyên truyền, giúp người làm công tác BHXH giải
quyết chế độ được nhanh chóng, chính xác và tránh được sai sót cho NLĐ khi
làm hồ sơ thủ tục.
Về hình thức tuyên truyền, phải đa đạng và kết hợp nhiều hình thức
tuyên truyền khác nhau. Trong tuyên truyền trực tiếp, tránh hình thức gây
nhàm chán như đọc, phát biểu trong hội nghị; bên cạnh hình thức tuyên
61
truyền trực tiếp, cần chú trọng phát huy các hình thức tuyên truyền gián tiếp
như: tổ chức các cuộc hội thảo, hội thi, các sân chơi tìm hiểu về BHXH để
NLĐ vừa được giải trí vừa dễ dàng tiếp thu các kiến thức về BHXH, nhất là
CĐHT. Hình thức tuyên truyền gián tiếp có thể thông qua các bài viết trên
báo, Đài phát thanh Truyền hình của thành phố; thông qua phát tờ rơi, treo
khẩu hiệu, pano, áp phích tại những nơi đông dân cư để NLĐ tìm hiểu.
Như vậy, để mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, ngoài việc
NLĐ và CSDLĐ có ý thức tự giác tham gia thì BHXH thành phố Cà Mau cần
làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức cho NLĐ
và CSDLĐ.
3.3.2. Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn
cho cán bộ, công chức viên chức
Về cơ bản, cán bộ, CCVC của BHXH thành phố đã đáp ứng được yêu
cầu công việc; tuy nhiên, khi tuyển dụng đa phần là những người không có
chuyên môn về bảo hiểm như: kinh tế, kế toán, luật,…do đó, họ chưa có đầy
đủ kiến thức chung về bảo hiểm, nên cần phải đào tạo để nâng cao chất lượng
quản lý, chỉ đạo điều hành và thực hiện công tác thu, chi và giải quyết chế độ.
Mặt khác do khối lượng công việc ngày càng nhiều, chính sách BHXH được
điều chỉnh liên tục nên việc nâng cao trình độ của cán bộ, CCVC cơ quan
BHXH thành phố Cà Mau là rất cần thiết.
Cần chú trọng sắp xếp lại cơ cấu cán bộ theo năng lực chuyên môn và
yêu cầu công tác; bổ sung, kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện CĐHT, có đủ
năng lực để đáp ứng nhu cầu cũng như nhiệm vụ công việc được giao; thực
hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của Nhà nước và của ngành bảo hiểm
về các chế độ, chính sách đối với CCVC, NLĐ, góp phần động viên, khích lệ
CCVC, NLĐ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
3.3.3. Phối kết, hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành có liên quan
Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; chế độ,
62
chính sách BHXH luôn thay đổi theo để phù hợp với tình hình thực tế. Cần có
sự phối, kết hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, triển khai thực hiện giữa các
ngành có liên quan vì đây là chế độ có thời gian đóng, hưởng kéo dài.
Đẩy mạnh phối hợp với các ngành có liên quan và các tổ chức đoàn thể
của thành phố đẩy mạnh tuyên truyền chính sách BHXH và coi đây là nhiệm
vụ chính trị của ngành, của địa phương để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Đồng
thời tăng cường công tác kiểm tra liên ngành đối với các đơn vị vi phạm pháp
luật về BHXH trên địa bàn.
Đối với công tác thu, để công tác thu BHXH được thực hiện dễ dàng,
triệt để BHXH thành phố Cà Mau cần phối hợp với cơ quan cấp giấy phép
hoạt động của doanh nghiệp, cơ quan thuế ở địa phương để nắm bắt chính xác
số đơn vị SDLĐ và NLĐ trên địa bàn thành phố.
Trong công tác chi trả BHXH, BHXH thành phố cần phối hợp chặt chẽ
với các xã, phường, đại lý trực tiếp chi trả cho các đối tượng được hưởng, bố
trí địa điểm phù hợp và an toàn.
Phối hợp với các ngân hàng có chi nhánh trên địa bàn thành phố ký hợp
đồng trong công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH qua tài khoản thẻ ATM.
