BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH HOÀNG HƯƠNG THẢO

TRUYỆN NGẮN YÊU NƯỚC Ở HUẾ GIAI ĐOẠN 1964 – 1975 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ: 60 22 34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN HỮU TÁ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành biết ơn:

 Sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Trần Hữu Tá,

 Sự cung cấp tư liệu và những chỉ dẫn quý báu của nhà văn

Trần Duy Phiên cũng như một số nhà thơ trong nhóm Việt, của anh Trần Xuân

Thắng – con trai cố thi sĩ Trần Quang Long;

 Sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học

và Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, cũng như của Ban Giám

Hiệu và đồng nghiệp Trường THPT Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk;

 Cùng gia đình và bạn bè;

Đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này, cũng như đã dìu dắt tôi trong suốt quá

trình học tập.

Hoàng Hương Thảo

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1.1.Lý do chọn đề tài

Từ cuối năm 1963, bối cảnh lịch sử - xã hội ở Huế nói riêng và ở đô thị miền Nam nói chung có

những biến đổi lớn lao mà nổi bật là sức trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cách mạng quần chúng

trên “trận địa đường phố” với sự tham gia đông đảo của thế hệ trẻ đã làm điêu đứng thêm một chế

độ đang trên đà tan rã, khủng hoảng. Chiến tranh, cùng với sự xuất hiện đông đảo của quân viễn

chinh Mỹ trở nên khốc liệt hơn lúc nào hết. Trong hoàn cảnh lịch sử đầy máu lửa ấy, những cây bút

trẻ giàu nhiệt huyết và đầy tài năng trên mặt trận văn hóa của đô thị Huế đã thực sự trở thành những

ngọn lửa tranh đấu, làm nên một giai đoạn phát triển vượt bậc và đầy khởi sắc của bộ phận văn học

yêu nước về nhiều thể loại, trong đó đáng chú ý là truyện ngắn. Để rồi giờ đây, sau hơn 30 năm kể

từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, lần giở lại những sáng tác của

một thế hệ đã biết sống và dám chết cho độc lập, tự do ở thành thị miền Nam mà Huế là một trong

những trung tâm tranh đấu ngày ấy, ta vẫn không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao trong một hoàn

cảnh xã hội vô cùng phức tạp và ngặt nghèo, các cây bút yêu nước ấy vẫn có thể tạo nên một bộ

phận truyện ngắn đậm đà giá trị tư tưởng và đạt đến một trình độ nghệ thuật khá cao như thế?

…Phải chăng chính lương tri và trách nhiệm của người cầm bút trước hiện tình đất nước, chính tình

tự dân tộc, ước muốn làm một điều gì đó cho quê hương và cả khát vọng tự khẳng định đã thôi thúc

thế hệ các nhà văn, nhà thơ còn rất trẻ ấy coi hoạt động sáng tạo văn chương như một cách thế dấn

thân và tranh đấu của chính mình.

Xác định đề tài là truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975, luận văn hướng tới việc

khẳng định một thành tựu rất đáng ghi nhận của văn học yêu nước ở Huế trong chặng đường hơn

mười năm này; đồng thời qua việc thực hiện đề tài này, người viết hy vọng sẽ góp được phần nhỏ

vào công việc tìm hiểu văn học thành thị miền Nam – một vấn đề còn chưa được nghiên cứu nhiều.

Bên cạnh đó, với suy nghĩ rằng mọi công sức, thành quả cha anh để lại bao giờ cũng là di sản của

truyền thống mà những thế hệ con cháu đời sau phải có sứ mệnh gìn giữ và trao truyền, tiếp nối,

người viết mong muốn công trình khiêm tốn này sẽ là một sự thể hiện tấm lòng tri ân đối với công

lao của những nhà văn đã đấu tranh cho sự nghiệp hòa bình, thống nhất Tổ quốc, cho công lý và lẽ

phải trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt lúc bấy giờ.

1.2. Mục đích nghiên cứu

Luận văn dự định tập trung giải quyết các yêu cầu cơ bản sau:

1.2.1 Về mặt lý luận:

Khái quát bối cảnh lịch sử của bộ phận thơ văn yêu nước ở Huế - một trong những trung tâm

tranh đấu của phong trào đô thị miền Nam giai đoạn 1964 – 1975.

Xác định vị trí của truyện ngắn yêu nước ở Huế trong hệ thống bộ phận văn học yêu nước ở Huế

giai đoạn 1964 – 1975 và truyện ngắn yêu nước, tiến bộ thành thị miền Nam cùng giai đoạn .

Xác định và đánh giá những đặc điểm, thành tựu cơ bản, nổi bật, đặc sắc về nội dung và nghệ

thuật của truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975.

1.2.2 Về mặt thực tiễn:

Đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu về một bộ phận văn học yêu nước để lại những dấu ấn khó

phai mờ trong dòng văn học thành thị miền Nam thời trước 1975. Luận văn có thể được dùng làm

tài liệu tham khảo trong nhà trường.

Góp phần giữ gìn một thành tựu đáng ghi nhận của nền văn học dân tộc nói chung và văn học

hiện đại nói riêng.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn yêu nước ở Huế trong giai đoạn 1964 –

1975, giai đoạn trước đó (1954 – 1963) được giới thiệu một cách khái quát nhằm đạt đến một cái

nhìn toàn cảnh và làm nổi rõ sự khởi sắc của giai đoạn sau.

Khái niệm “yêu nước” ở đây được người viết phân định với khái niệm “phản chiến”. Khác với

các nhà văn phản chiến phản đối chiến tranh bất luận loại chiến tranh nào (vệ quốc hay xâm

lăng…), các nhà văn yêu nước không chấp nhận sự thống trị của ngoại bang, đề cao dân tộc và độc

lập dân tộc. Nói như Phạm Thanh Hùng, họ là “những con người ở nhiều vị trí và hoàn cảnh sống

khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng của cách mạng và kháng chiến. Họ có thể là

cán bộ kháng chiến “nằm vùng” hay người công dân yêu nước bình thường, đồng tình với cộng sản

hay không, đứng trên lập trường cách mạng hay lập trường dân tộc…; những gì họ viết ra phải làm

sao vượt qua được chế độ kiểm duyệt của chính quyền nhằm cổ vũ hòa bình, chống chiến tranh xâm

lược, khơi dậy truyền thống quật cường, khích lệ tinh thần dân tộc, tình đoàn kết yêu thương giống

nòi” và “dù mức độ có khác nhau, tác phẩm của họ vẫn mang hơi thở nhân dân, sức sống dân tộc,

thấm đượm tình yêu quê hương đất nước và tinh thần nhân văn” [31; tr.4]. Từ cách hiểu đó, đối

tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn sẽ là tất cả những truyện ngắn được sáng tác trong giai

đoạn 1964 – 1975 của các nhà văn sau: Trần Quang Long, Trần Duy Phiên, Trần Hữu Lục, Trần

Hồng Quang, Huỳnh Ngọc Sơn và Tiêu Dao Bảo Cự. Ngoài ra, một số truyện ngắn của các cây bút

trẻ vốn nổi danh trên văn đàn về thơ ca như Tần Hoài Dạ Vũ, Thái Ngọc San, Ngô Kha cũng được

chú ý nhằm đạt đến cái nhìn toàn cảnh.

Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, luận văn sẽ mô tả, khái quát những nét chính

của phong trào đấu tranh đô thị ở miền Nam nói chung và ở Huế nói riêng với tư cách là hoàn cảnh

lịch sử của sự ra đời bộ phận văn học yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975. Bước tiếp theo, luận

văn đi vào xác định vị trí của thể loại truyện ngắn trong bức tranh toàn cảnh của văn học yêu nước ở

Huế giai đoạn 1964 – 1975 . Cuối cùng, phần trọng tâm của luận văn sẽ đảm nhiệm nhiệm vụ xác

định, đánh giá những thành tựu nổi bật, đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn yêu nước

ở Huế giai đoạn 1964 – 1975. Ở phần này, bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu sẽ được đặt trong

thế đối sánh với một số truyện ngắn các cây bút đô thị miền Nam cùng giai đoạn để làm nổi rõ vị trí

cũng như những đóng góp của nó.

2.2 . Phạm vi nghiên cứu :

Với việc xác định đối tượng như trên, luận văn dự định sẽ khảo sát và nghiên cứu truyện ngắn

yêu nước ở Huế trong khoảng thời gian 11 năm (từ 1964 – 1975) từ các nguồn tư liệu chính sau:

- Các truyện ngắn và thơ, lý luận phê bình của những tác giả tham gia phong trào đấu tranh đô thị

ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 in trên các báo, tạp chí ra đời ở miền Nam trước 1975.

- Các tập truyện ngắn của Trần Quang Long, Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên,…cũng như các tác

phẩm thuộc các thể loại khác của các nhà văn trong và ngoài nhóm Việt được in riêng hoặc đăng rải

rác trên báo chí trước 1975.

- Tuyển tập thơ văn yêu nước của tuổi trẻ Huế nói riêng và tuổi trẻ miền Nam nói chung xuất

bản sau 1975.

Ngoài ra, các bài viết, nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Huế; các sáng tác của các tác giả cùng thời

ở Huế cũng như ở các địa phương khác sẽ được vận dụng trong quá trình nghiên cứu khi cần thiết.

Tiểu sử của các tác giả cũng được tìm hiểu để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tuy nhiên nhân

thân của các nhà văn sau 1975 sẽ không thuộc phạm vi quan tâm của luận văn.

3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Liên quan đến đề tài của luận văn đã có một số thành tựu nghiên cứu đi trước và cả các bài viết

nghiêng về giới thiệu hay cảm nhận.

Trước 1975, do hoàn cảnh khách quan nên không có những trang viết mang tính nghiên cứu hoàn

chỉnh về các nhà văn yêu nước ở Huế. Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều bài viết và công trình

nghiên cứu được công bố hoặc ít hoặc nhiều có đề cập đến truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn

1964 - 1975, nhưng đều thống nhất ở sự khẳng định vị trí quan trọng của bộ phận văn học này.

Chẳng hạn, sách giáo khoa Ngữ văn dành cho học sinh khối 12 hệ nâng cao của Bộ Giáo dục Đào

tạo, NXB Giáo dục, năm 2007 sau khi nhận định về văn học vùng địch tạm chiếm: “Từ khoảng giữa

những năm sáu mươi trở đi, người ta thấy xuất hiện hàng loạt những cây bút trẻ, phần lớn là học

sinh, sinh viên, chưa có kinh nghiệm nghề nghiệp nhưng có văn hóa và đầy nhiệt tình yêu nước”

(tr.13) đã kể ra một số tác giả tiêu biểu , trong đó có Trần Quang Long. Tuy nhiên, nhìn tổng quát,

truyện ngắn của Trần Quang Long chưa được chú ý nghiên cứu mà hầu như các bài viết về nhà thơ,

nhà văn này vẫn dừng lại ở sự hồi tưởng về cuộc đời hoặc nhận xét chung về sáng tác thơ. Nổi trội

hơn vẫn là những bài viết, bài nghiên cứu về nhóm Việt.

Nhân kỷ niệm sự kiện báo Đứng Dậy ra số 100 vào năm 1977, nhà văn Trần Hữu Lục trong bài

hồi tưởng Những ngày Đối Diện in trên số báo này đã ghi lại những kỷ niệm đáng nhớ về một thời

kỳ đấu tranh sôi nổi, hào hùng trong sự kết đoàn bền chặt của anh em nhóm Việt và báo Đối Diện.

Trên vị thế của một người trong cuộc, ông nghiêm khắc tự phê phán “chúng tôi chưa thực hiện đúng

mức sứ mệnh của văn nghệ. Một số bài thơ chưa thoát khỏi cái không khí u uẩn, ngậm ngùi, tiêu

cực. Kết thúc truyện còn quẩn quanh, bế tắc và không tưởng ở trong truyện: Ngón tay chết của

Huỳnh Ngọc Sơn – Tiếng chim bìm bịp gọi người về của Võ Trường Chinh – Tư Giò của Trần Duy

Phiên – Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài của Trần Hồng Quang – Người tình lạ mặt của

Trần Hữu Lục...” [58;tr.21]. Nhưng đồng thời ông cũng ghi nhận những bước tiến mới trong tư

tưởng nghệ thuật của các nhà văn nhóm Việt từ 1972.

Mười năm sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nhiều bài nghiên cứu cũng như một số tuyển tập

tác phẩm của các nhà văn yêu nước, tiến bộ trước ngày giải phóng được giới thiệu. Trong số ấy, rất

đáng chú ý là bài Những chặng đường của nhóm Việt của Trần Thức và Hoàng Dũng trên Tạp chí

Sông Hương số 15, 1985 (sau in lại trong phần phụ lục của Tuyển tập truyện ngắn Việt và Tuyển tập

thơ nhạc họa Việt, 1997). Đúng như tựa đề, hai nhà nghiên cứu đã điểm lại các chặng đường phát

triển của nhóm Việt: từ Hội Hồng Sơn đến nhóm Việt, nhóm Việt trước và sau khi hợp tác với Đối

Diện, nhóm Việt từ khi được sự chỉ đạo từ Đảng đồng thời cũng ghi nhận ý nghĩa lớn lao của nhóm

Việt trong phong trào tranh đấu ở miền Nam. Bên cạnh đó, vào năm 1986, cuốn sách Mùa xuân

chim én bay về cũng được ra mắt bạn đọc . Trong lời giới thiệu ở đầu sách, Huỳnh Như Phương khi

điểm lại quá trình phát triển của truyện ngắn yêu nước tiến bộ miền Nam (1954 – 1975) đã đặc biệt

lưu ý đến sự khởi sắc của dòng truyện ngắn này sau 1968: “Đội ngũ sáng tác ngày càng được bổ

sung và đã trở thành quen thuộc với bạn đọc như Vũ Hạnh, Võ Hồng, Sơn Nam, Nguyễn Văn Xuân,

Minh Quân..., xuất hiện hàng loạt các cây bút trẻ sung sức: Trần Hữu Lục (tức Trần Phước

Nguyện), Võ Trường Chinh, Trường Sơn Ca (tức Tiêu Dao Bảo Cự) (…) Mỗi truyện ngắn của họ

trực diện đả kích chế độ, áp bức ,bóc lột, phơi bày những thủ đoạn của bọn cướp nước và bán nước,

nói lên sự chịu đựng gian khổ của quần chúng lao động” [116;tr.7]. Mấy năm sau, một tuyển tập

văn học đồ sộ với những bài nghiên cứu công phu, nghiêm túc được xuất bản: Tiếng hát những

người đi tới (1993). Trong bài viết với tựa đề Vẻ đẹp và vẻ đáng yêu của một thế hệ, cũng là lời giới

thiệu phần truyện ngắn trong tuyển tập này, Vũ Hạnh đã nêu lên những cảm nhận thực sự sâu sắc

và xúc động về những “chiến hữu” của ông trong một thời kỳ đấu tranh không thể nào quên. Sau đó,

ông ghi lại những đánh giá tinh tế của mình về một số truyện ngắn tiêu biểu: Địa ngục trần gian của

Tiêu Dao Bảo Cự, Mặt trời mù của Trần Hồng Quang, Tư Giò của Trần Duy Phiên, Ngủ ấp của

Trần Hữu Lục, Bông cúc vàng của Trần Quang Long.

Huỳnh Như Phương một lần nữa chứng tỏ tâm huyết của mình với di sản văn học quá khứ qua lời

giới thiệu trong Tuyển tập truyện ngắn Việt, 1997. Nhà nghiên cứu đã có một cái nhìn vừa mang

tính toàn cảnh lại vừa rất chi tiết, kỹ lưỡng về ý nghĩa tư tưởng cũng như những nét đặc sắc về

phong cách của các truyện ngắn của nhóm Việt. Theo ông, “sự xuất hiện của nhóm Việt trong sinh

hoạt văn học ở miền Nam những năm 1965 – 1975 có thể xem như một cách trả lời về thái độ của

nhà văn trước xã hội và con người trong một hoàn cảnh cực đoan của đời sống (...) Trong mười

năm hoạt động của mình, các nhà văn nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc,

vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ” [23] . Về nội dung tư tưởng,

ông đặc biệt chú ý đến hình ảnh của một thế hệ tuổi trẻ bị săn đuổi với những khắc khoải, những

ước mơ và tình liên đới với đồng bào mình. Huỳnh Như Phương cũng khẳng định giá trị của

phương thức hiện thực chủ nghĩa trong việc phản ánh và miêu tả hiện thực của nhóm Việt mà nổi

bật là tố cáo sự băng hoại của xã hội và trở thành “chứng từ” về đời sống tâm hồn của cả một lớp

người, vạch trần sự phi nhân của chế độ nhà tù đồng thời , xây dựng những hình tượng nông dân

giàu tính điển hình. Nhà nghiên cứu đã điểm qua phong cách nổi bật của từng tác giả trong nhóm

Việt và ông cũng không quên chỉ ra những hạn chế tất yếu trong các sáng tác của họ.

Trong một công trình nghiên cứu – biên soạn có chất lượng - Nhìn lại một chặng đường văn học

(2000), PGS.Trần Hữu Tá cũng đã dành một phần không nhỏ trong việc giới thiệu và nhận định về

văn học yêu nước ở Huế với một số đặc điểm và thành tựu nổi bật của nó. Ông điểm qua những giai

đoạn phát triển của phong trào yêu nước ở Huế, một trong những trung tâm tranh đấu của phong

trào yêu nước, cách mạng thành thị miền Nam. Đặc biệt, ông đi sâu vào giới thiệu nhóm Việt – “một

hiện tượng rất đẹp” trong phong trào tranh đấu. Trong phần khái quát những thành tựu của khuynh

hướng văn học yêu nước, cách mạng, Trần Hữu Tá cũng có những nhận định sâu sắc về sáng tác thơ

và truyện ngắn của những cây bút ở Huế trong một cái nhìn toàn cảnh.

Năm 2005 đánh dấu sự ra mắt bạn đọc của khá nhiều ấn phẩm về văn học yêu nước ở Huế. Bài

viết Có một thời để nhớ của Trần Thức in ở đầu cuốn sách Viết trên đường tranh đấu. Đây vốn là

bài được ông viết vào năm 1986 sau đó có bổ sung sửa chữa và in lại trong tuyển tập nói trên. Trần

Thức khẳng định: “Trong lịch sử đấu tranh kiên cường của nhân dân Huế, có thể nói, chưa bao giờ

sức mạnh của văn nghệ được phát huy một cách tập trung và đạt được nhiều thành tựu như trong

thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Và cũng chưa bao giờ cuộc chiến đấu trên “trận địa đường phố” lại

tập hợp được một đội ngũ đông đảo, trẻ trung, có ý thức về tính mục đích trong hoạt động sáng tạo

của mình như trong thời kỳ 1954 – 1975” [25;tr.7]. Tác giả bài viết cũng lần lượt điểm qua các thời

kỳ phát triển của văn học yêu nước ở Huế với ba giai đoạn: 1954 – 1960, 1960 – 1968 và 1969 –

1975. Ông đặc biệt nhấn mạnh hai thuộc tính riêng của dòng văn học được khai sinh trên “trận địa

đường phố” này: Trước hết “người cầm bút trong phong trào đô thị phải lách qua nghìn cửa ải để

tìm ra một cách nói, làm thế nào để tránh bộc lộ lực lượng mà vẫn có thể hướng tình cảm, nhận

thức của người đọc đi vào quỹ đạo cách mạng” do đó, “rất nhiều trường hợp, phải đọc giữa hai

hàng chữ mới tìm thấy thông điệp mà tác giả muốn nhắn gửi” (tr.11). Thứ hai là tính chất “ phong

trào” của dòng văn học này, vì thế “không ít tác phẩm còn nhiều hạn chế về mặt nghệ thuật” nhưng

“chắc chắn vẫn còn một số quả xanh” (tr.8).

Bên cạnh những bài nghiên cứu công phu, bài cảm nhận của một người đọc – nhà văn Kim

Quyên: Bút nhóm Việt và những năm tháng ấy [124] được đăng trên trang web Vietnamnet,

30/4/2005 có một dấu ấn riêng. Tự thấy mình là “người tri âm tri kỷ của dòng văn học Huế”, Kim

Quyên đã nói lên sự ngưỡng mộ của mình về một thế hệ tuổi trẻ: “Ngày ấy… Họ là những chàng

sinh viên trẻ của đất kinh kỳ, gương mặt khôi ngô tuấn tú, lòng đầy lãng mạn mộng mơ, trái tim tràn

tình yêu quê hương, đất nước, con người. Nhưng từ khi non sông bị gót giày quân xâm lược dày

xéo, quê làng nhuộm máu lửa, dân lành bị áp bức đoạ đày, họ đâu thể ngồi yên trên ghế nhà

trường, họ đã dấn thân cùng dân tộc bằng chính thể xác và tâm hồn mình, bằng trí tuệ và ngòi bút

của mình, những ngòi bút tràn ứ lòng căm hận bọn đế quốc, những dòng chữ như có lửa, có máu rỏ

xuống từng trang giấy. Những tên tuổi quen thuộc của bút nhóm VIỆT như: Võ Quê, Đông Trình,

Bửu Chỉ, Nguyễn Phú Yên, Trần Hữu Lục,Trần Duy Phiên, Trần Hồng Quang, Huỳnh Ngọc Sơn,

Trường Sơn Ca, Võ Trường Chinh, Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đông Nhật, Lê

Gành… với lời thơ, câu văn, bút ký, bài hát, tranh vẽ… đã một thời từng gây sóng gió điên đảo cho

chế độ cũ và khắc những dấu ấn không quên trong lòng người đọc.” . Sau đó, Kim Quyên lần lượt

đánh giá một số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả nhóm Việt để chứng minh cho nhận định “Lực

lượng viết văn xuôi càng ngày càng hùng hậu, tập hợp được nhiều cây viết có tâm huyết, tài năng

và dũng cảm, không sợ chết chóc tù đày, theo từng giai đoạn lịch sử đấu tranh của dân tộc mà xây

dựng những truyện ngắn, những bút ký đã miêu tả, khắc họa thật tỉ mỉ qua những chi tiết rất thật,

rất tài hoa.”.

Tiếp đó, năm 2007, Phác họa chân dung một thế hệ được xuất bản. Có thể nói, Tần Hoài Dạ Vũ

và Nguyễn Đông Nhật với tấm lòng biết ơn và tình bè bạn, tình đồng chí , đã thực sự khắc họa nên

bức chân dung rất đẹp của một thế hệ tuổi 20 trong bối cảnh cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính

quyền Sài Gòn ở các đô thị tiêu biểu của miền Nam. Là người trong cuộc, đã từng sống và tham gia

tích cực trong phong trào tranh đấu của tuổi trẻ đồng thời cũng là thành viên của nhóm Việt, Tần

Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã có những trang viết đầy xúc động về nhóm Việt cũng như các

tác giả tiêu biểu của văn học yêu nước ở Huế như Trần Quang Long, Ngô Kha...

Được viết bởi các tác giả mà hầu hết là những nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp, Chân dung Huế

(2009) là đầu sách chuyên đề có giá trị do tủ sách Nhớ Huế liên kết với Nhà xuất bản Trẻ phát hành.

Trong 22 nhân vật đương thời được vẽ chân dung có hai nhà văn đã sớm nổi danh trước 1975 với

nhiều truyện ngắn yêu nước: Trần Duy Phiên và Trần Hữu Lục.Với văn phong mềm mại, uyển

chuyển khá hấp dẫn, các bài viết đã tái hiện thật sinh động cuộc đời hoạt động và sáng tác sôi nổi

mà trong đó đáng chú ý hơn cả là quãng thời gian tranh đấu tại đô thị miền Nam trước ngày giải

phóng của cả hai cây bút trên. Với bài Trần Duy Phiên – hai quê hương, một ngòi bút, nhà văn

Trần Hữu Lục đã điểm lại quãng đời tuổi trẻ của Trần Duy Phiên “một trong số những cây bút chủ

lực văn xuôi của Việt” từ khi còn là “một sinh viên năng động” gắn liền tên tuổi mình với các tờ báo

phong trào như Hướng Đi (1963), Đỉnh Triều (1965), Việt (1966) đến khi đi dạy ở KonTum và cùng

các thành viên khác của nhóm Việt phụ trách toàn bộ phần văn học – nghệ thuật của Đối Diện. Theo

Trần Hữu Lục, “ngày đó, Trần Duy Phiên đã tạo ấn tượng với một văn phong sắc cạnh, mạnh mẽ và

lôi cuốn” [26;tr.177] qua hai giai đoạn sáng tác. Ông viết : “Đọc lại một số truyện ngắn của anh (tức

Trần Duy Phiên – HHT c.t), tôi bắt gặp tuổi thơ và thời trai trẻ của mình. Anh viết về đám học trò

khắc khoải trong ngôi trường miền núi đìu hiu, những hình ảnh tuổi thơ bị săn đuổi trên chính quê

hương nhưng vẫn không nguôi hướng đến ngày mai (Nắng đẹp sân trường, Thư học trò..). Giai

đoạn kế tiếp, truyện ngắn của Trần Duy Phiên là bản cáo trạng về băng hoại của xã hội, về thân

phận nghèo hèn, về nỗi thất vọng, oán hờn và cả nỗi khát khao thầm lặng của những con người bị

tước đoạt quyền sống trong các trại tạm cư và các khu rác ngoại thành (Tư Giò, Sáu Dền, Mặt Đất

Quê Ngoại…), nhưng vẫn còn nuôi hy vọng vào mai sau (Trốn, Chim tha lửa…).”(tr.177).

Trong bài viết khá dài Trần Hữu Lục – như là “hạt bụi quê hương”, hai tác giả Nguyệt Cầm –

Thanh Hà đã tái hiện thật ấn tượng quãng đời tuổi trẻ không thể nào quên của Trần Hữu Lục qua ba

đề mục nhỏ: Thời hoa niên , Ô cửa hoa vàng và Những ngày Đối Diện. Trần Hữu Lục – người con

của vùng quê Vân Dương ấy, ngay từ khi còn là sinh viên Đại Học Sư Phạm Huế đã “hoạt động

năng nổ trong Tổng hội sinh viên Huế, là chủ biên tập san “Thân Hữu” của trường Đại Học Sư

Phạm Huế, là chủ bút báo “Sinh viên Huế”, thành viên của nhóm Việt” (tr.137) và ngay từ những

năm 1967, 1968 “ngoài các truyện ngắn: Tuổi đồng quê (Tên truyện ban đầu là Những bàn chân

bẩn), Sa lầy, Cách một dòng sông, Hát rong trên đồng, Cầu sương mù…cùng in trên báo Văn và

được báo này đưa vào danh sách 10 cây bút trẻ có triển vọng ở Sài Gòn, anh còn viết một số truyện

ngắn đầy trăn trở và trách nhiệm như Về nguồn, Di vật (tạp chí Đất Nước), Chứng từ, Xóm hói, Đá

trăm năm (tạp chí Đối Diện)…” (tr.137). Đến khi dạy học ở Đà Lạt và cộng tác với Đối Diện, Trần

Hữu Lục vẫn là tác giả của những trang văn “dấn thân, nhập cuộc với hiện thực quê hương nhức

nhối, nồng nàn tinh thần yêu nước, tiến bộ”. Ông “đã có những ngày “đối diện” với lương tri của

người cầm bút, trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh của đất nước” (tr.142). Có thể nói,

bài viết đã cung cấp cho người đọc một khối tư liệu khá phong phú và bổ ích về nhà văn xứ Huế

trên.

Gần đây nhất, năm 2010, trên trang web điện tử của Tạp chí Sông Hương, Trần Hữu Lục một lần

nữa đề cập đến Văn chương nhóm Việt, chủ yếu dưới dạng điểm lại hai ấn phẩm đã được xuất bản

trước đó: Tuyển tập truyện ngắn Việt và Tuyển tập thơ nhạc họa Việt. Tuy rằng Trần Hữu Lục tập

trung nói nhiều về sáng tác thơ hơn cả, nhưng những nhận định khái quát của ông về văn chương

của nhóm Việt trong bài viết này cũng rất đáng chú ý: “Vào thời thanh xuân, những tác giả trẻ

của Nhóm Việt đã có những hoạt động tích cực, trở thành một trong những trường hợp tiêu biểu về

khuynh hướng hiện thực và cách mạng trong phong trào văn học yêu nước những năm tháng đó (…)

Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà văn, thơ Nhóm Việt đã nhiều lần được chọn vào các tuyển tập

văn học trong hơn 20 năm qua. Với ý thức dấn thân trong một chọn lựa nghệ thuật, dẫu sau một

khoảng cách 30 năm, vẫn mang ý nghĩa tinh khôi của nó. Sáng tác của mỗi tác giả trong Nhóm

Việt, tuy hòa chung vào phong trào đấu tranh đô thị miền Nam, nhưng đã sớm bộc lộ sắc thái, nét

riêng rất dễ nhận biết của mỗi người.” [60]

Như vậy có thể nói, cho đến nay, vẫn chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyện

ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975. Song, các ý kiến, nhận xét được nêu ra, dù có khi chỉ

dừng lại ở cảm nhận hay giới thiệu cũng đã giúp người viết rất nhiều trong sự sưu tập tài liệu và

định hướng nghiên cứu của mình .

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu nói trên, người viết dự định vận dụng các

phương pháp sau trong quá trình thực hiện luận văn:

4.1. Phương pháp lịch sử - xã hội

Luận văn vận dụng quan điểm lịch sử xã hội để tìm hiểu truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn

1964 – 1975 nói riêng và văn học yêu nước ở Huế nói chung trong phong trào đấu tranh chống chủ

nghĩa thực dân mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn của nhân dân đô thị miền Nam, đặc biệt là cuộc

đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, văn học nghệ thuật nhằm đi đến cách lý giải và cắt nghĩa

đúng đắn, khách quan, công bằng về những đóng góp cũng như những mặt hạn chế mà các tác giả

đã thể hiện trong tác phẩm của họ.

4.2. Phương pháp hệ thống

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 sẽ được nhìn nhận trong hệ thống các thể

loại của văn học yêu nước ở Huế cũng như trong sự đối sánh với truyện ngắn của các tác giả cùng

thời. Tập hợp tác phẩm của mỗi tác giả cũng được coi là một hệ thống để rút ra nhận định về phong

cách. Đồng thời mỗi tác phẩm cũng được coi là một hệ thống hoàn chỉnh để phân tích đặc điểm về

nội dung và nghệ thuật.

4.3. Phương pháp so sánh

Bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu sẽ được đặt trong thế đối sánh với một số truyện ngắn yêu

nước, truyện ngắn phản chiến của các nhà văn cùng thời và cả ở giai đoạn trước trong điều kiện cho

phép. Sự đối sánh này sẽ giúp làm sáng tỏ thêm giá trị tư tưởng tích cực, tiến bộ cũng như tạo tiền

đề cho sự ghi nhận những nét độc đáo, những cống hiến riêng của các cây bút trẻ yêu nước ở Huế

giai đoạn này.

4.5. Phương pháp phân tích – tổng hợp

Nếu phương pháp phân tích giúp luận văn tìm và xác định được những cái hay, cái mới và những

đóng góp của các nhà văn trong các tác phẩm thì nhờ phương pháp tổng hợp, luận văn có thể đưa ra

những nhận định chung nhất, khái quát nhất về truyện ngắn yêu nước ở Huế, từ đó đi đến những kết

luận cụ thể về thành tựu và những đóng góp của truyện ngắn ở Huế cho văn học thành thị miền Nam

nói riêng, văn học nước nhà nói chung.

Ngoài ra, phương pháp thống kê sẽ được vận dụng để đưa ra những căn cứ, minh chứng xác thực

cho nhận định khi cần thiết.

5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Nhận thức đây là đề tài mang ý nghĩa khoa học thực sự, chúng tôi đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu

với hy vọng nếu đề tài thành công sẽ có thể đem đến những đóng góp sau:

Góp phần mang lại một cái nhìn toàn diện về bộ phận văn học yêu nước ở Huế trong thời kỳ

chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đặc biệt là ở giai đoạn 1964 – 1975. Sưu tầm, tập hợp lại trong

điều kiện cho phép những sáng tác trước 1975 của các tác giả được đề cập.

Nghiên cứu chi tiết và đưa ra những nhận định tổng quát về thành tựu nội dung và nghệ thuật của

truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975; đồng thời khẳng định đóng góp lớn lao của nó

cho dòng văn học yêu nước, tiến bộ thành thị miền Nam nói riêng và văn học nước nhà nói chung.

Đặc biệt luận văn sẽ góp phần bổ sung vào những công trình nghiên cứu văn học yêu nước, tiến

bộ thành thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 và kế thừa một số nghiên cứu đi trước, nó cũng góp

một phần nhỏ bổ khuyết cho bức tranh văn học Việt Nam trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam

thế kỷ XX.

6. GIỚI THIỆU CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chúng tôi tổ chức luận văn theo các nội dung chính sau:

Chương 1: Truyện ngắn yêu nước ở Huế trong phong trào đấu tranh đô thị miền Nam

giai đoạn 1964 – 1975

Chương này sẽ giới thiệu khái quát những nét chung đáng chú ý về văn hóa và con người xứ

Huế. Sau đó, bối cảnh lịch sử giai đoạn 1964 – 1975 được chú trọng tái hiện, mà trọng tâm là phong

trào đô thị Huế. Cuối cùng, luận văn ghi nhận truyện ngắn như là thành tựu đáng chú ý của văn học

yêu nước ở Huế giai đoạn này.

Chương 2: Chân dung thế hệ trẻ trong phong trào đấu tranh đô thị miền Nam qua

truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975

Chương 2 sẽ đi vào tìm hiểu những đóng góp lớn về nội dung tư tưởng của truyện ngắn yêu nước

ở Huế 1964 – 1975, trong đó thành tựu nổi bật chính là chân dung tinh thần của thế hệ trẻ trong

phong trào đấu tranh đô thị miền Nam mà các tác giả trẻ đã thể hiện qua bốn mối quan hệ chính

yếu: tuổi trẻ với hiện tình đất nước, tuổi trẻ trong tình liên đới với tha nhân, tuổi trẻ với sứ mệnh

lịch sử và tuổi trẻ với giá trị văn hóa truyền thống.

Chương 3: Những thành tựu nổi bật về nghệ thuật tự sự của truyện ngắn yêu nước ở

Huế giai đoạn 1964 – 1975

Bốn phương diện đáng chú ý về nghệ thuật tự sự của truyện ngắn yêu nước ở Huế hơn 10 năm

cuối của cuộc chiến tranh sẽ được luận văn chú trọng nghiên cứu và khẳng định thành tựu. Đó là:

nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật xây dựng nhân vật, thời gian và không gian nghệ thuật,

chất Huế trong ngôn từ và giọng điệu truyện ngắn.

CHƯƠNG I

TRUYỆN NGẮN YÊU NƯỚC Ở HUẾ

TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH ĐÔ THỊ MIỀN NAM

GIAI ĐOẠN 1964 - 1975

1.1. NÉT CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI XỨ HUẾ

Đường vô xứ Huế quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

“Xứ Huế” được nhắc đến trong câu ca dao mang ý vị như một lời mời gọi tha thiết và chất chứa

niềm tự hào đáng yêu về quê hương xứ sở trên không chỉ riêng thành phố Huế theo địa phận hành

chính bây giờ mà hiểu rộng ra, tên gọi ấy còn chỉ trấn Thuận Hóa xưa của Đại Việt và phần nào cả

Bình Trị Thiên hiện nay. Tuy nhiên, nhắc đến một vùng văn hóa xứ Huế, bao giờ tâm thức của

những người dân Việt cũng nhớ về tỉnh Thừa Thiên Huế mà Huế chính là trung tâm kết tinh, hội tụ

và lan tỏa những nét đẹp tinh túy nhất, lấp lánh nhất.

Thiên nhiên, đất trời đã ban tặng cho Huế một cảnh quan thiên nhiên thật kỳ thú, trữ tình với sự

phức tạp và đa dạng hiếm thấy về địa hình sinh thái: núi đồi, sông ngòi, biển cả, đầm phá. Màu xanh

điệp trùng của những khu rừng tự nhiên mà tiêu biểu là Bạch Mã với một ngày đủ cả bốn mùa hòa

lẫn cùng màu xanh của biển, của những con sông ở dải đất miền Trung này . Người ta có thể thả hồn

cùng áng mây chiều trên đỉnh Hải Vân , tiếng sóng vỗ rì rào của biển khơi dưới chân đèo, ánh trăng

dát bạc trên mặt phá Tam Giang, đầm Cầu Hai và chơi vơi theo màu tím của sông Hương lúc chiều

về. Kể từ những lớp lưu dân đầu tiên theo thuyền hoa của công chúa Huyền Trân “mượn màu son

phấn, Đền nợ Ô,Ly”, con người xứ Huế đã bằng bàn tay, khối óc và cả trái tim mình dẫy cỏ lật đá và

hòa nhịp làm một với thiên nhiên, đất trời theo cảm thức sâu xa của người Á Đông để trong một thời

gian dài chúng ta có Huế như là một thành phố - vườn nổi tiếng thế giới với một nền ẩm thực đặc

sắc và bao hoa thơm trái ngọt dâng tặng cho đời: quýt Hương Cần, dâu Truồi, thanh trà Nguyệt

Biều, nhãn lồng Kim Long, vải trạng Phụng Tiên, cau Nam Phổ, trầu Chợ Dinh…Huế quả thực là

* Lời phát biểu của Tổng Giám đốc UNESCO Amadou –Mahtar-M’bow, năm 1981.

“bài thơ tuyệt tác”, là “thành phố của sự hài hòa trọn vẹn”, là “nghệ thuật cộng thêm vào thiên nhiên như là một vẻ đẹp bổ sung”…*.

Nếu Huế là một hình hài thì có thể nói sông Hương chính là linh hồn, là tâm linh của nó. Dòng

sông thiêng ấy quả thực đã thao thiết chảy không ngừng trong nỗi niềm sầu xứ, đã góp phần không

nhỏ dệt nên tính cách sâu lắng, trầm tư và tâm hồn biết yêu cái Đẹp của những con người nơi đây.

“Sông Hương đã khơi nguồn cho nhiều suối thơ (…) thi ca trở thành một sinh hoạt tinh thần rộng

khắp, cho già trẻ gái trai, cho mọi nghề, mọi nhà, như thể là một sinh hoạt lao động hàng ngày,

giống như người ta hít thở không khí vậy” [180;tr.59]. Đêm đêm trên chiếc thuyền của các cô lái đò,

ta nghe được những giọng hò mái nhì mái đẩy tình tứ, lả lướt mà nếu tỉnh táo sẽ nhận thấy âm

hưởng của nhạc Chàm được phổ vào điệu hát nỉ non vương vấn nỗi buồn. Trên dòng Hương giang

lúc dịu dàng trầm lắng theo mảnh trăng hạ tuần , lúc lại dữ dội hào hùng như lưỡi kiếm dựng trời

xanh ấy, những người con ưu tú của nhân dân Huế hay những thi nhân từng sinh sống ở đất thần

kinh như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Cư Trinh, Miên Thẩm, Miên Trinh, Đặng Huy Trứ,

Phan Bội Châu…đã viết lên những áng thơ văn “mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, mang tư

tưởng yêu nước thân dân và ghi đậm dấu vết sử thi của một vùng đất” [30;tr.552] tạo nên một

truyền thống văn học rất đáng tự hào.

Đến Huế, dù ít dù nhiều, ai cũng thấy đây là xứ sở của cái Đẹp. Đẹp trong lời ăn tiếng nói, trong

tâm hồn và lối sống thường ngày. Sống trên dải đất miền Trung nhỏ hẹp, hữu tình nhưng còn quá

nhiều khó khăn, khắc nghiệt này, người xứ Huế trao truyền cho nhau tấm lòng biết quý trọng và

chắt chiu cái Đẹp như một di sản tinh thần. Họ nâng tất cả những gì tưởng như nhỏ nhoi và bình dị

nhất lên bình diện cái Đẹp: một tà áo dài tím kín đáo gợi nhớ gợi thương, chiếc nón bài thơ trắng

trong nghiêng nghiêng một sớm Tràng Tiền, một tiếng “dạ” ngọt ngào… Nói như Hoàng Phủ Ngọc

Tường, “trên lĩnh vực tính cách Huế, thích sống văn hóa hơn là hưởng thụ vật chất, thích sống đẹp

hơn là sống giàu có” [182;tr.16]. Người Huế có một ý thức mĩ cảm rất rõ rệt và cùng với điều đó là

đời sống nội tâm tinh tế, thấm đẫm chất trữ tình, nhuần nhị. Tựa như nước sông Hương, người nơi

đây sống hiền hòa, thanh bạch với cỏ cây, họ giấu kín nỗi niềm nơi những câu hát vần thơ. Con

người hành động trong họ khi cần thiết phải bộc lộ ra bên ngoài thì mạnh mẽ và dữ dội vô bờ,

nhưng tự bản chất, họ vẫn sống thiên về xu hướng tâm linh, thiên về là “một nhà thơ đồng nội hơn

là một cư dân đô thị” [182;tr.7].