Như vậy, để thực hiện tốt CĐHT cần có sự phối, kết hợp chặt chẽ, đồng
bộ giữa các cấp, các ngành, các đơn vị có liên quan, nhằm mục đích mở rộng
được đối tượng tham gia và thực hiện công tác thu, chi trả chính sách, chế độ
BHXH cho các đối tượng tham gia đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
3.3.4. Tăng cường công tác quản lý đối tượng hưởng chế độ hưu trí
Công tác quản lý đối tượng hưởng CĐHT cần phải được nâng cao hơn
nữa và xem đây là nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH. Vì CĐHT rất phức
tạp, là chế độ chủ yếu và quan trọng trong chế độ BHXH, có số lượng đối
tượng hưởng nhiều, đồng thời cũng có sự thay đổi liên tục về số lượng do đối
tượng chuyển đến, chuyển đi hoặc chết. Chính vì điều đó, BHXH thành phố
Cà Mau phải thật sự chủ động trong công tác quản lý đối tượng hưởng CĐHT
và có cách thức quản lý chặt chẽ, khoa học, cập nhật thông tin kịp thời đối với
63
những trường hợp có sự thay đổi.
Về phía đối tượng hưởng, khuyến khích các đối tượng khai báo đúng sự
thật về thông tin và những thay đổi của mình với cơ quan BHXH và các đại lý
chi trả ở địa phương. Những hành vi khai báo không đúng sự thật, những
trường hợp vi phạm cần xử lý nghiêm để làm gương cho các đối tượng khác.
Về phía cán bộ làm công tác quản lý đối tượng hưởng BHXH, cần xem
đây là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng. Do đó, định kỳ cần tăng cường
đến các điểm chi trả để kiểm tra, đối chiếu giữa hồ sơ hưởng CĐHT và danh
sách chi trả lương hưu hằng tháng, nhằm để tránh tình trạng cán bộ cấp nhầm,
cấp thừa cho đối tượng hưởng và cấp không đúng theo quy định.
Trong công tác quản lý, cần đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành
trong thực hiện những nhiệm vụ, nghiên cứu tìm giải pháp để giảm tỷ lệ nợ
đọng BHXH của các đơn vị SDLĐ; đẩy mạnh cải cách TTHC, ứng dụng
CNTT trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ,
nhịp nhàng hơn nữa với các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể và
UBND các xã, phường trong công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến BHXH tới các tầng lớp nhân
dân, NLĐ và CSDLĐ trên địa bàn; tăng cường nắm bắt tình hình, làm tốt
công tác dự báo để chủ động trong lãnh đạo, điều hành.
Như vậy, để việc thực hiện CĐHT trên địa bàn thành phố Cà Mau được
hoàn thiện hơn thì cần phải làm tốt công tác quản lý đối tượng hưởng. Làm tốt
công tác này sẽ giúp cho hoạt động chi trả CĐHT của cán bộ phụ trách được
thực hiện nhanh chóng, chính xác, đầy đủ và giúp cơ quan BHXH có thể quản
lý được những hành vi gian lận, lạm dụng, trục lợi quỹ BHXH.
3.3.5. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra
Cần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong việc triển
khai thực hiện chính sách BHXH; đồng thời, khi kiểm tra phát hiện những
trường hợp vi phạm pháp luật về BHXH cũng cần phải kịp thời khởi kiện, xử
lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Cụ thể như các trường hợp: đóng
64
không đúng thời gian quy định, cố tình chây ỳ, chịu phạt tiền chậm đóng và
chỉ đóng BHXH trên cơ sở mức lương, tiền công thấp hơn mức thực tế của
NLĐ thực nhận, nợ tiền đóng BHXH.
3.3.6. Cải cách TTHC và ứng dụng CNTT
Đẩy mạnh công tác cải cách TTHC và ứng dụng CNTT trong các khâu
nghiệp vụ. Tiếp tục thực hiện áp dụng, duy trì, giao dịch điện tử trong các lĩnh
vực thu BHXH, cấp sổ, cấp thẻ và giải quyết các chế độ ngắn hạn; duy trì
hoạt động đường dây nóng của đơn vị; giải quyết kịp thời các vướng mắc của
đơn vị, người tham gia BHXH; thực hiện thường xuyên việc khảo sát mức độ
hài lòng của tổ chức, công dân; không ngừng cải tiến lề lối làm việc, nâng cao
tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức viên
chức và NLĐ trong đơn vị theo hướng chuyên nghiệp.
Thường xuyên cập nhật các quy định về trình tự thủ tục, thực hiện
nghiêm chỉnh các hướng dẫn về cắt giảm các TTHC, tạo điều kiện cho người
tham gia BHXH đến giao dịch được kịp thời và thuận lợi.