Với địa cuộc đế vương và số phận lịch sử độc đáo, vùng đất thần kinh này đã từng là “phên dậu

thứ tư” của nước Đại Việt xưa, là vùng tranh chấp trong suốt hai thế kỷ (1558 – 1786) giữa họ Trịnh

và họ Nguyễn và sau đó giữa Tây Sơn và Gia Long, là chốn kinh sư đô hội bậc nhất của Đàng

Trong và trong hơn một thế kỷ là thủ phủ của cả nước. Đó là chưa kể đến vai trò của một thành phố

lớn thứ ba, trung tâm văn hóa – chính trị lớn thứ hai dưới chế độ cũ miền Nam trước đây. Địa lý và  Hương giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu (Nguyễn Du – Thu chí).  Trường giang như kiếm lập thanh thiên (Cao Bá Quát – Hiểu quá Hương giang).

lịch sử đã khiến Huế trở thành một tâm điểm văn hóa vừa có sức hút vừa có sức lan tỏa. Những

người dân Thanh Nghệ di cư đến vùng đất mới ngoài vốn văn hóa làng có sẵn đã linh động tiếp thu

và hội nhập với văn hóa bản địa của các dân tộc ít người ở Trường Sơn: Hoa, Chăm, Pa Hy, Pa Kô,

Tà Ôi, Cà Tu làm nên một bản sắc Huế vừa giàu tính dân tộc vừa có những nét riêng độc đáo. Huế

cũng là trung tâm Phật giáo lớn với những mái chùa cổ kính rêu phong. Đạo Phật với người dân

Huế trước hết là một tôn giáo nhưng có lẽ còn hơn cả thế, đó là một lối sống góp phần làm nên

phong cách Huế: lối sống Thiền, đặt chữ Tâm lên trên danh lợi, trong đó đặc biệt là chữ Tâm với

thiên nhiên, khao khát trở về với thiên nhiên như trở về với bản thể của chính mình. Nho giáo cũng

có ảnh hưởng lớn đến khí khái của những nhà nho thanh bạch và cả những Kẻ Sĩ thời đại ở Huế. Và

bên cạnh đó là luồng tư tưởng của Đạo giáo, Thiên Chúa giáo. Đặc biệt, vùng đất này cũng là nơi

sớm tiếp nhận tư tưởng của chủ nghĩa Mác mà hai trong số những người con ưu tú của nó là Hải

Triều – nhà lý luận văn học mác xít xuất sắc và Tố Hữu – lá cờ đầu của nền thi ca cách mạng. Tất cả

những giá trị văn hóa lớn lao ấy đã cùng hòa nhịp để trở thành cái “bên trong” của con người Huế.

Ngoài ra, Huế cũng đồng thời là nơi khởi nguồn của nhiều phong trào đấu tranh yêu nước giải

phóng dân tộc: phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX của các trí thức yêu nước như Trần Cao

Vân, Thái Phiên; phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX; cuộc đấu tranh chống thuế năm 1908; cuộc

vận động khởi nghĩa năm 1916; cuộc đấu tranh bảo vệ Phan Bội Châu năm 1925; cao trào cách

mạng 1936 – 1939…Có thể nói, ngọn đèn thao thức trong chiếc thuyền của Phan Bội Châu trên

Hương giang ngày nào, câu hò mái nhì “Chiều chiều trước bến Văn Lâu” lay động lòng người với

nỗi niềm nước non thuở trước chưa bao giờ ngừng nghỉ trong tâm khảm của mỗi người Huế. Chính

nền văn hóa bền vững và vô cùng đặc sắc trên cùng với một thực tiễn đấu tranh sinh động trong

nhiều thế kỷ đã hun đúc nên nội lực mạnh mẽ của con người xứ Huế. Đây là nền tảng không thể

thiếu của phong trào yêu nước của nhân dân Huế giai đoạn 1964 – 1975 và của dòng chảy thơ văn

mạnh mẽ trong giai đoạn trên.

1.2. HUẾ TRONG BÃO TÁP CỦA LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 1964 - 1975

Giai đoạn 1964 – 1975 đã in dấu ấn trong lịch sử hiện đại Việt Nam nói chung và Huế nói riêng

như một trong những thời kỳ quyết liệt và hào hùng nhất của cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại vì

hòa bình, thống nhất, tự do, dân sinh, dân chủ của toàn dân tộc. Hòa mình vào cuộc đấu tranh chung

của thành thị miền Nam, nhân dân Huế, với tất cả sức mạnh tinh thần của một nền văn hóa giàu

truyền thống được hun cháy lên bởi ngọn lửa của một thời đại bão táp, đã thực sự trở thành những

chủ nhân của lịch sử và làm thay đổi lịch sử bằng chính dòng máu nóng của mình.

1.2.1. Sự thay đổi lớn lao về cục diện chính trị ở Huế sau năm 1963

Trong chế độ cũ ở miền Nam trước đây, Huế có một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của một

trung tâm chính trị thứ hai sau Sài Gòn và cũng là nơi tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, ở Huế đã thiết lập nên một bộ máy cai trị cực mạnh với những biện

pháp sắt máu hòng đè bẹp tinh thần yêu nước, cách mạng vốn đã trở thành truyền thống của nhân

dân Huế. Hợp sức với bộ máy chính quyền ở Thừa Thiên và Huế là một bộ máy cai trị cấp miền

(gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên). Riêng Huế đã được đặc biệt

“ưu đãi” với sự đứng đầu của hai nhân vật có thế lực nghiêng trời: lãnh chúa miền Trung Ngô Đình

Cẩn (tức cậu Út Trầu) và Tổng Giám mục địa phận Huế Ngô Đình Thục. Trong ký ức của người

dân Huế, chín năm dưới chế độ nhà họ Ngô là chín năm dưới chế độ tham, trá, bạo như tên một bài

vè được lưu truyền tại đây và điển hình cho tội ác của chế độ ấy chính là nhà giam Chín Hầm, một

kiểu Côn Đảo ở Huế.

Tuy nhiên, “có áp bức có đấu tranh”. Phong trào Phật giáo Huế năm 1963 bùng lên dữ dội đã góp

phần thiêu rụi cơ đồ họ Ngô và buộc Mỹ phải “thay ngựa giữa dòng”. Nhưng Mỹ đã không ngờ

rằng với sự khủng hoảng triền miên của chế độ Sài Gòn suốt trong những năm sau đó đã đẩy tình

hình xã hội miền Nam vào một thời kỳ đen tối nhất. Trước mắt người dân Huế, những chính quyền

dù là quân sự hay dân sự nối đuôi nhau ấy chỉ là những “chính phủ Diệm không có Diệm” dưới bàn

tay chỉ đạo của Mỹ. Đúng như báo Lập Trường số 24 (5-9-1964) đã chỉ ra rằng: người dân Huế

“không còn tin ai nữa ngoài mình. Tất cả đã cướp công cách mạng của dân. Vì mù quáng, vì vị lợi,

vì bè đảng, vì đố kỵ, suốt trong 10 tháng vừa qua, tất cả tập đoàn độc tài đã làm cho nhân dân điêu

linh đồ thán” (Dẫn theo Lê Cung) [13;tr.75]. Niềm tin, niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng,

dân chủ, tự do đã đổ vỡ, đã tan như bong bóng xà phòng. “Những ai nhẹ dạ tin rằng cuộc lật đổ

chính phủ Diệm là một cuộc cách mạng thực sự, rằng nền dân chủ phương Tây sẽ nhanh chóng lan

truyền đến cái phần đất chiến tranh đầy chết chóc và nghèo đói này hẳn đã tỉnh ngộ, hoặc ít ra là,

hẳn phải nghĩ lại. Chính trường miền Nam giống như một ngăn tủ lạnh hơn là một sân khấu của

niềm vui; lạnh lẽo, buồn tẻ, đầy chất dối trá và quá nhiều con rối trong tay ngoại bang” [193;tr.84].

Chính trong hoàn cảnh bi đát ấy, nhân dân Huế đã nhận thức sâu sắc hơn bao giờ hết bộ mặt thật

của chính quyền và càng quyết tâm đứng lên để cứu lấy quê hương. Hoạt động văn nghệ cũng bước

vào một thời kỳ khởi sắc gắn bó máu thịt với phong trào tranh đấu vì lẽ sống hòa bình, tự do, dân

chủ của nhân dân.

Chiến lược chiến tranh đặc biệt bị phá sản cùng với sự suy yếu không thể gượng dậy của chính

quyền Sài Gòn vừa là nguyên nhân đồng thời cũng là hệ quả của buớc phát triển như vũ bão của

cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (từ

tháng 6 năm 1969 là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam). Sau năm

1963, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế tích cực, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt nhằm đưa phong trào lên

một thời kỳ mới, thời kỳ phá thế kìm kẹp, giành dân, đưa phong trào đồng bằng lên thế đấu tranh

chính trị, quân sự, tiến công địch bằng cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận. Phong trào

đồng khởi diễn ra ở khắp vùng đồng bằng năm 1964 đã hỗ trợ đắc lực đưa phong trào đô thị Huế lên

cao. Có thể nói, sau 1963, Huế thực sự bước vào một thời kỳ tranh đấu bão táp. Làn sóng cách

mạng không ngừng dâng cao ấy đã là một “sự động viên tinh thần đặc biệt đối với các lực lượng

yêu nước nói chung, với văn nghệ yêu nước cách mạng nói riêng trong các thành thị miền Nam”

[139;tr. 25], tất nhiên trong đó phải kể đến Huế như một trung tâm tranh đấu.

Quá sốt ruột trước sự thất bại thảm hại của bộ máy chính quyền thuộc địa do mình dựng lên, hè

năm 1965, quân viễn chinh Mỹ trực tiếp vào miền Nam tham chiến. Sự hiện diện ngày càng đông

đảo của những “ông bạn đồng minh” cùng với sự leo thang chiến tranh bắn phá miền Bắc, những

cuộc hành quân hủy diệt, những cuộc thảm sát người dân vô tội mà tiêu biểu nhất là vụ Sơn Mỹ (16

– 3 – 1968) cùng với sự khinh thị của lính Mỹ đối với người Việt Nam mà họ gọi là “con vật hai

chân”, sự sa đọa đồi trụy, lối sống tư bản chỉ biết đến hưởng thụ đã như một hiện thực quá ư trần

trụi và đáng căm phẫn trước mắt nhân dân miền Nam mà trong đó không phải là ít những người đã

hô hào cổ vũ cho sự có mặt của ngoại bang. Tại Thừa Thiên Huế, Phú Bài trở thành căn cứ đóng

quân đầu tiên của quân đội viễn chinh Mỹ để triển khai chiến lược chiến tranh cục bộ trên địa bàn

hai tỉnh Trị - Thiên. Thành phố của sông Hương nổi tiếng thơ mộng và êm đềm vốn đã bị bao trùm

bởi bầu không khí chính trị nóng bỏng nay lại thêm rên xiết dưới gót giày đinh của quân xâm lược.

Thế nhưng cùng với những xáo trộn ghê gớm ấy là sự thức tỉnh sâu sắc hơn của tinh thần dân tộc và

ý chí đấu tranh cho quyền độc lập tự chủ của nhân dân Huế, mà không chỉ riêng Huế, “chống Mỹ đã

trở thành tình cảm lớn của đồng bào vùng bị tạm chiếm” [20;389] và đến đây, theo cách nói của

Nguyễn Trọng Văn, các nhà văn yêu nước chân chính đã vượt qua “cơn mê lớn nhất của người dân

đô thị cũng như của đông đảo người cầm bút trước năm 1963, là sự ngây thơ đến thảm hại và cái

ảo tưởng đến kỳ quặc về Mỹ” (Dẫn theo Trần Hữu Tá) [139;tr.109].

1.2.2. Bão táp tranh đấu của nhân dân đô thị Huế cho một Tổ quốc độc lập, thống nhất

Sau năm 1963, ngọn lửa đấu tranh trên mặt trận đường phố ở Huế vốn đã được giương cao trong

phong trào Phật giáo trước đó càng bùng lên mạnh mẽ và dữ dội. Có thể dễ dàng nhận thấy một sức

sống mãnh liệt đến kỳ lạ của phong trào khi nó liên tiếp được duy trì và phát triển trong suốt những

năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mặc dù bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tục khủng bố

trắng, nhưng qua những giờ phút tưởng chừng tắt lặng hẳn, phong trào đô thị Huế lại được khôi

phục, vươn lên thành những cao trào tranh đấu để đi đến thắng lợi cuối cùng. Một điều nữa cũng

cần lưu ý, đó là hầu như trong bất cứ sự kiện, hành động tranh đấu nào cũng đều lôi cuốn sự tham

gia của đông đảo tầng lớp nhân dân: từ những người dân nghèo thành thị với nỗi lo cơm áo hàng

ngày như bác xích lô, chị bán hàng rong, anh công nhân… đến các tiểu thương, phật tử, sinh viên

học sinh,viên chức và thậm chí đó còn là sĩ quan, binh lính, cảnh sát ly khai với chính quyền. Không

chỉ dừng lại ở đó, phong trào đô thị Huế còn được sự ủng hộ và phối hợp nhịp nhàng của phong trào

ở nông thôn, các huyện lỵ trong tỉnh Thừa Thiên.

Sau những ngày đấu tranh truy quét dư đảng Cần Lao, vạch mặt và trừng trị những tay sai trước

đây của gia đình họ Ngô, đòi thực thi dân chủ, phong trào đô thị Huế bước vào một thời kỳ sôi nổi

chống các “chính phủ Diệm mà không có Diệm” độc tài, phát xít và cam tâm làm tay sai cho Mỹ lần

lượt được dựng lên tiếp đó. Sự ra đời của Hội đồng nhân dân Cứu quốc năm 1964 do bác sĩ Lê Khắc

Quyến làm chủ tịch là một bằng chứng về sự đoàn kết tranh đấu của khối liên minh hầu hết các lực

lượng đấu tranh chống Mỹ và Nguyễn Khánh tại Thừa Thiên Huế với một lời cam kết “sẽ chiến đấu

đến người cuối cùng nếu chính phủ trung ương không thiết lập một nền dân chủ thực sự”[28;

tr.413]. Qua năm 1965, liên tục nổ ra những cuộc tổng bãi công, bãi khóa, bãi thị, biểu tình, hội

thảo, đốt trụ sở Mỹ nhằm phản đối Trần Văn Hương và sau đó là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao

Kỳ cùng sự xâm lược và leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ. Tiêu biểu là cuộc biểu tình kéo dài

suốt 5 tiếng đồng hồ của hai vạn đồng bào Huế ngày 25 tháng 1, hô to những khẩu hiệu chống Trần

Văn Hương và Taylor. Phong trào dâng lên và phát triển tới cao trào đấu tranh chính trị 100 ngày

năm 1966 nổ ra từ Huế, Đà Nẵng rồi mau chóng lan khắp các thành thị khác ở miền Nam. Tham gia

phong trào ly khai của Huế là một mặt trận rộng rãi của công nhân và các tầng lớp nhân dân lao

động, học sinh sinh viên , nhà giáo, nhà báo , văn nghệ sĩ, tín đồ Phật giáo, binh lính sĩ quan quân

đoàn I, hàng ngàn cảnh sát, những hội đồng thành phố Huế, Đà Nẵng, tỉnh Thừa Thiên và một số

tỉnh khác. Sát cánh cùng nhân dân các thành thị khác ở miền Nam, cao trào đấu tranh này ở Huế “đã

gây một uy thế chống Mỹ, phẫn nộ và quyết liệt chưa từng thấy” [28;258]. Sau sự kiện “bàn thờ

xuống đường”, Huế bị tràn ngập, và qua năm 1967, lực lượng tranh đấu từng bước được khôi phục

và duy trì với những cuộc bãi khóa, biểu tình, hội thảo, sinh hoạt văn nghệ của sinh viên học sinh.

Đó là giai đoạn ủ lửa để bùng lên dữ dội với lời kêu gọi vùng lên vũ trang khởi nghĩa của Mặt trận

Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968.

Huế mình đẹp nhất lòng dân

Mùa thu khởi nghĩa, mùa xuân dậy thành

(Tố Hữu – Nước non ngàn dặm)

Bước sang năm 1969, phong trào đô thị Huế liên tiếp dâng cao trong hoàn cảnh Mỹ tiến hành

chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và thi hành chính sách bình định. Tại Huế, chính quyền Sài

Gòn ra sức củng cố lại hậu phương, khủng bố trả thù những người yêu nước, tăng cường bắt lính và

bóp nghẹt các quyền dân sinh, dân chủ. Với khẩu hiệu “Tự do hay là chết”, nhân dân Huế đã đứng

lên chống chiến tranh, đòi hòa bình, đòi cơm áo và quyền làm chủ. Những năm 1970 – 1971 là

những năm mà cuộc đấu tranh lên đến đỉnh cao với hoạt động sôi nổi của học sinh sinh viên và các

tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, các cuộc tự thiêu liên tiếp diễn ra: Thích Chơn Thể, ni cô Tịnh Nhuận,

Phan Gia Ly là những “hành động hiến dâng nhục thể cho lý do sinh tồn của Dân Tộc, là cái chết

mang ý nghĩa một cứu cánh xã hội nhằm cứu rỗi con người đã 25 năm bị đày đọa trong cuộc chiến

tranh tàn khốc phi nhân” [37; tr.75]. Ngày 9 – 5 – 1971, hơn 2 vạn đồng bào và sinh viên, học sinh

Huế xuống đường biểu tình đòi hòa bình, lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Ngày 28 – 7 –

1971, Đại hội sinh viên học sinh miền Nam kỳ V, thực chất là đại hội mặt trận liên hiệp các tầng lớp

nhân dân tổ chức tại Huế, đòi Mỹ rút quân, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, tuyên

bố ủng hộ Tuyên bố 7 điểm của Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tại hội nghị

Paris. Cái chết của sinh viên Đặng Duy, của học sinh Bảo Dũng và trò hề bầu cử của Nguyễn Văn

Thiệu sau đó đã lôi cuốn cả thành phố Huế xuống đường kết án tội ác của Mỹ và tay sai. Chưa bao

giờ, tinh thần chống Mỹ - Thiệu lại dâng cao đến thế, đúng như lời thơ khẩu hiệu của sinh viên Huế

“Căm hờn lại giục căm hờn. Máu kêu trả máu đầu kêu trả đầu”. Bước sang năm 1973, 1974, Huế

cùng nhân dân đô thị miền Nam tập trung đấu tranh bảo vệ những thành quả mà hiệp định Paris thu

được đồng thời phát triển phong trào đấu tranh chống độc tài, tham nhũng, đòi dân sinh, mở rộng

mạng lưới cách mạng trong nội thành. Nhân dân Huế nhận thức sâu sắc rằng “chỉ có bằng con

đường hòa bình người dân Việt Nam mới có thể kiến tạo lại đất nước. Chỉ có bằng con đường hòa

giải và hòa hợp dân tộc chúng ta mới có sự đoàn kết rộng rãi, để cùng nhau làm đẹp lại quê hương”

(Dẫn theo Lê Cung) [13; tr.137-139]. Sự kiện nổi bật trong năm 1973 là lực lượng cách mạng đã

nắm được ban đại diện sinh viên của 3 trong số 5 phân khoa đại học. Ngày 8 – 9 – 1974, 5000 đồng

bào Huế xuống đường biểu tình , ra Bản cáo trạng số 1 lên án sự tham nhũng, độc tài của Tổng

thống Thiệu, đòi thi hành hiệp định Paris. Sau đó, tháng 11 – 1974, một tổ chức quần chúng rộng rãi

– Mặt trận Nhân dân cứu đói Thừa Thiên Huế - ra đời với cáo trạng tố cáo toàn bộ cơ cấu kinh tế

chính trị, xã hội miền Nam dưới chế độ Sài Gòn. Càng về cuối cuộc chiến tranh, nhiều tổ chức biến

tướng với sự tham gia của cơ sở cách mạng xuất hiện tại Huế: Tổng đoàn học sinh Huế, Đoàn Nữ

sinh Áo trắng, Đoàn Nữ sinh Công tác Xã hội, Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống, Lực lượng Hòa

hợp Hòa giải Dân tộc, Tổ chức Nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris, Nghiệp đoàn xích lô, Nghiệp

đoàn Vận tải, Lực lượng Tiểu thương chợ Đông Ba, Lực lượng giáo chức Huế, các đoàn sinh viên

học sinh Phật tử…Tất cả cùng hỗ trợ, phối hợp với lực lượng xung kích của sinh viên các trường

Đại học, sẵn sàng chiến đấu để giành độc lập khi có thời cơ.

Làn sóng tranh đấu của nhân dân đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước dù trải qua

nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn khác nhau nhưng vẫn nhất quán một tính chất nổi bật, xuyên suốt:

tính chất dân tộc, dân chủ. Trong một chế độ mà độc tài, tham nhũng đã trở thành một căn bệnh nan

y, sự đau thương, thống khổ, nghèo đói của dân chúng luôn là một thực tại nhức nhối thì sự đấu

tranh đòi dân sinh, dân chủ đã trở thành mục tiêu bức bách của mọi phong trào tranh đấu. “Tựu

trung “chống” hiểu như một phản ứng sinh tồn đích thực của quần chúng bị áp bức, nghèo đói, là

đòi hỏi tiêu diệt thực trạng phản cách mạng, phi nhân hiện hữu.” nhưng “tham nhũng, thối nát, chia

rẽ, chiến tranh, đồi trụy, lai căng…chỉ là đối tượng nhỏ. Chúng thoát thai từ một đối tượng lớn,

một guồng máy lớn, thế lực đế quốc thực dân. Nhìn bề ngoài thế lực đó gồm nhiều hình thức

chống đối nhau nhưng sự thực chúng nương nhau để sống mà tác dụng là khai sinh ra thực trạng

buồn thảm hiện hữu.” [143; tr.124 – 125]. Đúng như vậy, trong xã hội thuộc địa kiểu mới ở miền

Nam trước đây, mục tiêu dân tộc chính là mục tiêu hàng đầu, lớn lao nhất, là khát vọng độc lập, tự

do nung cháy bao trái tim nhiệt huyết. “Tự do hay là chết” đã thực sự trở thành phương châm hành

động của người dân Huế.

Nhìn lại một chặng đường tranh đấu của đô thị Huế giai đoạn 1964 – 1975, dù ở các mức độ khác

nhau, các phong trào đều hướng tới những mục tiêu dân sinh dân chủ điển hình là phong trào chống

Nguyễn Khánh năm 1964, phong trào nhân dân chống Nguyễn Văn Thiệu trong những năm đầu

thập niên 1970. Tuy nhiên đúng như nhận định của TS.Lê Cung, sẽ là phiến diện nếu cho rằng chỉ

khi có khẩu hiệu chống Mỹ thì phong trào mới có tính chất dân tộc, bởi trong một xã hội thuộc địa

thì việc chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chính quyền tay sai thực chất cũng là tấn công vào chính sách

xâm lược của Mỹ. Từ năm 1964, mục tiêu dân tộc của phong trào đô thị Huế trở nên nổi trội và

ngày càng mang tính công khai, quyết liệt. Đặc biệt trong cao trào tranh đấu 1966, phong trào sinh

viên và đồng bào Huế những năm đầu 70 đã thực sự nêu cao tinh thần bất khuất chống xâm lăng của

nhân dân Việt Nam.

Để đạt được các mục tiêu tranh đấu, phong trào đô thị Huế đã là “điểm hội tụ” của nhiều hình

thức và phương pháp đấu tranh: từ tuyên ngôn, kiến nghị đến bãi công, biểu tình; từ tuyệt thực, cầu

siêu đến tự thiêu, ra tuyên cáo; rồi các hình thức đốt cháy cơ quan Mỹ, đốt xe Mỹ, đánh lính Mỹ, tổ

chức tang lễ, cứu trợ, “những đêm không ngủ”... Có thể nói các hình thức đấu tranh từ hợp pháp,

nửa hợp pháp đến bất hợp pháp, từ công khai đến bí mật đã được vận dụng linh hoạt trong tình hình

cụ thể. Cũng phải kể đến sự xuất hiện ngày càng nhiều những tổ chức biến tướng và những hình

thức báo chí đa dạng. Với sự uyển chuyển, sáng suốt trong đường lối tổ chức và sự quyết liệt trong

hành động, phong trào đô thị Huế trong nhiều thời điểm đã là ngòi nổ gây nên phản ứng dây chuyền

mạnh mẽ đối với phong trào các đô thị miền Nam và đồng thời cũng được hợp sức, chi viện hữu

hiệu từ các trung tâm tranh đấu khác để tiến tới giành thắng lợi cuối cùng.

Một điều đặc biệt đáng lưu ý ở phong trào đô thị Huế là vai trò to lớn của tuổi trẻ. Trong suốt

chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tuổi trẻ bao giờ cũng là nguồn năng lượng

chính thúc đẩy bánh xe lịch sử đi lên. Lứa tuổi với bầu máu nóng và trái tim đầy ắp khát vọng, ước

mơ này đã viết nên những trang sử vàng của Huế: bước chân đi mở cõi và những cuộc chiến đấu chống Minh, Chiêm Thành ở nơi biên ải của đất Đại Việt, “kho tinh binh trong thiên hạ” * góp phần

quan trọng làm nên chiến thắng Kỷ Dậu (1789) lẫy lừng thời Tây Sơn , rồi tiếp sau đó là phong trào

Cần Vương, những cuộc xuống đường những năm 20 đầu thế kỷ, phong trào “Nam tiến” chống

Pháp xâm lược và gần nhất đó là phong trào Phật giáo 1963 – cuộc xuống đường đầu tiên của thế hệ

tuổi trẻ giai đoạn 1964 – 1975 ở thành phố giàu truyền thống yêu nước này.

Cũng cần phải nói thêm rằng: tuổi trẻ Huế ở đây không phải giới hạn là những người trẻ quê ở

Huế - Thừa Thiên mà còn chỉ cả những thanh niên, sinh viên học sinh đang học tập và sinh sống tại

Huế ở giai đoạn kể trên. Trong số đó nhiều người đến từ các tỉnh khác trên dải đất miền Trung, nổi

bật là Quảng Nam – Đà Nẵng, mảnh đất kiên cường gần gũi với Huế không chỉ về mặt địa lý mà

còn ở một bề dày văn hóa với đô thị Hội An trầm mặc, cổ kính. Lớp tuổi trẻ này sinh vào khoảng

thập niên 40,50 và trưởng thành vào những năm 60 của thế kỷ trước. Phần lớn họ là trí thức có trình

độ văn hóa cao đang theo học ở các trường phổ thông, đại học tại Huế, yêu và hấp thụ nhiều bầu

không khí văn hóa ở xứ sở này. Tuy nhiên, trưởng thành đúng vào thời điểm của một xã hội miền

Nam đầy sự bi đát của chiến tranh, nghèo đói, bất công, dối trá, với họ, “những hoài bão sẽ được

sống trong tự do, được cống hiến hết sức mình, được phục vụ cho một xã hội công bằng, no đủ,

nhanh chóng trở thành một thứ bong bóng xà phòng” [193;tr.91]. Trước mắt họ là tháp ngà tri thức

của nhà trường với một mớ kiến thức không cho họ lời giải đáp về những câu hỏi cấp bách của cuộc

đời, và sau lưng họ là sự rượt đuổi của chiến tranh, của cái chết nếu thi rớt, nếu nhà nghèo không có

tiền chạy chọt để hoãn quân dịch. Trước mắt họ cũng là một thực tại rối bời: chạy theo một lối sống

Mỹ thừa nhận đồng tiền không có mùi hay một kiểu sống mang danh “hiện sinh” coi hưởng lạc và

nổi loạn là cách bày tỏ thái độ đối với hoàn cảnh “phi lý” và đáng “buồn nôn” của không ít thanh

niên con nhà giàu ; chấp nhận làm một thanh niên xăm trên tay mình dòng chữ “ra đi vì đời” lao vào

chiến tranh và quên mình trên thân xác gái điếm và men rượu hay dám đứng lên tranh đấu vì lẽ phải

mà rất có thể tra tấn, tù đày và cả mất đi mạng sống là tương lai phía trước. Đầy ắp và ngổn ngang

trong lòng họ là những sự dày vò, trăn trở về thân phận người và sự khao khát tìm đường, sự đòi hỏi

quyết liệt của những chọn lựa. Trong khi đó, rất nhiều luồng tư tưởng khác nhau, thậm chí trái chiều

không ngừng tác động đến họ mà một trong số đó là cả hệ thống những luận điệu với không ít ngụy

tín của chính quyền đương thời và một phương thức tác động vừa quy củ vừa có sự trợ lực của bao

cám dỗ vật chất. Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận rằng những tư tưởng tiến bộ của Mặt trận Giải

phóng và cả chủ nghĩa Mác được tiếp nhận qua sách báo phương Tây cho dù có bị xuyên tạc đi ít

nhiều; thực tế xã hội miền Nam cùng sự lớn mạnh không ngừng của lực lượng cách mạng đã khiến * Nhận xét của Chúa Trịnh Kiểm về xứ Thuận Hóa năm 1558

không ít người trẻ vốn ghét Mỹ nhưng đồng thời cũng sợ Cộng Sản này coi “khuynh tả vừa là một

thái độ chính trị, vừa là một lựa chọn đạo đức chan chứa tình tự dân tộc” [185;tr.44]. Thế hệ trẻ ấy

vừa ao ước được sống như những Kẻ Sĩ thời trước theo quan niệm của một Nho giáo đã được cha

ông dạy dỗ, vừa muốn tiêu diêu, phóng nhiệm theo lý thuyết của Lão Trang. Họ tâm đắc với một

chữ Tâm trong sáng, giàu yêu thương và tĩnh lặng, coi tất cả là Không trong đạo Phật nhưng đồng

thời cũng gặp lại mình với những trăn trở, day dứt và sự khao khát dấn thân trong triết học hiện sinh

rất thịnh hành khi đó. Đối với những người trẻ ưu tú, những con người thực tâm yêu nước và bất

mãn, căm phẫn thực tại thì “đấu tranh chính là sống trung thực với chính mình, thể hiện mình trong

lịch sử, hiên ngang đi trong lịch sử chứ không phải chỉ là những kẻ đứng bên lề hay bọt bèo trôi

theo dòng nước” [193;tr.187]. Những người này có thể không gặp nhau về quan điểm chính trị,

nhưng họ đã gặp nhau trong một tấm lòng chan chứa tình tự dân tộc và niềm mong mỏi làm một

điều gì đó cho quê hương đau khổ, lầm than.

Chung tay với tuổi trẻ các đô thị khác ở miền Nam như Sài Gòn, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang…,

thanh niên, sinh viên, học sinh Huế đã hình thành nên một “mặt trận chống của tuổi trẻ”

[143;tr.126] (mà trong đó nhiều người là những “trí thức khuynh tả” theo cách gọi của Nguyễn

Trọng Văn) khiến những kẻ cầm quyền phải sợ hãi. Và dù bị đàn áp khốc liệt, ngọn lửa trên đường

phố Huế ấy vẫn “không tắt. Không hề tắt! Cùng với đường phố, lửa đấu tranh đang lan hồng trong

mỗi trại giam, trong mỗi nhà tù” [123;tr.91]. Đúng như Trần Văn Giàu đã nhận định “Ban đầu nhà

cầm quyền tưởng chừng phong trào học sinh sinh viên như một đám lửa rơm, về sau mới thấy nó

bền bỉ, kéo dài, ngày thêm cao và ý thức chính trị càng thêm rõ” [28;tr.410].

Lần giở lại trang sử Huế những năm mà ngọn lửa đường phố bùng lên dữ dội và quyết liệt trong

giai đoạn cuối của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1964 – 1975), quả thật đúng như lời bản tuyên bố

của giáo chức Thừa Thiên phát trên đài Huế ngày 12 – 9 – 1964: “Trong cuộc đấu tranh của toàn

dân chống chế độ độc tài quân phiệt, đi tiền phong là lực lượng sinh viên học sinh”[28;tr.410].

Những năm 1964,1965, tiếng nói của lực lượng này đã trở nên ngày một mạnh mẽ. Trong thời gian

chống Hiến chương Vũng Tàu, các hoạt động mít tinh, biểu tình, bãi khóa của tuổi trẻ Huế dưới sự

lãnh đạo của Ủy ban Sinh viên Học sinh Tranh đấu Huế và Lực lượng Sinh viên Học sinh tranh đấu

sau đó đã được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng và lan rộng ra khắp mọi giới đồng bào. Ngày 26

- 8 – 1964, đoàn biểu tình dài hơn một cây số của dân chúng, giới công tư chức và phần lớn cảnh

sát đã hô to khẩu hiệu: “Đả đảo độc tài quân phiệt”, “Hoan hô tinh thần tranh đấu của sinh viên,

học sinh Huế”. Tháng 8 – 1965, sinh viên Huế lập Ủy ban đấu tranh với khẩu hiệu: Chống chủ

nghĩa quân phiệt, chống đoàn ngũ hóa thanh niên, sinh viên, học sinh, chống sắc lệnh động viên tập

thể, bắt giáo sư và sinh viên đi lính. Rầm rộ những hoạt động hội thảo, phát thanh, mít tinh, biểu

tình, báo chí, “những đêm không ngủ” và sự phát động phong trào ở khắp các tỉnh miền Trung của

tuổi trẻ Huế trong thời gian này đã là một sự chuẩn bị tích cực về lực lượng khi bước vào cao trào

đấu tranh năm 1966 mà họ là một trong những thành phần tranh đấu tiên phong và tích cực nhất.

Lửa đấu tranh từ cuộc mít tinh của hơn 3000 học sinh các trường phổ thông tại Huế, từ Đại hội Sinh

viên Đại học Huế đã không ngừng bốc cao với các sự kiện tiêu biểu như: hội thảo chống Mỹ của

sinh viên cùng hàng ngàn đồng bào tại Đại học Khoa học ngày 5 – 4, xuống đường giải tỏa đường

Duy Tân, phát động “Tuần lễ tự trọng” bất hợp tác với Mỹ, thành lập Đoàn Sinh viên quyết tử sát

cánh với Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức, đốt thư viện Mỹ và lãnh sự Mỹ. Cuộc tự thiêu của nữ sinh

Nguyễn Thị Vân càng làm cho ngọn lửa đường phố tại Huế bùng lên. “Cả dân tộc đang đứng dậy,

những tiếng thét căm hờn từ đáy lòng của thanh niên, sinh viên, học sinh, đồng bào yêu nước đang

vang lên khắp các thành phố miền Nam” [13; tr.109]. Khí thế ngút ngàn ấy đã được tuổi trẻ Huế tiếp

nối và phát huy qua cao trào tranh đấu 1970 – 1971. Có thể nói, cao trào tranh đấu này đánh dấu

một sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức chính trị của tuổi trẻ Huế cũng như tuổi trẻ ở các đô thị

khác. “Tính tự giác cách mạng đã vững vàng, sự bồng bột của một thời quyết tử tay không đã qua

đi, quyết tâm hiến đời mình cho lý tưởng, cho sự nghiệp cao cả chống ngoại xâm để giành Độc lập,

Tự do đã được khẳng định. Cảm tính đấu tranh đã được nâng lên thành lý luận” [193;tr.346]. Mặt

trận liên hiệp đoàn kết rộng rãi của đội ngũ tuổi trẻ thành thị miền Nam được hình thành làm nòng

cốt cho một giai đoạn đấu tranh mang tính chất bạo lực quần chúng. Chưa khi nào, mục tiêu chống

Mỹ cùng chính quyền tay sai của họ được đặt ra một cách quyết liệt, được hiện thực hóa với những

hình thức đấu tranh phong phú, sôi nổi như thời gian này và kéo dài qua những năm tiếp theo. Bản

tin của Tổng hội Sinh viên Huế, số 42, ngày 5 – 4 – 1972 nêu rõ: “Đối tượng đấu tranh của sinh

viên, học sinh và nhân dân miền Nam là chống Mỹ xâm lăng cho nên mọi hình thức tiếp tay cho Mỹ

xâm lăng đều phản bội lòng dân Việt” (Dẫn theo Lê Cung) [13;tr.133]. Mở đầu năm 1970 là những

ngày xuống đường ủng hộ phong trào tranh đấu của sinh viên Sài Gòn chống chính quyền Nguyễn

Văn Thiệu tiếp tay cho Mỹ đầu cơ xương máu của người Việt để mở rộng chiến tranh, đàn áp sinh

viên, đồng lõa trước hành động tàn sát Việt Kiều của Lon Nol, chống chế độ quân sự học đường và

đòi các quyền dân sinh dân chủ. Các Đại hội sinh viên, học sinh Huế kỳ I, II và Đại hội sinh viên ,

học sinh miền Nam kỳ III liên tục diễn ra đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự thống nhất lực lượng

của tuổi trẻ Huế khi bước vào giai đoạn triển khai toàn bộ lực lượng đấu tranh. Những cuộc hội

thảo, “Đêm Hùng Vương”, “Đêm cốt nhục”, “Hát cho đồng bào tôi nghe”, đọc tuyên cáo, gửi kháng

thư, tuyệt thực, biểu tình ngồi, đốt hồ sơ quân sự học đường…của sinh viên, học sinh Huế thu hút

rất đông đảo đồng bào tham gia. Sự tái lập của Tổng hội Sinh viên Huế vào tháng 5 – 1971 sau

nhiều năm bị gián đoạn như một lời quyết tâm tranh đấu đến cùng của tuổi trẻ Huế trước hiện tình

đất nước và trụ sở 22 Trương Định những ngày tháng này thực sự trở thành “địa bàn lõm”dưới sự

chỉ đạo của lực lượng cách mạng hợp pháp. Những tháng ngày của năm 1971, Huế thực sự trở thành

một chảo lửa sôi sục của cuộc đấu tranh càng lúc càng dâng cao của quần chúng mà sinh viên, học

sinh đảm nhiệm vai trò chủ chốt với nhiều hình thức đấu tranh quyết liệt: chiến dịch đốt xe Mỹ,

đánh lính Mỹ, đốt thẻ cử tri và hình nộm Thiệu, đánh trả cảnh sát, lấy máu viết thư gửi Quốc

hội…và độc đáo hơn cả là khánh thành “Cầu chống Mỹ”. Khí thế đấu tranh ấy đã làm cô lập hoàn

toàn chính quyền đương thời và buộc họ phải lộ rõ bộ mặt tàn bạo của mình trong những hành động

đàn áp, bắt bớ như trường hợp bắt nhà giáo Ngô Kha năm 1972. Đáp lại những cuộc biểu tình “Xin

trả lại thầy cho chúng tôi” liên tiếp diễn ra của sinh viên và các lực lượng tiến bộ ở Huế và miền

Nam, Ngô Kha đã viết: “Cá nhân thầy không nghĩa lý gì cả, nhưng cuộc đấu tranh của các em đã

giúp thầy một niềm tin: giòng máu anh hùng vẫn không ngừng chảy trong huyết quản các em. Xin

cảm ơn tuổi trẻ anh hùng” [171;tr.13]. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi họ - những người trẻ

đã biết sống và dám chết vì tự do và hòa bình ấy những năm sau của cuộc chiến tranh đã lần lượt đi

theo và trở thành lực lượng nòng cốt của cách mạng, dù không ít người trong số họ thoạt đầu chỉ là

“khuynh tả” hay thuộc về “lực lượng thứ ba”. Bởi chính họ - bằng nhận thức và trải nghiệm của

chính mình – đã hiểu rằng “Mặt trận Dân tộc Giải phóng là thế lực độc nhất có thể đem lại độc lập

cho xứ sở và giá trị cho từng con người” [193;tr.282].

Nhìn lại chặng đường đấu tranh ở Huế và các đô thị khác của miền Nam những năm tháng ấy, ta

không thể không ghi nhận những hình thức đấu tranh rất đặc trưng của tuổi trẻ. Là lớp người có

trình độ văn hóa cao, hơn nữa lại am hiểu chính thị hiếu của lứa tuổi mình, tuổi trẻ Huế đã ý thức

sâu sắc tác dụng to lớn của văn hóa văn nghệ trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân tộc, dân chủ mà

tiêu biểu hơn cả là sự xuất hiện của hàng loạt báo chí phong trào với không ít những tờ báo có chất

lượng cao. Có thể kể đến : tờ Lập Trường ra đời ngay sau ngày đảo chính Ngô Đình Diệm, báo Lực

lượng Sinh viên Học sinh tranh đấu trong những ngày chống Mỹ và Nguyễn Khánh; báo Đất Mới,

Sứ mệnh, Sinh viên Huế của Tổng hội Sinh viên; báo Vì dân chống Mỹ của Hội Liên hiện Sinh viên

Giải phóng; báo Sinh viên quật khởi, Tranh Thủ, Đỉnh Triều, đặc san Việt Nam Việt Nam những

năm 1965, 1966; tạp chí Việt năm 1968; Đất Mới, Thái Hòa những năm sau Hiệp định Paris; rồi cả

tờ Truyền Thống và Áo Trắng của nữ sinh Đồng Khánh, Tiếng gọi sinh viên, Tiếng gọi học sinh,

Nối Tay, Thân Hữu, Tự Quyết…Loại hình này gắn chặt với hoạt động sôi nổi của các nhóm sáng

tác, các thi văn đoàn xuất hiện rất phổ biến tại các trường trung học và đại học không chỉ riêng ở

Huế mà cả miền Nam thời kỳ này. Chính các nhóm sáng tác, các thi văn đoàn hầu hết ra đời một

cách tự phát ấy lại là “nơi ươm mầm cho tình yêu quê hương đất nước”, nơi “từ tình bạn liên kết lại

để sau này biến thành tình nghĩa của những người cùng chí hướng” [193;tr. 94 – 95], và cũng

không kém phần quan trọng, là hạt giống của văn học yêu nước của tuổi trẻ thành thị miền Nam.

Gắn bó chặt chẽ với hoạt động báo chí là những hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ khác như

hoạt động của nhóm Quán Bạn đầu những năm 60, của Phòng Sinh hoạt Giáo dục, Văn học Nghệ

thuật tại Đại học Sư Phạm Huế do hội Hồng Sơn đảm nhiệm năm 1967, của nhóm Việt với sự ra đời

của tạp chí Việt (1968) và sau đó là Hội Sinh viên sáng tác thuộc Tổng hội Sinh viên Huế (1970),

các phong trào “Nói với đồng bào”, “Tủ sách đồng bào”, “Tuần lễ văn hóa”, những bức tranh giàu

tư tưởng và nghệ thuật của Bửu Chỉ…và đặc biệt là những “Đêm không ngủ”, “Đêm cốt nhục”,

“Đêm Hùng Vương”, “Hát cho đồng bào tôi nghe” của sinh viên, học sinh Huế. “Trong ao tù sinh

hoạt văn nghệ ở miền Nam, “Hát cho đồng bào tôi nghe” là một tiếng nói tích cực, khẳng định sứ

mạng quang vinh của văn nghệ trong sự nghiệp đấu tranh chung của dân tộc” [17;tr.68]. Quả thật,

những lời ca phản chiến của Trịnh Công Sơn, Nguyễn Phú Yên, Tôn Thất Lập…được cất cao qua

tiếng hát của những trái tim tuổi trẻ xứ Huế đã góp phần thắp lên ngọn lửa yêu nước mãnh liệt và

bền bỉ trong lòng mỗi con người thời ấy.

1.3. TRUYỆN NGẮN – THÀNH TỰU ĐÁNG GHI NHẬN CỦA VĂN HỌC YÊU NƯỚC Ở

HUẾ

1.3.1 Sự hình thành một lực lượng hùng hậu các cây bút trẻ của văn học yêu

nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975

Ngoảnh nhìn lại bộ phận văn học yêu nước, tiến bộ của Huế trong những tháng năm mà sông Bến

Hải trở thành một “lát cắt tàn nhẫn, ngăn đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc”[172; tr.21], ta

không khỏi bồi hồi xúc động về những ngày tranh đấu sôi động, quyết liệt của phong trào Hòa Bình

mà tập văn Ngày Mai là tiếng nói chính thức phát ngôn cho khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước

của các tầng lớp nhân dân. Ngày ấy, các bài chính luận đanh thép của Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn

Hữu Đính, những vần thơ của Đoàn Văn Long, các truyện ngắn của Võ Đình Cường, Lê Quang

Vịnh… đã làm những thế lực đen tối phải khiếp sợ đến nỗi chúng bóp chết Ngày Mai ngay từ số thứ

5. Nhưng di sản tinh thần mà những trí thức yêu nước Ngày Mai để lại không hề nhỏ, mà đậm nét

nhất chính là dũng khí dám “viết để bảo vệ những thằng Cu Tý”, bảo vệ cho tương lai, cho ngày mai

hòa bình, tự do của Tổ quốc, cho chân lý và lương tri con người.

Bước sang giai đoạn 1964 – 1975, một chặng đường sáng tác mới được mở ra cho những người

cầm bút ở Huế nói riêng và miền Nam nói chung: vẫn khó khăn, quyết liệt, dữ dội nhưng cũng thật

sôi nổi, phong phú, phức tạp trong sự khởi sắc và phát triển vượt bậc. Có thể nói chưa bao giờ, văn

học thành thị miền Nam lại chứng kiến một “sức bật” mạnh mẽ đến thế của những cây bút trẻ; trong

đó, Huế đã là “đất tụ” của một lực lượng đông đảo những nhà văn, nhà thơ có tài. Nếu căn cứ theo

số lượng thống kê của PGS. Trần Hữu Tá cuối công trình Nhìn lại một chặng đường văn học [139],

thì trong số 78 tác giả được kể có 37 người sinh vào thập niên 40, 50 thế kỷ trước và 3 người sinh

vào cuối thập niên 30, cả thảy chiếm 51,28%. Trong đó Huế có đến 19 người, chiếm 47,5% tổng số

nhà văn trẻ thuộc bộ phận văn học yêu nước, tiến bộ của thành thị miền Nam. Số liệu thống kê này

có thể chỉ là tương đối nhưng nó cũng giúp ta khẳng định được rằng: văn học yêu nước ở Huế nói

chung và miền Nam nói riêng giai đoạn này là văn học của những người trẻ.

Đội ngũ sáng tác của Huế giai đoạn này phần lớn đã hoặc đang học tập dưới mái trường của năm

phân khoa Đại học Huế mà nổi trội hơn cả là Đại học Sư phạm. Cũng như những người trẻ đô thị

miền Nam khác, khi thế hệ hai mươi ở Huế trưởng thành vào thập kỷ 60, thì “tất cả đều đổ nát trên

quê hương. Mà đổ nát nhanh hơn hết là những bức trường thành “chống Cộng” (…). Trái lại, họ

thấy và thấy rất rõ, từ ngày họ trưởng thành, sự hiện diện cha chú của người Mỹ, sự lệ thuộc tủi

nhục của quốc gia, sự điêu tàn của quê hương, sự tan rã, thúi nát và bất công tột độ của xã hội”

[179;tr. 44]. Trẻ, trình độ học vấn cao, một tương lai tươi sáng đang chờ đón họ ở phía trước, nếu họ

cam phận chịu làm những “đứa con ngoan”, những “trí thức lý tưởng” theo ý muốn của chế độ

đương thời. Nhưng không, từ trong lòng của các trường Đại học Huế, nhiều người trong số họ đã

bước vào “trận địa đường phố’, trở thành những “dân phong trào”, những sinh viên tranh đấu, và xa

hơn nữa, ngả hẳn về “phía bên kia”.

Tất nhiên, không phải ngay từ bước đầu sáng tác, những “dân phong trào” ấy đã có một lập

trường chính trị rõ rệt. Họ đã gặp nhau, kết bạn và cùng ươm mầm, gửi gắm tình tự dân tộc nơi

những trang nội san ở dưới mái trường; sau đó mới tiến tới tập hợp thành những tổ chức, những thi

văn đoàn với một định hướng tranh đấu kiên định. Chung tay với các thành thị khác ở miền Nam,

Huế đã bước vào một giai đoạn sôi nổi với rất nhiều nhóm , nhiều tổ chức nhằm tập hợp đội ngũ

sáng tác văn học nghệ thuật như nhóm Quán Bạn; nhóm Việt; nhóm Việt Nam, Việt Nam; Mặt

Trận Văn hóa Dân Tộc Miền Trung; Hội Sinh Viên Sáng Tác Huế …Trong đó có thể kể đến hai đại

diện tiêu biểu là nhóm Quán Bạn và nhóm Việt (tiền thân là Hội Hồng Sơn).

Nếu giai đoạn văn học yêu nước 1964 – 1975 ở Huế là một chặng đường thì ta có thể kể đến

những người đi tiên phong trên chặng đường ấy là Ngô Kha, Phan Duy Nhân và Trần Quang Long.

Họ sáng tác ngay từ cuối những năm 50 hoặc đầu những năm 60 ,sớm nổi danh trên các tập san thơ

văn trong trường học và sau đó là báo chí ở Sài Gòn. Con đường thơ của họ đi từ những vần thơ

“thuần túy” đậm chất siêu thực (như Ngô Kha) hoặc đượm vẻ suy tư hoài niệm trong sáng, trầm

buồn (như Phan Duy Nhân) hay đầy quyến rũ bởi cái mơ mộng, sôi nổi của tuổi học trò (như Trần

Quang Long) đến sự dấn thân quyết liệt rực lửa đấu tranh sau này. Trong đó, tên tuổi của Trần

Quang Long gắn liền với hoạt động của nhóm Quán Bạn. Đúng như tên gọi, Quán Bạn là nơi tụ họp

của những người bạn trẻ với danh nghĩa bán café cho bạn bè, nhưng thực chất là nằm trong phong

trào chống chính quyền Nguyễn Khánh do Hội đồng Nhân dân Cứu quốc đứng đầu thời bấy giờ với

vai trò một trạm giao liên để liên lạc với các tổ chức tranh đấu ở nội thành. Quán Bạn nổi tiếng với

thông cáo số 1 lên án nghiêm khắc chế độ Tam đầu chế, chống Mỹ và dư đảng Cần Lao cùng các

cuộc biểu tình rầm rộ đả đảo âm mưu trụy lạc hóa và ru ngủ thanh niên của nhà cầm quyền. Nhưng

có lẽ gây ấn tượng hơn cả là vụ án thơ lịch sử: bài thơ Hồi kết cuộc đăng trên báo Dân số 3 mà vì

tiếng nói dũng cảm ấy, Trần Quang Long (ký bút danh là Cao Trần Vũ) đã phải ngồi tù những 180

ngày.

Sự ra đời của hội Hồng Sơn (từ 1965 đổi tên thành nhóm Việt) là một sự kế thừa và tiếp nối xuất

sắc của những tác giả trẻ ở Huế trong hoạt động văn học yêu nước tiến bộ. Nếu Quán Bạn chỉ tồn tại

trong hai tháng ngắn ngủi rồi bị đóng cửa thì nhóm Việt lại hiện diện bền bỉ và gan góc trong suốt

10 năm trời. “Việt gần như là nhóm văn học nghệ thuật duy nhất tồn tại lâu dài đến như vậy trong

phong trào đấu tranh ở đô thị miền Nam” [24;tr.198]. Không chỉ đáng chú ý về thời gian tồn tại,

Việt còn là nơi quy tụ của một thế hệ các nhà văn, nhà thơ sinh viên, học sinh – “những người trí

thức trẻ thiết tha với vận mệnh của dân tộc (…) nóng lòng muốn làm một cái gì đó cho quê hương”.

Họ - những Trần Duy Phiên, Trần Vàng Sao, Đông Trình, Ngô Văn Ban,Trần Hữu Lục, Lê Văn

Ngăn, Trần Hồng Quang, Huỳnh Ngọc Sơn, Tần Hoài Dạ Vũ, Thái Ngọc San, Tiêu Dao Bảo Cự,

Võ Quê, Lê Gành, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Thiên Trung…đã cùng nhau viết lên một khối lượng tác

phẩm có chất lượng gồm “hàng trăm truyện ngắn, hàng nghìn bài thơ, chưa kể các bài phê bình, lý

luận, biên khảo, các tác phẩm thuộc thể loại khác như nhạc, họa” có ảnh hưởng sâu rộng đến

phong trào thành thị [24;tr.196]. Từ hội Hồng Sơn hô hào về nguồn, phản ứng lại các khuynh

hướng phi nhân bản, phản dân tộc, động viên tinh thần yêu nước, chống chiến tranh với một đường

hướng cải tạo xã hội mang ít nhiều tính chất không tưởng đến Việt là một bước tiến về nhận thức và

cả về lập trường chính trị, đặc biệt là giai đoạn cộng tác với Đối Diện ( từ 5 – 1971) và chịu sự chỉ

đạo trực tiếp của Thành ủy Huế (1972). Như vậy, có thể nói, Việt là minh chứng tiêu biểu cho con

đường tranh đấu của tuổi trẻ miền Nam.

Tất nhiên, trong “vùng đất văn hóa” ở Huế và miền Nam giai đoạn 1964 – 1975, mặc dù tồn tại

nhiều màu sắc khác nhau, thậm chí đối lập nhau nhưng vườn hoa yêu nước, tiến bộ của những

người trí thức khuynh tả đã không ngừng đâm chồi nảy lộc và tỏa hương rực rỡ. Và quá trình “lớn

lên không ngừng” của những người trẻ trong đô thị Huế tạm chiếm ấy cũng là quá trình mà tiếng nói

của họ ngày một hòa nhịp với tiếng nói mà văn nghệ sĩ chiến khu Thừa Thiên – Huế (mà phần lớn

cũng là rất trẻ) đã thể hiện trong “các tập thơ : Bài ca quê hương, Huế một mùa xuân, Những ngày

giữ đất ; Cửa thép, bút ký của Nguyễn Khoa Điềm (Hải Dương) ; Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu,

bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường; Dòng sông phẳng lặng, tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ; Người Sông

Hương, truyện ngắn Tô Nhuận Vỹ; các tập thơ của Thanh Hải; các ca khúc của nhạc sĩ Trần Hoàn,

Hồ Thuận An ...” [123].

1.3.2. Truyện ngắn - thể loại trụ cột của văn học yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975

Quy tụ một lực lượng hùng hậu những cây bút trẻ có tài và có khát vọng qua sáng tạo văn chương

phơi bày thân phận của đất nước trong hiện tình bi thảm của xã hội miền Nam đồng thời cũng để tự

khẳng định mình, văn học yêu nước ở Huế đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận cả về mặt số

lượng và chất lượng tác phẩm ở nhiều thể loại mà đáng chú ý hơn cả là truyện ngắn và thơ.

Trước khi nói về truyện ngắn yêu nước ở Huế - đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn, ta

cần có một cái nhìn tổng quan về văn học yêu nước ở Huế giai đoạn này, mà trong đó là sự hiện

diện rõ nét của những thể loại khác như thơ, truyện dài, lý luận phê bình và bút ký chính

luận…Trong đó thơ là thành tựu đáng chú ý hơn cả, bên cạnh thể loại truyện ngắn.

Xứ Huế xưa nay vẫn được coi là mảnh đất của thi ca, và giai đoạn 1964 – 1975 một lần nữa lại là

bằng chứng rất tiêu biểu cho nhận định đó. Ngay từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, trên thi đàn

xứ Huế đã xuất hiện những vần thơ tài hoa của Phan Duy Nhân (Ngậm ngải tìm trầm – chưa xuất

bản), Ngô Kha (Hoa cô độc – 1961) và Trần Quang Long với những vần thơ “nghiêng nón” thuở

ban đầu. Chỉ mấy năm sau, vườn thơ đấu tranh tại Huế nở rộ sắc hương với hàng loạt những tiếng

thơ mới mẻ, tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, trong đó chỉ riêng phần đóng góp của nhóm Việt –

thành phần chủ lực – đã vượt tới con số hàng nghìn. Bên cạnh Ngày quật khởi – tuyển tập thơ in

chung được Tổng hội sinh viên Huế xuất bản năm 1971, rất nhiều nhà thơ có tập thơ riêng, thậm chí

có người có đến 2,3 tập thơ. Không chỉ là số lượng, mà đó là những vần thơ thực sự có sức lan tỏa

mãnh liệt trong “dân phong trào”, trong đó không ít bài vẫn giữ được sức sống bền lâu đến ngày

hôm nay với giá trị nghệ thuật không thể phủ nhận của nó.

Chủ âm của thơ yêu nước ở Huế giai đoạn này là cảm hứng trữ tình công dân của những tâm hồn

tuổi trẻ đấu tranh trong phong trào đô thị - “những tia sáng sẵn sàng bốc cháy” (Trần Nguyên Lan)

cho lý tưởng hòa bình, tự do, độc lập, dân chủ. Khá nhiều tuyên ngôn thơ, tuyên ngôn về lẽ sống

xuất hiện, chứng tỏ sự tự ý thức của người làm thơ – người công dân về chỗ đứng của mình. Cuộc

đấu tranh càng sôi nổi, càng dâng đến đỉnh cao, thơ những người trẻ ấy càng lộng lẫy, tràn trề cảm

hứng lãng mạn, và nhiều bài đã mang đậm âm hưởng sử thi. Đến những năm cuối cuộc chiến, ranh

giới giữa thơ trẻ xứ Huế và thơ trẻ miền Bắc trong rất nhiều trường hợp đã bị xóa nhòa. Thơ mở

rộng chiều kích, đặc biệt xuất hiện những trường ca như Trường ca hòa bình (Ngô Kha), Ngày Tổ

quốc vinh quang (Lê Nhược Thủy).

Bằng tài năng của chính mình, nhiều nhà thơ trẻ đã tạo được cho mình một dấu ấn phong cách,

một giọng điệu riêng thật đặc sắc và không dễ lẫn. Ngô Kha thật nổi bật với những dòng thơ tài hoa,

nhiều khi như có ánh sáng trong đó chất suy tưởng triết lý đôi khi được hòa lẫn với sự lung linh hư

ảo còn đọng lại của một thời siêu thực làm mê đắm lòng người. Trần Quang Long đậm đà, nồng nàn

men say của lý tưởng và thể hiện điều đó không cần úp mở qua những vần thơ ào ào, mạnh mẽ như

thác lũ mà cũng thật chân chất, thắm tình. Đông Trình hào sảng, bay bổng, nhiều khi phảng phất

chất tráng ca, bi phẫn của cổ thi song chủ âm có lẽ vẫn là những khúc “nhạc đời” đậm chất tâm tình

đằm thắm, dịu ngọt dậy một thứ “men mùa” nồng say cảm hứng lãng mạn. Lê Văn Ngăn với thế

giới thơ tự do đưa người đọc vào một cõi suy tư sâu thẳm, là sự sóng đôi và hòa lẫn vào nhau giữa

hai thế giới: im lặng, trầm tĩnh và dữ dội, xôn xao. Tần Hoài Dạ Vũ già dặn, đằm thắm, trăn trở và

giàu chất suy niệm về thân phận của đất nước và quê hương, vừa tài hoa, bay bướm với những hình

ảnh, ngôn từ sáng tạo, giàu chất hiện đại song khi cần cũng rất giản dị, mộc mạc. Một Thái Ngọc

San được biết đến với hồn thơ “mãnh liệt – hồn nhiên – và đầy trực tính” (Nguyễn Xuân Hoa). “Sự

cường tráng của cảm xúc” thể hiện qua “chất giọng rắn rỏi, gân guốc, mạnh mẽ” (Phạm Phú

Phong) là điều dễ nhận thấy khi đọc thơ ông. Và một Võ Quê hồn hậu, bộc trực, mang âm điệu tâm

tình, nhắn nhủ rất da diết, tin yêu, tự hào qua những dòng lục bát, thơ 8 chữ trong sáng, mượt mà

nhiều lúc mang hương vị của ca dao và luôn đậm đà giọng Huế…

Điều đáng chú ý là đã có nhiều truyện dài được viết lên bởi các cây bút trẻ của xứ Huế. Chưa thật

thỏa lòng với khuôn khổ vốn bị coi là chật hẹp của truyện ngắn, các tác giả đã vươn tới một thể loại

dài hơi có sức chứa rộng lớn hơn và đồng thời có điều kiện để tung phá ngòi bút với những ý tưởng

mình hằng ôm ấp.

Riêng trong nhóm Việt đã có tới bốn thành viên thử sức với thể loại này: Trần Duy Phiên với Đốt

lửa sau mây, Trần Hữu Lục với Ngày về, Tiêu Dao Bảo Cự với Đi trong lịch sử và Lửa phá xiềng,

Huỳnh Ngọc Sơn với Bếp lạnh. Trong đó chỉ có Đốt lửa sau mây và Đi trong lịch sử là đã từng

được in thành nhiều kỳ trên báo chí trước 1975.

Ngày về của Trần Hữu Lục tuy chưa xuất bản song đã được trích đăng chương 4 dưới dạng một

truyện ngắn (Câu chuyện bưng biền) trên báo Đối Diện năm 1971. Tác phẩm khắc họa hình tượng

Phủ - nhân vật mà Trần Hữu Lục vẫn nhắc đến qua một số truyện ngắn với hình ảnh “ngày về rực rỡ

như một màu cờ” (Vẫn còn là mơ ước). Qua giọng văn mềm mại, trữ tình vẫn thường thấy của Trần

Hữu Lục , Phủ trong Ngày về hiện lên thật đẹp với lý tưởng tranh đấu sục sôi và một tình yêu quê

hương, gia đình đằm thắm. Cũng cần nói đến thái độ thẳng thắn, mạnh bạo của chính Trần Hữu Lục

khi ông không ngần ngại bày tỏ cảm tình sâu xa của mình với những người đi theo phía “bên kia”

trong hoàn cảnh còn khá khó khăn lúc bấy giờ.

Đốt lửa sau mây của Trần Duy Phiên đăng được bốn kỳ trên tạp chí Việt năm 1969 và đến nay

vẫn chưa xuất bản. Tuy nhiên theo Trần Hữu Lục, tác phẩm này đã “định hình văn phong” của Trần

Duy Phiên – một văn phong sắc sảo, gai góc, mãnh liệt mà ông đã thể hiện trong các truyện ngắn và

sẽ thể hiện với tiểu thuyết mang âm hưởng sử thi là Trăm năm còn lại sau hòa bình.

Cùng chung số phận với tác phẩm của Trần Duy Phiên là Đi trong lịch sử của Tiêu Dao Bảo Cự.

Truyện dài này được viết khi tác giả vừa tốt nghiệp đại học ở Huế năm 1967, và được đăng một số

chương trên nhật báo Điện Tín ở Sài Gòn theo kiểu phơi – ơ – tông vào năm 1972. Đáng tiếc là sau

đó vì một số lý do đặc biệt của hoàn cảnh lúc bấy giờ, tòa soạn phải cáo lỗi tác giả và tạm ngừng.

Sau chiến tranh, Đi trong lịch sử tiếp tục được Tiêu Dao Bảo Cự sửa chữa và xuất bản ở hải ngoại

dưới dạng tiểu thuyết với tên gọi Trên đỉnh thanh xuân nhưng theo lời tác giả, về cơ bản ý tưởng

của truyện vẫn được giữ vững. Đi trong lịch sử đậm chất tự truyện với rất nhiều chất liệu tươi ròng

của đời sống đấu tranh của một thế hệ trong phong trào đấu tranh chung của nhân dân Huế và cả

thành thị miền Nam những năm xuống đường rực lửa; nhưng đồng thời cũng lãng mạn, trữ tình

trong giọng điệu và đặc biệt phóng khoáng trong kết cấu. Đây có lẽ là minh chứng cho quan niệm

của tác giả về một “tác phẩm phải có bút pháp độc sáng” .

Về kịch thơ có Trần Quang Long với Tiếng gọi Lam Sơn (1967) và Võ Quê với Giọt máu ta một

biển hòa bình (1970). Đúng như lời tựa của Hồ Hữu Nhật, tiếng gọi “chính nghĩa thoát ra từ nỗi

đau khổ của dân tộc để vươn lên kêu đòi giải phóng” đã được Tiếng gọi Lam Sơn nối tiếp và qua

việc “lấy hứng khởi từ quá khứ để nói với hiện tại và gửi gắm mơ ước về tương lai” [71; tr.235 –

236]. Cốt truyện khá đơn giản, mà nổi bật lên chính là lời đối thoại gay gắt của các nhân vật với

những lập trường, quan điểm sống khác biệt nhau trong đó Quang Dũng là điểm sáng hội tụ lý

tưởng đẹp đẽ của một người dân Việt yêu nước trong hoàn cảnh ngoại xâm. Mượn đề tài xưa để

đánh động và thức tỉnh lòng yêu nước cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ chân chính của người công

dân với đất nước đã được tác giả thực hiện khá thành công qua tiếng thơ hào hùng, mãnh liệt.

Cùng chung một âm hưởng hùng ca, kịch thơ của Võ Quê cũng chứa đựng rất nhiều khát vọng và

thân phận của tuổi trẻ. Với xung đột quyết liệt một mất một còn giữa người sinh viên Việt Nam và

thế lực bạo tàn (qua hình tượng tiếng nói và bóng đen bạo lực), Giọt máu ta một biển hòa bình là

“tiếng hát dồn dập ngợi ca sức sống hùng hồn của dân tộc, ngợi ca lòng hy sinh của thanh niên Việt

Nam cho quê hương hòa bình” [121; tr.75]. Ở đây, không phải chất lượng nghệ thuật là mối quan

tâm hàng đầu cùa nhà văn mà chính là giá trị tư tưởng, giá trị tuyên truyền và thức tỉnh – một đặc

trưng hàng đầu của văn học yêu nước trong lòng thành thị miền Nam lúc bấy giờ.

Trong bộ phận văn học yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975, thành tựu nổi bật nhất sau thơ ca

và truyện ngắn có lẽ vẫn là mảng lý luận phê bình và bút ký chính luận. Có thể thấy sự góp mặt của

rất nhiều cây bút trẻ trong mảng sáng tác này: Ngô Văn Ban với những bài biên khảo in trên Nghiên

cứu văn học, Đối Diện, Văn ; Ngô Kha đanh thép, sắc sảo trong các bài chính luận trên các báo, tạp

chí ở cả Huế và Sài Gòn như Mai, Tự Quyết, Trình Bày, Đối Diện, Đất Nước; Trần Vàng Sao bên

cạnh viết tạp văn còn có các bài phê bình văn học trên Lành mạnh, Vì dân chống Mỹ, Sinh viên Huế,

Nhận Thức ; Hoàng Phủ Ngọc Phan (cùng với Thế Nguyên, Trần Triệu Luật) viết bút ký chính luận

trên nhật báo như Tin Sáng, Điện Tín, Đại Dân Tộc… Bằng một văn phong mềm mại, gợi cảm,

Đông Trình ngoài việc thường xuất hiện trên Khởi Hành với những bài tản văn hay tùy bút rất

phóng khoáng, tài hoa đã có hẳn một cuốn tiểu luận văn học: Giữa vòng tay thân hữu (1974). Trong

trận địa này, Trần Hữu Lục cũng có những đóng góp đáng lưu ý. Ngay từ năm 1968, khi đang làm

chủ bút báo Sinh viên Huế, Yên My (bút danh khác của Trần Hữu Lục) đã nổi tiếng với bài bút ký

Một bông hồng cho hòa bình viết về những hoạt động chống chiến tranh và đòi hòa bình của trí thức

thành thị miền Nam lúc bấy giờ. Thời gian sau này, ông viết nhiều cho tuần báo Ý Thức ở Sài Gòn

và đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhiễm độc của văn nghệ thời bấy giờ.

Nói về mảng bút ký chính luận và lý luận phê bình của văn học yêu nước ở Huế giai đoạn này,

không thể không nhắc đến Trần Hồng Quang – cây bút chính luận sắc sảo và xông xáo nhất trong

nhóm Việt với các bút danh quen thuộc: Hồng Hữu, Việt. Theo sát tình hình chính trị miền Nam lúc

bấy giờ, Trần Hồng Quang luôn có được những trang viết nóng bỏng tính thời sự và tính chiến đấu

trên Đối Diện và nhật báo Tin Sáng. Bên cạnh những bài bút ký chính luận (thường ký là Hồng

Hữu), Trần Hồng Quang cũng viết những bài lý luận phê bình thật giá trị (thường ký bút danh Việt)

.Gọi là lý luận nhưng ông không dừng ở những lý thuyết màu xám, mà chủ yếu hướng ngòi bút vào

nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Trong các bài viết của mình, dễ nhận thấy Trần

Hồng Quang đã đứng trên lập trường dân tộc dân chủ, kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn học dân

tộc và vận dụng khoa học quan điểm mác - xít vào tình hình văn hóa thực tiễn ở miền Nam. Cùng

với các tác giả khác, ông đã góp phần làm nên một mảng lý luận phê bình và bút ký chính luận có

giá trị, có tính đấu tranh và định hướng tốt cho phong trào tranh đấu, trong đó có hoạt động tranh

đấu bằng văn nghệ.

Cùng với thơ ca, truyện ngắn là trụ cột của bộ phận văn học yêu nước ở Huế giai đoạn này. Thể

loại vốn ngắn gọn và linh động, uyển chuyển ấy đã được nhiều tác giả trẻ yêu thích và dồn sức sáng

tạo, trong đó đóng góp chính là Trần Quang Long và các nhà văn nhóm Việt.

Ngay từ năm đầu của giai đoạn sáng tác, năm 1964, người đọc đã thấy xuất hiện trên tờ báo Phổ

Thông sáng tác của một tác giả chuyên viết thơ: Tần Hoài Dạ Vũ với Bóng tối sau lưng. (Ở giai

đoạn trước, cùng với Tần Hoài Dạ Vũ thì một tác giả khác - Đông Trình - cũng đã đăng tải một vài

truyện ngắn trên Phổ Thông, Phụ nữ diễn đàn, Gió Mới…song chỉ sau khi chuyển qua sáng tác thơ,

Đông Trình mới thực sự thành công). Tạp chí Mai số 35 ra ngày 15 tháng 1 năm 1964 cũng giới

thiệu tác phẩm Chiến tranh bước nhanh hơn khốn nạn thật của Ngô Kha – một thi sĩ đã sớm thành

danh. Đáng chú ý là Bóng tối sau lưng và Chiến tranh bước nhanh hơn khốn nạn thật đã sớm vẽ lên

bức tranh suy tưởng đầy tinh thần trách nhiệm với cuộc đời của thế hệ trẻ đương thời qua những

hình tượng nhân vật mang bóng dáng tác giả.

Cũng những năm đó, Trần Quang Long đã sớm khẳng định mình với hàng loạt truyện ngắn đăng

trên Văn Học, Đất Nước và Tin Văn. Nhưng không phải chỉ khi ấy, mà ngay từ những Cu Nậm,

Thằng Sậm xuất hiện trên Văn Mới những năm 1962, 1963, truyện ngắn Trần Quang Long đã hướng

thẳng đến quần chúng lao khổ và có giọng điệu riêng: hồn hậu, khỏe khoắn, đậm đà tình tự dân tộc

của một sinh viên tranh đấu đầy nhiệt huyết. Hầu hết những truyện ngắn này sau đó đều được tác

giả đưa vào tập Bông cúc vàng, Trình Bày xuất bản năm 1967.

Sự xuất hiện của các nhà văn nhóm Việt trong những ngày tháng đấu tranh sôi nổi dưới mái

trường của Đại học Sư phạm Huế là một sự bổ sung nguồn nhân lực chủ chốt cho bộ phận truyện

ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này. Họ có một thuận lợi đáng kể trong việc sáng tác và công bố tác

phẩm bởi sự ra đời một số báo phong trào có uy tín do chính các nhà văn trong nhóm làm chủ bút

như Đỉnh Triều (1966), Thân Hữu (1967), Sinh viên Huế và Việt (1968). Đáng chú ý nhất trong thời

kỳ này có lẽ là Trần Hữu Lục. Hai tác giả Nguyệt Cầm và Thanh Hà trong bài Trần Hữu Lục – như

là “hạt bụi quê hương” đã viết về Trần Hữu Lục như sau: “Anh kể lại: Những năm 1967, 1968 là

thời viết văn sung sức nhất trong đời văn của mình (…)Tuổi đồng quê (tên truyện ban đầu là Những

bàn chân bẩn), Sa lầy, Cách một dòng sông, Hát rong trên đồng, Cầu sương mù…cùng in trên báo

Văn và được báo này đưa vào danh sách 10 cây bút trẻ có triển vọng của Sài Gòn.” [26; tr.137).

Trần Duy Phiên cũng sớm góp mặt trên văn đàn với nhiều truyện in trên Ý Thức: Mặt đất quê ngoại,

Da vàng da đen, Sáu Dền…Ngay từ buổi đầu, hai tác giả sáng tác sung sức nhất của nhóm Việt này

đã định hình được phong cách: bên cạnh một Trần Hữu Lục mềm mại, trữ tình là một Trần Duy

Phiên sắc sảo, gai góc. Ở Đối Diện , Trần Hồng Quang cũng xông xáo trên địa hạt truyện ngắn với

Những người không sống, Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài. Truyện của Trần Hồng Quang

rất gần với Trần Quang Long ở giọng văn chất phác, trung hậu.

Năm 1970 mở đầu cho thời kỳ sáng tác nở rộ của các nhà văn trẻ yêu nước ở Huế với sự xuất

hiện của một số nhà văn mới như Huỳnh Ngọc Sơn và Tiêu Dao Bảo Cự. Vẫn trung thành với đề tài

về quê nhà Vân Dương, Trần Hữu Lục đi sâu phản ánh một nông thôn tang tóc trong bom đạn và

phân ly, điêu đứng trong chính sách bình định: Tình đất, Bên ni bên nớ…Tập truyện Cách một

dòng sông xuất bản năm 1971 bên cạnh sự ghi dấu một miền quê trong sáng tác cũng đồng thời ghi

dấu một văn phong Trần Hữu Lục với sự “phô diễn cái không khí oi bức, giằng xé ở những vùng

tranh chấp trong chiến tranh và cả những vùng tranh chấp trong tâm hồn. nhưng sự căng thẳng đó

lại được làm dịu lại bằng một giọng văn trữ tình và những trang văn gợi cảm miêu tả thiên nhiên”

[117; tr.76]. Trên Văn, Thái Ngọc San bộc lộ một ngòi bút giàu chất nhân văn và khá điêu luyện với

Bệnh xá mùa hè, Căn nhà. Năm 1971, nhóm Việt phụ trách phần văn nghệ trên Đối Diện, năm 1972

nhóm được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng. Những chuyển biến lớn về mặt sáng tác cũng bắt đầu từ

đấy, không chỉ về số lượng mà còn là chất lượng, nội dung tư tưởng. Trần Hữu Lục phơi phới niềm

tin về sự trưởng thành vững chắc của quê nhà qua Thư từ thành thị, Thư gửi em gái Vân Dương.

Một thế hệ trẻ tìm đường đã đi đến xác lập cách thế sống đúng đắn trong Còn quê hương để trở về

(Trần Hữu Lục), Tiếng hát lên trời (Huỳnh Ngọc Sơn ), Nắng mới trên biền đất bồi (Trần Hồng

Quang), Trước khi mặt trời mọc (Trần Duy Phiên)…Tuyển tập Trước khi mặt trời mọc của Trần

Duy Phiên ra mắt, “bìa sách trang nhã của họa sĩ Đinh Cường lại dung chứa những cốt truyện dữ

dội và những tích cách quái dị như Tư Giò và Sáu Dền” [117;tr.76]. Cùng với Trần Duy Phiên,

Huỳnh Ngọc Sơn xuất hiện đều đặn trên Trình Bày, Ý Thức, Đối Diện với những sáng tác sắc sảo,

giàu kịch tính hướng tới phơi bày cuộc sống bần cùng, điêu đứng của những kiếp người, lột trần bản

chất phản dân tộc, phản nhân văn của chế độ đương thời, phơi bày hiện thực phân hóa sâu sắc của

xã hội miền Nam: Hộp thịt Mỹ, Con dao mổ chó, Thằng khùng, Đứa con của loài bò sát… Tiêu Dao

Bảo Cự viết ít nhưng thật ấn tượng. Không ngần ngại xông xáo vào những mảng hiện thực nóng

bỏng nhất như lao tù, thân phận người lính đánh thuê (Tự do hay là chết, Trong chiến tranh này),

nhà văn này cũng dũng cảm chỉ ra bước đường đi tất yếu của dân tộc mình trong hoàn cảnh lao lung

(Chọn một con đường).

Chặng đường hơn 10 năm của truyện ngắn yêu nước ở Huế (1964 – 1975) đã để lại cho người đọc

hôm nay một khối lượng sáng tác không phải là đồ sộ nhưng nếu so với các tác giả yêu nước cùng

thời thì lại có phần chiếm ưu thế (theo số liệu tập hợp được là 76 truyện của 9 tác giả). Do hoàn

cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, những trang viết với mục đích chính là tranh đấu ấy cũng đã phải

vượt qua rất nhiều khó khăn trở ngại để đến với công chúng. Điều không thể phủ nhận là các nhà

văn trẻ ở đây, cũng giống như không ít nhà văn yêu nước tiến bộ đương thời đã thực hiện được “ý

hướng làm văn nghệ” là “làm công tác văn học nghệ thuật trên căn bản hiện thực xã hội, yêu hòa

bình, yêu dân tộc, chống chiến tranh và ngoại xâm, kêu gọi thống nhất đất nước” [24;tr.94]. Cũng

cần khẳng định họ đã viết lên những sáng tác văn xuôi nghệ thuật đích thực và “trở thành một trong

những trường hợp tiêu biểu về khuynh hướng hiện thực và cách mạng trong phong trào văn học yêu

nước” [60]. “Bởi trong văn học, vấn đề không chỉ là lên tiếng, mà còn là lên tiếng một cách nghệ

thuật” [117;tr.75]. Những điều ấy cắt nghĩa cho một hiện trạng: thay vì chỉ đóng khung trong những

kho sách lưu trữ, nhiều truyện ngắn của bộ phận văn học yêu nước ở Huế giai đoạn này vẫn tiếp tục

được in lại, được nhớ đến và nhắc đến một cách trân trọng.

Sống trong một hoàn cảnh xã hội hết sức phức tạp, vừa bi đát, đen tối nhưng cũng thật hào hùng,

quyết liệt, một thế hệ tuổi trẻ đầy nhiệt huyết và khát vọng của xứ Huế đã thực sự khẳng định được

chính mình khi lựa chọn dấn thân vào dòng lịch sử tranh đấu của thành thị miền Nam, khi tự đốt

cháy mình vì lý tưởng độc lập, tự do. Không ít người trong số họ với tài năng và sự thúc bách của

lương tri, của tình tự dân tộc đã trở thành những nhà văn, nhà thơ sử dụng ngòi bút như một thứ vũ

khí tinh thần.

Chặng đường 10 năm cuối của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử nước nhà đã ghi nhận

một sự phát triển vượt bậc của văn học yêu nước ở Huế với một lực lượng hùng hậu các cây bút trẻ.

Có thể nói, ở Huế nói riêng và ở thành thị miền Nam nói chung, “chưa bao giờ cuộc chiến đấu trên

“trận địa đường phố” lại tập hợp được một đội ngũ cầm bút đông đảo, sáng tạo của mình như

trong thời kỳ 1954 – 1975” [25;tr.7] mà nhất là trong giai đoạn thứ 2: 1964 – 1975. Với tài năng,

bản lĩnh nghệ thuật và lương tâm, nhiệt huyết của tuổi trẻ, những trí thức trẻ đó không những đóng

vai trò chủ chốt trong các cuộc đấu tranh trên đường phố mà còn xung kích trên trận địa văn hóa văn

nghệ, từ đó làm nên một giai đoạn văn học đầy hương sắc của xứ Thần Kinh. Trong sự nở rộ đầy

hương sắc ấy có vị trí chủ đạo của một thể loại: truyện ngắn, tuy rằng nếu so với thơ ca cùng bộ

phận văn học yêu nước ở Huế, truyện ngắn còn giữ số lượng khá khiêm tốn. Theo sát sự phát triển

của phong trào tranh đấu ở thành thị, các nhà văn trẻ xứ Huế đã viết lên những tác phẩm không chỉ

sắc sảo, dũng cảm trong vạch trần hiện thực phi nhân, thức tỉnh lương tri đồng loại mà còn đạt đến

chất lượng nghệ thuật khá cao. Khá nhiều phong cách nghệ thuật trong truyện ngắn đã được xác lập

và tự khẳng định được mình như những cây bút trẻ hàng đầu của cả một giai đoạn văn học yêu nước

tiến bộ thành thị miền Nam, trong đó tiêu biểu hơn cả là Trần Duy Phiên và Trần Hữu Lục. Đi sâu

vào nghiên cứu nội dung tư tưởng và chất lượng nghệ thuật của bộ phận truyện ngắn yêu nước ở

Huế giai đoạn này sẽ giúp ta có được cái nhìn chi tiết hơn, đồng thời cũng đạt được một căn cứ khoa

học vững chắc cho việc nhận định vị trí, giá trị của nó.

CHƯƠNG 2

CHÂN DUNG THẾ HỆ TRẺ

TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH ĐÔ THỊ MIỀN NAM

QUA TRUYỆN NGẮN YÊU NƯỚC Ở HUẾ

GIAI ĐOẠN 1964 – 1975

Nếu nhìn rộng ra toàn cảnh bức tranh văn học đô thị miền Nam cùng giai đoạn, ta không thể

không ghi nhận sự đóng góp quý báu và nổi bật của các cây bút trẻ khắp mọi miền đất nước. Cùng

với Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang, ở Huế đã tập hợp được một đội ngũ các nhà văn trẻ, có tài và có

những sáng tác nổi bật về chất lượng nghệ thuật. Mặt khác, ở bộ phận thơ ca, trong đó nổi bật là thơ

yêu nước Huế, sự đóng góp của các nhà thơ trẻ cũng là điều không thể phủ nhận, thậm chí có thể

nói thơ ca giai đoạn này là thơ của tuổi trẻ. Tuy nhiên sự có mặt của truyện ngắn bên cạnh thơ ca

như là một bổ sung tất yếu không thể thiếu của các phương thức phản ánh đời sống tạo nên tính đa

dạng, toàn vẹn của bản thân văn học. Nhìn chung, truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 –

1975 đã có được những đóng góp đặc sắc và nổi trội khi tái hiện chân thực , đầy xúc động chân

dung của một thế hệ tuổi trẻ Huế nói riêng và tuổi trẻ miền Nam nói chung trong bối cảnh lịch sử

đương thời.

2.1. TUỔI TRẺ VỚI VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC

Đọc truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này, người đọc dễ nhận thấy một điều rằng dù đứng ở

vị thế nào mà viết lên lời, các nhà văn trẻ ấy bao giờ cũng bộc lộ một tình yêu đằm sâu,day dứt,

khắc khoải như yêu sự sống đối với quê hương đất nước mình. Chính bằng tình yêu đó, kế thừa và

tiếp nối truyền thống yêu nước của văn học dân tộc, với lương tri và trách nhiệm của tuổi trẻ, họ đã

bất chấp mọi sự đe dọa rình rập để nói lên tiếng nói thế hệ về đất nước, về quê hương đang bị vò xé,

rách nát trong chiến tranh lửa đạn triền miên, quằn quại dưới sự áp chế của nhà cầm quyền và gót

giày đinh xâm lược của Mỹ. Có thể nói, tiếng nói đấu tranh cho một số phận tươi sáng hơn của dân

tộc của họ là một sự đóng góp nổi bật vào dòng văn học yêu nước ở miền Nam trước 1975.

2.1.1. Tiếng nói đau đớn, phẫn nộ trước hiện tình đất nước

Chiến tranh. Có lẽ mỗi người Việt Nam trong thế kỷ XX và rất nhiều năm sau nữa đã, đang và sẽ

nhắc đến hai từ ấy như một nỗi ám ảnh và một niềm đau thương không thể nào tắt hẳn ,dù vết

thương qua nhiều năm tháng đã lên da non. Thế hệ 20 của Huế lớn lên khi tất cả đã đổ nát. Họ đã

lãnh nhận một gia tài bi đát: đó là quê hương chìm đắm trong đau thương và đổ vỡ, trong chiến

tranh và bom đạn, thù hằn. Nguyễn Trọng Văn nhận thấy sau năm 1963, “bom đạn què cụt, bệnh

viện, nghĩa địa, cáo phó, nước mắt, góa bụa, trông chờ…là dấu tích trên văn chương, báo chí”

[184;tr. 76]. Trần Hữu Thục trong bài viết Trái cấm hòa bình [142] thì nhận định:

…Với thời đại chúng ta, chiến tranh là một điều ghê tởm. Chiến tranh liên hệ với

tất cả những gì nhơ bẩn nhất. Ngày nay, chiến tranh là tội ác, một thứ tội ác vĩ đại.