Tiểu kết chương
Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện
CĐHT theo pháp luật BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Cà Mau trong
giai đoạn năm 2017 - 2019 ở chương 2.
Trong chương 3, luận văn đã trình bày một cách có khoa học, có hệ
thống về sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện CĐHT và những kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về CĐHT; đồng thời, đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH bắt buộc về CĐHT trên
địa bàn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.
Với mục tiêu đã được xác định của thành phố là hướng đến thực hiện
BHXH cho mọi NLĐ với chất lượng phục vụ tốt nhất thì có thể nói việc hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc trên địa
bàn thành phố Cà Mau là nhiệm vụ rất quan trọng và hết sức cần thiết trong
65
giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN
Qua hơn 60 năm thực hiện, CĐHT ở Việt Nam luôn có vị trí đặc biệt
quan trọng đối với người tham gia BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói
riêng. CĐHT cùng với các chế độ BHXH khác đã góp phần rất to lớn vào việc
ổn định đời sống của cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và
NLĐ, làm cho họ yên tâm lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
chính trị của đất nước trong thời gian qua. Nhờ có CĐHT mà NLĐ được nghỉ
hưu và được trợ cấp hưu trí để ổn định cuộc sống. Trong thời kỳ bao cấp, do
điều kiện lịch sử nên CĐHT chưa thể hiện đúng bản chất của nó mà chỉ thể
hiện tính ưu đãi bao cấp của Nhà nước cho một bộ phận dân cư là công nhân
viên chức và lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, trong thời kỳ đó CĐHT cũng đã
góp phần rất lớn vào việc ổn định đời sống cho NLĐ. Trong giai đoạn nền
kinh tế thị trường hiện nay, đặt ra yêu cầu là phải thực hiện BHXH đối với
người về hưu như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, đồng thời phù hợp
với hoàn cảnh đất nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Vì hiện nay,
nhu cầu về BHXH của NLĐ ngày càng đa dạng, số lượng người về hưu cũng
ngày càng tăng do tỷ lệ già hoá dân số tăng.
Cùng với các chế độ BHXH khác, CĐHT cần phải được quan tâm, bổ
sung, sửa đổi sao cho phù hợp với những thay đổi của tình hình kinh tế - xã
hội của đất nước trong tiến trình hội nhập và già hóa dân số trong giai đoạn
hiện nay.
Để đáp ứng được yêu cầu này thì việc xây dựng và hoàn thiện CĐHT
cho phù hợp với cơ chế quản lý mới là hết sức cần thiết.
Với tầm quan trọng như vậy của CĐHT, BHXH thành phố Cà Mau đã
tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH nói chung
và BHXH bắt buộc nói riêng. Đến nay, số người tham gia BHXH bắt buộc
66
trên địa bàn thành phố ngày càng tăng; hàng năm mức thu, nộp luôn dẫn đầu
trong toàn tỉnh. Tuy nhiên, những kết quả đạt được còn rất khiêm tốn, số lao
động tham gia BHXH còn thấp so với lực lượng lao động đông đảo trên địa
bàn thành phố. Hiện nay, mới chỉ các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp Nhà
nước mới có tỷ lệ lao động tham gia BHXH bắt buộc đông và rộng khắp, còn
đa số các doanh nghiệp tư nhân ở loại hình nhỏ và vừa thì mới tham gia ở một
số doanh nghiệp. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi, chế độ của NLĐ nói
chung.
Qua quá trình nghiên cứu lý luận về chế độ BHXH nói chung, cũng như
tìm hiểu thực trạng CĐHT trên địa bàn thành phố Cà Mau; tác giả đã tìm ra
được những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực hiện chế độ
BHXH nói chung và CĐHT nói riêng trên địa bàn thành phố Cà Mau. Từ đó,
kiến nghị và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CĐHT và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH bắt buộc về CĐHT tại thành
phố Cà Mau. Các giải pháp này rất quan trọng và thật sự cần thiết trong giai
đoạn hiện nay.
Hy vọng rằng, CĐHT theo pháp luật BHXH bắt buộc sẽ được hoàn
thiện, tiếp tục thể hiện đúng vai trò là chế độ cốt lỗi và quan trọng nhất của
67
chính sách BHXH trong thời gian gần nhất.