Chiến tranh là băng hoại đổ vỡ. Khi những giòng nước mắt bị bắt buộc phải nhỏ

xuống. Khi những tiếng khóc bị bắt buộc phải vang lên. Khi những vành tang trắng

bị bắt buộc phải quấn lên đầu. Khi nụ cười phải bắt buộc phải ngừng lại. Khi những

giòng máu bị bắt buộc phải chảy mãi. Khi những tiếng nổ kinh hoàng trùm lên đời

sống. Khi những nòng sắt giá lạnh thay thế những cái bắt tay, thay thế những cái

nhìn cởi mở. Và khi người nhìn người bằng thù hằn, nghi kỵ. [tr.74-76]

Đúng như lời tự bạch trong truyện ngắn Biển đen của Trần Hoài Thư – một nhà văn phản chiến

của Huế: “Tôi là một thanh niên. Tôi đã mang vào thân 26 năm dài đẵng đẵng. Tôi đã đầy đủ nhận

biết những đau khổ của đất nước, quê hương tôi. Tôi đã khóc và cười trong những ngày tháng loạn

ly và tàn khốc nhất” (tr.75), những cây bút trẻ của Huế đã trải nghiệm cái giai đoạn khắc nghiệt nhất

của cuộc chiến tranh nửa cuối thế kỷ XX bằng tất cả niềm đau đớn và phẫn nộ của tuổi trẻ. Chiến

tranh ám ảnh và đè nặng trên từng trang viết của họ. Không có trang viết nào mà lại không nói đến

chiến tranh, dù trực tiếp hay gián tiếp, cả man mác buồn thương lẫn dữ dội, khắc khoải. Sống trên

quê hương nhưng những người trẻ ấy lại luôn có cảm giác đánh mất quê hương, thiếu quê hương.

Họ trở thành kẻ “ngoại lai” (tên một truyện ngắn của Cung Tích Biền) trên chính mảnh đất chôn rau

cắt rốn. Bởi chiến tranh đã tàn phá và hủy diệt mọi thứ trên những vùng đất mà nó càn quét. Bởi nơi

đâu cũng là chiến trường, mảnh đất nào cũng bị cày nát bởi bom đạn. Và gắn rất chặt với những đổ

nát ấy là những đổ nát của tình người, của những gia đình, những làng xóm bởi phân ly, hận thù.

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này là những bức tranh hiện thực đầy xót xa về một quê

hương đang tan rã. Bom đạn không chỉ gieo rắc kinh hoàng trên những vùng chiến địa đầy khốc liệt

ngay cả ở những thôn xóm nhỏ bé vốn êm đềm sau những lũy tre xanh,những trường học ê a tiếng

trẻ thơ, nó vẫn là một “nỗi ám ảnh không rời”. Miền quê Thừa Thiên trù phú của Hoàng (Tiếng hát

lên trời) bỗng chốc đã biến thành một “vùng vàng cháy xác xơ. Đồng ruộng bỏ hoang phơi gốc rạ

vàng mốc chen lẫn giữa đám cỏ lúp xúp” khi “quân đội Đồng Minh đổ vào Việt Nam ồ ạt, cùng với

máy bay, xe tăng, bom, đạn, thuốc khai quang…” (tr.20). Trần Hữu Lục lại phơi bày “dáng hư hao”

(tên một truyện ngắn của Trần Doãn Nho) của làng quê Vân Dương qua một xóm đạo, một nông

thôn nghèo khó. Xóm đạo ngày xưa yên bình, đông đúc là thế nhưng giờ đây thật vắng vẻ, điêu tàn:

“Nóc nhà thờ trụt hết ngói còn trơ những cột kèo cháy xém, gác chuông loang lổ giữa chiều lộng

gió” [23;tr.17]. Nếu Doãn (Hát rong trên đồng) đau khổ đến phát điên khi liên tiếp chứng kiến

những cái chết đầy kinh hoàng của những con người thân thuộc đối với cô thì bước chân trở về của

anh Đất trong Xóm hói cũng đầy ngơ ngác khi dân làng đã bỏ đi gần hết. Cách một dòng sông –

truyện ngắn được lấy tên đặt chung cho tập truyện nổi tiếng của Trần Hữu Lục – đã nói lên rất đạt

sự phân ly, chia lìa của quê hương xứ sở qua hình tượng một dòng sông. Bảy năm xa quê về, anh

Lựu (nhân vật chính trong truyện) cứ ngỡ rằng mình sẽ được sống lại cái ký ức mát lành với dòng

sông thời thơ ấu. Nhưng tất cả đã khác. “Bên ni” sông nơi chân anh đứng vẫn thuộc quyền kiểm

soát của “quốc gia”, “bên nớ” nơi mẹ anh đang mòn mỏi ngóng chờ lại là vùng của quân Giải

phóng. Và cái ranh giới nghiệt ngã ấy , khi liều lĩnh bước qua nó, anh đã phải trả một cái giá quá đắt

bởi chính sinh mạng mình. Đau xót, nhức nhối biết bao.

Chiến tranh đã tàn phá tất cả, nhưng khủng khiếp hơn hết có lẽ là sức mạnh phi nhân và tàn bạo

của nó trong việc đày đọa và bóp nát tâm hồn con người. Chính cái thời đại mà trong đó chiến tranh

phi nghĩa xô đẩy người ta đến chỗ coi cảnh giết người “vui vẻ như một trò chơi trẻ nhỏ” [82; tr.64]

đã khai sinh ra những đứa con như Sáu Dền, những con thú thích nhất là chém giết và ăn thịt người.

Cái sự thật rùng rợn mà Trần Duy Phiên nói đến trong truyện ngắn ấy giờ đây đọc lại ta vẫn phải

sởn gai ốc. Là thứ quái thai của một thời buổi mà giặc Tây tràn vào thôn xóm hãm hiếp, giết người,

Sáu Dền “mới chừng hăm hai, hăm ba tuổi nhưng hắn đã phá đời hàng trăm cô gái” , “xơi đến mấy

chục cái gan người” [25; tr.218]. Hắn đi lính biệt kích bởi vì nhận ra rằng “đi lính Mỹ, đánh giặc

cho Mỹ, lãnh lương cao như Mỹ lại dễ kiếm xác người” (tr.222). Xã hội nhiễu nhương kéo theo tất

cả những điều “chưa từng thấy” phơi bày trước mắt mọi người. Nhà trường nơi thành thị trở thành

chỗ ẩn núp của những kẻ buôn Thần bán Thánh (Trần Quang Long – Chưa từng thấy) trong khi ở

làng quê “rặt một tụi lộng quyền làm ăn bậy bạ” (Trần Hữu Lục – Ám ảnh). Những nhân cách bị

hủy hoại đến cùng cực ấy thật có lợi cho những kẻ có dã tâm duy trì chiến tranh để mà ăn chơi, nhảy

múa.

Vậy ai đã tạo ra chiến tranh, ai đã làm nên nông nỗi bi thảm ấy của quê hương, đất nước? Trần

Hoài Thư đã nói rất đúng rằng: “Cái gì cũng đổ thừa cho chiến tranh, cho trận mạc, cho bom cho

đạn. Chứ không phải đầu óc trí não của con người, đặc sệt máu đỏ ghê tởm sao?” [154; tr.10]. Tất

nhiên, tùy theo lập trường chính trị mà các nhà văn có sự phơi bày và lý giải hiện thực khác nhau.

Có thể nói, ngòi bút phản chiến Trần Hoài Thư đã khá mãnh liệt và đúng đắn khi lột trần được

những sự thật mà người Mỹ và chính quyền Sài Gòn cố tình bưng bít, ngụy biện hòng duy trì và mở

rộng chiến tranh bằng xương máu của những người vô tội. Nhưng nhìn chung, cái nhìn về chiến

tranh trong tác phẩm của nhà văn này cũng như Mường Mán, và một số tác phẩm của Ngụy Ngữ

còn phản ánh nhận thức của không ít người cầm bút và nhân dân miền Nam thời bấy giờ dưới sự tác

động mạnh mẽ của thủ đoạn tuyên truyền của Mỹ và tay sai: rằng chiến tranh ấy là phi lý, là kết quả

của phân ly, hận thù, là nội chiến, là huynh đệ tương tàn.

Hòa cùng với sự dâng cao của “mặt trận chống” của nhân dân và tuổi trẻ đô thị miền Nam trên

những trận địa đường phố và cả trên trận địa văn học từ sau cuộc đổ bộ của quân viễn chinh Mỹ vào

chiến trường miền Nam, các cây bút trẻ yêu nước ở Huế đã không ngừng viết lên những tác phẩm

có giá trị phê phán sâu sắc những thủ đoạn đê hèn, giả trá, những hành động tội ác của đế quốc Mỹ

nhằm duy trì và mở rộng chiến tranh. Trần Hồng Quang, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Duy Phiên…đã

sắc sảo tố cáo thủ đoạn tuyên truyền, lừa mị về một “miền Nam sung sướng, tự do” , nhồi nhét sự

căm thù trong đầu óc thế hệ trẻ (Mùa hoa muồng vàng), tô vẽ lên lớp vỏ hào quang giả tạo cho cuộc

chiến tranh phi nghĩa (Nắng mới trên biền đất bồi ), chèn ép những tiếng nói lên sự thật bằng ách

kiểm duyệt văn hóa tàn bạo (Nắng đẹp sân trường).

Tố cáo âm mưu biến nhân dân và tuổi trẻ miền Nam thành củi đốt cho ngọn lửa chiến tranh nhằm

phục vụ cho giấc mộng bá quyền của kẻ thù, các nhà văn đã cùng xây dựng lên hình tượng đầy ám

ảnh về những thanh niên trốn lính, những người lính đào ngũ. Ví von như Hoàng Ngọc Tuấn, đó là

những “tuổi trẻ (…) tái xanh như một con chim họa mi chết nô lệ trong lồng” (Vĩnh biệt phố, Vấn

Đề 41, 1970, tr.64). Nắng mới trên biền đất bồi (Trần Hồng Quang) là sự phẫn uất của một người

lính trước sự dồn đuổi của chiến tranh. Thơ – tên nhân vật chính – ghê sợ “những địa danh đẫm

máu và xác người”. Anh lại càng uất ức hơn khi chính mình phải xa mẹ già, vợ dại, con thơ để đi

lính nuôi những “bè lũ ăn bẩn, no cơm rửng mỡ” mà anh hay mượn hơi rượu để chửi bới cho hả.

Cùng với sự mở rộng không ngừng của chiến tranh, chính sách bắt lính ngày càng tàn bạo. Trốn

(Trần Duy Phiên) phản ánh sự chạy trốn dường như vô vọng, bế tắc của Linh. Từ chối “cuộc chiến

tranh bẩn thỉu”, không muốn trở thành “những hình nhân được mua chuộc đánh giặc thuê trên quê

hương mình”, không muốn để “chúng nó ca hát bên kia Thái bình dương”, Linh phải trôi dạt từ quê

hương anh lên tận miền đất hẻo lánh để trốn tránh ròng rã 6 năm trời.

Lừa mị, giả dối gắn liền với đè nén và bạo lực. Tất cả thủ đoạn miễn là có thể huy động được

nhiều nhất số tuổi trẻ miền Nam phục vụ cho chiến tranh. Việc biến con người thành “con thú tật

nguyền” , thành những Sáu Dền bị tha hóa triệt để về tâm hồn và chỉ biết chém giết là một mục tiêu

có thực của chính sách thực dân mới. Và cùng với số quân trường thì các quân lao, các trại “lao

công đào binh”, những nhà tù ngày càng mọc lên với số lượng nhiều để đàn áp những con người

không còn muốn mình bị biến thành những quân bài cho chính sách “dùng người Việt đánh người

Việt”. Đề tài chế độ lao tù cũng là đề tài được nhiều nhà văn để ý và có nhiều sáng tác có giá trị. Có

thể kể đến: Bông cúc vàng của Trần Quang Long , Đứa con của loài bò sát của Huỳnh Ngọc Sơn ,

Đá trăm năm của Trần Hữu Lục , Trận tuyến âm thầm của Trần Hồng Quang…Nhưng trong đó

phải kể đến hàng đầu là Tiêu Dao Bảo Cự (Trường Sơn Ca). Hoạt động tích cực trong phong trào

tranh đấu của học sinh sinh viên đô thị Huế và từng bị nếm mùi lao ải, Bảo Cự thấu hiểu hơn hết tội

ác đày đọa thân xác và tinh thần con người của chốn tù đày. Chỉ với ba truyện viết về đề tài này: Tự

do hay là chết, Chọn một con đường, Trích nhật ký trong trại giam, cây bút trên đã thực sự vạch

trần bản chất của một chốn “địa ngục trần gian”. Bác T. (Tự do hay là chết) bị một người tù vốn vô

tội nhưng do không chịu được tra tấn mà vu là “trưởng ban ám sát”. Một chuỗi ngày vô tận bị tra

tấn dã man của bác bắt đầu. Liệu tương lai của bác có khác gì người tù khốn khổ trên kia như lời

tâm sự của hắn: “Ruột gan tim phổi tui chắc nát hết trong ni rồi. Tui chừ khi mô đái cũng ra máu,

ăn chút chi vô cũng ỉa chảy. Thở không được. Chân tay rũ liệt đi đứng không nổi. Bác nghĩ bị tra

tấn mấy chục lần thì con người còn ra cái chi nữa. Sống còn khổ hơn chết. Bác có khôn thì nhận tội

đi cho khỏi bị đánh” (tr.99). Và cuối cùng bác T. đã hiểu: “những kẻ đầy đọa bác đã trở thành lang

thú, không phải là người nữa. Trái tim họ đã hóa đá. Tình cảm họ đã khô kiệt. Không thể kêu van

cầu khẩn gì ở họ, những con vật hai chân mặt người lòng thú, chỉ biết phục vụ cho quyền lợi cá

nhân bẩn thỉu” (tr.109). Quả thực tác giả đã chuyển tải được một luận đề tranh đấu sôi sục, mãnh

liệt qua những hình tượng điển hình, giàu sức biểu cảm. Trong Trước khi mặt trời mọc, Trần Duy

Phiên thật sự xuất sắc khi trình bày thảm cảnh ngục tù của người đàn bà có chồng tranh đấu: bị tra

tấn, bị hãm hiếp, bị tù đày. Chị đã đào thoát và cuối cùng bị bắt lại để chờ đợi một cái chết trước khi

mặt trời mọc. Cũng như Tiêu Dao Bảo Cự, Trần Duy Phiên đã chỉ ra rằng: chế độ kìm kẹp, đè nén

phi nhân ấy không những không khuất phục được con người mà ngược lại còn dồn họ đến đường

cùng để tái sinh, để đứng dậy phản kháng giành quyền sống. Tức nước vỡ bờ.

Với những trang viết trải lòng thương yêu quê nhà Vân Dương của mình, Trần Hữu Lục có những

đóng góp đáng kể về việc phản ánh một mảng hiện thực miền Nam còn chưa được chú ý nhiều:

nông thôn trong chính sách bình định. Hình ảnh nông thôn xứ Huế trong các tác phẩm của nhà văn

này thực sự là một bổ sung đặc sắc bên cạnh bức tranh nông thôn miền Nam của một nhà văn khác

của nhóm Việt: Võ Trường Chinh.

Đồng thời với chủ trương biến thành thị thành “tiền đồn”, thành trung tâm quân sự, chính trị, Mỹ

và tay sai còn có tham vọng vươn dài cánh tay đến vùng nông thôn – nơi cách mạng nắm giữ ưu thế.

Bình định nông thôn được coi là mục tiêu chiến lược của Mỹ và tay sai, cột sống của “Việt Nam

hóa chiến tranh” nhằm cách ly nhân dân với cách mạng, và hiểm độc hơn nữa, là tiêu diệt “tình tự

dân tộc” nơi nông dân, phá hủy môi trường văn hóa làng xã – cội nguồn của sức mạnh Việt Nam.

“Một dân tộc nông nghiệp mà người dân không còn khát đất ruộng là một dân tộc mất gốc, vong

bản. Những dân tộc đã vong bản thì không cần đánh cũng thắng” (Hồng Hữu – Bình định nông

thôn, một mục tiêu chiến lược của Mỹ). Truyện ngắn Ngủ ấp của Trần Hữu Lục phơi bày màn mị

dân bi hài của các “ông lớn” trong việc đi về nông thôn để “nắm được dân”. Vốn “mệt nhoài một

cách sung mãn” với “quá nhiều dịch vụ về chiến tranh”, ông Âu cảm thấy chán nản, hậm hực khi

nghĩ đến chuyện phải đến ngủ tại một “cái ấp quái gở và mù mịt” nào đó – “nơi không có đèn hồng

và những điệu nhạc quấn quýt bước chân, nơi không có nệm ấm và hương hơi da thịt, cũng không

có gì quyến rũ và hứng thú” [25; tr.130 – 131]. Trong buổi tiếp xúc một cách gượng gạo và miễn

cưỡng giữa phái đoàn thành thị và dân chúng ở cái ấp nghèo, hình ảnh một ông Năm “thiểu não và

mệt mỏi” , “lấm lét” trong chiếc áo viện trợ Mỹ rộng thùng thình và câu chuyện của một Cả Phìn đã

đủ lật tẩy thứ “công việc …bịp” mà ông Âu đang sa lầy. Truyện Tình đất tái hiện lại buổi tản cư về

quận trong tiếng “khóc lóc, chửi rủa” của những người nông dân bị bóc tách khỏi thửa ruộng của

chính mình. Nông thôn tiêu điều và vắng bóng con người trong Tình đất ấy cũng đồng thời là một

nông thôn bị tuyệt mất đường sinh sống trong thời buổi mà máy móc Mỹ giết chết nền kinh tế non

yếu của thuộc địa mà Trần Hữu Lục đã phơi bày trong Xóm hói.

Dựng lên bức tranh khá toàn diện về một miền Nam thời kỳ tạm chiếm, truyện ngắn yêu nước ở

Huế giai đoạn 1964 – 1975 đã khắc họa được những hình tượng khá sắc nét về bộ máy tay sai và

“ông chủ ngoại bang” của nó. Đó là tên sĩ quan trong Đá trăm năm (Trần Hữu Lục) mà “cả mấy

làng rải rác quanh vùng này ai cũng biết tiếng hắn. Một tay hắn làm lao đao mấy chục người. Vụ

thím Bảy có con đi tập kết bị hắn bắt giữ mà chẳng xét xử gì cả. Hương Phúng bị đánh đến phải

mang bệnh lao …”. Và giờ đây, mang danh chống Cộng, hắn lại bắt cha của Hạ (người con gái

trong truyện) “làm con tin cho vụ làm ăn thuần túy tình cảm” [25; tr.148]. Đó là bọn đầu trâu mặt

ngựa hành hạ con người độc ác còn hơn cả quỷ sứ trong Tự do hay là chết của Tiêu Dao Bảo Cự.

Và một loạt những hình tượng sắc sảo trong chùm truyện ngắn giàu sức phê phán của Huỳnh Ngọc

Sơn như Thằng Khùng, Nước vỗ chân cầu, Đứa con của loài bò sát, Con dao mổ chó, Ngón tay

chết. Đáng chú ý là khi tố cáo, các nhà văn đã không chỉ đứng trên lập trường nhân bản mà đã đứng

trên lập trường dân tộc để vạch rõ tội tiếp tay cho giặc, và một phần nào đó chính là lập trường hữu

ái giai cấp với những con người cùng khổ để phơi bày ách áp bức, đè nén phi nhân của chúng. Tuy

nhiên, với hạn chế tất yếu của hoàn cảnh, chúng ta không thể đòi hỏi ở họ những sáng tác đạt đến

đỉnh cao của sự quyết liệt, triệt để trong sự tố cáo như văn học vùng giải phóng.

Các tác giả xứ Huế cũng dũng cảm hướng ngòi bút tố cáo vào thế lực cầm đầu, điều khiển giật

dây cho bộ máy tay sai: đế quốc Mỹ. Khi những nhà văn của thế hệ hai mươi này trưởng thành , “họ

thấy và thấy rất rõ (…), sự hiện diện cha chú của người Mỹ, sự lệ thuộc tủi nhục của quốc gia”. Họ

cũng thấy rất rõ, “trong 6 năm ròng rã, bom đạn Mỹ, thuốc khai quang Mỹ đã tàn phá tan hoang đất

nước này từ Nam chí Bắc, tiền bạc Mỹ, hàng hóa Mỹ, những cặn bã của văn minh Mỹ đã làm cho xã

hội miền Nam tan rã thành những mảnh vụn, trôi nổi dật dờ theo giòng thác chiến tranh”

[179;tr.43]. Những cây bút trẻ này đã chỉ rõ, hay ám chỉ, trong sáng tác của mình rằng: sự có mặt

của người Mỹ trên quê hương này chính là nguồn gốc sâu xa của mọi tai họa, mọi đổ vỡ. Chính

người Mỹ (mà họ hay gọi là “ngoại bang” hay “chúng nó”) đã là thế lực chi phối cuộc chiến tại quê

hương và gây nên bao nỗi tang tóc. Trần Hữu Lục trong hai truyện ngắn Sa lầy và Về nguồn đã lấy

Mỹ làm tâm điểm để phê phán. Dính dáng đến những tên ngoại quốc , hai nhân vật nữ trong cả hai

tác phẩm đã trở thành “biểu tượng cho đê tiện, nhục nhã, xấu xa, luồn cúi, nô lệ…” (tr.82). Nếu

Harley trong Sa lầy hiện lên với thứ “hơi hám miền Tây” và gắn liền với hắn là “hình ảnh những

đàn nhặng xanh, những đống rác tanh thối, những người bản xứ bụng ỏng, những tên da trắng đi

bốt cao đánh chửi những người bản xứ làm công” (tr.85) thì Wallac trong Về nguồn lại hiện nguyên

hình thành một ông chủ thực dân dâm đãng, hèn nhát, ích kỷ, thô lỗ. Trong Da vàng da đen, với một

lối nói bóng gió, Trần Duy Phiên đã cho nhân vật “Tôi” mơ một giấc mơ lạ lùng: giấc mơ một

người da đen đến và nói với anh ta: “cái lũ da đen da vàng chỉ cách nhau có một bước thôi. Bởi

chúng ta là con mồi, là nguồn nô lệ vô tận của bạo lực phi nhân” (tr.39). Nhưng có lẽ cũng không

cần phải suy nghĩ nhiều để tìm ra nguồn bạo lực phi nhân mà người da đen ấy nói, và cũng chắc

chắn rằng khi những “con mồi” khác màu da kia quyết tâm “đi đến mặt trời” (tr.42) thì kết quả mà

những tên viễn chinh xâm lược nhận lãnh chẳng đỡ thê thảm hơn cái xác chết nằm dưới chân cầu

(Nước vỗ chân cầu) như viên cố vấn già đã tận mắt chứng kiến: “Ông cố vấn nhìn trân trối xác chết,

mắt mờ dần đi. Hình như ông đang âm thầm khóc. Một chiến sĩ vô phước lại phơi bày cho thiên hạ

thấy cái chết không xứng đáng mấy. Đem thân trôi ở sông người, rồi nắm xương trắng không biết

có mang về tận quê nhà cho cha mẹ, vợ con trông thấy” [139; tr.825]. Phải chăng đó là lời cảnh báo

của Huỳnh Ngọc Sơn? Rõ ràng qua các tác phẩm trên, ta thấy những cố gắng của các nhà văn xứ

Huế trong việc hướng tới phản ánh kẻ thù xâm lược, biến tác phẩm thành câu trả lời cho những luận

điệu giả trá tô hồng người Mỹ của Nguyễn Mạnh Côn, Ngô Thế Vinh, Hồ Hữu Tường… Đứng trên

lập trường dân tộc, họ phần nào đã khắc họa được chân dung của chúng, sự phê phán đã thiên về

trực tiếp, cụ thể và khá mạnh bạo tuy rằng không phải không có những hạn chế: kẻ xâm lược hầu

như vẫn chưa hiện lên như những hình tượng sắc nét, bản chất đích thực của chủ nghĩa thực dân

mới của đế quốc Mỹ, sự câu kết giữa thế lực ngoại xâm và những kẻ tay sai của chúng còn chưa

thực sự được làm rõ. Đây cũng là hạn chế chung của những sáng tác yêu nước, tiến bộ ở miền Nam

trong vòng kềm kẹp thời kỳ này.

2.1.2. Tiếng nói bày tỏ lý tưởng tự do và khát vọng hòa bình

Độc lập, tự do, hòa bình là lý tưởng và khát vọng tha thiết, chính đáng của nhân dân miền Nam

trong thời tạm chiếm. Đặc biệt tuổi trẻ - những con người tràn đầy nhiệt huyết và mơ ước – thì khát

vọng ấy, lý tưởng ấy còn tràn dâng vô bờ và luôn được họ bộc lộ một cách mãnh liệt, thẳng thắn.

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 được viết lên trong những đêm không ngủ,

những ngày tranh đấu xuống đường sục sôi của tuổi trẻ Huế nguyện “tự do hay là chết”…Chính vì

thế, hai chữ “tự do” và “hòa bình” ở đây tuyệt nhiên không phải là lời nói đầu môi, quen miệng mà

là lời nói cất lên từ mồ hôi, nước mắt và cả máu của một thế hệ trẻ “sống đến gần đứt cả sự sống”.

Tiếng nói về một niềm ước mơ, hy vọng trước hết tự nó vang lên trong lòng người đọc như một

sự nối dài của tác phẩm dù tác giả không trực tiếp nói ra. Bởi vì bản thân việc phơi bày thực tại đen

tối và máu lửa của quê hương cũng là hành động nhằm hướng đến một tương lai khác, tốt đẹp hơn

thực tại. Tuy nhiên, đọc truyện ngắn của những cây bút trẻ xứ Huế ấy, ta vẫn thấy vang dội lên thật

thiết tha, mạnh mẽ và đủ mọi cung bậc những tiếng nói đòi tự do, đòi hòa bình. Có tiếng nói khắc

khoải, mơ hồ, bế tắc, tuyệt vọng. Nhưng càng về sau càng vang lên mạnh mẽ những tiếng nói được

dựa trên những căn cứ xác thực và sự nhận thức sâu xa về thời cuộc, do đó mà thấm đượm âm

hưởng lạc quan, tin tưởng.

Đọc truyện ngắn phản chiến của một số nhà văn Huế cùng giai đoạn, ta cũng cảm nhận được ước

vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn ánh lên trong từng trang viết. Tiếc nuối một dĩ vãng tươi đẹp đã

mất là những thanh âm chủ đạo trong các tác phẩm Trần Doãn Nho. Dư âm mất mát ấy thật thấm

thía trong tâm tư những chú Năm, thím Tẩy, những Phan, Lợi, những Trang, Lan…Song chính “sự

bất hạnh mải miết đổ ào (…) như thác lũ” (Dáng hư hao, tr. 95) lên những số phận đau khổ do

chiến tranh, do đè nén áp bức, do loạn lạc dối lừa ấy lại tự chúng nói lên được nhiều hơn những gì

hiện lên trên trang giấy. Những trang viết giàu thi vị, bàng bạc hoài niệm, suy tư lại là sở trường của

Mường Mán. Rất gần với nhiều sáng tác của Ngụy Ngữ, tiếng nói về tự do, hòa bình ở Mường Mán

cứ rủ rỉ, âm trầm theo câu chuyện của nhân vật (Về giữa mùa hè, Trăng trên doanh trại).Với Trần

Hoài Thư, người tuổi trẻ đầy nhiệt huyết thuở ban đầu và rồi ngập chìm trong sự cay đắng của một

niềm tin bị tan vỡ, bị phản bội ấy, tự do và hòa bình luôn là một giấc mơ ám ảnh đến khắc khoải.

Với một tuổi trẻ đang sống trong cái hoàn cảnh “không ai có thể thoát ra, không ai có thể vùng vẫy

nổi” (Mùa xuân ly biệt, tr.91) thì tình yêu và hạnh phúc cá nhân cũng chỉ là một ước vọng xa xôi.

Trường hợp Trần Hoài Thư thật đúng như Trần Triệu Luật đã nói tới: “Tương lai vẫn luôn là bất

nhất và huyền thoại bởi con đường hướng về ngày mai không là bước đi cho hôm nay mà chỉ là

những tiên đoán, những ước ao, những mong mỏi và những nguyện cầu. Cầu nguyện và mong mỏi,

tiên đoán và ao ước đều trở thành vô ích khi những sửa soạn hôm nay chỉ là những hưởng thụ hiện

tại hơn là những chuẩn bị cho ngày mai” (Hướng về ngày mai, Văn học số 33,1965,tr.7). Chính vì

thế, hai chữ tự do, hòa bình chỉ có tác dụng cân bằng tâm lý trong chốc lát, để rồi những người lính

ấy lại tự nhủ với nhau: “Uống đi mầy. Uống đi mầy. Uống để quên, để say mà điên cuồng giết địch”

(Cõi sa mạc, tr. 49).

Trần Quang Long và nhóm Việt, những người có khát vọng “cùng anh em đi dựng mặt trời” này

đã dấn thân, nhập cuộc hết mình vì một quê hương hòa bình. Sáng tác của họ thường được ví như

chiếc phong vũ biểu của thực tiễn tranh đấu. Không đắm chìm trong quá khứ đã qua, họ chủ tâm

nhìn thẳng vào “cái hôm nay của dân tộc” . Tuy nhiên cũng phải thấy rằng ở giai đoạn sáng tác đầu,

khi tương lai còn là một cái gì đó khá mơ hồ, khi phong trào còn gặp nhiều khó khăn, khi bản thân

họ chưa có những bước tiến vượt bậc về nhận thức như sau này, thì cái kết thúc bi đát là điều không

thể tránh khỏi. Sau này, Trần Hữu Lục đã nghiêm khắc chỉ rõ:

“Chúng tôi chưa thực hiện đúng sứ mệnh của văn nghệ. Một số bài thơ chưa thoát khỏi cái không

khí u uẩn, ngậm ngùi, tiêu cực. Kết thúc truyện còn quẩn quanh, bế tắc và không tưởng ở trong

truyện: Ngón tay chết của Huỳnh Ngọc Sơn – Tiếng chim bìm bịp gọi người về của Võ Trường

Chinh – Tư Giò của Trần Duy Phiên – Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài của Trần Hồng

Quang – Người tình lạ mặt của Trần Hữu Lục” [24; tr.196]. Ta dễ cảm nhận được một tương lai đầy

bi đát phủ xuống cuộc đời các nhân vật. Ta cũng dễ thấy được cái kết thúc không tưởng trong Bóng

tối sau lưng của Tần Hoài Dạ Vũ khi nhân vật Nguyễn đột ngột chuyển đổi tâm trạng sau một chuỗi

ngày sống với bóng tối: “Nguyễn xuống đường giữa nắng đang lên” (tr.15). Tất nhiên, sự hạn chế

trên ngoài nguyên nhân chủ quan còn phải tính đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Hơn nữa, như đã nói,

tiếng nói khát vọng âm thầm toát ra từ nhiều tác phẩm là đáng trân trọng và không thể phủ nhận. Tự

cái không khí đặc quánh hay khốc liệt, bi đát đến nghẹt thở ấy lại ẩn chứa một tiếng nói ước mơ âm

thầm nhưng mãnh liệt. Đó là chưa kể đấy có thể là sự nén lặng chuẩn bị cho một cơn giông tố sắp

sửa xảy ra. Tiếng nói ấy về sau chắc chắn sẽ khác, sẽ thay da đổi thịt và bừng nở như những cánh

cúc vàng của Trần Quang Long – một sinh viên tranh đấu sớm giác ngộ: “Những cánh cúc xòe ra

như những ngón tay đang chờ những ngón tay nắm lấy, có những cánh hoa còn búp đang xoắn chặt

lại với nhau khăng khít tin yêu (…) ĐÓA CÚC VÀNG nổi bật giữa nền vải trắng, nổi bật giữa cảnh

sống u tối, để từ đó, thấy được một vẻ đẹp huy hoàng vẫn mãi mãi bất diệt trong tâm hồn anh, trong

tâm hồn những người thương mến nhau…”

[43;tr. 312]. Và đến những năm cuối của cuộc chiến tranh, nhất là từ khi được sự quan tâm và chỉ

đạo trực tiếp của Đảng, các cây bút nhóm Việt đã dần dần cất lên những tiếng nói ước vọng khỏe

khoắn của một niềm lạc quan, niềm tin xác thực và có căn cứ. Không khó để ta có thể nhận ra âm

hưởng lãng mạn cách mạng trong những sáng tác của nhóm Việt ở giai đoạn này khi tia sáng của

niềm tin, của hy vọng vẫn được nhen nhóm từng ngày trong hiện thực khắc nghiệt, bất chấp cả cái

chết, cả sự hủy diệt. Tiếng nói giàu chất chiến đấu ấy là động lực củng cố lòng tin nơi người đọc, và

cũng là lời kêu gọi họ xốc tới tranh đấu, “chọn một con đường” để “còn quê hương mà trở về”

trong một ngày “nắng mới trên biền đất bồi”, để “giấc mơ êm đềm” của người mẹ già không dừng

lại ở một giấc mơ. Đó là khát vọng được đắp xây bằng máu của những người cương quyết “tự do

hay là chết”, vượt qua đêm tối của ngày “trước khi mặt trời mọc”, vượt qua “trận tuyến âm thầm”

của những hèn yếu nơi lòng mình để thấy “trong vắng lặng mai này, những mẹ những chị những

Quân những Bảo những Băng bây giờ cười tươi như nắng sớm, ấm và mát rượi” [23;tr. 175].

Tự do, hòa bình – nhất là với người dân nghèo khổ - thì hai chữ ấy luôn gắn với miếng cơm

manh áo, những nhu cầu sinh tồn thiết thực nhất của con người. Mùa xuân trên áo thiết tha, khắc

khoải nỗi niềm về một tà áo mới cho con khi tết đến xuân về của vợ chồng anh nông dân đói khổ

triền miên vì chiến tranh, vì ách áp bức. Nỗi nhớ quê nhà, niềm khát khao về một tổ ấm gia đình của

những người đã bị chiến tranh xô đẩy ra khỏi nơi chôn rau cắt rốn, thiêu rụi mái nhà che mưa che

nắng lại đau đáu trong Mùa hoa muồng vàng, Căn nhà trong năm tới . Ước vọng về tự do của

những thân phận lạc loài, “sống giữa quê hương làm người đất trích” (thơ Đông Trình) được phơi

bày thật xúc động trong những trang văn viết về những tuổi trẻ bị săn đuổi gắt gao trên chính quê

hương mình. Ở tầng sâu thẳm nhất, chính là sự căng tràn của ước vọng về tương lai cùng với niềm

phẫn uất thực tại tột độ của những phận người bị áp bức , và của cả một dân tộc bị đày đọa : “Dân

tộc của bác đã bị khinh khi, bóc lột, kềm kẹp, chà đạp và dồn đến chân tường, bờ vực thẳm. Không

thể kêu thương khẩn cầu gì nữa mà phải vùng lên bứt xiềng bẻ xích. Tự do hay là chết” (Tự do hay

là chết, tr.109). Đáng chú ý là trong nhiều tác phẩm, ước mơ và niềm tin đã gắn liền với thái độ

phản kháng, và xa hơn nữa là hành động tranh đấu. Đó là niềm tin tưởng về một thế hệ trẻ sẽ tiến xa

và tiến mạnh hơn với những ngòi bút chân thành, mạnh bạo dám nói lên sự thật của người thầy

trong Nắng đẹp sân trường. Anh Đất trong Xóm hói trở về khi làng xóm đã tiêu điều nhưng đối diện

với “mặt trận (…) gian lao và trường kỳ kháng chiến” ấy, “rực rỡ trong trí tưởng anh” vẫn là “chiếc

xe đạp nước quay đều bên bờ sông cũ, những nhát cuốc vỡ đất loáng nắng ban mai, rồi thửa ruộng

với ngàn bông lúa ngậm sữa rập rờn” (tr.121). Dù kẻ thù có bạo tàn đến mức nào thì ta “vẫn còn

nghe được tiếng động rì rầm của nhà máy gạo, tiếng lọc cọc của xe đạp nước, mái chèo khua nhẹ,

đàn ve mặc tình ca hát và tiếng trẻ nô đùa trên lối xóm (…) Đồng ruộng khô cháy vì thuốc khai

quang, con đê vật vã nằm sõng soài, nhà cửa xiêu vẹo tiêu điều, cây cầu tre sụp đổ… vẫn còn

những thứ không hề tàn phai, đổ nát: trái tim của Vân Dương, những ngọn đèn không bao giờ tắt”

[53; tr.98]. Những cái chết như Phường (Ám ảnh) sẽ lại ươm mầm cho sự hồi sinh: “Một ngày nào

đó, lúa sẽ mọc trong vườn” (tr.183). Sức sống bền bỉ, lòng sắt son của con người, của quê hương

được đốt cháy thêm bởi lý tưởng tự do và khát vọng hòa bình được các nhà văn khẳng định ấy sẽ

tạo nên “mùa xuân đương vẫy gọi” ở tương lai không xa.

2.2. TUỔI TRẺ TRONG TÌNH LIÊN ĐỚI VỚI THA NHÂN

Thấu hiểu tình trạng bi đát của đời sống, các nhà văn trẻ ở Huế cũng là người hiểu hơn ai hết nỗi

thống khổ của quần chúng xung quanh mình. Thấm đẫm trong trang viết của những cây bút ấy một

tình liên đới, sâu xa bền vững với tha nhân. Họ, dù là những người trí thức, trong nhà trường hay

trong quân đội, đều hướng về những người xung quanh họ với niềm thương xót chân thành của

người chung cảnh ngộ, chung những nỗi đau khổ và niềm khát vọng. Cùng với những cây bút tiến

bộ đương thời, với lập trường nhân đạo và nhân văn bền vững, họ đã “trở thành người thay mặt ghi

lại những cảm nghĩ và tâm tình của đám đông trên trang giấy” và dùng văn chương để “bày tỏ tình

liên đới với đồng bào mình” [117;tr. 71].

2.2. 1 Niềm thương cảm với những số phận khốn cùng

Trong hoàn cảnh lầm than của xã hội miền Nam trước đây, người dân nghèo không chỉ phải hứng

chịu chiến tranh, bom đạn mà tròng lên cổ họ còn là hai cái ách nặng nề : ách áp bức giai cấp và ách

đè nén, thống trị của ngoại bang. Có tới 38 tác phẩm, chiếm hơn 50% tổng số truyện ngắn được

nghiên cứu đề cập đến số phận cùng khốn của những con người “bé nhỏ” ấy.

Khốc liệt nhất là chiến tranh. Chiến tranh không chỉ đem đến cho họ một nỗi ám ảnh thường trực:

cái chết mà còn tàn phá quê hương họ, con đường sinh sống của họ, bóc tách họ ra khỏi nơi chôn

rau cắt rốn, dù họ ở bất cứ vùng đất nào trên mảnh đất miền Nam khốn khổ này: những làng mạc ở

Huế và dải đất miền Trung trong tác phẩm của Trần Hữu Lục, Huỳnh Ngọc Sơn , những vùng oanh

tạc tự do hay là ranh giới giữa hai chiến tuyến trong truyện ngắn của Trần Duy Phiên, những mái

nhà lụp xụp nơi thành phố trong trang viết của Trần Quang Long… Chỉ sau một đêm, ước mơ mà

ông Tư hằng vun đắp về một tương lai giản dị khi Bản – con ông trở về với “căn nhà và mảnh vườn

đầy hoa quả” đã đổ vỡ tan tành (Thằng con trai, khu vườn, chiếc quan tài). Những con người khốn

khổ bị chiến tranh xô đuổi phải lìa bỏ nhà cửa, làng mạc đi tha phương cầu thực được Huỳnh Ngọc

Sơn thể hiện xúc động trong Mùa hoa muồng vàng. Người mẹ dắt díu hai đứa con thơ dại lên vùng

cao nguyên xa lạ luôn “xao xuyến, xót xa và bứt rứt nhớ về những ngày hạnh phúc cũ” bởi “căn nhà

giờ đã sụp đổ nhưng ai lay chuyển nổi căn nhà xinh xắn trong lòng má, hơn nữa, nền nhà, mảnh

sân, khu vườn và kỷ niệm làm sao bứng đi được cho dù bom Mỹ mấy tấn” (tr.102). Cùng với chiến

tranh, những đè nén, áp bức ở thôn quê hay thành thị không cho họ ngóc đầu lên. Bị bóc tách ra

khỏi nơi chôn rau cắt rốn, khỏi mồ mả ông bà, những người dân gồng gánh ra đi với một nỗi lo sinh

kế mịt mù trước mắt, một tình đất thiết tha nặng trĩu trong lòng và nỗi nhớ quê hương “rạt rào làm

nôn nao lòng dạ”. Ba Thoàn chết nhưng “tay dang rộng ôm lòng đất” bên cạnh con nghé “nghểnh

cổ kêu, giọng đã khàn” (tr.12 – 13) là hình ảnh gợi nhiều nỗi niềm sâu xa trong lòng người đọc. Ách

kìm kẹp của chế độ đương thời càng khiến họ nghẹt thở, từ việc địa chủ tước đoạt miếng cơm qua tô

thuế (Mùa xuân trên áo) đến việc giam hãm và chịu đủ cực hình tra tấn vì bị nghi ngờ là “phản

động” (Tự do hay là chết). Chính vì thế, những con người cùng khổ ấy như bị nhấn chìm trong cái

nghèo đói truyền kiếp. Người thầy giáo ám ảnh, xót xa với những bàn chân bẩn ngày ngày đến lớp

của lũ học trò nhỏ (Tuổi đồng quê). Ở thành thị, trong các túp lều, những khu tạm cư , khu ổ chuột

xơ xác là những cuộc đời lay lắt, chạy ăn từng bữa. Họ sống nhờ bãi rác, nhờ của rơi vãi của lính

viễn chinh Mỹ với một mạng sống cũng không bằng một con chó dưới mắt bọn nhà giàu (Hộp thịt

Mỹ - Huỳnh Ngọc Sơn; Tư Giò, Thư học trò - Trần Duy Phiên…). Đúng như nhan đề của một tác

phẩm Trần Hồng Quang: “mặt trời mù” hay là cuộc đời tăm tối, bế tắc, không có ngày mai của

những kiếp bị đọa đày.

Cũng cần nhấn mạnh đến những trang văn đề cập trực tiếp đến những người mẹ, người vợ, trẻ

nhỏ , lấy đó làm trung tâm để phản ánh dù có thể không phải là đa số nhưng cũng rất đáng trân

trọng bởi sự rung cảm thực sự thiết tha của những người cầm bút có lương tri. Đó là mụ Lé – người

đàn bà kiếm ăn đầu đường xó chợ để nuôi một đàn con nheo nhóc (Trần Quang Long – Mụ Lé), là

người mẹ mà đến khi chết vẫn chưa hết khổ (Trần Duy Phiên – Mất mả), là những người vợ tảo tần

nuôi con thay chồng đi biền biệt để rồi một mình ôm nỗi đơn chiếc trong tác phẩm của Trần Hồng

Quang (Giấc mơ êm đềm), của Huỳnh Ngọc Sơn (Mùa hoa muồng vàng). Đó còn là những em bé

trong trắng, vô tội nhưng sớm bỏ mạng vì chiến tranh hay già trước tuổi vì sớm phải gánh nỗi lo âu

bất hạnh trong truyện ngắn của Trần Duy Phiên (Qua đồng Văn Xá), Huỳnh Ngọc Sơn (Về miền

xuôi) , Trần Hữu Lục (Cầu sương mù)…Chị em đứa bé trong Buổi tối ngoài ngõ của Trần Quang

Long ôm niềm tủi hổ không chỉ vì nghèo đói mà quan trọng hơn vì thiếu tình thương yêu của gia

đình, của người mẹ đang mải mê kiếm tiền bằng thân xác của chính mình. Dễ nhận thấy nếu Mường

Mán và Ngụy Ngữ, bằng tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân, đã quan tâm đến

những con người bình thường và những nỗi niềm muôn đời trong cuộc sống hàng ngày của họ (Mùa

thu đã gần kề, Hạnh phúc buồn – Mường Mán, Nơi xa xôi, Đầu sông cũ – Ngụy Ngữ…) thì Trần

Quang Long và nhiều nhà văn nhóm Việt lại dành niềm thương cảm đến những kiếp người nghèo

khổ bởi chiến tranh, bom đạn và sự bất công của xã hội. Và dù viết đến bất cứ đối tượng nào, các

nhà văn yêu nước ở Huế cũng dựa trên cảm hứng tố cáo hiện thực và cảm hứng nhân đạo sâu sắc,

đồng thời không chỉ dừng lại ở sự phơi bày thân phận, họ đã lên tiếng bênh vực, bào chữa cho

những kiếp người cùng khổ ấy.

Người lính – hình tượng trung tâm của văn học thời chiến – là đối tượng để phê phán đồng thời

cũng là đối tượng để cảm thương của những nhà văn yêu nước tiến bộ của văn học thành thị miền

Nam giai đoạn này, nhất là từ năm 1970 trở về sau. Họ vừa là tay sai cho những kẻ buôn Thần bán

Phật để gây tội ác vừa là công cụ , là nạn nhân của guồng máy chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo. Trong

tác phẩm của những người viết “thân chính”, họ được ca ngợi như những “anh hùng thời thượng”,

những “người anh chiến trường” đầy vẻ yêng hùng, lãng mạn, bất cần đời hoặc lao vào cuộc chiến

với một sự cuồng tín. Nhưng cùng với sự nhận chân, nhìn thẳng vào một sự thật không thể trốn

tránh, những nhân vật ấy đã hiện ra với đầy đủ vẻ thảm hại, đáng thương của những số phận rách

nát, bị đày đọa. Các trang viết của Trần Hoài Thư hay nhiều truyện ngắn tiến bộ của Thế Vũ, với cái

nhìn từ bên trong hàng ngũ quân đội Sài Gòn, đã thể hiện thật sâu sắc và ám ảnh bức chân dung của

một thế hệ bị phá sản, bị đổ vỡ. Đó là những người lính bị choàng lên người “vòng hoa ngụy tín”

nhưng rút cục cay đắng nhận ra mình chỉ là thân trâu ngựa, những con vật đáng thương làm tôi tớ,

vẫn phải rong ruổi suốt cuộc hành trình máu me chết chóc dù đã nản chân bon. Bằng niềm cảm

thương và sự phê phán, cảnh tỉnh chân thành, nghiêm khắc, các nhà văn yêu nước ở Huế trong 15

truyện ngắn viết về người lính, người thương binh và cả những thanh niên trốn lính đã có những

đóng góp đáng kể vào mảng đề tài này.

Những người lính trong các tác phẩm, dù đi lính vì ảo tưởng về một cuộc đổi đời trong tương lai

như anh Đất – một người nông dân nghèo bị áp bức nặng nề trong Xóm hói hay phần lớn bị bắt

buộc, bị xua ra trận để chém giết thì rút cục, họ đều sa lầy vào những ngày tháng đau khổ tăm tối

nhất. Mà rõ nhất là cái chết, cái chết như một nỗi ám ảnh đầy kinh hoàng. Tuân (Căn nhà) dứt khoát

bỏ ngũ khi quá chán chường trước cảnh “đám quân tàn tệ kiệt quệ nhưng chẳng còn chút nhuệ khí

nào (…) những tiếng khóc tiếng la gào xé đau thương ảm đạm”, khi quá khiếp sợ trước “những thây

người nát tươm bầy nhầy” (tr.45). Đối với Vượt hay Bằng (Những bước rã rời), kiếp đánh thuê như

một định mệnh khắc nghiệt. Kết thúc tác phẩm, Bằng vẫn buộc phải ra đi, “không dám ngoái cổ lại.

Hắn cúi đầu bước. Những bước rã rời” (tr.62). Dù đã trốn tránh địa ngục chiến trường hay bị thải

hồi như những “con thú tật nguyền” của chiến tranh, nhưng cùng với nỗi đau thể xác không ngừng

nhức nhối, hành hạ là những vết thương tinh thần khó lòng lành lặn trong con người họ. Nếu người

thương binh trong Về miền xuôi tưởng như lênh đênh mãi trên bước đường trở về với người vợ trẻ,

với đứa con chưa hề biết mặt thì trong Ngón tay chết, sự trở về của anh Vượt là vô nghĩa vì nhà cửa,

mẹ, vợ và con anh đều đã bị hủy diệt bởi bom đạn. Thực ra, không cứ gì tuổi trẻ Việt Nam, tuổi trẻ

Mỹ cũng là nạn nhân của những tham vọng phi nghĩa, phi nhân. Số phận người lính viễn chinh Mỹ

trong Nước vỗ chân cầu tham chiến và bỏ mạng trên mảnh đất tha hương cũng chẳng khá hơn cái

chết đau đớn, tức tưởi của những người lính Việt trên một chiến địa u ám nào đó. Phơi bày sự thật

đau đớn của thân phận người lính bằng tất cả niềm ai oán và phẫn nộ, các tác giả trẻ đã thức tỉnh sâu

sắc những ai còn u mê, ảo tưởng.

Nhưng khác với những nhà văn phản chiến dũng cảm vạch trần, tố cáo sự thật song lại rất bế tắc

thì ở đây, các tác giả yêu nước ở Huế đã tiến tới một sự phủ nhận triệt để hiện thực phi nhân ấy, và

không dừng lại ở đó, họ còn chỉ ra lối thoát cho những kiếp đọa đày. Chắc chắn, tự bản thân những

người lính ấy “phải làm một cái gì chứ không thể tiếp tục đóng vai kẻ đồng lõa với tội ác nữa”

(Chọn một con đường).Tất nhiên, không phải là sự phản ứng bồng bột như Minh (Trong chiến tranh

này), cũng không chỉ là sự khước từ cầm súng như Thơ (Nắng mới trên biền đất bồi), như Hoàng

(Tiếng hát lên trời). Họ phải “dậy mà đi”, phải đi, phải đấu tranh bởi chỉ có thể, họ mới “còn quê

hương để trở về”. Đó chính là lối thoát đúng đắn nhất trong tình cảnh hiện tại.

2.2.2. Tiếng nói bênh vực và bào chữa cho những nhân cách bị chà đạp

Đọc truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này, dường như ta thấy lại bóng dáng của những sáng

tác trong bộ phận văn học hiện thực phê phán thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám. Thời đó, những

Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng đã thể hiện một cách xuất sắc tình cảnh

đau khổ của những lớp người dưới đáy xã hội với niềm thương cảm và trân trọng thực sự. Gần hơn,

đó là những Vũ Hạnh, Sơn Nam, Lê Vĩnh Hòa,Thẩm Thệ Hà…trong văn học tiến bộ thành thị miền

Nam giai đoạn 1954 – 1963. Lên tiếng đòi quyền sống, quyền cơm áo, hạnh phúc cho những con

người bị chà đạp đã khó; mà thực sự đứng về phía họ, tìm ra cho được chất người đích thực ngay

trong những hình hài, những tâm hồn bị vò nát càng khó hơn. Điều này không thể làm được với

những nhà văn đứng cao hơn họ, nhìn đến họ bằng sự ban ơn và thờ ơ, lãnh cảm.

Trước hết, các cây bút trẻ xứ Huế trong khi phơi bày tình trạng của những con người ấy đã đồng

thời bóc trần và chỉ ra cội nguồn, nguyên nhân của nỗi đau khổ. Cái nhân cách méo mó của những

người lính kia đâu phải có từ trong bản chất. Điều gì làm nên những “anh hùng tội nghiệp” ấy, nếu

không phải là cái guồng máy bạo lực, phi nhân đang chi phối họ, biến họ thành một cái đinh vít

không thể chạy trốn để rồi cuối cùng “như người mù quờ quạng theo những hô hào giả trá hiểm ác”

(Chọn một con đường)? Một trong những đề tài được các nhà văn thời chiến ở miền Nam, trong đó

có các nhà văn xứ Huế chú ý nhiều là sự sa đọa về văn hóa của những người phụ nữ, những thanh

niên. Phụ nữ thì đi làm điếm, thanh niên trẻ em thì sa vào con đường trộm cướp hay làm ma cô dắt

gái. Nhưng nếu các sáng tác đồi trụy của Chu Tử, Thụy Vũ, Trùng Dương…hiện lên những cô gái

trung lưu hay nhà giàu thừa mứa vật chất, nhân danh chiến tranh, loạn lạc để biện minh cho sự sa

ngã, lấy vỏ tình yêu để che lấp cái ham muốn xác thịt, thì Cầu sương mù (Trần Hữu Lục), Khu giọt

nước (Huỳnh Ngọc Sơn), Buổi tối ngoài ngõ (Trần Quang Long ), Sau bức màn hoa (Trần Duy

Phiên)…đã chỉ rõ nguyên nhân sâu xa của những tấn bi kịch ấy là cuộc sống không ra sống. Cái gì

đã biến vợ anh Gòn từ một người phụ nữ chân chất thành một gái điếm rẻ tiền “ưỡn cái bản mặt lép

lên, vênh váo, cắp eo người lính Mỹ kéo vào sau bức màn hoa” (tr.41)? Nghèo đói, khốn cùng sinh

ra tệ nạn. Nhất là với những con người không trụ vững trước những cám dỗ vật chất, thì cái của rơi

vãi như hộp thịt Mỹ, hay những bia rượu, thuốc lá thơm ngoại quốc có sức cuốn hút hơn rất nhiều

những bữa cơm nghèo khó không thể nuốt nổi, những túp lều hôi hám, rách nát. Đó là một thực tế

đau lòng.

Các nhà văn cũng cố gắng tìm kiếm, nói theo cách nói của Nguyễn Minh Châu, hạt ngọc tâm hồn

trong những con người ấy với một sự khẳng định đầy trân trọng. Đó là những thầy giáo nghèo như

ông Đình (Nước mắt thầy – Trần Duy Phiên ), những nông dân nghèo như lão Đá ( Di vật – Trần

Hữu Lục ), lão Quế (Đứa con của loài bò sát – Huỳnh Ngọc Sơn), ông Tư ( Thằng con trai khu

vườn chiếc quan tài – Trần Hồng Quang)…mà với họ “tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng tợ thiên

kim”. Đó là những người lính, người thương binh, những “con vật” rách nát của chiến tranh nhưng

lòng không nguôi ước vọng trở về như Bằng (Những bước rã rời), cố gắng giữ gìn nhân phẩm như

Thái, Tánh (Những điều chưa nói)… Đặc biệt xúc động là những người phụ nữ giàu phẩm chất

truyền thống: giàu yêu thương, đức hy sinh, nhẫn nại nhưng cũng thật kiên cường trong các sáng

tác. Thương và trân trọng biết bao những người mẹ trong Giấc mơ êm đềm (Trần Hồng Quang),

Mùa hoa muồng vàng (Huỳnh Ngọc Sơn) . Thương và trân trọng biết bao những người con gái hiện

thân cho cái đẹp quê hương trong Thư gửi em gái Vân Dương (Trần Hữu Lục), Bông cúc vàng (Trần

Quang Long). Đó chính là điểm sáng diệu kỳ của lương tâm, nhân phẩm con người trong hoàn cảnh

đen tối lúc bấy giờ.

Cuối cùng, đáng lưu ý là với những tuổi trẻ trăn trở cho một quê hương để trở về, thì lòng nhân

đạo sẽ không chỉ dừng lại ở thương cảm, xót xa, tố cáo mà sẽ ngày càng gắn bó chặt chẽ với hành

động chỉ ra cho những con người ấy một con đường tươi sáng để đi. Cùng với Võ Trường Chinh

trong Về miệt rừng tràm, Bán máu, Bảy Chất, nhiều nhà văn khác của nhóm Việt đã chỉ ra một

hướng thoát đúng đắn cho những con người đau khổ ấy. Hướng thoát ấy gắn liền với hành động

tranh đấu của quần chúng, trong đó nổi bật lên vai trò của thế hệ trẻ.

2.3. TUỔI TRẺ VỚI SỨ MỆNH LỊCH SỬ

Dù muốn hay không, tuổi trẻ bao giờ cũng là linh hồn, là sức sống của một xã hội. Ý thức về sứ

mệnh lịch sử của họ liên quan mật thiết đến sự tồn vong của đất nước, sự hưng thịnh của giống nòi.

Được viết lên trong hoàn cảnh bạo tàn của đất nước và sự hiện hữu không cần che giấu của những

“ông chủ” ngoại bang, truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 đã thực sự là tiếng nói

nhận thức về sứ mệnh lịch sử của tuổi trẻ, mà mạnh mẽ và quyết liệt hơn hết chính là tiếng nói của

những người trẻ đang làm chủ “trận địa đường phố”.

2.3.1. Tiếng nói trăn trở tìm đường

Cuộc sống bao giờ cũng yêu cầu mỗi người chúng ta phải lựa chọn, lựa chọn cho mình cách thế

sống, cách khu xử trong một hoàn cảnh, một tình thế nhất định. Đặc biệt, trong bối cảnh đảo điên,

loạn lạc, rối ren của xã hội miền Nam trước 1975, cái yêu cầu ấy càng trở nên cấp bách hơn. Không

phải ngẫu nhiên, khi “tìm hiểu thế hệ hai mươi”, Lý Chánh Trung đã dựa vào những sự lựa chọn

khác nhau để phân loại ra các lớp người trẻ khác nhau – mà ông gọi là những “đứa con” của xã hội

thời đó: những đứa con hư, những đứa con ngoan và những đứa con đối nghịch. Cũng chẳng phải

ngẫu nhiên khi văn học thời ấy, ví như thơ ca của các nhà thơ xứ Huế lúc bấy giờ, hay nói nhiều đến

con đường.

Rất dễ để thấy sự khác biệt giữa con người đầy sảng khoái, mạnh mẽ, tự hào khi được chiếu rọi

bởi ánh sáng cách mạng (chẳng hạn trong tập Người sông Hương của Tô Nhuận Vỹ) với hình ảnh

con người trong văn học thành thị miền Nam. Hòa chung cái không khí bức xúc của thời đại, truyện

ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 đã khắc họa đậm nét hình tượng những người trẻ giàu

suy tư và trăn trở. Chính trong tâm trạng suy tư và trăn trở trước một thực tại đen tối, bế tắc và

nhiều nghịch lý ấy, họ đã tìm được ở triết học hiện sinh một sự đồng điệu.

Ra đời và phát triển mạnh mẽ như một sự phản ứng và nổi loạn với cái xã hội châu Âu mục ruỗng

hoang tàn, đặc biệt là sau cuộc Đại chiến thế giới I, chủ nghĩa hiện sinh mà tiêu biểu nhất là của

J.P.Sarte, A. Camus ngộ ra một điều: Thượng Đế đã chết, con người là một thân phận bị lưu đày,

nỗi cô đơn, cái chết và sự tuyệt vọng là một định mệnh không thể tránh khỏi đối với họ. Con người

chỉ có thể dựa vào cá nhân mình, không thể tin vào tha nhân và xã hội, và cũng không phải chịu

mệnh lệnh của ai cả. Con người được tự do chọn lựa trong một hoàn cảnh nhất định, và họ phải

hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự chọn lựa đó. Con người phải can đảm nhập cuộc, dấn thân và lúc

nào cũng phải là “một dự án”, một dự phóng. Mặc dù mang một nhãn quan bi đát và không phải

không có ít nhiều tính chất hư vô, bế tắc, nhưng quan niệm về thực tại phi lý, buồn nôn và nhất là

triết lý dấn thân của Sarte cũng như cuộc đời hoạt động chính trị sôi nổi của ông đã có một sức

quyến rũ đặc biệt đối với tuổi trẻ miền Nam, trong đó có các nhà văn trẻ xứ Huế. Ảnh hưởng này có

thể thấy khá rõ trong tác phẩm Bóng tối sau lưng của Tần Hoài Dạ Vũ. Nhân vật Nguyễn (hay là sự

phân thân của tác giả) đã trải qua những tháng ngày triền miên trong khắc khoải và cả tuyệt vọng:

Trong nhịp sống, giữa cuộc đời, Nguyễn còn gì nữa đâu. Chàng đã sinh ra trong

chiến tranh. Lớn lên với chiến tranh. Nhận chân từng nỗi khổ đau, từng niềm tang

tóc bao phủ, đè ụp xuống đầu những người dân của một nước nô lệ (…) Nguyễn ơi,

mỗi người là một thân phận bi đát, sao mày còn chối bỏ chính mày? Sao mày không

đủ can đảm để nhận lãnh, để nhìn thẳng vào thực tế đau khổ? (tr.11-15).

Làm sao không xúc động trước những lời độc thoại rất mực thành thực đó? Những người trẻ như

Nguyễn, dù họ có là ai, là Khanh, Uyên, Trịnh hay Ngô (như Ngô Kha đã viết trong truyện Chiến

tranh bước nhanh hơn khốn nạn thật) thì đều ôm trong lòng những dằn vặt như thế, bởi họ là những

trí thức có lương tri và một lòng khát khao được sống như những con người chân chính. Sự dồn nén

đến oi bức, ngột ngạt của những dòng tâm trạng bao giờ cũng phủ đầy các trang viết về họ: Da

vàng da đen của Trần Duy Phiên; Trận tuyến âm thầm của Trần Hồng Quang; Con đường của Trần

Quang Long…

Các nhà văn phản chiến cũng đã phản ánh thật chân thực nhiều sự lựa chọn khác nhau của những

người trẻ trong đô thị miền Nam. Khác với người lính phẫn uất nhưng bế tắc, chỉ biết lao vào chém

giết của Trần Hoài Thư, những “tôi” của Mường Mán, những Nam, Trang, Lan của Trần Doãn Nho

hiền lành và trong sạch hơn, tuy vẫn nhiều chua xót. Chưa có đường hướng tranh đấu và mới dừng

lại ở niềm thương người, thương thân và phẫn nộ trước hoàn cảnh đồng thời tiếc nuối về một dĩ

vãng đã xa là cách thế sống phổ biến của những nhân vật trên. Rõ ràng, đối diện với một thực tại rối

bời và nhiều biến động, cái tập thể tuổi trẻ của xã hội miền Nam ấy “đang lâm vào cảnh ngộ như

một khối tinh vân trong cơn gió lốc, rã rời, phân tán. Đứa trở nên sát nhân, đứa tham nhập vào

chính trị, đứa ly khai để sa đọa, đứa bỏ thành phố lủi tuốt vào rừng” và có cả những kẻ đang lưỡng

lự ngả nghiêng “bởi đã chọn cái thế không có đất đứng” (Da vàng da đen; tr.38).

Đứng trước thực tại của những sự lựa chọn khác nhau, và trái chiều nhau ấy, Trần Quang Long và

nhóm Việt đã thực sự chọn lựa cách thế dấn thân, nhập cuộc, và họ đã dấn thân thật quyết liệt: thiên

tả và cuối cùng là đi hẳn về “phía bên kia”. Dù rằng, họ biết chắc “chọn cho mình một lẽ sống lạ

lùng như thế cũng là điều khó khi mà cuộc sống quá đọa đày, ngày tháng quá hững hờ” (Vẫn còn là

mơ ước,tr.24). Là nhà văn, họ đã nhập cuộc và dấn thân bằng chính những sáng tác sôi sục lửa đấu

tranh, nơi họ thể hiện và gửi gắm lý tưởng, khát vọng qua hình tượng các nhân vật mà không khó gì

người đọc có thể nhận thấy ít nhiều đó cũng chính là sự phân thân của tác giả. Tất nhiên, để có được

cách thế sống đúng đắn cho thời bấy giờ đâu phải là chuyện dễ dàng, ngay cả khi người ta thực sự

có lương tri và được cung cấp cho một giáo điều, một lý thuyết có sẵn. Bởi chân lý phải là kết quả

của cả một quá trình trải nghiệm, kiểm chứng, là thành quả được trả giá bằng bao nỗi đớn đau, mất

mát. Chính vì thế, các cây bút trẻ ấy và nhân vật của họ, đã trải qua cả một quá trình trăn trở, tự đấu

tranh và tự vấn. Họ đã phản kháng, đã phẫn nộ và thậm chí phải dùng sự trốn tránh để bày tỏ sự

phẫn nộ đó (như Linh trong Trốn). Họ đã trải qua bao nỗi cô đơn, và có khi có những cuộc ra đi mà

chưa hẳn tìm thấy hướng để đi (như Phúc trong Con đường). Họ đã phải đứng trong lửa của địa

ngục nhà tù và đối diện với cái chết, với đau thương để mà trưởng thành (như nhân vật “Tôi” trong

Trước khi mặt trời mọc). Tất cả, để tìm được con đường đến phía mặt trời, để từ đó hun đúc cho

mình một quyết tâm tranh đấu đến cùng cho lẽ phải, cho tự do.

2.3.2. Quyết tâm tranh đấu cho tự do và chính nghĩa

Cuộc sống, với tất cả khía cạnh khổ đau và hạnh phúc, tăm tối, đê hèn hay rực rỡ, sáng trong, bao

giờ cũng là trường học đích thực, đầy đủ và sinh động nhất của mỗi con người. Chân lý nảy sinh từ

cuộc sống và được kiểm nghiệm trong cuộc sống. Những gian khó, vất vả sẽ là ngọn lửa để thử

vàng, để trui rèn ý chí và quyết tâm, để bùng cháy và bốc cao hơn nữa ngọn lửa khát vọng tuổi trẻ.

Chính vì lẽ đó, đặt các nhân vật của mình trong bối cảnh đầy rẫy những xung đột hoặc ẩn kín âm

thầm hoặc bộc lộ rõ rệt nhưng bao giờ cũng gay gắt, dữ dội là một ý đồ nghệ thuật của các nhà văn

trẻ xứ Huế nhằm làm nổi rõ quyết tâm tranh đấu đến cùng vì tự do và chính nghĩa.

Trước hết là những trận tuyến nổi rõ trên bề mặt của xã hội, ghê gớm và thật quyết liệt. Ở cái

“tiền đồn chống Cộng” và nhân danh chống Cộng để trừ diệt tất cả những phản kháng đòi công lý

này, là những kẻ cầm đầu “chỉ biết đối thoại với thanh niên bằng dùi cui và lựu đạn cay” [179;

tr.37] mà hiện hình rõ nhất cho sự đàn áp ấy là những nhà tù, những địa ngục trần gian. “Sẽ có lúc

Tâm phải nhìn vào đôi mắt long lên, đỏ những đường máu, không khí sặc sụa hơi men và vun vút

những đường đánh chuẩn, mạnh và the thé (…). Mà không chỉ có thế, còn những mạch điện đút vào

hậu môn, châm vào đầu lưỡi, quấn vào dương vật, còn những thùng nước đặc quánh chất nhờn xà

phòng, thước ba khến, roi da bò, ma – trắc, giây lò xo làm lóc, làm bay những đường da, còn đói

còn khát, còn thức trắng đêm, còn đèn 500 và điên loạn la hét (…) Tâm sẽ như miếng giẻ rách, như

chiếc bao tải sũng nước, như con chó nhai những vắt cơm lộn xộn cát sỏi và đái ỉa ngủ ngáy một

nơi, còn thua chó” [23;tr. 175]. Đó còn là những ma quỷ ẩn náu dưới hình hài con người, nói như

Trần Hồng Quang, với “những hăm dọa ngọt hơn mía lùi” như những “viên chì nóng bỏng (…) va

mạnh vào gốc rễ tư tưởng, làm lung lay những chồi cây mới bén” (tr.173). Đó còn là những lý luận

ma quỷ, nhân danh Chúa và hòa bình để lừa mị, để kích động sự thù hằn, nghi kỵ, khơi dậy những

cuồng tín u mê. Trong truyện ngắn Con đường, Trần Quang Long đã phơi bày những nghi vấn, dằn

vặt của người thanh niên trước sự cắt nghĩa của một tôn giáo: “cả đất nước bị dằng xé tang thương

với những bà mẹ kêu gào thảm thiết dưới trận mưa bom, với những đứa trẻ chết bất ngờ trong nôi,

với những người con gái bị hãm hiếp, đi làm đĩ, với những thằng con trai làm ma cô…tất cả sẽ làm

ích cho kẻ yêu mến đức chúa trời. “Đó là ý của thượng đế, là chương trình của thượng đế, đấng bất

khả tri luận”. Ông mục sư thường bảo thế” (tr.57). Cái khía cạnh nhẫn nhục, chịu đựng trong triết lý

vốn rất đỗi nhân bản ấy đã bị lợi dụng và khai thác một cách có ý thức để đè nén những phản kháng.

Bởi “nếu không có Thượng Đế, anh đã lựa chọn thật dễ dàng. Anh sẽ vì sự sống còn của dân tộc và

chính bản thân, anh sẽ đánh giặc, chống xâm lăng, giết bọn tay sai con cháu Lê Chiêu Thống, anh

sẽ bảo vệ gia đình, quê hương, người yêu của anh” (tr.59). Ở một xã hội mà ngay nhà trường cũng

luôn luôn đầy rẫy những người đàn ông nện gót ngoài lớp học để “muốn tìm thêm và bắt những đứa

như thằng Hùng” [118;tr.15] và ngập tràn những giáo điều “thiếu thành thật”, thì những tuổi trẻ

biết yêu sự thật sẽ là “những con chim trong lồng son” dù rằng chắc chắn “trong số đó, có chim hót

mãi một tiếng hót để làm đẹp ngôi trường thì cũng có những loài chim như Vi sẽ bay thoát khỏi lồng

son một ngày nào đó” [56;tr.102]. Những người trẻ ấy đã sống và tranh đấu trong một hoàn cảnh bị

dồn nén đến ngạt thở bởi thù hằn và chia rẽ, có khi ngay giữa những người ruột thịt trong một gia

đình. Nếu Hội trong Người tình lạ mặt nuôi dưỡng một tình yêu rất đẹp với Thượng – người thanh

niên ở “phía bên kia” thì với cha cô, Cả Tề, Thượng lại “hiện thân như một thứ côn đồ, thứ phản

Chúa diệt đạo” (tr.34). Nếu Sa trong Những người không sống là sinh viên tranh đấu thì cha anh,

ông Đội lại cho anh là “thằng giặc con”, là “làm loạn”, tiếp tay cho Cộng sản, tức là những kẻ theo

ông là “bọn bán nước” [23;tr.179]. Tất cả những nanh vuốt, những cản trở to lớn ấy có mặt và giăng

mắc khắp nơi tạo thành một ách kìm kẹp không dễ gì vượt qua đối với những con người vốn ham

sống và còn không ít bồng bột ấy.

Nhưng khó khăn lớn nhất mà họ phải vượt qua lại chính là một trận tuyến âm thầm, trong đó kẻ

địch chính là bản thân họ, là những phút mềm yếu của lòng họ. Và đây cũng là đích nhắm cuối cùng

của kẻ thù. Đó là “nỗi sợ hãi lớn dần, lớn dần nở trương ra choán hết, cứng đặc trong đầu”. Đó là

sự nghi kỵ bạn bè, đồng chí ẩn chứa trong “mỗi câu hỏi mọc lên từ khu vườn ươn hèn, đốn mạt, nghi

nan văn vẹo như những nhánh bạch tuộc siết cứng tâm hồn”. Đó là sự hoang mang, mền nhũn trước

những lời đường mật của kẻ thù… Để rồi phải tự hỏi “Chiến đấu nhân danh cái gì? Có cần chiến

đấu và chiến thắng hay không?” [23;tr.170 – 174]. Với ngòi bút phân tích tâm lý sắc sảo và sự từng

trải của người trong cuộc, qua Trận tuyến âm thầm, Trần Hồng Quang đã chỉ ra cái “trận thế” tinh

thần trong lòng mỗi con người đang trên đường tranh đấu; đồng thời qua đó rút ra một lời khẳng

định, một niềm tin sắt đá vào thế hệ mình. Như nhân vật Tâm đã tự nhủ: “Tay cầm bút bày những

trận thế và biết mình có thể sẽ mất hết nhưng sẽ được rất nhiều. Bỗng nhiên anh cảm thấy hứng thú

lạ lùng. Trong vắng lặng mai này, những mẹ những chị những Quân những Bảo những Băng bây

giờ cười tươi như nắng sớm, ấm và mát rượi” (tr.175).

Khắc họa hình ảnh một thế hệ quyết tâm tranh đấu vì tự do và chính nghĩa, truyện ngắn yêu nước

ở Huế giai đoạn này đã vẽ lên rất đẹp hình tượng người ra đi. Ta như gặp lại ở đây tâm tình của

những người thanh niên cũng khao khát dấn thân vì nghĩa lớn trước Cách mạng Tháng Tám. Ngày

đó, thơ văn ngập tràn các cuộc ra đi, các cuộc lên đường với những bài hành bi tráng của nhóm Tam

Anh, những lời thơ lãng mạn bay bổng về người khách chinh phu của Thế Lữ, và những Dũng của

Nhất Linh … Ngay cả những vần thơ yêu nước của các cây bút trẻ đương thời cũng không hiếm

hình ảnh này. Chẳng hạn lời thơ hào sảng của Đông Trình:

Bước ta đi kiêu hùng như thác lũ,

Đuốc chuyền tay nhau thắp sáng phố phường.

Ta đốt đêm đen làm đêm không ngủ,

Lên tiếng kêu đòi cơm áo, tình thương.

(Hoa máu còn hồng trước ngôi nhà cũ)

Dù là cuộc chia ly thực thụ cho một ngày trở về hay là hành động quật khởi trước kẻ thù của

những người ở lại đang “trên con đường leo tới đỉnh vinh quang” (Trần Quang Long), nhưng bao

giờ những người ra đi, lên đường ấy cũng toát lên một vẻ đẹp đầy quyến rũ và có sức kêu gọi mãnh

liệt. Tất nhiên ban đầu những cuộc ra đi ấy còn mơ hồ lắm, cái mơ hồ của một sự quyết tâm phải

phản kháng nhưng vẫn chưa xác định được chính xác con đường mình phải đi tới. Cũng có thể cái

mơ hồ ấy chỉ là cách thể hiện khiến người đọc phải “đọc giữa hai hàng chữ” do hoàn cảnh chưa cho

phép được nói thẳng, nói rõ của nhà văn lúc bấy giờ. Những trang văn phản chiến cũng có những

cuộc ra đi. Kháng trong Trong gió mùa chưa hết đào ngũ tới 9 lần và là một “thứ vô sản chính

cống”. Chẳng biết Ngụy Ngữ có đọc và chịu ảnh hưởng của Nhất Linh trong Đôi bạn hay không,

song từ cái mênh mang và đầy khắc khoải của gió đến cái vẻ phong trần của người ra đi – Kháng –

gợi nhớ đến một Đôi bạn thao thiết nỗi buồn và cả khát vọng đổi thay: “Gió lớn mãi. Gió thổi khô

da thịt, những giấc ngủ tan loãng giữa khuya khoắt, tiếng gió reo hú trên mái nhà, cái hối thúc

muộn màng kỳ quái: Ta đi” (tr.74).

Dù cuối truyện Kháng vẫn là người ra đi, nhưng dễ thấy Kháng vẫn dừng lại ở một sự thôi thúc

trong nội tâm, trong niềm ước muốn làm được một điều gì đó cho cuộc sống tăm tối và buồn bã ấy.

Nhưng phải đến Còn quê hương để trở về, người thanh niên bị săn đuổi đã có một ý niệm rõ ràng

hơn: “Đêm đêm nghe người hát “Dậy mà đi” tôi thèm khát đời sống thênh thang bên ngoài. Nhiều

lần tôi muốn bỏ đi, theo anh T. hay lao mình vào cuộc (…) Tôi ngậm ngùi với những chia lìa đau

đớn. Nhưng thà bỏ đi còn có quê hương để trở về còn hơn suốt đời làm một kẻ bị săn đuổi”

[139;tr.592 – 597].

Với Trần Duy Phiên, những quyết tâm tìm đường được diễn tả thật đẹp – một vẻ đẹp tráng lệ và

hào hùng. Cũng như nhiều tác giả lúc bấy giờ, ông thường lấy mặt trời để nói về chân lý. Da vàng

da đen thể hiện thật mãnh liệt niềm khát vọng được đi đến ánh sáng rạng ngời của lý tưởng qua lời

tự nhủ với thế hệ của nhân vật “Tôi”: “Tôi sẽ đi…quyết đi…Đó là số phận của lũ chúng tôi, của lũ

chúng ta…Anh hãy chờ tôi đi đến mặt trời…” (tr.42).

Chim tha lửa lại là một ẩn dụ đẹp rực rỡ về những người trẻ đòi “Ta phải thấy mặt trời” ấy. Hóa

thân làm loài chim khát thèm tự do, nhân vật trong truyện đã nói lên những ước vọng về “một ngày

đẹp trời cùng bay về ngắm cảnh đồng lúa vàng gợn sóng, ăn trái dâu tươi, ngủ dưới vòm đậu, chơi

giữa vòm cau” [23;tr.98]. Song “cùng với tai ương của cây rừng không còn xanh lá, dâu thôi trổ

lộc, vòm đậu héo khô, vườn cau chết đứng. Con chim ruộng đồng bứt dây đàn, xếp sách, thôi làm

thơ. Nó bay đi kết bạn, kết đoàn, hẹn một ngày đâm chết loài ó, diều…” (tr.99). Chim tha lửa gợi rất

nhiều về một thời tranh đấu không thể nào quên của chính tác giả và những người bạn trẻ đồng chí

hướng trong đô thị miền Nam trước đây. Đọc Chim tha lửa, người đọc lại được đắm mình trong bầu

không khí nồng nàn, sôi nổi, nhiệt huyết của các sáng tác mang đậm âm hưởng lãng mạn cách

mạng. Chim tha lửa ở khía cạnh này, rất gần với những Bài ca chim báo bão, Bài ca chim ưng của

M.Gorki; rất gần với những vần thơ của Tố Hữu trong Từ Ấy.

Trong sự đứng lên đòi công lý, tự do của tuổi trẻ Huế nói riêng và tuổi trẻ đô thị miền Nam nói

chung, không ít người đã đi hẳn về “phía bên kia” và trở thành những người cách mạng, những

người Cộng Sản đích thực. Đó là T. trong Đá trăm năm, là Thượng trong Người tình lạ mặt, là

Phường trong Ám ảnh, là Phủ trong Vẫn còn là mơ ước, là Hải trong Di vật. Đó còn là Thái trong

Nước mắt thầy, là Ngọ trong Tuổi đồng quê, là Bản trong Thằng con trai khu vườn chiếc quan

tài…Tất nhiên trong hoàn cảnh phức tạp lúc bấy giờ, không phải ai cũng hiểu và đồng cảm, đồng

tình với họ, ngay cả những người thân yêu nhất. Song nhìn chung, sự ra đi của họ trong mắt những

người ở lại – những người cùng chí hướng và niềm mơ ước – bao giờ cũng rất đẹp. Nếu với Hạ,

hình bóng T. gắn liền với “ngọn cờ phất giữa phố trưa. Lời rao truyền làm nức lòng người” (Đá

trăm năm) vừa mê hoặc vừa bí ẩn, quyến rũ thì trong trí tưởng của người bạn ở lại “Ở cuối mỗi tin

yêu phấn khởi là hình ảnh của Phủ ngày về rực rỡ như một màu cờ. Tôi đã chết lịm và đắm đuối với

mỗi hình ảnh đó. Gần như là đam mê của một đời người. Gần như lẽ sống mà tôi ấp ủ bấy lâu”

(Vẫn còn là mơ ước; tr.24). Họ ra đi vì phẫn uất, vì bất mãn và quan trọng hơn vì khát vọng tranh

đấu mãnh liệt của chính họ. Hải – người con trai của lão Đá – ra đi không một lời từ biệt, chỉ để lại

cho lão một cây đàn đá và kỷ niệm khôn nguôi về hình ảnh anh ngồi đàn với những “âm thanh buồn

rười rượi” [139;tr.584] và để lại cho Nhị - người em gái, ký ức về những bài ca “tay súng tay cày đủ

thứ” (tr.587). Cuối truyện, lão Đá ra đi, chẳng biết lão đi đâu nhưng Nhị biết “chuyến đi của chú

thật bấp bênh và nguy hiểm” (tr.588). Bởi có lẽ, hình ảnh người con trai ra đi với lão Đá không chỉ

để lại một niềm tiếc thương, mà còn là một sự hối thúc, hối thúc trong chính những thanh âm buồn

tủi của cây đàn.

Viết về những người “phía bên kia”, các cây bút trẻ xứ Huế đã thể hiện sự dũng cảm khi bày tỏ

không ngần ngại niềm ngưỡng mộ của bản thân mình. Người Cộng sản hiện lên trong những dòng

chữ của Trường Sơn Ca không chỉ ấm ấp như một người bạn, mà nổi bật nhất chính là khí phách

không gì có thể dập tắt với một “đôi mắt dữ dội và thù hận. Lần đầu bắt gặp tia nhìn của đôi mắt đó

thấy xao xuyến và bàng hoàng như vừa chạm phải một thứ đau thương và căm hờn được tôi luyện

qua nhiều năm tháng câm nín và cô đơn” [2;tr.106]. Phường trong Ám ảnh ra đi vì bất mãn với bọn

quan chức xôi thịt ở quê anh. Anh trở về trong sự sợ hãi đến ám ảnh của chúng, bởi gắn với việc trở

về ấy là sự thanh trừng, ám sát những tên đầu sỏ. Nhưng ngược lại, “phản ứng của dân chúng không

lấy gì làm thuận lợi cho chính quyền địa phương. Nhiều người đồn đãi hắn ám sát kinh lắm,họ có

thái độ hờ hững với công việc khai báo sự xuất hiện nguy hiểm của hắn” [52;tr.166]. Rõ ràng, ở một

mức độ nào đó, họ đã hiểu và đồng tình với việc làm của người Cộng sản ấy, bởi anh đã làm những

điều họ chưa dám làm, đã nói lên những căm phẫn mà họ chưa dám nói. Phường chết, người ta vẫn

tỏ ra ngần ngại, hay kín đáo trong việc bộc lộ thái độ. Nhưng tác giả vẫn tin rằng, với cái chết ấy,

“một ngày nào đó, lúa sẽ mọc xanh trong vườn” (tr.183).

Cùng viết về người Cộng sản, song Thằng Khùng của Huỳnh Ngọc Sơn lại là một sự thể hiện khá

độc đáo. Cái “thằng khùng” ấy là một cái gai trong mắt của ông Trung đội trưởng. Bởi khùng gì mà

vẫn lấy được vợ đẹp, cô vợ mà ông dùng đủ mọi cách (cả cách mượn tay địch để giết thằng Khùng)

song vẫn chưa chiếm được. Đáng ghét hơn nữa là những câu nói “xách mé” làm cho ông “tức cành

hông”, kiểu như “Đi giết lũ ăn thịt người”. Truyện kết thúc rất bất ngờ: người du kích “Áo đen. Nón

lá. Súng đeo sau lưng, dây cột choàng trước ngực”, “lừng lững trên con đường đỏ” [139;tr.819]

mà ông vô tình bắn được lại chính là Khùng. Đọc truyện, người đọc dễ liên tưởng đến Tiếng hát của

người thương binh mất trí của Hàng Chức Nguyên. Phải có một sức mạnh tinh thần ghê gớm mới

giúp người thanh niên ấy có thể đóng vai người khùng và dám đối diện với mọi nguy hiểm để sống

trong lòng “lũ ăn thịt người” đó.

Những người “nghe được cơn đau dài của đất” và đồng lòng đứng lên sẽ làm nên một quê hương

quật khởi vì ngày mai tươi sáng. Trong những truyện ngắn – những bức thư của tuổi trẻ nơi thành

thị gửi về quê nhà đang kháng chiến, Trần Hữu Lục đã thấy được ở nơi những người con gái ấy -

mà ông trìu mến gọi là “em”, “đã có một phần đất thịt Vân Dương. Em đang chung lòng với người

ở lại, giữ đất bám làng. Em đang chăm giữ từng miền cơ thể của Vân Dương: từ bờ đê, ruộng vườn,

dòng sông, mái lá, đò ba bến cho đến những di sản tốt đẹp, những truyền thống vốn làm quê ta hãnh

diện. Em đã cùng với các thứ đó là những hào lũy vững bền trước cơn bão lửa” [56;tr.97]. Vân

Dương của Trần Hữu Lục, cũng như làng quê nơi “miệt rừng tràm” của Võ Trường Chinh là biểu

tượng thật đẹp về khát vọng và niềm tin của con người Việt Nam trong một thời sôi bỏng. Việt Nam

ấy, dù là làng quê bình dị của “em gái Vân Dương”, hay là thành thị của những bé Vi – những tuổi

trẻ biết yêu sự thật và sống vì sự thật sẽ đi lên, đạp đổ mọi giăng mắc đen tối và hèn hạ của kẻ thù.

2.4. TUỔI TRẺ VỚI GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Trong tình hình rối loạn của miền Nam, khi mà nhà cầm quyền vì mục đích chính trị của mình đã

cố tình dùng những thủ đoạn hòng ngu muội hóa nhận thức, đồi trụy hóa sinh hoạt, phản động hóa

tư tưởng của nhân dân, khi mà sự đổ quân ồ ạt của quân Mỹ vào miền Nam đem theo cả lối sống sa

đọa, thực dụng của tư bản, thì những bất chấp, coi thường, chà đạp giá trị truyền thống dân tộc càng

hơn bao giờ hết. Một dân tộc nếu mất văn hóa thì sẽ mất tất cả - các nhà văn ở Huế đã thấy rõ điều

đó và hơn nữa, xuất thân từ một quê hương giàu giá trị văn hóa như Huế, các tác giả này càng dễ dị

ứng với những biểu hiện lai căng vong bản. Cùng với các văn nghệ sĩ tiến bộ miền Nam, họ đã

gióng lên một hồi chuông thức tỉnh và kêu gọi tìm về dân tộc. Hành động ấy của họ vừa có ý nghĩa

thời sự vừa có một ý nghĩa văn hóa lâu bền đối với mai sau.

2.4.1. Niềm phẫn nộ, đau đớn trước hiện trạng băng hoại văn hóa

Trong bài Nhìn lại 15 năm văn học miền Nam đăng trên báo Bách Khoa năm 1972, Nguyễn

Mộng Giác đã viết:

Từ khoảng 1965, 1966 nghĩa là khi quân đội Hoa Kỳ ồ ạt đổ vào Việt Nam (…)

Thang giá trị đảo ngược, và nhiều đổ vỡ cay xé nổ ra ngay trong lòng những gia

đình trung lưu lâu nay hãnh diện về nếp gia phong. Cả một dân tộc cuống cuồng lo

âu cho cuộc diệt vong chung, chạy đi tìm nguồn tìm gốc”. [27;tr.48].

Đó là một thực tế. Sự có mặt ngày càng đông đảo của người Mỹ và cuộc chiến tranh ngày một ác

liệt, lan tràn đã là nguồn gốc không thể phủ nhận của thực trạng đau lòng: sự băng hoại tan rã của

không ít những giá trị văn hóa truyền thống ở đô thị miền Nam. Người Mỹ đưa vào Việt Nam

không chỉ máy chém, súng đạn, những máy móc tàn phá nền kinh tế bản địa như Trần Hữu Lục đã

tố cáo trong Xóm hói mà còn hơn thế. Lối sống tư bản,thực dụng của họ cùng với các văn hóa phẩm

đồi trụy ồ ạt đổ vào miền Nam theo một ý đồ xâm lăng văn hóa có sẵn đã thực sự gây nên những tác

hại không nhỏ. Hỗ trợ đắc lực cho điều đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa, bế tắc với sự lên ngôi của

bạo lực, tiền tài, quyền lực đã tàn phá tâm hồn con người. Dân nghèo thành thị và đặc biệt là dân

chúng chạy loạn bị dồn về thành phố trong khi không có phương tiện để trang trải cho cuộc mưu

sinh tối thiểu đồng thời bị cám dỗ bởi vật chất phù phiếm đã nhanh chóng hình thành nên lớp ma cô,

đĩ điếm. Nhiều người Việt ngộ nhận hoặc cố ý ngộ nhận ý nghĩa của những từ ngữ “tự do”, “hiện

đại”, “hiện sinh” và lao đầu vào một lối sống bọt bèo, sa đọa như Nguyễn Thị Hoàng, Chu Tử, Túy

Hồng, Minh Đức Hoài Trinh…đã phản ánh.

Con người bị nghèo đói nhấn chìm xuống bùn hay đơn giản là bị cái thời đại đấy quyến rũ, lôi

kéo hoặc vì bế tắc, hận đời mà nhanh chóng biến thành những rác rưởi trôi nổi trên dòng nước lũ

của đời sống. Phỉ nhổ cội nguồn, gia đình và chối bỏ cuộc đời dù nhân danh bất kỳ lí do nào, con

người đã nhanh chóng tuột xuống cái dốc của thấp hèn, đê tiện. Kim trong Về thăm người yêu rời bỏ

mối tình trong sáng của mình bởi ăn phải “bả Mỹ”. Sức hút ghê gớm của đồng tiền đã khiến “thằng

thuốc lá” như người mất hồn mà nhắm mắt chạy theo bọn lính viễn dương vì với hắn ở nhà “còn

thua con chó Mỹ” trong khi “Đi với Mỹ hút đủ một ngàn thứ thuốc: Salem, Ban – man, thuốc phiện,

cần sa…ồi chà, đủ một ngàn thứ…” [25; tr.302]. Vật chất cũng dễ khiến những người vợ quên đi

bổn phận và danh dự của chính mình, rời xa người chồng thiếu thốn (Khu giọt nước – Huỳnh Ngọc

Sơn) và chôn vùi cuộc đời mình “sau bức màn hoa” (Trần Duy Phiên) để kiếm những đồng tiền nhơ

nhớp.

Sự băng hoại đạo đức đã phá vỡ từng tình yêu, từng mái ấm gia đình và len lỏi vào cả trong môi

trường giáo dục, hủy hoại nhân cách nhà giáo. Trần Hữu Lục đã chỉ rõ rằng ở những mái trường đô

thị có quá nhiều “những buổi nói chuyện nhạt nhẽo, úp mở nhằm gợi dục tình của lứa tuổi mới lớn,

những buổi trình diễn văn nghệ tạp lục với màn vũ hương xa có lắc người, có nhún nhẩy và áo quần

sặc sỡ, những bài hát rẻ tiền , làm dáng, những vở kịch thiếu hiện thực và sự thật…”

[56; tr.101]. Trong Chưa từng thấy, Trần Quang Long đã sắc sảo phơi bày một hiện tượng chua xót,

bi hài, đúng là “chưa từng thấy” trong đạo lý truyền thống của dân tộc. Đứng trước học trò, ông

Hiệu Trưởng thì lo âu vì ở cái thành phố bé nhỏ ấy “Ai đánh bạc, đánh ở đâu, to hay nhỏ…Ai đi

chùn gái. Ai đi cua sến. Ai lấy vợ người ta. Ai ăn hối lộ…Ai…tất cả đều khó qua mắt được người

chung quanh”. Còn Hòa – anh giáo viên – thì “càng sợ hãi hơn ai hết. Nửa tháng trước, anh vào

một ổ điếm bị cảnh sát bắt giữ một đêm”. Ông Tổng Giám thị thì chung vốn với người ta “mở một

cái “ba” mỗi tháng lời trên hai trăm ngàn đồng, ấy là chưa kể một cái phòng ngủ với những người

con gái “sexy” và những ngoại kiều ăn tiêu rất sộp”. Nhiều giáo viên trong trường cũng “đều đóng

góp ít nhiều vào trong công việc làm ăn nhờ chiến tranh này” . Đúng như lời Sanh – một người học

trò – đạo đức ở cái trường học này “chỉ là một thứ bịp bợm của người không đạo đức, một thứ trò

chơi, đánh lừa nhau cho qua ngày, hay ít ra, cũng là một thứ xa xỉ không cần thiết” (tr.5). Rất gần

với Mường Mán, Thái Ngọc San lại chủ ý đi sâu vào tâm tư của những con người cá nhân để khám

phá cái mạch ngầm ẩn kín và sâu thẳm ấy. Trong truyện ngắn Căn nhà, tác giả đã tinh tế khắc họa

nên những con người cô đơn, lạc loài và nặng trĩu những bế tắc, những mặc cảm hoặc lạnh lùng, vô

cảm. Đồng tiền, chiến tranh, sự chật vật, lầm than của đời sống đô thị, sự lan tràn của văn hóa

phương Tây và cả những ti tiện, nhỏ nhen của kiếp người đã xóa nhòa tình thân ái giữa những con

người. Sống chung trong một căn nhà, nhưng Tuân, ông Lâm, bà Hạnh lại tự dựng lên giữa mình và

người xung quanh quá nhiều bức vách. Họ không thể hiểu nhau và thậm chí nhiều khi cũng không

có nhu cầu hiểu nhau, san sẻ và cảm thông. Họ khát khao hạnh phúc nhưng lại lạc lối trong sự tìm

kiếm hạnh phúc đích thực.

Đứng trước bao thực trạng đau xót đó, các nhà văn xứ Huế đã cùng góp tiếng nói trong phong

trào “về nguồn”. Họ “tìm về dân tộc” để khẳng định lại một lần nữa các giá trị văn hóa truyền

thống, để kêu gọi bảo tồn và phát huy những giá trị ấy trong thời hiện tại.

2.4.2. Sự đề cao và tiếp nối các giá trị văn hóa truyền thống

“Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, lấy “văn hóa” làm “võ khí’ diễn ra sôi động, có ảnh

hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần xã hội. Nó không phải tư tưởng tự tôn hay thái độ bảo thủ mù

quáng. Trong bối cảnh xã hội miền Nam 1954 – 1975, phong trào đấu tranh ấy là cuộc tổng động

viên, huy động mọi sức mạnh tinh thần của dân tộc để đối kháng lại áp lực xâm lược của văn hóa

Tây” phương

[172; tr.59].

Trong cuộc tổng động viên đó đã xuất hiện một lớp nhà văn mà sáng tác của họ in đậm một

nguồn cảm hứng - cảm hứng văn hóa - như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng, Vũ Hạnh,

Nguyễn Văn Xuân, Vũ Bằng… Những tác giả này tìm về “một thời vang bóng” của đất nước hay

trong hoài niệm của thế hệ sau để tái hiện lại những con người mang trong mình đặc trưng của cả

một vùng đất, hiện thân cho truyền thống oai hùng của cha ông, và là nơi gìn giữ lưu lại các giá trị

văn hóa cao nhã, tinh tế của dân tộc. Bận rộn với một thời hiện tại sục sôi bão táp, các tác giả trẻ

giai đoạn 1964 – 1975 , trong đó có các cây bút xứ Huế, thường hay có những trang viết tươi rói,

nóng hổi hơi thở của thời cuộc hơn là tìm về quá vãng. Song, trước thực trạng xuống cấp đáng báo

động hơn bao giờ hết của văn hóa dân tộc, họ càng thấy sự cần kíp, cấp thiết của hành trình “về

nguồn”, tìm lại khuôn mặt đích thực của quê hương và con người Việt Nam trong nền tảng văn hóa

truyền thống. Tất nhiên, không dừng lại ở đó, tìm về nguồn cội cũng chính là một cách để họ khai

thác sức mạnh nội sinh của dân tộc để phục vụ cho hành động tranh đấu thực tiễn.

Tìm về cội nguồn, họ đã tái hiện thật xúc động một quê hương với bao nét thân thương, bình dị.

Nếu những Bảy Chất, lão Tốn của Võ Trường Chinh luôn hướng về miệt vườn Nam Bộ thì các nhân

vật của Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên…ngày đêm nhớ về một xứ Huế gắn bó với tuổi thơ và một

phần tuổi trẻ của họ. Quê hương thực sự trở thành một nỗi nhớ, một sự ám ảnh không rời với những

người xa xứ để dù đi đến phương trời nào, họ cũng phải tìm về (Mặt đất quê ngoại – Trần Duy

Phiên). Đặc biệt, rất dễ nhận thấy một niềm nhớ Huế đằm sâu trong các tác phẩm của Trần Hữu

Lục. Quê hương là những gì thật cụ thể, gần gũi như giàn bầu, vườn cau trĩu quả, như hương của

đất, mùi nồng nàn của bùn. Ba Thoàn trong Tình đất của Trần Hữu Lục ở nơi tạm cư mà vẫn “không

ngừng ray rứt, nhớ tiếc đồng cỏ thênh thang, con sông nhỏ hiền hòa, vài vùng mẹp láng bóng màu

đất bùn, tiếng chim rộn rã trên mái rạ…” (tr.12). Dựng lại hình ảnh một quê hương trong nỗi nhớ

thương, các tác giả đã thể hiện được “hồn vía” không dễ gì thấy và nói được của quê hương ấy. Họ

tự hào về một dân tộc biết yêu cái đẹp và giàu nghĩa nặng tình. Đó là cái sức sống mãnh liệt như

những ngọn đèn “chong mắt đêm thâu” của làng quê ngày kháng chiến, cái sức sống kêu gọi người

trở về và chung tay góp sức.

Với những người tuổi trẻ ấy, quê hương luôn gắn liền với một hình ảnh thân thương khác: gia

đình. Gia đình không chỉ là mái ấm chan chứa tình yêu thương mà còn là nơi lưu giữ những truyền

thống đạo nghĩa tốt đẹp, những phong tục tập quán của dân tộc và cả hơi thở, linh hồn của bao thế

hệ. Ở sáng tác của họ ánh lên niềm khát khao được trở về cội nguồn thân thương để nương tựa của

những con người trên bước đường đời trôi nổi, trong sự đối mặt từng giờ với bao cám dỗ và cả cái

chết (Ngón tay chết, Về miền xuôi). Nhưng chỉ có điều, giấc mơ về quê hương, gia đình không chỉ

dừng lại ở một giấc mơ đẹp về “thế giới của một quá khứ đã lùi xa, khép lại” [62;tr.37,38], mà

chính gia đình, quê hương ấy đã thôi thúc thêm những hành động phản kháng số phận, thôi thúc

thêm sự trở về (Nắng mới trên biền đất bồi). Làng quê Vân Dương của Trần Hữu Lục với “những di

sản tốt đẹp, những truyền thống vốn làm quê ta hãnh diện” trong nỗi thao thức của người ở thành

thị vẫn không ngừng tiếp sức mạnh cho người con đi xa (Thư từ thành thị, Thư gửi em gái Vân

Dương , Vẫn còn là mơ ước).

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này đã chú ý khắc họa hình ảnh con người luôn có ý thức

rất rõ về danh dự và bổn phận. Ta không chỉ gặp những người thầy, người cha đầy ắp ân tình mà

còn là những người như Huyên, người con gái làm tất cả vì cha nhưng cuối cùng cũng vì danh dự bị

bôi nhọ mà tìm đến cái chết (Thằng cháu ngoại – Trần Hồng Quang). Đó là Hạ (Đá trăm năm), là

Hội (Người tình lạ mặt) và nhiều nữa. Họ có thể bị “sa lầy” nhưng rốt cục ý thức “về nguồn” vẫn

luôn thôi thúc họ xa rời người Mỹ, lối sống và tiền bạc của họ, để “được tha thứ trong mầu mắt

ngây thơ của lũ học trò, trong tia nhìn bao dung của người lối xóm.” (Về nguồn, tr.42). Các tác giả

cũng không giấu diếm sự ngưỡng mộ, khâm phục đối với những người đi trước đã xả thân vì nghĩa,

vì độc lập dân tộc. Bên cạnh người mẹ tảo tần, chung thủy như bà lão trong cảnh khói lửa loạn ly

vẫn vấn vương nỗi niềm nhớ thương người con đi kháng chiến và ước vọng khôi phục nghề hát bội

khi đất nước thanh bình trong Nắng mới trên biền đất bồi là hình ảnh người cha tự nguyện gác lại

hạnh phúc riêng tư để đi theo nghĩa lớn. Với Đạt, người cha anh chưa biết mặt là một “người cha

anh hùng”. “Anh hãnh diện vô cùng vì đã làm con một người biết hy sinh hạnh phúc gia đình, cá

nhân để bảo tồn giống nòi” (Về thăm người yêu; tr.4). Trong Chọn một con đường, Trường Sơn Ca

đã vẽ lên bức chân dung thật đẹp và sống động về người cựu kháng chiến mang trong mình còn

nguyên vẹn “cái hào khí của thế hệ kháng chiến mình năm xưa”. Và đặc biệt ấn tượng là đoạn đọc

thơ của ông khiến “anh sinh viên mê man uống từng lời nói”: “Người cựu kháng chiến mắt sáng

ngời. Giọng đọc thơ nhanh dần, dồn dập rồi cuồn cuộn theo từng ý thơ hùng tráng. Lời của ông ta

bây giờ là của một chiến sĩ hăm hở, náo nức trước giờ xung trận. Như thể ông ta đang mong đợi

từng giây từng phút để chồm lên băm vằm, xé xác, moi gan quân thù cướp nước” [23; tr.274 – 278).

Ông chính là hiện thân của tinh thần dân tộc, của ngọn lửa truyền thống. Ngọn lửa ấy đã soi rọi cho

người sinh viên, người nông dân, người lính gác thấy rõ con đường mình phải chọn lựa để đi tới:

con đường đấu tranh. Quả thật, chỉ khi nối liền với sức mạnh văn hóa tiềm tàng của dân tộc, những

người tuổi trẻ mới không thấy mình chỉ là những “vì sao côi cút” (tên một truyện ngắn của Trần

Hoài Thư), những đứa con thất cước của giống nòi. Thay vì ngồi mãi trong bóng đêm để nguyền rủa

cuộc đời, họ sẽ có đủ can đảm và nghị lực để thắp lên ngọn đuốc của chính thế hệ mình. Bởi

“Chúng ta đã có một dòng sông một thời tắm gội, một truyền thống chống giặc chưa hề mệt mỏi,

nhất định chúng ta phải có một ngày trở về…” (Thư từ thành thị, tr.68).

Có thể nói, truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 là bức chân dung chân thực và hết

sức xúc động về một thế hệ trẻ trong cơn bão táp của lịch sử. Tiếp nối hai mạch nguồn của văn học

dân tộc là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo, bằng chất lửa của tuổi trẻ, các nhà văn đã cất

lên tiếng nói đầy tinh thần trách nhiệm của người công dân đối với đất nước, tiếng nói của một con

người chân chính về số phận của đồng loại. Về cơ bản, đó cũng là tiếng nói ý thức về sứ mệnh lịch

sử và quyết tâm tranh đấu vì sứ mệnh ấy. Họ cũng hiểu hơn ai hết giá trị của văn hóa truyền thống

và ý nghĩa của hành động “tìm về dân tộc” trong thời ly loạn. Sức mạnh truyền thống với sức mạnh

thời đại đã tạo nền tảng vững chắc để ngọn lửa trong tim họ bùng cháy, mắt họ nhìn thẳng và chân

họ xốc tới.

Nhìn một cách bao quát, những đóng góp về phương diện nội dung của bộ phận truyện ngắn được

nghiên cứu là rất đáng trân trọng bởi sự tiến bộ, nhân văn của nó. Tất nhiên, trong sự chế định của

hoàn cảnh ngặt nghèo khi lưỡi kéo kiểm duyệt và có thể cả nhà tù đang chực chờ phía trước, nên

đọc nhiều tác phẩm của họ, người đọc vẫn phải “đi giữa hai hàng chữ”. Cũng trong cảnh tranh tối

tranh sáng mà thật – giả, đúng – sai khó lòng phân biệt rõ ràng ấy, nhất là khi chưa có đường hướng

đúng đắn, thì những hạn chế ở một vài khía cạnh trong nội dung tư tưởng của họ là điều không tránh

khỏi. Nhưng vẫn phải khách quan mà thừa nhận rằng: bên cạnh dòng văn học cách mạng rực rỡ ,

hào hùng ánh sáng của lý tưởng nhưng còn thiên về tính chất một chiều trong cách nhìn nhận và

phản ánh đời sống, thì rõ ràng, ở chừng mực nhất định, truyện ngắn yêu nước ở Huế đã cho ta thấy

một cuộc sống phong phú và khá toàn diện với tất cả những sắc màu, âm thanh của nó. Đó cũng là

đặc điểm chung của văn học tiến bộ yêu nước thành thị miền Nam.

CHƯƠNG 3

NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ

CỦA TRUYỆN NGẮN YÊU NƯỚC Ở HUẾ

GIAI ĐOẠN 1964 – 1975

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 là thành tựu nghệ thuật đặc sắc của dòng văn

học yêu nước tiến bộ đô thị miền Nam trước 1975. Có thể nói rằng các nhà văn ở đây đã thể hiện

một trình độ viết truyện già dặn và khá đều tay Sáng tác của họ “tuy hòa chung vào phong trào đấu

tranh đô thị miền Nam, nhưng đã sớm bộc lộ sắc thái, nét riêng rất dễ nhận biết của mỗi người”

[60]. Có thể mượn lời khẳng định của Huỳnh Như Phương về truyện ngắn của nhóm Việt: “đây đích

thực là văn xuôi nghệ thuật. Bởi trong văn học, vấn đề không chỉ là lên tiếng, mà còn là lên tiếng

một cách nghệ thuật” [117;tr.75]. Điều này càng đáng trân trọng hơn khi ta biết những người cầm

bút ấy đã viết lên các tác phẩm của mình trong bối cảnh ngặt nghèo như thế nào.

Đánh giá những thành tựu về nghệ thuật của bộ phận truyện ngắn này, luận văn chú trọng đi sâu

vào những nét nổi bật, đặc sắc làm nên bản sắc riêng của nó. Tất nhiên nói “riêng” ở đây cũng là

tương đối bởi dù thế nào chăng nữa, nó vẫn là một bộ phận không thể tách biệt của dòng văn học

yêu nước đô thị miền Nam ra đời trong một hoàn cảnh hết sức cụ thể và đặc biệt của lịch sử dân tộc.

3.1. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG

Nếu tiểu thuyết thường mở ra những chân trời vô cùng rộng lớn của thế giới thì truyện ngắn vẫn

được xem là lát cắt của đời sống. Với sự giới hạn về dung lượng của thể loại, người viết truyện ngắn

buộc phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn những khoảnh khắc, những tình thế sao cho

trong những khoảnh khắc, tình thế ấy, cuộc sống vốn phồn tạp và muôn màu muôn vẻ lóe lên được

thứ ánh sáng kì diệu soi rọi phần ẩn kín của cuộc đời và đặc biệt là của tâm hồn con người. Nguyễn

Thành Long viết: “ Nhà văn phải vận dụng những suy nghĩ của mình , sự lịch lãm của mình, vốn

sống của mình, tự mình tạo ra những mô – măng, trong mỗi mô – măng đó cho châu tuần lại những

con người vốn xa cách nhau, cho họ tham gia vào chủ đề anh hằng suy nghĩ, từ sự tham gia đó và

những quan hệ giữa họ với nhau sẽ xảy ra tính cách của họ. Đó là cách đặt con người vào những

tình huống” (Dẫn theo Bùi Việt Thắng) [141;tr.350]. Như vậy có thể nói, xây dựng tình huống là

một nghệ thuật then chốt của truyện ngắn. Ví von như Nguyên Ngọc, cuộc đời như một cơ thể có

nhiều điểm huyệt, xây dựng tình huống thành công sẽ giúp nhà văn điểm trúng huyệt của nó, và từ

đó “có thể làm rung động tất cả” (tr.114).

Đọc truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975, ta có thể thấy rõ hai loại tình huống nổi

bật: tình huống tâm lý và tình huống xung đột giàu kịch tính.

3.1.1 Tình huống tâm lý

Loại tình huống này là linh hồn của các truyện ngắn – trữ tình hóa. Với cốt truyện đảm nhiệm

chức năng phơi bày trạng thái tâm tưởng, loại truyện ngắn này coi trọng việc xây dựng những tình

huống có khả năng soi rọi thế giới bí ẩn và linh diệu của tâm hồn con người. Không chỉ đóng vai trò

“khơi nguồn”, “châm ngòi” cho sự bùng phát những khía cạnh tâm lý, tình huống ở đây còn giúp “lý

giải nguyên cớ, nguồn cơn của những tâm trạng, những biến thái của tinh thần nhân vật”

[16;tr.155].

Truyện ngắn – trữ tình hóa chiếm số lượng lớn trong bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu (63

truyện, chiếm tỉ lệ tới 82,9% tổng số tác phẩm). Chất thơ thực sự trở thành phong cách nổi bật của

không ít ngòi bút của xứ Huế mà nổi bật nhất ở đây có lẽ là Trần Hữu Lục .Chất thơ lãng mạn và

bay bổng ấy là sự thể hiện rất đẹp của những ước mơ và khát vọng tuổi trẻ, bất chấp sự bạo tàn của

chiến tranh và cái chết. Chất thơ ấy có lẽ cũng được bắt nguồn từ một bầu không khí đậm chất trữ

tình của xứ Huế kinh kỳ - nơi nuôi dưỡng tâm hồn của các nhà văn. Tình huống tâm lý trong các

truyện rất đa dạng, song ở chừng mực nhất định ta có thể khái quát lại thành ba loại tình huống sau:

tình huống trở về, tình huống lựa chọn và tình huống khơi mở tâm lý.

Tình huống trở về xuất hiện trong 10 tác phẩm (chiếm tỉ lệ 15,87% tổng số truyện có tình huống

tâm lý) trong đó phải kể đến đóng góp của hai tác giả: Trần Hữu Lục và Huỳnh Ngọc Sơn. Ở các

truyện ngắn này, trở về như một nhu cầu, một sự thôi thúc mãnh liệt trong nội tâm nhân vật. Trở về

để tìm lại quá khứ còn xanh mãi của tuổi thơ, gắn liền với mái ấm gia đình và quê hương yêu dấu.

Ký ức về “người cha một đời còng lưng trên ruộng cày. Cái bội lúa cao tới đầu người, đứa em trai

lêu ngêu trên đồng đợi giờ đánh trâu về chuồng cho ăn cỏ. Những bữa tát nước khuya dưới trăng

cho kịp sáng mai cấy lúa” (tr.16) đã thôi thúc người thanh niên trong Căn nhà trong năm tới tìm về

mái nhà xưa. Đáng lưu ý là có tới 8 truyện ngắn có tình huống này gắn liền với chủ đề người lính,

người thương binh. Khát khao muốn thoát khỏi thực tại nghiệt ngã, những Lựu, Đất, Bằng… trở về

như tìm chốn tựa nương, nguồn che chở cho số phận bất hạnh của chính mình. Thiết tha, trầm lắng,

truyện ngắn yêu nước ở Huế như lời khẳng định về truyền thống văn hóa muôn đời của người Việt.

Nhưng điều nghiệt ngã ở đây là sự trở về mang lại cho những đứa con bị tách lìa khỏi mái nhà ấy

niềm đau đớn, day dứt hơn là cảm giác bình yên, ấm áp. Tất cả những bước chân tìm lại quá khứ

tươi đẹp đã rơi hẫng vào tiếc nuối, xót xa. Bể xanh đã biến thành nương dâu, không chỉ thời gian mà

đạn bom, chủ yếu là đạn bom đã hủy hoại tất cả. Đột ngột và đầy tàn nhẫn, những mất mát gieo vào

lòng người đọc những nỗi niềm không nói hết thành lời. Ngày xưa cũ mãi mãi trở thành lớp trầm

tích lặn xuống đáy của hồi ức, nhớ thương. Trong ánh mắt đau đáu của người lính trở về - những

Thiều, những Lựu, cây cầu, dòng sông xưa đã trở thành chứng tích cho phân ly và hận thù, cái xác

cong queo của cha Từ và cánh tay bị bom quật nát của ngôi tượng Chúa như một vết đau nhức nhối.

Đối lập “một thời xưa cũ” trong trí tưởng nhân vật và “cảnh điêu tàn của quê cũ” trong thực tại, các

tác giả đã phơi bày thật bi thống sự đổ vỡ của quê hương, đất nước mình. Người đàn ông từng có vợ

làm “nghề mở cô – ca” cho Mỹ đã mất hết cùng với bước chân xâm lược của quân viễn chinh. Câu

hỏi được lặp đi lặp lại của anh “Bao giờ họ về hết?” vang lên thật khắc khoải và cũng không dễ trả

lời.

Nhận chân tình cảnh của đất nước quê hương và đồng loại, người trở về cũng phản tỉnh sâu sắc

hơn về thân phận của chính mình. Khá trùng hợp với Trần Hoài Thư – nhà văn phản chiến có đến

gần 30% tác phẩm có tình huống trở về, các cây bút yêu nước xứ Huế cũng đã sử dụng thật “đắc

địa” tình huống này trong việc khắc họa những thân phận bất hạnh, mà nổi bật nhất là người lính.

Nếu Đất “ngậm ngùi với 6 năm làm lính” và nhận ra rằng “hóa ra bấy lâu nay ta đã bắn nát tương

lai của mình mà không biết” (tr.118) thì với Vượt, chính lần trở lại này đã cho anh thấy rõ hơn

“công ơn” của chính phủ và nước bạn Đồng Minh khi vợ anh đã trúng bom mà chết, nhà anh đã

cháy thành tro bụi, bản thân anh cũng tiếp tục bị xua ra chiến trường dù với một “ngón tay chết”.

Tuy nhiên, không dừng lại ở âm hưởng ai oán, bi thương, nhiều truyện ngắn đã xây dựng những

hình tượng người trở về có ý nghĩa tích cực: từ sự phẫn uất dữ dội của một người lính (Trong chiến

tranh này) , một người thương binh (Về miền xuôi), đến Xóm hói đã ánh lên niềm tin, niềm hy vọng

về ngày mai và cả sự quyết tâm thay đổi hoàn cảnh cho một “ngày về” (tên một truyện ngắn của Thế

Vũ) thực sự.

Truyện ngắn yêu nước ở Huế những năm cuối của cuộc chiến tranh đã phản ánh chân thực những

sự lựa chọn, tìm đường, và cả quyết tâm tranh đấu của một thế hệ trẻ trong giai đoạn bão táp của

lịch sử. Đặt nhân vật trong tình huống lựa chọn (14 truyện, chiếm tỉ lệ 22,2% tổng số tình huống

truyện ngắn – trữ tình hóa), các nhà văn đã khắc họa sinh động những xung đột nội tâm vừa dai

dẳng, âm thầm vừa dữ dội, căng thẳng, qua đó lột tả được tính cách nhân vật và thể hiện rõ chủ đề

tư tưởng của tác phẩm. Bởi mỗi lựa chọn bao giờ cũng thể hiện rõ một cách cắt nghĩa, lý giải đời

sống, một thái độ sống, cách thế sống.

Trước hết, đó là sự lựa chọn một cách lý giải, cắt nghĩa thực tại đúng đắn nhất trong hoàn cảnh

đương thời. Phúc (Con đường) đã rất đúng khi cho rằng hiện tình bi thảm của đất nước là do “người

ta”, những người “đã khai thác cái phần đê hạ nhất của bản năng tự tồn của con người” (tr.58), là

những kẻ xâm lăng và “bọn tay sai con cháu Lê Chiêu Thống” (tr.59) chứ tuyệt đối đó không phải là

“ý của Thượng đế, là chương trình của Thượng đế” (tr.57). Đa số truyện đều xoáy sâu vào chủ đề

tìm đường và chọn đường của lớp người trẻ, sự tự ý thức về sứ mệnh lịch sử của cả một thế hệ trong

những năm tháng ngặt nghèo nhất của đất nước, dân tộc. Đó có thể là những người thầy trẻ từ chối

việc tự lừa dối bản thân và lừa dối học sinh bằng những kiến thức sáo rỗng, xa rời thực tiễn máu lửa

trước mắt (Tuổi đồng quê, Những đứa học trò vắng mặt). Đó là những người trẻ không những từ

chối tiếp tay cho bạo lực phi nhân, đầu hàng cái ác, sống một cuộc sống ích kỷ, đớn hèn mà còn

quyết tâm đi đến tận cùng của sự phản kháng, tranh đấu vì ngày mai (Da vàng da đen, Chọn một

con đường). Nếu với Hộp thịt Mỹ , Huỳnh Ngọc Sơn phơi bày thực tại chua xót của người dân cùng

khốn bị tha hóa vì đói nghèo thì ở Sa lầy, Về nguồn, Trần Hữu Lục thể hiện niềm tin vào sức sống

mãnh liệt của lương tri và khả năng phục thiện, trở về với cội nguồn của những con người đã từng

lầm lỡ.

Sự cọ xát, đối thoại và tự đối thoại của nhiều luồng tư tưởng trái nghịch giữa những con người và

trong từng con người sẽ làm nổi rõ sự thật, nổi rõ chân lý. Do đó, các tác giả đã xây dựng lên những

cặp nhân vật có suy nghĩ và cách thế sống trái ngược nhau trong đó không ít trường hợp mà nhân

vật này thực chất có thể nói là mảnh phân thân của nhân vật kia, chẳng hạn như Thái và Tánh trong

Những điều chưa nói. Trong Chọn một con đường , phản ứng cùng quẫn, bế tắc của người lính trước

đó như là một tiền đề đối chiếu, so sánh nhằm làm nổi bật sự đúng đắn, tất yếu của hành động chọn

đường quyết liệt ở cuối truyện. Ở các sáng tác của Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên, Trần Hồng

Quang như Sa lầy, Lời kinh cầu, Trận tuyến âm thầm…, thủ pháp tự phân thân cùng với hình thức

ngôn ngữ độc thoại và độc thoại nội tâm dưới dạng đối thoại chiếm ưu thế. Trong những truyện

ngắn có tình huống lựa chọn, sức hấp dẫn nằm ở không khí căng thẳng, oi bức, dồn nén của những

cuộc đấu tranh và tự đấu tranh không khoan nhượng trong tâm tưởng nhân vật – những người tuổi

trẻ chân chính.

Tình huống khơi mở tâm lý là “tình huống mang tính chất đặc trưng nhất của văn xuôi trữ tình”

[61;tr.161] và loại tình huống này cũng chiếm số lượng lớn nhất trong bộ phận truyện ngắn được

nghiên cứu (39 truyện, chiếm tới 61,9% tổng số truyện ngắn có tình huống tâm lý). Ở những sáng

tác này, các nhà văn “tạo ra một duyên cớ, một bối cảnh, một không khí thích hợp vây quanh nhân

vật để nhằm len lách ngòi bút vào phân giải, khơi mở cảm xúc, tâm trạng của nhân vật” (tr.161).

Xây dựng những thời khắc, sự kiện dù vu vơ, mơ hồ hay đặc biệt, lớn lao, nhà văn đã có được

nguyên cớ để khơi mở những ngóc ngách sâu kín của tâm tư nhân vật.

Trong rất nhiều tác phẩm của Ngụy Ngữ, Mường Mán,Trần Hoài Thư, thiên nhiên trở thành kẻ

“châm ngòi” cho những rung động mênh mang, da diết (Rừng trầm mai sau, Với trăng hạ tuần lên,

Khi mùa hoa cà phê nở…). Với truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này, không chỉ không gian

thiên nhiên mà còn là thời gian đã khơi gợi dòng chảy tâm lý miên man của nhân vật và góp phần

tạo nên những áng thơ thực sự. Với Bóng tối sau lưng, không gian hiu hắt mù sương của Huế và

những buổi chiều mờ xám, chậm chạp đã hòa cùng nỗi buồn lê thê, trải dải và nặng trĩu của Nguyễn.

Tâm trạng đã tìm đến thời gian thích hợp với nó, mượn thời gian để thổ lộ, sẻ chia hay thời gian đã

khơi sâu thêm, rộng thêm những miền tâm lý? Thời gian đã đánh động nỗi buồn thân phận, đặc biệt

làm sống lại những ký ức buồn, gợi lên những nỗi niềm sâu xa nhất. Hai đứa trẻ trong Buổi tối

ngoài ngõ cứ đến buổi tối lại bị xua ra đường cho đến khuya để mẹ “tiếp khách”. Có lẽ không gì nói

lên được sự côi cút, đáng thương của chúng, không gì làm con Tý rơi nước mắt bằng cái ngõ đã

vắng người sâu hun hút, hạt mưa rơi lạnh lẽo trong bóng tối ngút ngàn. Tất nhiên, bên cạnh đó, thời

gian cũng khơi gợi niềm hy vọng về một tương lai ấm áp hơn. Mùa mưa về, cái biền đất sông sau

nhà được bồi đắp đã làm người vợ trẻ có chồng đi lính biền biệt không thôi khắc khoải về cái ngày

vợ chồng đoàn tụ, cùng trồng lên những ngọn rau muống xanh mát (Nắng mới trên biền

đất bồi).

Nhiều truyện ngắn chú trọng tái hiện số phận cay đắng của nhân vật qua những hoàn cảnh bức

bách, cùng khốn: bị thẩm vấn, tù đày; bị dồn vào thế mưu sinh khó khăn hay bị lừa dối,chà đạp…

Sức mạnh tố cáo ở đây nằm trong không khí thắt ngặt, dồn nén đến oi bức mà nhân vật đang chịu

đựng, nếm trải. Trích nhật ký trong trại giam có thể coi là bức tranh tâm trạng chân thực, sắc nét

của con người trong tình cảnh bị đọa đày nơi chốn “địa ngục trần gian”. Thư học trò lại là những

mảnh tâm sự của người học trò ôm lắm nỗi niềm về thân phận, thời cuộc trong cảnh nhà khốn khó.

Xây dựng tình huống Huyên chửa hoang, Trần Hồng Quang trong Thằng cháu ngoại đã khắc họa

được nỗi đau đớn, tủi nhục, sự căm phẫn tột độ của Huyên khi bị người ta lợi dụng tấm lòng hiếu

thảo để mà chà đạp lên danh dự, nhân phẩm bản thân. Cũng không phải ngẫu nhiên khi những sự

kiện khác thường, bi thảm như cái chết, chiến tranh, ly tán được sử dụng như những tình huống

nhằm khơi gợi tâm lý nhân vật. Những sự đổ nát và cái chết tức tưởi ở Thằng con trai khu vườn

chiếc quan tài hay Hát rong trên đồng gợi lên rất nhiều bi phẫn cùng với sự điên loạn vì đau khổ

của các nhân vật. Trần Hữu Lục cũng rất thành công trong việc tái hiện tâm tư nhân vật trong cảnh

ly hương, ly tán. Nếu Bên ni, bên nớ hay Tình đất ai oán, nức nở nỗi niềm của những người nông

dân bị bóc tách khỏi nhà cửa, ruộng đồng thì Thư gửi em gái Vân Dương và một số truyện khác lại

mênh mang, dâng trào nỗi nhớ thiết tha của người con phải lìa xa xứ sở.

Tuy nhiên, so với những sự kiện lớn lao, khác thường ấy thì trong nhiều sáng tác, các sự kiện

tưởng như vụn vặt, nhỏ nhoi cũng tỏ ra có sức nặng không kém trong việc khơi mở tâm lý nhân vật.

Một tiếng trống hát bội đủ làm dấy lên trong lòng người mẹ già niềm hy vọng về hòa bình. Hòa bình

đến, mẹ sẽ được trở lại quê cũ để khôi phục nghề truyền thống và người con đang chống Tây ở chốn

bưng biền sẽ trở về (Giấc mơ êm đềm). Có thể nói nổi bật hơn cả là những khoảnh khắc của sự gặp

gỡ mà đôi khi đầy ngẫu nhiên, tình cờ qua đó vương vấn một sự cảm khái sâu xa về cuộc đời, số

phận như Trần Duy Phiên với Trốn, Nước mắt thầy, Chim tha lửa . Nếu Trốn uất nghẹn niềm xót xa

về những kẻ lưu đày trên chính quê hương mình; Nước mắt thầy rưng rưng tình yêu thương và cả sự

đau đớn, căm phẫn thì Chim tha lửa lại có sự nồng nàn, say đắm của lý tưởng. Trong Bông cúc

vàng, Trần Quang Long đã tạo nên tình huống gặp gỡ tình cờ và đầy cảm động của Phan với người

con gái thêu khăn tay không hề quen biết trong tù. Sự gặp gỡ không lời ấy và đặc biệt là những đóa

hoa tươi thắm kia gợi lên thật nhiều rung cảm sáng trong, tin tưởng trong Phan về tình liên đới chân

thành, thiết tha giữa những người cùng cảnh ngộ, chiếu rọi trong lòng Phan ánh sáng của “một vẻ

đẹp huy hoàng vẫn mãi mãi bất diệt”.

Như vậy, cùng tạo dựng lên những tình huống tâm lý, nhưng các tác giả trẻ ở Huế đã tìm ra

những con đường thật đa dạng, phong phú nhằm đi sâu vào thế giới tâm tư sâu kín, phức tạp của

nhân vật. Đánh thức, khơi dậy những rung động tinh tế, những xáo động đầy dữ dội và bão táp,

những khắc khoải đớn đau, những tin tưởng hoài vọng và thể hiện chúng trên các trang văn, nhiều

truyện ngắn đã thực sự trở thành những trang thơ giàu xúc cảm, lay động sâu xa tâm hồn người đọc.

3.1.2 Tình huống xung đột giàu kịch tính

Thực ra, hiện thực xã hội miền Nam đương thời có thể nói đã giàu chất kịch với nhiều biến cố bất

ngờ bởi chiến tranh và bom đạn, với sự mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị,

giữa nhà cầm quyền và những người phản kháng. Phơi bày trạng thái nhân thế, thực trạng xã hội

trên cơ sở tái hiện các mâu thuẫn, xung đột trên bề mặt đời sống bằng một hệ thống sự kiện là chức

năng của loại hình truyện ngắn – kịch hóa. Để hoàn thành nhiệm vụ nghệ thuật đó, nhà văn chú

trọng xây dựng những xung đột “dựa trên sự đối lập về giai cấp, địa vị xã hội, đối lập giữa nội

dung và hình thức, giữa hành động và mục đích với phương tiện, giữa bản chất và biểu hiện…trong

các sự vật hiện tượng của đời sống và trong mọi tầng lớp người” [16;tr.64]. Ở đây, tình huống

xung đột giàu kịch tính trở thành cốt lõi để thể hiện đời sống nhân thế, khái quát tính cách và tạo

nên tính bi – hài cho tác phẩm. Trong bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu, hai tác giả tỏ ra có sở

trường nhất về loại hình truyện ngắn trên là Trần Duy Phiên và Huỳnh Ngọc Sơn. Dù so với tình

huống tâm lý, loại tình huống này chiếm số lượng ít hơn nhiều (13 truyện, chiếm 17,1% tổng số

truyện ngắn được nghiên cứu) song vẫn không kém phần đặc sắc.

Căn cứ vào tiêu chí loại hình, ta có thể phân chia tình huống xung đột giàu kịch tính trong truyện

ngắn yêu nước ở Huế thành hai loại: tình huống đối kháng giai cấp – ý thức hệ (8 truyện, chiếm

61,54% tổng số tình huống giàu kịch tính) và tình huống mâu thuẫn giữa sự sống chân chính với các

thế lực phản sự sống (5 truyện, chiếm tỉ lệ 38,46%).

Đối kháng giai cấp – ý thức hệ là hai đối kháng trung tâm của hiện thực xã hội miền Nam thời

chiến. Điều đáng chú ý là ở nhiều truyện, đối kháng nổi lên trên bề mặt là đối kháng giai cấp (giữa

thống trị và giai cấp bị trị) nhưng nền tảng sâu xa lại là đối kháng ý thức hệ. Và cũng không phải

ngẫu nhiên khi có 4/5 truyện ngắn đề cập tới chế độ lao tù – nơi mà những người “không có tội cũng

trở thành có tội” (Tự do hay là chết). Điều này thể hiện bầu không khí chính trị vô cùng căng thẳng

thời bấy giờ. Hiện thực đầy máu lửa đã được bộc lộ sắc nét qua những mâu thuẫn đối kháng bị dồn

nén đến mức độ một mất một còn giữa hai tuyến nhân vật đối lập nhau: một bên là người dân hiền

lành, lương thiện (người phụ nữ chân yếu tay mềm trong Trước khi mặt trời mọc, bác nông dân T.

trong Tự do hay là chết, ông cháu Nhồng trong Đứa con của loài bò sát…) và một bên là lũ “quỷ

dữ”, “thú vật” mất hết cả nhân tính, thậm chí coi việc đày đọa con người như một trò tiêu khiển.

Các tác giả trẻ, đặc biệt là Trần Duy Phiên và Tiêu Dao Bảo Cự đã xây dựng nên một loạt những sự

kiện hành động dồn dập, căng thẳng, giàu kịch tính, trong đó ám ảnh nhất chính là những lần tra tấn

vô cùng dã man của con người đối với con người. Sự thật được nói lên bằng máu ấy đã tạo nên sức

tố cáo chân thật và mãnh liệt đối với chế độ phi nhân, đúng như lời phẫn nộ và đau đớn của bác T.:

“Bác thấy chúng không phải là người nữa mà là ba con quỷ hiện hình. Thứ quỷ dữ chín tầng địa

ngục trồi lên để hành hạ con người. Bác không thể hiểu được tại sao lại có thể có được hạng người

tàn ác đến thế. Bác vừa sợ hãi vừa thấy căm hờn bốc lên ngút mắt” [25;tr.93].

Tình huống xung đột giai cấp – ý thức hệ cũng tạo nền tảng quan trọng trong việc khắc họa tính

cách nhân vật một cách trọn vẹn. Hai tuyến nhân vật đối lập nhau ở tất cả các khía cạnh: từ ngoại

hình, lời nói, thái độ, suy nghĩ đến hành động đã góp phần tô đậm lẫn nhau. Rất có ý nghĩa, sự run

sợ, ngơ ngác của bác T. ,sự ngây thơ của Nhồng hay vẻ ngô nghê của Khùng được đặt bên cạnh sự

tàn ác, đê hèn, gian xảo của những Hống, những tên trong ban thẩm vấn hay tên Trung đội trưởng.

Cũng như thế, một mụ Lé ăn xin vì lấy việc rải truyền đơn làm kế sinh nhai nên bị quy chụp là cộng

sản , thấy ở tù còn thích hơn xó xỉnh của mụ đã khiến cuộc thẩm vấn “tù chính trị” của người công

an thành trò hài hước. Thể hiện xung đột giai cấp giữa người nông dân và địa chủ quan lại qua “mối

oán thù tận xương tủy” của lão Noại với xã Ám, Huỳnh Ngọc Sơn đã khắc họa một hình tượng

người nông dân vừa căm thù, yêu thương sâu sắc nhưng đồng thời cũng thật bế tắc và mù quáng:

“lão nuôi mối thù xã Ám. Càng thù xã Ám bao nhiêu thì chó càng bị giết bấy nhiêu. Con dao trở

thành khí cụ thỏa mãn căm hờn hữu hiệu” (tr.33). Là những truyện ngắn có tính luận đề rõ rệt,

Trước khi mặt trời mọc và đặc biệt là Tự do hay là chết không dừng lại ở bức tranh đen tối, bi đát

của thực tại mà còn cho ta thấy được sự đứng lên của con người lao khổ, bị đày đọa. Những biến đổi

tính cách đầy tính biện chứng của người phụ nữ hay bác T. là hệ quả tất yếu của ách áp bức và đày

đọa phi nhân.

Có phần khác với loại tình huống trên, tình huống mâu thuẫn giữa sự sống chân chính với các

thế lực phản sự sống không chú trọng thể hiện mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, giai cấp mà

tập trung thể hiện con người – sinh tồn trong nhu cầu sống còn và con người – nhân cách với nguy

cơ tha hóa, biến chất của nó. Chính vì thế, nhiều xung đột ở đây không dừng lại ở xung đột giữa con

người và hoàn cảnh mà còn đi sâu vào phân tích mâu thuẫn bên trong con người. Như vậy, “sự

sống” được nói đến ở đây được hiểu theo cả hai nghĩa: sống như một trạng thái sinh tồn, hiện hữu

và sống như một con người chân chính với đạo đức, danh dự. “Thế lực phản sự sống” theo đó cũng

có hai nghĩa: cái chết về mặt thể xác và cái chết về mặt tinh thần cùng với thế lực gây nên hai cái

chết ấy. Tất nhiên cũng có những truyện ngắn xây dựng nên những tình huống hàm chứa mâu thuẫn

theo cả hai loại đó.

Phơi bày số phận mong manh của con người trong hoàn cảnh chiến tranh thảm khốc, Trần Hữu

Lục trong Chứng từ đã miêu tả đầy căng thẳng tấn bi kịch về cái chết của một người đàn bà đang

đến kỳ sinh nở do một cuộc tấn công của quân đội vào ngôi làng nhỏ .Cuộc đối đầu đầy phi lý giữa

một sự sống đang sắp sửa chào đời và sức hủy diệt kinh hoàng của súng đạn vô tình – tất cả tạo nên

cảm giác vừa đau xót vừa nhức nhối trong tâm can người đọc. Còn ở Qua đồng Văn Xá, “cái kết cục

tàn nhẫn” của nó – cái chết của hai mẹ con vô tội – đã “dội vào tim ta một nỗi đau tê điếng”

[117;tr.77]. Mất mả của Trần Duy Phiên qua việc tranh chấp ngôi mả - một tình huống oái oăm – đã

nói lên thật cay đắng sự khốn khổ của con người, ngay cả sau khi đã chết.

Trong Sáu Dền, xung đột giữa Sáu Dền, kẻ đi gieo rắc cái chết, cái chứng tích ám ảnh của một

“trình độ” tha hóa, vật hóa con người, với những người trong tay không một tấc sắt, tạo nên sự căng

thẳng tột cùng. Tuy nhiên, nếu Sáu Dền là con “quỷ dữ” hiện nguyên hình thì ở Nước vỗ chân cầu

chính là trường hợp điển hình của cái ác được che giấu bởi lớp sơn bóng nhoáng bề ngoài. Nếu sự

biến chất của người vợ (Sau bức màn hoa) được phơi bày rõ rệt thì cái giả dối của cả một “hội đồng

kỷ luật” trong Chưa từng thấy lại được khôn khéo che đậy. Chưa từng thấy và Nước vỗ chân cầu,

nhìn bề ngoài có vẻ là mâu thuẫn giữa học sinh và thầy giáo, giữa viên sĩ quan và người “bên kia”

(khi ông ta tưởng xác chết là Cộng sản), nhưng thực chất lại là mâu thuẫn giữa nội dung, bản chất

với hình thức, biểu hiện khi cái xấu xa, cái phản sự sống lại khoác lên mình cái áo khoác đạo mạo

chân chính, khi xác chết lại là một cái cớ cho hy vọng “lên lon”. Điều đáng căm phẫn, xót xa ở đây

chính là cái chết của nhân cách, của nhân tính. Con người đã không còn là chính nó mà là nạn nhân

của miếng ăn, của danh và lợi. Rõ ràng trong xã hội đương thời, nguy cơ tha hóa không loại trừ một

ai, khi cái hoàn cảnh phi nhân văn đã tạo điều kiện, đã xô đẩy con người đi đến chỗ tự giết dần giết

mòn nhân tính của chính mình.

Xây dựng loại tình huống giàu kịch tính, các tác giả đã lý giải được tại sao chế độ ấy tất yếu phải

bị hủy diệt, phải được thay đổi khi nó đã đi đến cùng của sự phản dân tộc, phản nhân văn. Điều

đáng chú ý là sự đa dạng của sắc thái, giọng điệu trong các truyện này . Hầu hết các truyện thể hiện

các đối kháng đều có tính chất bi kịch với giọng điệu cảm thương và căm phẫn. Mụ Lé, Đứa con

của loài bò sát lại chứa đựng cả bi và hài: cái bi của những thân phận “nhỏ bé”, bèo bọt, cái hài của

sự áp đặt, bẻ cong sự thật, của dục vọng thấp hèn núp dưới bộ áo nghiêm trang. Trong Chưa từng

thấy và Nước vỗ chân cầu, có thể nói Trần Quang Long và Huỳnh Ngọc Sơn đã khéo sử dụng cái

hài như một vũ khí đắc lực để “lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó từ dưới và từ trên” đối tượng cần phê

phán, và “đập vỡ vỏ ngoài để nhìn vào bên trong” nó (Dẫn theo Nguyễn Văn Dấu) [16;tr.64].

3.2. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT

Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật có vị trí then chốt trong việc khái quát hóa tính cách,

phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Là hình tượng mà nhà văn xây dựng

lên để chuyển tải quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, nhân vật văn học còn là sự minh

chứng hùng hồn cho tài năng sáng tạo của mỗi người cầm bút.

Xét về cấu trúc – chức năng, lí luận văn học phân loại nhân vật thành bốn kiểu: nhân vật chức

năng, nhân vật loại hình, nhân vật tư tưởng và nhân vật tính cách. Trong những truyện ngắn hoặc

đầy chất thơ hoặc đậm chất kịch của văn học yêu nước ở Huế giai đoạn này, không phải không có

những nhân vật có cá tính nhất định, như Thiều trong Người tình lạ mặt, người phụ nữ trong Trước

khi mặt trời mọc và một số nhân vật khác nữa. Nhưng nếu căn cứ vào hạt nhân của cấu trúc nhân

vật, ta có thể thấy nổi trội hơn vẫn là nhân vật loại hình và nhân vật tư tưởng. Cũng cần nói rằng

truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 sau hơn ba mươi năm, dẫu xét về nội dung tư

tưởng, lẽ dĩ nhiên về đại thể không ít nhân vật đã thuộc về tinh thần của thời đã qua, song nếu xét về

nghệ thuật xây dựng nhân vật, ta vẫn phải ghi nhận những thành tựu đầy ấn tượng của nó, mà nổi

trội nhất là nghệ thuật khai thác, khắc họa tâm lý nhân vật.

3.2.1. Sự sắc nét của các nhân vật loại hình

Nét chung, nét loại chiếm vị trí chủ chốt trong cấu trúc nội tại của nhân vật loại hình. Nhìn tổng

quát, những nhân vật loại hình ở mảng truyện ngắn - trữ tình hóa rất ít được khắc họa về hành

động, ngôn ngữ, có khi không có cả một cái tên. Còn trong những truyện ngắn giàu kịch tính, khía

cạnh tâm lý ít được chú ý hơn khía cạnh hành động, ngôn ngữ. Không chỉ mang “nét loại” về bản

chất xã hội mà nói chung, giữa các nhân vật thường có sự “na ná” về cả hình dáng như những khuôn

mẫu miêu tả: người nông dân với hình dáng lam lũ (Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài, Còn

nơi nào khác), những tên ác ôn thì thường có bộ dạng cục mịch, đôi môi thâm tím, đôi mắt láo liên

nham hiểm (Đứa con của loài bò sát, Tự do hay là chết, Trước khi mặt trời mọc)... Tiêu biểu cho

nghệ thuật xây dựng nhân vật loại hình của các nhà văn trẻ ở Huế là hình tượng người nông dân và

hình tượng các nhân vật vốn được coi là phản diện: những con người phục vụ và đại diện cho thế

lực cầm quyền.

Xây dựng những kiểu nhân vật trên, các tác giả đã xác định được chính xác khía cạnh “loại” của

chúng tức là bản chất, tính cách tiêu biểu của giai tầng xã hội mà chúng là đại diện đồng thời đặt

chúng vào những tình huống, hoàn cảnh cụ thể để tạo điều kiện cho những “nét chung” của nhân vật

được bộc lộ một cách tự nhiên, tạo ấn tượng sắc nét cho người đọc. Tình huống tâm lý thường được

các nhà văn xây dựng để làm nổi rõ những phẩm chất tốt đẹp của hình tượng người nông dân. Trong

Tình đất sự mất mát, điêu tàn của làng xóm, đồng ruộng đã làm nổi lên tình cảm gắn bó máu thịt với

đất đai, quê hương. Trong Di vật, Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài, Thằng cháu ngoại ,

những Lão Đá, ông Tư, ông Năm lại đặc biệt gây xúc động với tình cảm cha con, gia đình tha thiết,

chân thành, với nghĩa tình và sự trọng danh dự. Các nhân vật phản diện lại thường được đặt trong

những tình huống kịch tính, và kết cấu nhân vật đối lập trong các tác phẩm có loại tình huống này

đã đảm nhiệm tốt vai trò khắc họa sắc nét hình tượng nhân vật. Nếu Hống được thể hiện với sự phi

nhân, trắng trợn, vô liêm sỉ thì lão Quế lại hiện lên đầy dũng khí (Đứa con của loài bò sát). Trong

Trước khi mặt trời mọc, đối lập với một người phụ nữ trong tay không tấc sắt là những gã “quỷ sứ”

mang mặt người. Sự yếu đuối, sợ hãi của người vợ (và cả bà chủ nhà) làm nổi bật thêm sức mạnh

tàn bạo, mù quáng của Sáu Dền. Sự lươn lẹo, gian xảo của ông Trưởng chi cảnh sát quận và chất

hồn hậu, thật thà lão Nẫm có tác dụng làm cho nhau nổi bật thêm (Còn nơi nào khác)…

Các tác giả truyện ngắn yêu nước ở Huế cũng khéo xây dựng những ngôn ngữ cô đọng và hành

động tiêu biểu, để qua đó nhân vật tự tố cáo, lột trần hay thể hiện bản chất của mình. Trong Con dao

mổ chó, xã Ám nói rất ít nhưng chỉ với câu nói cuối cùng, người đọc vẫn phải rùng mình kinh sợ cái

bản chất tàn bạo của lão: “Mày chết như chó…Chó săn của ông, ông mua bao nhiêu mầy biết

không? Ông cưng như cưng trứng, mầy biết không? Ông sẽ giết mày để cúng oan hồn con chó…”

(tr.35). Ông xã trưởng trong Ngón tay chết với “giọng hạch sách” cùng điệu bộ “hất hàm”, nhìn anh

Vượt “từ đầu đến chân như quan sát một con vật lạ” chỉ bằng mấy câu nói rao giảng sự biết ơn với

“bạn Đồng Minh Hoa Kỳ và ngài Tổng Thống” đã tự lột trần bản chất “chó săn” cho chính quyền

của mình. Những đòn tra tấn dã man, những hành hạ mang tính chất trả thù của các công chức “tận

tâm” phục vụ chính quyền trong nhiều áng văn viết về lao tù, trong Thằng Khùng có lẽ không cần

phải nói gì thêm. Ngôn ngữ và hành động của người nông dân trong các tác phẩm bộc lộ rõ tính khí

thẳng thắn, bộc trực, nghĩa khí của họ. Trong Thằng cháu ngoại, lão Năm chỉ thực sự xuất hiện ở

cuối tác phẩm nhưng tất cả sự căm phẫn, yêu thương đều toát lên từ cái bóng dáng thẫn thờ , bàn tay

siết mạnh và câu lẩm bẩm nói với đứa con gái đã chết: “Con mất hết thì cha có được gì đâu. Không

ngờ mày lại…mà không uổng công tao hà, hà. Tao đã biết mày như con gà non. Chúng nó thì xảo

trá” (tr.95). Hành động đột ngột, khác thường của lão Đá, ông Tư, ông Năm ở cuối mỗi truyện cũng

đọng lại trong tâm trí người đọc những ấn tượng đậm nét.

Cũng cần phải kể đến ngòi bút miêu tả tâm lý trong các truyện ngắn có hai kiểu nhân vật loại

hình trên. Có phần khác với những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, nhiều nhân vật loại hình

trong các truyện ngắn – kịch hóa ở đây được thể hiện tâm lý rất sắc sảo , trong đó phải kể đến những

đóng góp của Huỳnh Ngọc Sơn. Đi sâu vào thế giới tâm lý sâu kín của nhân vật, các tác giả thường

sử dụng lời nửa trực tiếp và độc thoại nội tâm. Trong Con dao mổ chó, nuôi mối thù giết con với

nhà xã Ám, lão Noại chìm trong sự phản kháng u uất, mù quáng và có phần hèn nhát. Nổi bật trong

truyện là những dòng suy nghĩ của lão được bộc lộ dưới dạng lời miêu tả khách quan xen lẫn lời nửa

trực tiếp và độc thoại: “Lão móc chai rượu trong túi ra tu một hơi dài. Phải uống cho ngà ngà mới

đủ sức giết trộm chó. Thật ra, giết trộm chó có ý nghĩa gì đâu, phải giết trộm ngay cả chủ nó kia!

Phải giết con chó có râu âm ác kia, đã bao nhiêu lần lão tự nhủ như vậy rồi bấy nhiêu lần rã rời

buông tay. Lão sợ quá. Nhưng tại sao ý định giết con chó có râu âm ác kia cứ chờn chợt trước mắt?

Đã mấy mươi năm rồi chỉ vì lão ngu, lão dại mà ra (…) Lão nhớ thằng Nục vô cùng. Nhưng thằng

Nục còn đâu nữa mà nhớ…Nục ơi, con chết vì một tiếng chó sửa, một tiếng chó vang vang, chó nhà

giàu ấy mà?...” (tr.32). Còn nơi nào khác là sự đan xen giữa hình thức đối thoại giữa ông Trưởng

chi cảnh sát với lão Nẫm và độc thoại nội tâm của lão. Đối diện với ông Trưởng chi nhưng ông Nẫm

như đang sống trong một “nơi nào khác” hiện lên qua những dòng hồi tưởng của ông. Đó là thế giới

tươi đẹp của hoài niệm, khác hẳn những tháng ngày bức bối mà ông đang phải gánh chịu. Sự đối lập

ấy tự nó đã hàm chứa ý vị tố cáo nhẹ nhàng mà thâm thúy. Đặc biệt, trong Di vật, ngoài sự bộc lộ

tâm lý của lão Đá qua những câu nói với con gái, qua những dòng suy nghĩ, Trần Hữu Lục còn xây

dựng nên một hình tượng có sức ám ảnh, đó là “tiếng đàn nói hộ nỗi niềm u uất của người nông dân

yêu nước giữa những bức phên tre èo ọp” [117;tr.76]. Cũng giống như ông Trung đội trưởng trong

Thằng Khùng, ông Thiếu úy trong Nước vỗ chân cầu được lột tả tâm địa qua những lời mang nhiều

ý vị hài hước, châm biếm. Vớ được xác chết dưới chân cầu, “một niềm vui bất chợt vừa đến trong

lòng khiến ông quên lạnh, quên mưa. Xác chết và khẩu súng đen ngòm ngù ngờ trước mắt. Súng của

ai? Xác chết chắc chắn không phải là người theo phe ta, như vậy khẩu súng phải là súng địch. A ha,

khẩu súng của địch. Giữ cầu gần thị xã không phải là không có công trạng đâu nhé; ngoài nhiệm vụ

bảo vệ an ninh ra, người giữ cầu còn chận xác địch để lấy súng. Thiếu úy nghĩ đến giây phút cầm

cây súng a – ka trong tay trình với thượng cấp. Rồi được ân thưởng huy chương anh dũng bội tinh

với nhành dương liễu; rồi ban khen ghi công trạng vào sổ vàng để chóng thay vị đổi ngôi. Niềm vui

đến dồn dập. Thiếu úy nhảy cỡn lên” [139;tr.823]. Nhưng những mơ tưởng, ảo vọng, háo hức, thỏa

mãn về chiến công bị trôi tuột theo kết thúc bất ngờ: cái xác Mỹ. Ông thiếu úy “mặt tái xanh như

chàm”, rồi buồn bã lẩm bẩm “Lạy trời, trời đừng bắt tôi sẩy chân trôi về biển đông” . Đây là hình

tượng có tính điển hình về những kiếp tôi tớ cho bạo lực và đồng tiền, tham vọng vừa đáng phê

phán vừa đáng thương hại. Chúng tôi xin giới thiệu kỹ truyện ngắn Đứa con của loài bò sát để làm

rõ thêm sức mạnh nghệ thuật trong xây dựng nhân vật của ngòi bút Huỳnh Ngọc Sơn.

Cai quản trại giam ở một quận lỵ, lần này Hống cương quyết bắt giam lão Quế - “thằng già

ngoan cố” có con trai thoát ly để làm “thằng giặc phá làng phá nước” [25; tr.282 – 283]. Với Hống,

cái lão Quế “con làm giặc, cha tiếp tế” chỉ là đồ bỏ so với người cha đáng trọng đã dạy hắn “biết

cách kính ngưỡng vẻ rực rỡ của Tây phương. Chỉ xin làm một tên bồi, tên bếp: một tên đầy tớ thôi,

cũng sung sướng gấp mấy mươi lần những người có trâu bầy ruộng mẫu cứ ru rú ở chốn quê kệch”

(tr.285). Gặp Nhồng, “một người đẹp mười tám cái xuân xanh” nhưng lại có một cái tội là làm cháu

gái lão Quế, khuôn mặt bánh đúc của hắn vừa mới sáng rỡ lên thì đã “tự nhiên tái xám lại”, đôi môi

thâm tím chưa nảy được từ văn hoa nào đã ra giọng hách dịch để “dọa cho nó sợ cái đã…Ta đã có

cách” (tr.284). Cách của hắn là cách nào? Đó là ăn hết “bữa ăn ngon tình cờ” (đồ kỵ Nhồng mang

gửi cho lão Quế) và vứt xương cho “thằng già ngoan cố” vốn đã “rũ rượi như con bệnh kinh niên”

chỉ sau hơn một tuần: “Cúi xuống, nằm dài ra mà cạp. Cạp như chó ấy mà…” . Xong, hắn “xoa tay

cúi đầu chào viên cố vấn Mỹ từ ngoài cửa quận bước vào rồi nhanh nhẹn về phòng”. Hắn tự đắc

nghĩ: “rồi lão sẽ biết tay ta. Con cháu của lão ngon quá mà. Ta ôm cháu lão trong tay xem lão còn

đủ sức cứng đầu không.” (tr.286 – 287).

Có thể nói, nhân vật Hống đã được xây dựng khá sắc sảo,vừa điển hình cho bản chất nô lệ luồn

cúi ngoại bang, độc ác tàn bạo đi đôi với dâm đãng, mất hết nhân tính, vừa có những nét sinh động

cụ thể của “con người – này” (Hê – ghen). Như vậy, với sự cá biệt hóa những phẩm chất loại qua

những tình huống và trường hợp cụ thể, qua ngôn ngữ, hành động chắt lọc, điển hình và đặc biệt là

qua sự miêu tả tâm lý sắc sảo, các nhân vật loại hình trong truyện ngắn yêu nước ở Huế đã khắc

phục được nguy cơ giản đơn, sơ lược. Vì thế, mặc dù chưa vươn tới đỉnh cao của điển hình hóa,

song về cơ bản, sự khái quát hóa ở đây đã đi đôi với cá thể hóa.

3.2.2. Nhân vật tư tưởng và cảm hứng tự vấn, tự phân tích

Hạt nhân tạo nên cấu trúc của nhân vật tư tưởng là một ý thức, một tư tưởng vốn tồn tại trong đời

sống tinh thần của xã hội mà nó là nơi tập trung thể hiện. Nếu ở giai đoạn trước của bộ phận văn

học yêu nước, tiến bộ ở thành thị miền Nam, những nhân vật tư tưởng phần lớn thiên về thể hiện

cảm hứng khẳng định các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, thì đến giai đoạn này, cùng với

sự nổi trội của những đề tài hiện đại, các nhà văn thường xây dựng nên những nhân vật tư tưởng để

chuyển tải tâm tư của chính bản thân mình trước hoàn cảnh bi đát và khắc nghiệt của lịch sử.

Đọc Văn học thành thị miền Nam thời kỳ tạm chiếm, Vương Trí Nhàn đã thấy ở đó “những đau

khổ của con người, cả tình thế bi thương, đau đớn, cả sự bơ vơ, bất lực, trong đời sống này không

biết tìm ra lối nào để đi , đích nào để hướng tới”. Theo ông, ở nền văn học đó, giá trị nhân đạo

trước tiên được thể hiện ở niềm “thông cảm, thấy tất cả những sự phức tạp, cái ghê gớm, cái đa

đoan rắc rối của con người, nói chung là chia sẻ với con người trong trạng thái nhân thế nhiều khi

kỳ cục của nó và gợi ý để mọi người cùng suy nghĩ tiếp về kiếp nhân sinh” [38]. Bộ phận văn học

quan trọng của nước nhà ấy đã có nhiều đóng góp cho việc khám phá và thể hiện con người ở tất cả

các chiều kích của nó: con người bản năng, sống gấp với chiếc áo Freud hay hiện sinh trong các tác

phẩm của Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, Minh Đức Hoài Trinh; con người

chạy theo thứ hào quang chiến tranh đầy giả trá trong tác phẩm của Văn Quang, Hồ Minh Dũng,

Ngô Thế Vinh; con người gắn chặt với truyền thống văn hóa dân tộc trong truyện của Sơn Nam,

Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Hạnh; con người “dựa lưng nỗi chết” với

những ám ảnh ghê gớm về chiến tranh và thường đối diện với bi kịch vỡ mộng trong tác phẩm của

Phan Nhật Nam, Y Uyên, Trần Hoài Thư, Thế Vũ ; con người với những lẽ đời đa đoan trong

Mường Mán, Hoàng Ngọc Tuấn, Từ Kế Tường; con người suy tư, trăn trở, tìm lẽ sống trong các tác

phẩm của Cung Tích Biền , nhóm Việt…Nhìn một cách tổng quát, nếu văn học miền Bắc là nền văn

học của tư duy sử thi, của những con người hành động thì văn học miền Nam lại phơi bày rõ nét và

không kém chân thực những thân phận con người và thân phận của một miền đất nước trong một

hiện thực phi nhân văn với sự chi phối của tư duy tiểu thuyết.

Ra đời vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đứng trước một hoàn cảnh xã hội trở nên ngặt

nghèo hơn bao giờ hết và một cuộc sống đời thường phức tạp, nhiễu nhương đã lộ ra quá nhiều mặt

sáng tối, truyện ngắn của nhiều nhà văn trẻ đã thể hiện rõ xu hướng tăng cường chất triết luận phân

tích nhằm trả lời cho những câu hỏi lớn lao của thời đại: Con người là ai? Con người sống ra sao

trong hoàn cảnh này? Con người sẽ đi về đâu? Làm thế nào để có thể nhận chân được thực tại đang

quay cuồng, hỗn loạn như thác lũ này? Trong truyện ngắn Trên những vùng từ biệt, nhân vật Linh –

nhân vật xuất hiện nhiều trong truyện ngắn của Cung Tích Biền - đã tự hỏi: “Tôi khởi đi từ đâu?

Làm gì trong bao nhiêu năm?”. Liệu những con người ấy sẽ chấp nhận làm “những thằng cu ly đói

khát tự do, đói khát hoàn cảnh (…) đang bị điều động trong những bến tàu lầm than của những cai

thầu thời cuộc” [1;tr.94] hay sẽ “sống để nhặt nhạnh những viên đá vô tri rồi không ngừng ném vào

hư vô những nỗ lực vô nghĩa, chất cao thêm ngọn tháp riêng của mỗi đời tuyệt vọng”[39;tr.18]? Có

thể nói, nhân vật tự vấn, tự phân tích là nhân vật chiếm vị trí hàng đầu trong nhiều tác phẩm của các

tác giả trẻ của xứ Huế, bên cạnh những nhân vật tư tưởng chiếm đa số, còn có nhân vật loại hình. Ta

bắt gặp sự tự vấn, tự phân tích từ những con người nghèo hèn nhất trong xã hội, những người nông

dân chân lấm tay bùn (bác T – Tự do hay là chết) đến những “chủ nhân ông” thực sự của chiến

tranh (ông Cố vấn Mỹ - Nước vỗ chân cầu), cả người “bên này” (người lính – Chọn một con đường)

đến người “bên kia” (người thanh niên Cộng sản – Trích nhật ký trong trại giam).

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 đã xây dựng nên một đội ngũ nhân vật tư

tưởng khá đông đảo về thành phần xã hội: đó là người nông dân (bác T. trong Tự do hay là chết), là

người cựu kháng chiến (Chọn một con đường), là bà lão nuôi giấc mơ về ngày mai tươi sáng và sự

phục hưng của văn hóa truyền thống (Giấc mơ êm đềm) , là người con gái – Hội – tìm đường đi

trong một thế giới phân ly, hận thù (Người tình lạ mặt), là những người trẻ phát ngôn cho thân phận

một thế hệ (Nguyễn – Bóng tối sau lưng, Linh – Trốn)... Song nổi bật nhất vẫn là những nhân vật tư

tưởng mang bóng dáng tác giả. Không phải dĩ nhiên khi đọc truyện ngắn của nhóm Việt, Huỳnh

Như Phương cũng đã nhận ra sự “tái hiện đời sống và tâm trạng của thế hệ mình” [117;tr.69] của

các nhà văn. Do đó, mặc dù khá đông đảo, song nhìn chung nhân vật tư tưởng trong bộ phận truyện

ngắn được nghiên cứu hầu hết đều thuộc kiểu loại trung tâm: đó là nhân vật người trí thức trẻ.

Rất nhiều người trẻ ở đô thị tạm chiếm miền Nam đã tìm thấy trong triết học hiện sinh niềm đồng

cảm, và đi tìm câu giải đáp ở ngoài cuộc sống. Đè nặng lên những trang viết là dòng suy tư, trăn trở:

đó là sự cố gắng nhận chân hiện thực bi đát của đất nước, của thân phận; sự thức tỉnh ý thức về sứ

mệnh của tuổi trẻ trong những trang viết sục sôi, bỏng cháy, da diết … Họ là những người trẻ tuổi,

sôi nổi về tình cảm và khát vọng song lại thường sớm già dặn trong suy nghĩ. Nhiều băn khoăn, day

dứt và trăn trở, họ thường nghĩ, thường suy tư hơn là nói, là hành động. Nếu ở Mường Mán, người

trí thức ấy lại là phát ngôn cho tư tưởng tìm về cái đẹp mang đậm chất truyền thống đã mai một,

biến mất trong xã hội nhiễu nhương, cho những triết lý sâu sắc về hạnh phúc và lẽ đời thì người trí

thức trong truyện ngắn của Trần Quang Long và nhóm Việt là những học trò, sinh viên, nhà giáo,

nhà văn và cả người lính… được xã hội ấy đào tạo bài bản như những “đứa con cưng” nhưng lại

khước từ làm người “trí thức mẫu mực”, trăn trở tìm đường, tìm lẽ sống và hướng đi cho chính

mình . Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, song họ lại là “một thế hệ khước từ cầm súng”.

Thường không được miêu tả về hình dáng, cũng như nhân vật của Thế Vũ, nhân vật người trí

thức trẻ ở truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này là loại “nhân vật tâm trạng. Tác giả tập trung

sự chú ý vào diễn biến tâm lý, tư tưởng, tình cảm sâu xa và quặn thắt của nhân vật”. Chính vì thế,

dù “không có gì độc đáo về ngoại hình, về cách ứng xử, nhưng nhân vật vẫn “đứng” được” [139;

tr.110]. Góp phần lớn trong sự thành công ấy chính là những tình huống tâm lý đặc sắc mà ta đã đề

cập đến ở phần trước, trong đó nổi bật nhất là tình huống trở về và tình huống lựa chọn. Tình huống

giàu kịch tính cũng được sử dụng nhưng ít hơn, như một số truyện ngắn luận đề: Tự do hay là chết,

Trước khi mặt trời mọc. Bên cạnh đó, nhiều thủ pháp nghệ thuật đã được vận dụng linh hoạt để làm

sáng rõ tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm qua mỗi nhân vật. Song đáng chú ý hơn cả là thủ pháp

lưỡng hóa, bởi lẽ thủ pháp này không chỉ được sử dụng nhiều lần mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng trong việc khắc họa thành công loại nhân vật tư tưởng này. Với thủ pháp này, chúng ta có thể

nói đến một kiểu dạng nhân vật tư tưởng mang đậm cảm hứng tự vấn, tự phân tích ở đây: nhân vật

lưỡng diện.

Lev Tolstoi đã có nhận xét thật sâu sắc rằng: “ Một trong những lầm lẫn vĩ đại nhất khi xét đoán

về con người là chúng ta hay gọi và xác định người này thông minh, người kia ngu xuẩn, người này

tốt, người kia ác, người thì mạnh mẽ, người thì yếu đuối, trong khi con người là tất cả, tất cả những

khả năng đó, là cái gì luôn luôn biến đổi”. Hướng tới thể hiện con người trong những mối quan hệ

đa dạng, nhiều chiều kích, văn học thành thị miền Nam nói chung và truyện ngắn yêu nước ở Huế

giai đoạn này nói riêng đã cố gắng đạt tới cái nhìn đa diện, đa chiều về con người. Nhìn một cách

tổng quát, hình tượng con người trong sáng tác của những nhà văn trẻ xứ Huế này trong hành trình

làm người của mình, trong hành trình vươn tới những giá trị chân chính, cao đẹp đã bộc lộ, thể hiện

tất cả những mặt sáng – tối, cao thượng – thấp hèn, chân thật – giả dối…đúng như bản chất vốn có

của một con người.

Đồng thời tồn tại trong nhân vật lưỡng diện là “hai con người, hai tính cách, hai tâm trạng”

[32;tr.85] nhìn chung trái chiều và đối nghịch với nhau. Theo Lê Thị Hường, “Phương thức biểu

hiện nhân vật lưỡng diện là thủ pháp lưỡng hóa. Theo cách hiểu thông thường, lưỡng hóa là biện

pháp xây dựng nhân vật thành hai con người, là nghệ thuật xây dựng nhân vật với thế giới lưỡng

tính của nó. Thao tác đặc biệt là tách nhân vật thành hai mảnh đối lập, hai loại hành động, hai nội

tâm – một mảnh suy nghĩ tính toán, hành động và mảnh kia phản tỉnh, quan sát phán xét” (tr.86).

Như vậy, rõ ràng kiểu dạng nhân vật lưỡng diện tự bản thân nó đã bộc lộ cái nhìn mang tính phân

tích, triết luận của nhà văn – một trong những đặc trưng nổi bật của bộ phận truyện ngắn yêu nước ở

Huế những năm cuối của cuộc chiến tranh.

Trong số các tác giả của bộ phận truyện ngắn trên, với Căn nhà và Bệnh xá mùa hè, có lẽ Thái

Ngọc San là người gần gũi với Mường Mán hơn cả khi ông đi sâu vào sự tự phân thân của nhân vật

ở những khát khao đời thường. Ở Tuân (Căn nhà), vừa tồn tại một kẻ muốn “bay cao” theo khát

vọng hạnh phúc, của ước vọng tự do; vừa có một kẻ tự ràng buộc với những định kiến, những ngăn

cách không thể vượt qua của hiện thực. Tất cả đã tạo lên âm hưởng bi thiết của tác phẩm và bộc lộ

một cái nhìn rất đỗi nhân bản về con người của nhà văn. Người trí thức trẻ khoác áo lính trong nhiều

tác phẩm của Trần Hoài Thư và Ngụy Ngữ cũng đều tồn tại trong bản thân mình nhiều con người

với những tâm trạng và cách thế ứng xử với cuộc đời rất khác nhau (Đêm không người, Cuộc sống

tôi). Nhưng khác với hai nhà văn phản chiến này, Trần Quang Long và một số nhà văn trẻ nhóm

Việt lại thiên về đẩy sự phân thân của nhân vật đến sự chuyển biến triệt để khi đặt chúng trong tình

huống của sự chọn lựa, của sự tự đấu tranh không hề khoan nhượng. Chẳng hạn trong Bóng tối sau

lưng, Nguyễn có bóng dáng của nhân vật mảnh vỡ với quan niệm đầy cay đắng: “Đời là rỗng

không và vô nghĩa” (tr.14). Song đến cuối truyện, nhân vật này lại tự sám hối và dứt bỏ chuỗi ngày

mòn mỏi, rỗng không của bản thân mình. Rõ ràng, khẳng định sự thắng lợi tất yếu của ánh sáng, của

dũng khí, của cái cao cả trong cuộc đấu tranh đầy khó khăn này, các nhà văn yêu nước đã không chỉ

thể hiện cảm quan xã hội và ý thức chính trị tiến bộ của mình mà còn thể hiện được xu thế của thời

đại. Chức năng làm cầu nối giữa văn học miền Nam và văn học miền Bắc của bộ phận truyện ngắn

này cũng rất rõ: nếu cảm hứng phản tỉnh, nhận chân sự thật rất gần gũi với nhiều sáng tác của văn

học miền Nam thì sự thức tỉnh về bổn phận và sứ mệnh, thức tỉnh về con đường đi tới của tuổi trẻ

lại đưa truyện ngắn yêu nước xứ Huế tiếp cận với văn học cách mạng.

Xây dựng nhân vật tư tưởng mang cảm hứng tự vấn, tự phân tích, trong đó nổi bật là kiểu loại

nhân vật lưỡng diện, các nhà văn đã tạo ra được một không khí đối thoại và tự đối thoại bao trùm

lên nhiều tác phẩm bằng những thủ pháp nghệ thuật khá đa dạng. Sự xuất hiện của hình tượng người

kể chuyện là một nhân vật trong tác phẩm (Tiếng hát lên trời, Trốn…) bên cạnh người kể chuyện

ngôi thứ nhất mang hình bóng tác giả (Lời kinh cầu, Tuổi đồng quê, Những đứa học trò vắng mặt…)

đã tạo được tiền đề thuận lợi cho việc bộc bạch tư tưởng một cách tự nhiên. Hình thức ký (Lời kinh

cầu, Trích nhật ký trong trại giam…) và cả hình thức thư từ (Thư gửi em gái Vân Dương, Thư từ

thành thị, Thư học trò) được vận dụng đã tỏ ra khả năng của chúng trong việc khai thác thế giới nội

tâm, đáp ứng nhu cầu tự quan sát chính bản thân mình của tác giả và của nhân vật.

Để gia tăng không khí đối thoại, kết cấu bổ sung và nhất là đối lập khi xây dựng nhân vật được

thực hiện. Xét về cấu trúc nội tại của nhân vật, đây chính là thủ pháp lưỡng hóa như đã nói ở trên

mà Sa lầy là minh chứng tiêu biểu. Nhân vật “tôi” ở truyện ngắn này cùng một lúc đóng hai vai trò:

vừa biện bạch cho chính mình, cho ước muốn về đời sống tiện nghi và được gọi là “bà” song lại

dũng cảm vạch rõ sự hổ thẹn của chính bản thân mình, tự thấy mình như một thứ “dịch hạch” khi

“sa lầy” vào tình thế không thể thoát ra. Ở nhiều truyện, việc xây dựng nên những cặp nhân vật đối

nghịch, tương phản về tư tưởng (mà nhiều lúc nhân vật này chẳng qua là hiện thân của “một nửa”

trong nhân vật kia) đã hỗ trợ đắc lực cho sự tự vấn, tự phân tích của nhân vật. Hay nói cách khác, sự

đối thoại giữa các nhân vật đã có ý nghĩa thúc đẩy quá trình tự đối thoại bên trong mỗi nhân vật. Đó

là trường hợp của những Thái – Tánh (Những điều chưa nói), Hân – Phúc (Con đường), Tâm –

người thẩm vấn (Trận tuyến âm thầm), Doãn - Di (Hát rong trên đồng)...Trong Hát rong trên đồng

là sự “xung khắc” về mặt tư tưởng giữa một Doãn coi ý nghĩa cuộc đời mình là ở chỗ “xoa dịu

những đau thương đồng loại” (tr.58) và một Thiếu úy Di – người yêu của cô – “không biết làm gì

hơn” ngoài nhiệm vụ cầm súng của mình: “Em có lý lẽ riêng của em. Anh cũng có lý lẽ cho riêng

đồng đội của anh. Lần hồi em sẽ thấy em không là gì cả. Em như con dã tràng xe cát biển đông”

(tr.67). Với nhân vật đám đông, Chiến tranh bước đi nhanh hơn khốn nạn thật của Ngô Kha lại có

một sự cộng hưởng và soi chiếu điểm nhìn, tạo nên một trường tư tưởng về thân phận và sự trăn trở

của người trẻ tuổi.

Đặc biệt, Trần Hữu Lục tỏ ra khá thành công trong kết cấu lắp ghép: lắp ghép những đoạn văn

tưởng như rời rạc về logic lại với nhau như những đoạn chuyển cảnh đột ngột và khá ngẫu nhiên

(Hát rong trên đồng, Cầu sương mù, Căn nhà trong năm tới…). Nhưng xét về mặt chuyển tải tư

tưởng, thủ pháp kết cấu này lại tỏ ra rất đắc lực khi trong mỗi trường hợp cụ thể, nó tạo được nền

tảng để cộng hưởng điểm nhìn, cảm xúc (như Căn nhà trong năm tới), hay có tác dụng đối chiếu

giữa các tư tưởng đối lập. Chẳng hạn trong Hát rong trên đồng, để làm nổi rõ những khác biệt về

quan điểm, cách nhìn nhận cuộc sống giữa Doãn và Di, tác giả đã lần lượt xen kẽ những đoạn văn

nói về nhân vật này với những đoạn văn miêu tả nhân vật kia, trong đó sự kiện được tái hiện trong

các đoạn này rất kề cận với nhau về thời điểm, thậm chí song hành về bình diện thời gian. Chính vì

thế, truyện Trần Hữu Lục luôn luyến láy, dìu dặt nhưng cũng thật sôi trào trong sự hòa quyện của

bao cung bậc thanh âm – những điểm nhìn, những cảm xúc, tư tưởng nhiều chiều, đa dạng.

Bên cạnh đó, một số nhà văn xứ Huế đã chú ý khai thác giá trị của những chi tiết, hình ảnh độc

đáo để tạo nền tảng cho việc khai mở tâm tưởng của nhân vật. Chi tiết cái bóng trong Bóng tối sau

lưng gợi nhớ nhiều đến mô – típ cái bóng trong các sáng tác của Trần Hoài Thư và Ngụy Ngữ:

:“Xót xa đầy theo mỗi bước chân đi. Chỉ còn Nguyễn với bóng. Tất cả đều là cái bóng mờ dưới

chân. Chỉ có thân phận Nguyễn. Cái bóng là khởi điểm mà cũng là cùng đích. Cái bóng. Chung quy

chỉ là cái bóng. Thoát xác từ một cái bóng, để rồi lại đi tìm cái bóng”. Ở đây, cái bóng là một sự soi

chiếu của nhân vật, là sự phân thân của nó, tuy rằng mảnh phân thân ấy nghiêng về đồng dạng,

tương đồng hơn là đối lập với con người thực. Bóng – đó là ảo ảnh, là những ảo vọng vô nghĩa

trong chính con người đang sa lầy trong thế chênh chao,bế tắc và nỗi chán chường, bi đát mênh

mang. Tất nhiên, âm hưởng cay đắng về một thế hệ mất mát và đổ vỡ thường thấy ở các tác giả kia

không đậm nét trong Bóng tối sau lưng, khi nhân vật Nguyễn đang cố bước đi về phía ánh sáng.

Những chi tiết mang đậm tính chất kỳ ảo được sử dụng rất đắc địa trong một số tác phẩm. Trong

Căn nhà, Thái Ngọc San miêu tả rõ nét một cuộc sống bức bối, xám buồn, ngột ngạt của những

người cùng chung đụng dưới một mái nhà nhưng mỗi người lại là một thế giới cách biệt. Kết thúc

truyện là không khí “rờn rợn ma hời như một cõi âm dương phiền não” của căn nhà trong đêm

mưa với ngọn đèn mịt mù. “Mưa dột xuống chỗ Tuân nằm, tan ra lạnh buốt. Tuân nhìn bà Hạnh,

ông Lâm co quắp dưới chân mình tưởng như hai xác chết. Bỗng dưng, trong cơn thảng thốt dị hình

anh thấy cả ba người đang quay cuồng quanh một cái trục gai sắc, mà người nào cũng rỉ máu”

(tr.51). Cái kết thúc ghê lạnh ấy thực sự đã nói lên một thực tại đầy bi thảm của cái chết, cái chết

của tâm hồn và lẽ sống của con người trong niềm hoảng loạn và sự sợ hãi tột cùng của Tuân. Thật

khó có thể cắt nghĩa tường tận những tình tiết trong đoạn văn trên. Tất cả phản ánh một thế giới

thực tại như một ảo ảnh phi lý,quay cuồng, đảo ngược. Trần Duy Phiên trong Da vàng da đen lại

xây dựng giấc mơ kỳ lạ với sự xuất hiện của nhân vật ảo: người đàn ông da đen. Thực chất, người

đàn ông ấy là hình tượng độc đáo do nhà văn sáng tạo nên nhằm cảnh tỉnh sâu sắc về kiếp đọa đày

chung vì “bạo lực phi nhân” của “da vàng” và cả “da đen”. Từ đó, thúc đẩy bước ngoặt tâm lý của

nhân vật “tôi” về một quyết tâm tranh đấu.

3.3. THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

Thời gian và không gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính

chỉnh thể của nó. Đây là những phương diện quan trọng cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn

học và cả quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học.

Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 có

những đặc điểm chung so với văn học tiến bộ thành thị miền Nam cùng giai đoạn nhưng đồng thời

có những nét mang bản sắc riêng của các tác giả ở Huế.

3.3.1 Thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật là hình tượng thời gian được xây dựng trong tác phẩm nghệ thuật. Đó là

một đại lượng để xem xét sự tồn tại, vận động và biến đổi của cả một thế giới hình tượng được nhà

văn sáng tạo nên. Khác với thời gian khách quan mang tính chất khách quan, một chiều, thời gian

nghệ thuật vừa mang tính khách quan nhưng cũng vừa mang đậm tính chủ quan của nhà văn, thể

hiện rất rõ quan niệm nghệ thuật, tư duy, nhận thức của nhà văn về thế giới và con người. Thời gian

nghệ thuật cũng mang rất rõ màu sắc tâm lý, phản ánh trạng thái tinh thần của nhân vật trong tác

phẩm.

Sáng tạo nên những thiên truyện ngắn, “những lát cắt của cuộc sống”, song các nhà văn yêu nước

ở Huế đã phản ánh được một cuộc sống phồn tạp, bộn bề ở nhiều phương diện thời gian khác nhau

qua những cách thức xử lý thời gian nghệ thuật khá đa dạng. Nhìn chung, có thể xem xét những đặc

điểm nổi bật của thế giới nghệ thuật thông qua ba chiều thời gian được xây dựng trong các tác

phẩm: thời gian thực tại, thời gian quá khứ và thời gian tương lai.

Cũng như nhiều tác phẩm văn học tiến bộ thành thị miền Nam giai đoạn này, truyện ngắn yêu

nước ở Huế đã hướng tới phản ánh chân thực đời sống thực tại của một xã hội đang tan rã. Chính vì

thế, như một điều tất yếu, dòng thời gian thực tại đuợc xây dựng thật sự sống động, phong phú, vừa

thể hiện bản chất hiện thực vừa toát lên cảm quan nghệ thuật của nhà văn.

Trước hết, đó là thời gian của những biến cố bất ngờ, đột ngột, không thể lường trước. Loại thời

gian mang đậm tính dồn nén, thắt ngặt này không chỉ xuất hiện trong các truyện ngắn – kịch hóa mà

còn thường xuyên hiện diện ở hầu hết các tác phẩm. Sống giữa một cuộc sống với nhịp điệu như

thác lũ của bao biến thiên, bao vật đổi sao dời, bao tàn phá chết chóc, các nhân vật trong truyện

ngắn yêu nước ở Huế dường như lúc nào cũng sững sờ, ngơ ngác, kinh hoàng khi phải đối diện với

thực tại trước mắt. Đó là cái bàng hoàng của Lựu, Thiều cùng bao người trở về khác khi quê nhà đã

biến đổi quá nhanh. Đó còn là sự điên loạn của Doãn (Hát rong trên đồng), tiếng khóc nức nở của

vợ con anh Điểu (Hộp thịt Mỹ), vẻ ngật ngưỡng đau khổ của bác Năm (Thằng con trai khu vườn

chiếc quan tài) trước cái chết thảm khốc của người thân yêu. Người đàn ông trong Khu giọt nước

cũng giống như người chồng trong Sau bức màn hoa đều không tin vào mắt mình khi bắt gặp vợ đi

“mở cô – ca”, làm gái điếm. Trong các truyện ngắn cùng giai đoạn, ta cũng bắt gặp những biến cố

khác thường xảy ra nhanh chóng đến không ngờ như thế: từ sự tha hóa dữ dội của xóm Bún (Câu

chuyện anh Bường – Võ Trường Chinh) đến vẻ điêu tàn thảm thương của một vùng thôn quê chỉ

trong có mấy năm ngắn ngủi (Tiếng hát của người thương binh mất trí – Hàng Chức Nguyên). Rõ

ràng sự nhiễu nhương của một xã hội bất công, bần cùng cộng với bom đạn, chiến tranh đã gây nên

bao cảnh tượng tàn nhẫn, bất ngờ đến phi lý.

Trong nhiều sáng tác, nhất là các truyện ngắn – kịch hóa, thời gian thực tại như được rút ngắn.

Những sự kiện, hành động diễn ra liên tiếp nhau đến ngột thở. Tự do hay là chết tái hiện sắc sảo một

“địa ngục trần gian” qua ba lần tra tấn dồn dập. Trước khi mặt trời mọc chỉ là một quãng đời ngắn

ngủi nhưng với bao sự cố của người phụ nữ: chồng đánh bom – bị bắt – tra tấn – lao dịch – vượt

ngục – tử hình. Sự trưởng thành từ một con người hiền lành, thậm chí nhẫn nhục (như bác T.) đến

một con người thức tỉnh ý thức tranh đấu của các nhân vật trong hai tác phẩm trên cũng là một sự

biến đổi vượt bậc, nhanh chóng nhưng tất yếu. Khoảng cách thời gian giữa các sự kiện, hành động ở

nhiều truyện chỉ được tính bằng từng giờ, từng phút. Minh nhảy xổ tới như con hổ dữ để bóp cổ một

tên Mỹ và một loạt tiểu liên cực nhanh đã giết chết anh (Trong chiến tranh này). Chỉ chưa đầy một

giờ ngắn ngủi, căn nhà nhỏ và cả đứa con bé bỏng của vợ chồng anh giáo nghèo đã bị lửa dữ thiêu

cháy (Đứa con).

Để làm nổi bật tính dồn nén, thắt ngặt, khó lường của cuộc sống, một số tác giả đã chú ý tới thủ

pháp kéo căng, làm chậm thời gian. Trong những truyện có tình huống trở về, nhân vật càng đắm

chìm trong ký ức tươi đẹp thì hiện tại lại như một gáo nước lạnh phũ phàng, đột ngột (Mặt đất quê

ngoại). Ở những truyện ngắn giàu kịch tính, sự dằng dai cố ý của quá trình diễn tiến của sự kiện đã

tạo được sức đẩy cho cái kết thúc bất ngờ. Chẳng hạn trong Qua đồng Văn Xá, thời gian như đứng

im khi hai mẹ con người đàn bà băng qua cánh đồng – vùng oanh kích tự do khiến người đọc như

phải nín thở. Sau đó, tác giả lại chuyển cảnh đột ngột qua những câu hỏi đầy lo âu của bà mẹ già với

người hàng xóm và với người con trở về. Cái kết thúc bất ngờ, tê điếng của truyện cũng giống như

“hai giọt lệ vỡ nhòe” của người đàn ông khi lần đếm di cốt của người xấu số.

Song song với loại thời gian trên, đó là thời gian thực tại kéo dài, mòn mỏi của những kiếp bần

cùng và cả những con người chân chính luôn đắm chìm trong suy tưởng , trong trăn trở tìm đường,

tìm lẽ sống. Miêu tả “những cuộc đời đang dãy chết trong mỏi mòn” (Sống thảm – Võ Trường

Chinh) qua việc xây dựng thời gian nghệ thuật, nhiều trang viết của văn học tiến bộ, yêu nước thành

thị miền Nam giai đoạn này, trong đó có sự đóng góp nổi bật của các cây bút ở Huế như một sự tiếp

nối âm hưởng hiện thực phê phán của những sáng tác trước 1945. Ở nhiều truyện ngắn yêu nước ở

Huế, các nhân vật như chìm đắm trong không gian của bóng đêm, của buổi chiều. Với những kiếp

người chạy ăn từng bữa như Điểu, “nắng đã tắt. Ngày lê lết quá nặng nề” (Hộp thịt Mỹ, tr.45). Chị

Tiết khóc thầm trong bóng tối (Đứa con) hay những giọt nước mắt của một đứa bé đang tuổi ăn tuổi

lớn trong màn mưa đêm lất phất (Buổi tối ngoài ngõ) đều gợi lên bao xót xa thương cảm.

Bóng tối, buổi chiều cũng là khung cảnh thích hợp cho những suy tư, trăn trở. Trong thời khắc

tàn tạ của một ngày, các nhân vật thường co lại với chính cõi lòng mình, sống thật với mình nhất.

Những xót xa, day dứt, những nỗi buồn và cả niềm uất hận trỗi dậy. Tiếng đàn đá ảo não vang lên

trong căn nhà lá mỗi khi đêm về như nói thay cho niềm nhớ thương con của người cha già (Di vật).

Nguyễn (Bóng tối sau lưng) hay “Tôi” (Da vàng da đen) đều đắm chìm trong suy nghĩ về thân phận

của những con người trong thời đại quay cuồng như bão lốc. Giờ khắc chiều tàn cũng là giờ khắc

mà Hoàng (Tiếng hát lên trời) nhớ hơn lúc nào hết về người mẹ già đau khổ, thấm thía hơn lúc nào

hết tình cảnh trốn lính, chui lủi của anh. Ở đây, thời gian mang đậm màu sắc của tâm lý, quyện chặt

với tâm trạng của nhân vật, và nói thay nhân vật.

Tuy nhiên, không dừng lại ở một hiện thực mòn mỏi, nặng nề, nhiều truyện ngắn đã cho ta thấy

một niềm hy vọng, một sức sống, một ánh sáng đang hé lộ như những đợt sóng ngầm trào dâng

trong lòng thực tại ấy. Trong mất mát điêu tàn ẩn chứa sức sống bền bỉ. Trong đau thương uất hận

đã hé mở một con đường cho hy vọng hồi sinh. Ánh sáng ở đây càng về cuối cuộc chiến tranh càng

mãnh liệt và lấn át dần bóng đêm. Nắng đẹp sân trường khi người thầy thấy được niềm hy vọng ở

thế hệ tương lai, khi thấy rằng ngòi bút kêu đòi sự sống, nói lên sự thật của mình vẫn được học trò

kế tiếp. Sự biến đổi trong những trang viết về Vân Dương của Trần Hữu Lục cũng là minh chứng

điển hình. Nếu trong những truyện viết khoảng thời gian những năm 1968 đến 1971 như Người tình

lạ mặt, Hát rong trên đồng, Cách một dòng sông, Ám ảnh, Bên ni bên nớ…, hình ảnh quê nhà Vân

Dương hiện lên với bao tang thương buồn bã; thì qua năm 1972, những trang viết đã trở nên ấm

nồng một niềm tin tưởng, cảm phục với một vùng quê trong phân ly bom đạn vẫn như “hào lũy

vững bền trước những bão lửa”. Trần Hữu Lục xiết bao xúc động khi cảm nhận được “vẻ tàn phai

đó chỉ thấy ở bề ngoài, kỳ thực vẫn không làm thay đổi được lòng dạ sắt son, sức sống bền bỉ của

quê cũ”. Vẫn còn “những ngọn đèn không bao giờ tắt, những chong mắt đêm thâu”. Và “vẫn còn

những thứ không hề tàn phai, đổ nát: trái tim của Vân Dương” (Thư gửi em gái Vân Dương, tr. 97 –

98).

Thời gian quá khứ cũng là bình diện thời gian thường xuyên hiển hiện trong truyện ngắn yêu

nước ở Huế giai đoạn này. Thậm chí trong nhiều truyện, đặc biệt là những truyện có cốt truyện hồi

cố được xây dựng theo dòng hồi tưởng của nhân vật chẳng hạn như Trốn, Chim tha lửa, Chứng

từ…, thời gian quá khứ chiếm vị trí chủ đạo. Sống trong thời khắc hiện tại, nhưng các nhân vật

thường xuyên đi về trong miền ký ức bằng tâm tưởng. Thông qua chiều thời gian này, các tác giả

không chỉ cơi nới đáng kể sức chứa của những thiên truyện ngắn, mà còn qua đó, tái hiện phản ánh

hiện thực – trong đó đáng kể nhất là hiện thực tâm hồn, một cách toàn vẹn và sinh động.

Có thể nói, tiêu biểu hơn cả cho nghệ thuật đảo tuyến thời gian trong truyện ngắn yêu nước ở

Huế vẫn là những tác phẩm có xuất hiện nhân vật người trở về. Ở các truyện này, hiện tại và quá

khứ trong trí tưởng của nhân vật dường như có sự đồng hiện và điều này có ý nghĩa so sánh đối

chiếu rõ rệt, qua đó góp phần làm nổi bật lên một hiện tại tàn nhẫn. Cách một dòng sông là một ví

dụ. Bất cứ một cảnh vật nào của quê hương đều lay động nỗi nhớ thương của Lựu và làm bật lên

một sự so sánh chua chát: “Cũng vài cầu, cũng dòng sông nhỏ có nước xoáy ở chân cầu, cũng cái

cồn hoang có vươn ra vào khung vó chơ vơ giữa đám cỏ lùng mọc hoang, nhưng anh không còn tìm

thấy dấu tích ngày cũ trên một vài thứ đó. Bảy năm xa quê (…), anh không ngờ mọi việc lại thay đổi

quá thê thảm” (tr.10). Dĩ nhiên, đối với một đất nước đã chịu đựng quá nhiều mất mát thì quá khứ

trong mỗi con người thời đại ấy dù có đẹp đến thế nào mà vẫn chẳng mang những vết tích đau

thương. Chính thế mà trong dòng ký ức của Lựu vẫn gợi lên cả “ “đêm dân làng đổ xô ra để xem

xác một người nào đó tấp dưới chân cầu” (tr.10). Ở một số truyện khác, quá khứ với hiện tại là

những chuỗi ngày tăm tối và mờ xám với “bao niềm tang tóc bao phủ, đè ụp xuống đầu những

người dân của một nước nô lệ”. Với Nguyễn, “Cho đến bây giờ, kỷ niệm của đêm chạy loạn còn lại

trong chàng chỉ là những ấn tượng hãi hùng. Như tuổi nhỏ chàng. Như thân phận con người trong

chiến tranh” (Bóng tối sau lưng, tr.11). Như thế, dù so sánh tương phản hay tương đồng, quá khứ

vẫn là một sự bổ sung đầy ám ảnh cho thực tại trong việc phơi bày thân phận của đất nước.

Tìm về quá khứ, người ta có thể tìm lại được cách lý giải, cắt nghĩa và thậm chí cả câu giải đáp

cho hiện trạng. Quá khứ cho ta thấy cội nguồn, nền tảng của cả một quá trình hình thành, phát triển

một tâm tưởng, một tính cách, một tình trạng. Trong xây dựng nhân vật, chẳng hạn nhân vật phản

diện, ngòi bút hiện thực của các nhà văn xứ Huế đã lật tìm và soi chiếu tường tận lịch sử của những

tích cách. Những Sáu Dền, Hống không tự nhiên mà phần “người” bị lấn át và khuất phục bởi phần

“con” khi có cả một hệ thống nuôi dưỡng cái ác làm công cụ tay sai hòng duy trì một cuộc chiến

tranh phi nghĩa giúp cho những con quỷ sứ dễ “kiếm xác người” chứ không chỉ là “biết kính ngưỡng

vẻ đẹp của Tây phương”. Cũng như vậy, quá trình hồi tưởng của anh Gòn (Sau bức màn hoa) cũng

giúp ta hiểu được tại sao chị Gòn lại thay đổi dữ dội như thế: một cô gái lao động thật thà lương

thiện, một người đàn bà chao chát chỏng lỏn và một ả gái điếm. Quá khứ cũng sẽ giúp lý giải cho

một cách thế hành động, một sự lựa chọn. Phải chăng chính cái miền quê nghèo xơ xác vì chiến

tranh, vì đói kém; chính bà mẹ già đau khổ trong túp lều rách nát; chính những năm tháng bị bắt bớ

tù tội đã giúp Hoàng (Tiếng hát lên trời) có được sự dứt khoát khi khước từ cầm súng.

Khác với Trần Hoài Thư, Mường Mán luôn đau đáu vì một quá khứ đã mất, các nhà văn yêu

nước ở đây đã tiến đến phản ánh một quá khứ đang được tiếp nối trong hiện tại: quá khứ của những

ngày kháng chiến hào hùng: Chọn một con đường, Thư gửi em gái Vân Dương, Về thăm quê

ngoại… Trong Chọn một con đường, hiện tại như được nối liền với quá khứ hào hùng, đẹp đẽ ấy

qua giọng đọc thơ sôi nổi, hăm hở của người cựu kháng chiến. Quá khứ ấy sống lại, vang dội trong

cảnh lao tù đêm giao thừa và lay động lòng người thật mãnh liệt: “Bài thơ đã đưa người cựu kháng

chiến về khung cảnh rừng núi ngày trước, nơi tung hoành của những chiến sĩ sôi sục căm hờn (…)

Người cựu kháng chiến mắt sáng ngời. Giọng đọc thơ nhanh dần, dồn dập rồi cuồn cuộn theo từng

ý thơ hùng tráng. Lời của ông ta bây giờ là của một chiến sĩ hăm hở, náo nức trước giờ xung trận.”

(tr.274 – 275). Trong đời sống thực tại của những năm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, khi mà

không ít những người “lâm vào cảnh ngộ như một khối tinh vân trong cơn gió lốc, rã rời, phân tán”

(Da vàng da đen), thì quá khứ oai hùng của cha ông như một cái neo vững chắc giúp con người

đứng thẳng và tìm được cách thế sống chân chính.

Không ít truyện ngắn mở đầu vào thời điểm hiện tại, hồi tưởng lại quá khứ và kết thúc truyện ánh

lên niềm suy tư, mong mỏi về tương lai như Chứng từ, Trốn, Tiếng hát lên trời ….Chẳng hạn như

Chứng từ. Truyện mở đầu bằng một điểm thắt nút: sự băn khoăn của hai đứa em nhỏ về cái chết của

Hà. Lời kể của đứa em đưa người đọc trở về một câu chuyện còn nóng hổi và rất thương tâm. Đoạn

kết truyện quay về thời hiện tại với bức thư Hà gửi cho chồng mà người du kích tình cờ nhặt được.

Trong cái “nét chữ non chửng” ấy là một niềm mơ ước thật giản dị: “Ước chi đừng có đánh nhau

nữa mình về với em, chắc vườn nhà mình sẽ xanh thêm, nhiều thứ cây sẽ được mình ươm lấy. Lúc ấy

con Chi, thằng Thừa không còn ở nhà mãi vì trường học thiếu thầy dạy. Mạ vẫn tiếp tục nhai trầu

mà không còn dừng lại để chép miệng thở dài nữa.” (tr.126). Nhưng cũng có những truyện tương lai

luôn hiển hiện trong từng trang viết như một nỗi niềm suy tư thường trực của nhân vật như Sa lầy,

Nắng mới trên biền đất bồi, Tự do hay là chết... Ước mơ của hai vợ chồng anh lính Thơ có từ những

ngày đầu đi lính theo mùa nước lũ mà ùa về và mênh mang không dứt như nỗi lòng của người vợ trẻ

xa chồng. Sự xuất hiện của bình diện thời gian tương lai trong bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu

không đơn thuần là sự phản ánh tâm trạng, nỗi lòng của các nhân vật mà còn khá phong phú về ý

nghĩa. Điều đáng chú ý nữa là sự biến đổi của sắc thái thời gian này trên những trang viết theo từng

chặng đường của các cây bút trẻ yêu nước ở Huế.

Ngay từ những trang viết vào giai đoạn đầu sáng tác của Trần Quang Long và các thành viên

nhóm Việt đã xuất hiện thời gian tương lai. Chú tâm phơi bày thực tại đổ vỡ trên quê hương, các tác

giả đã nhắc đến bình diện thời gian này như một sự khẳng định sức sống mãnh liệt của ước mơ mà

nói như người cựu kháng chiến trong Chọn một con đường: “cần phải mơ chứ, không mơ làm sao

sống nổi trong hoàn cảnh này” (tr.271); đồng thời cũng qua đó làm mạnh mẽ thêm sức tố cáo về cái

hiện thực không thể nào “sống nổi” đó. Các nhân vật – hay cũng chính các nhà văn – đã có nhiều

đêm “nôn nả chờ đợi” tương lai sẽ đến. Với người đàn ông trong Khu giọt nước, “đêm dài quá. Gã

đã sống trải một phần đời mà đêm chưa hết. Gã chong mắt chờ sáng” (tr.110). Nhưng nhìn chung ở

chặng đầu sáng tác, họ nhắc đến tương lai còn kín đáo e dè, nhiều khi tương lai còn mờ nhạt và đậm

chất ảo tưởng, mang nặng nỗi niềm thấp thỏm: “Ngày nào tôi thoát khỏi tình trạng này?” (Sa lầy);

“Một ngày nào đó, lúa sẽ mọc xanh vườn” (Ám ảnh); “Biết đến khi mô chúng mới vui vẻ thiệt sự,

niềm vui rong chơi suốt mùa thơ dại chớ không phải chỉ đậu nhẹ, chập chờn trên bộ đồ sọc xanh

thẳng thớm còn sột soạt mùi hồ” (Mùa xuân trên áo). Đến chặng sau, âm hưởng mạnh mẽ, khỏe

khoắn đã vang lên trong những niềm hy vọng, những mơ ước về tương lai: “Bóng tối đã trùm kín ba

người, nhưng trước mắt bà lão một khoảng sáng trưng chạy dài đến vô biên. Hết giặc, quân ngoại

xâm rút đi, con bà trở về, một đoàn hát mới thành lập, ôi chao, đẹp biết mấy ngày hòa bình!” (Giấc

mơ êm đềm, tr.321); “Bác lẩm nhẩm đọc chữ “Hòa Bình: viết bằng chữ in mầu xanh đậm, nổi bật

trên nền vải trắng. “Hòa Bình, Hòa Bình”…Hòa Bình thì bác sẽ không còn bị đuổi nhà một cách

oan ức nữa, bác sẽ bỏ nghề xích – lô đạp nhục nhã này để về khu vườn của bác ở Phú Mỹ mà trồng

dừa tát cá. Bác mường tượng tới một ngày mai” (Người phu xe xích lô, tr.145). Đây cũng là sự

chuyển biến chung của Thế Vũ từ một Ngày về đến Mưa trên lầu bát giác, của Võ Trường Chinh từ

một Bán máu đến Về miệt rừng tràm…Đó là hệ quả tất yếu của ý thức chính trị, sự nhạy bén về thời

cuộc của các nhà văn yêu nước.

Tương lai đã mang đến cho truyện ngắn yêu nước ở Huế một âm hưởng lãng mạn bay bổng lạ

lùng, bên cạnh cái gai góc sắc lạnh của hiện tại. Âm hưởng ấy không chỉ được toát lên từ niềm tin

của con người mà còn từ những hình ảnh tượng trưng đầy thi vị. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt bấy

giờ, các nhà văn thường mượn lối nói bóng gió để ám chỉ tương lai mơ ước hơn là nói thẳng. Hay

gặp nhất vẫn là những hình tượng thời gian: một “mùa xuân trên áo”, một ngày “nắng đang lên”

(Bóng tối sau lưng), “một ngày sáng tươi”(Giấc mơ êm đềm), một mùa lúa mọc xanh trong vườn

(Ám ảnh)…Sáng rỡ hơn cả là hình tượng mặt trời. Thay vì tên gọi Đêm trăng, nhà văn Trần Duy

Phiên đặt tên cho tác phẩm của mình là Trước khi mặt trời mọc – một tiêu đề đầy ấn tượng gợi đến

ngày mai, ngày mai của sự hồi sinh sau những đau thương tang tóc. Đó cũng là con đường mà

những người trẻ chân chính hướng tới: “Tôi sẽ đi…quyết đi (…) Anh hãy chờ tôi đi đến mặt trời”

(Da vàng da đen, tr.42).

Cũng như thời gian khách quan, thời gian nghệ thuật trong hầu hết tác phẩm là sự hòa quyện

không thể tách rời của ba chiều thời gian: hiện tại – quá khứ - tương lai. Đặc biệt trong những tác

phẩm mà hiện thực tâm hồn nổi trội lên hàng đầu, ba bình diện thời gian trên thường có sự đồng

hiện, đảo tuyến khá linh hoạt. Như ta đã thấy, những chiều thời gian này được đặt bên cạnh nhau,

đối sánh và bổ sung đắc lực cho nhau trong việc chuyển tải tư tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Tái

hiện dòng thời gian tâm lý đầy phức tạp của nhân vật, truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này

không chỉ xây dựng được những nhân vật hấp dẫn, nhiều sinh sắc mà còn nới rộng được rất đáng kể

sức bao quát hiện thực, sức chứa của thể loại truyện ngắn.

3.3.2. Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học không chỉ giản đơn là không gian vật chất mà còn

là không gian tâm tưởng, không gian tinh thần. Nói cách khác, cùng với thời gian nghệ thuật, không

gian nghệ thuật đưa đến một cảm nhận rõ nét về sự tồn tại của thế giới nghệ thuật, qua đó nhà văn

phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Trong truyện ngắn yêu nước ở Huế, ta

có thể kể đến hai loại không gian: không gian hiện thực và không gian suy tưởng, tưởng tượng.

Với ý hướng phơi bày chân thực hiện tại khách quan, các nhà văn trẻ đã phản ánh trong sáng tác

của mình nhiều không gian, địa bàn khác nhau tùy theo sở trường và hoàn cảnh của bản thân. Cũng

có thể kể đến không gian chiến trường trong một số tác phẩm của Thái Ngọc San, Ngụy Ngữ, Trần

Hồng Quang…Tuy nhiên nếu xét về không gian hiện thực , nổi bật lên trong bộ phận truyện ngắn

này vẫn là không gian nông thôn, không gian thành thị và không gian lao tù.

Từ muôn đời, hình ảnh nông thôn luôn có sức lay động mãnh liệt tâm thức mỗi người Việt về bản

quán, cội nguồn, về quê hương xứ sở. Đối với các nhà văn trẻ xứ Huế, xây dựng không gian nông

thôn không chỉ nhằm mục đích phản ánh hiện thực mà điều quan trọng không kém là qua đó, họ gửi

gắm một tình yêu da diết, mãnh liệt với xứ sở, niềm tự hào và không nguôi nhắc nhớ về truyền

thống dân tộc.

Sự tố cáo chiến tranh với một nỗi đau đớn thấm thía trở thành cảm hứng chủ đạo trong những

trang viết về nông thôn ở nhiều vùng quê khác nhau. Trần Quang Long trong Về thăm người yêu

phơi bày thảm cảnh của một miền quê chỉ cách xa thành phố phồn hoa có vài cây số : “Những khu

dừa nước cháy vàng, những thân cây trơ trụi lá khẳng khiu dãi ra đến tận chân trời. Tất cả đều như

đang nghẹn ngào nức nở” (tr. 4). Qua đồng Văn Xá của Trần Duy Phiên tái hiện sự kinh hoàng đến

khủng khiếp của một vùng oanh kích tự do sẵn sàng cướp đi sinh mạng của những người vô tội bất

cứ lúc nào. Và như một lẽ thường tình, là những người con của xứ Huế, của miền Trung yêu dấu,

cho nên, không hẹn mà gặp, “viết về miền Trung” trong đó có xứ Huế trở thành niềm thôi thúc

trong nội tâm của mỗi nhà văn.

Nông thôn của Trần Hồng Quang mang lại cho người đọc nhiều xúc cảm với những trang viết

đậm chất thơ. Đó là làng quê miền Trung êm đềm, mộc mạc với biền đất bồi ven sông vào mùa mưa

lũ, với từng cây cam, luống cải, cây ổi đung đưa trong nỗi nhớ của người lính xa nhà (Nắng mới

trên biền đất bồi). Đạo đức, gia phong vẫn là máu thịt để người ta gìn giữ, và sự quan tâm đến nhau

nhiều khi vẫn được thể hiện bằng những lời đồn đại, xóc mói (Thằng cháu ngoại). Tuy nhiên, vẻ

êm đềm ấy chỉ là bề ngoài bao bọc bao nhiêu rạn vỡ, bao nhiêu cay đắng ở bên trong. Trên cái mảnh

đất nghèo ấy, ngày ngày vẫn có những người vợ chờ chồng trong ánh đèn tù mù, vẫn có những

chuyến xe chở xác chết từ chiến địa trở về, vẫn có cây cầu bao phủ bởi bóng đêm– nơi những người

con gái lương thiện như Huyên bị lừa dối, lợi dụng để rồi phải tìm đến cái chết…

Những truyện ngắn viết về nông thôn của Huỳnh Ngọc Sơn vừa hằn lên vẻ gai góc, sắc sảo khi

phơi bày thực tại đen tối vừa thấm đượm nỗi niềm của một tấm lòng nhân ái. Huỳnh Ngọc Sơn tập

trung thể hiện bức tranh làng quê trong một không khí dồn nén, oi bức với bao tai ách nặng nề.

Nông thôn trong Con dao mổ chó toát lên vẻ u ám, tiêu điều của cái đói và cái chết với “con đường

tre phủ âm u” (tr.30). Và cùng với cái chết của lão Noại dưới tay của xã Ám là “tiếng chó sủa nghe

eo óc buồn thảm như tiếng ma trơi” (tr.36). Xóm Nước Ngọt của anh Vượt (Ngón tay chết) ngập

chìm trong “cơn nắng gay gắt”, “cơn nắng chói chang hắt vào mặt những lửa nạm vàng hăng”,

“những thân tre vàng cháy, đọt thiêu khô, đứng sựng, những cây chuối ủ rũ, chết đứng” (tr.112 –

113) bởi bom đạn của “bạn Đồng Minh Hoa Kỳ”. Mùa xuân trên áo vẽ lên những cánh đồng “vắng

vẻ buồn thiu” bởi người cày cấy đã bỏ quê mà đi vì chiến tranh, áp bức mà “chán nản cái cảnh làm

thì có mà ăn thì không” (tr.23). Theo chân quân giặc ngoại xâm, tất cả đã đổ vỡ, cả những truyền

thống văn hóa tốt đẹp nhất, đoàn hát tuồng nổi danh theo đó cũng tan đàn xẻ nghé “Thắng trở về

phờ phạc, mặt mày xanh xao, đưa đôi mắt thất thần nhìn rạp hát bây giờ chỉ là một cụm than, mấy

trụ gỗ to tướng còn ngún lửa” (Giấc mơ êm đềm, tr.314)…

Với Trần Hữu Lục, cội nguồn của tâm hồn ông là một làng Vân Dương – làng quê trở đi trở lại

trong nhiều tác phẩm. Sau này, chính ông cũng chân thành thổ lộ: “Mỗi người cầm bút đều có một

miền quê hương riêng. Tôi cũng thế. Tôi có làng Vân Dương trên nhiều trang sách của tôi. Nhưng

tôi phải rời làng, lưu lạc lên tận cao nguyên, rồi vào miền Nam…Những năm tháng xa quê đó, Vân

Dương như một ngọn đèn không bao giờ tắt trong tôi” [59; tr.98]. Cũng như miệt vườn Nam Bộ

trong sáng tác của Võ Trường Chinh, làng quê của Trần Hữu Lục ẩn giấu một điều vô cùng thiêng

liêng, tha thiết, đó là hồn đất nước, hồn dân tộc. Làng quê của đò ba bến, nhà máy gạo rì rầm, của

“đàn nghé thênh thang về chuồng lưng bùn láng bóng vào lúc chiều tàn”, “ngôi đình trầm hương

nghi ngút áo thụng áo xanh khăn đóng guốc mộc của một sáng lễ lược”, “lũy tre còn tơi tả suốt một

mùa đông không ngăn nổi cơn gió lạnh qua làng” đã gắn bó biết bao với thời thơ ấu mát ngọt

“thơm lừng hoa bắp hoa bưởi” (Thư từ thành thị), và những đời lam lũ với “những giấc mơ thật

hiền và nghèo nàn” (Cách một dòng sông).

Trong cái thời đau thương của những năm chiến tranh, làng quê “xôi đậu” này đã “nuôi dưỡng sự

sáng tạo bền bỉ, cung cấp hiện thực sinh động” trong đó có “những cảnh đời, những số phận”

[59;tr.98] cho nhà văn chắp bút lên trang. Đâu đâu cũng có hình ảnh điêu tàn của quê hương, từ

“cánh đồng lúa tháng ba bị xe bọc thép cày nát (…) Làng ủ ê và cô quạnh đến bùi ngùi” (Chứng từ)

đến lớp học có “những con thằn lằn xám trên nền vôi vàng, những tổ chim sẻ trên nóc mái ngói,

những bàn chân bẩn đen đúa, những buổi dậy bất an, những người lính áo đen ở ngoài cửa” (Tuổi

đồng quê, tr.45). “Trai trẻ bỏ quê đi hết (…) Ruộng đồng thiếu vắng người canh tác. Làng xóm thưa

người ở và ngày càng mất an ninh” (Tình đất, tr.7). Tiếng đàn “buồn rã rượi và u hoài” trong căn

nhà lá lụp xụp trong Di vật như nói lên tất cả nỗi tang thương. Và một hình ảnh gần như đã hóa

thành biểu tượng của đau thương: dòng sông – cây cầu, cái giới tuyến phân cách hai bờ trở đi trở lại

trong nhiều trang viết Trần Hữu Lục.

Tuy nhiên, Vân Dương không chỉ điển hình cho tang tóc, đau thương mà còn tiêu biểu cho sức

sống, sức vươn lên của dân tộc. Trong truyện Trần Hữu Lục, Vân Dương của năm 1972 khác hẳn

với một Vân Dương những năm trước đó. Vẫn đổ nát điêu tàn, song từ cái điêu tàn ấy là sự hồi sinh

và trưởng thành của một làng quê kháng chiến khơi dậy trong lòng người con xa quê niềm xúc động

tự hào: “trên bờ đê phơi mình dưới nắng vẫn là lối đi về của những bước chân chưa hề mỏi mệt (…)

Chỉ cần nhìn thấy nét chữ màu đỏ viết non chững trên tấm bảng loang lổ dấu đạn, những đôi mắt

ngoan hiền rực rỡ, những đôi môi chụm lại thật tròn (…) cũng đủ làm anh sung sướng đến ngần

nào” (Thư gửi em gái Vân Dương, tr.99).

Bên cạnh không gian nông thôn, một không gian nghệ thuật được nhiều nhà văn chú ý miêu tả và

cũng gây ấn tượng sâu sắc đối với người đọc là không gian thành thị. Có thể nói, ngoại trừ một cố

đô Huế mộng mơ, êm đềm trong các trang văn của Trần Hữu Lục, Ngô Kha với“những chuyến phà

cũ càng trên dòng sông Hương, lớp sóng âm thầm dưới gầm cầu Tràng Tiền, vài cánh bèo nở hoa

tím ngát” (Như chim bạt gió, tr.13), thành thị trong truyện ngắn các tác giả trẻ xứ Huế mang màu

xám buồn chủ đạo.

Dưới ngòi bút của các tác giả, thành thị hiện lên thật xô bồ hỗn độn với những mảng tối sáng

phân hóa và đối lập nhau đến cực độ. Không chỉ bị tàn phá ghê gớm bởi chiến tranh (Mặt đất quê

ngoại), thành thị còn bị lung lay tận gốc rễ khi những giá trị văn hóa bị lu mờ trước những rác rưởi

của văn minh Tây phương và sự xuất hiện ồ ạt của những dịch vụ chiến tranh: “những dẫy khách

sạn, những dẫy “ba”, những trường dạy tiếng Mỹ cấp tốc, những nhà chứa đắt tiền (…) Đường Võ

Tánh dài khoảng năm trăm thước mà có đến gần một trăm cái “ba”” (Người phu xe xích lô, tr.119

– 121). Những điều ngược đời, bê bối “chưa từng thấy” diễn ra ngay trong trường học – nơi người

ta rao giảng đạo lý và chính sách bài Cộng (Chưa từng thấy, Thư từ thành thị). Trong Ngủ ấp, Trần

Hữu Lục phơi bày sự phân hóa sâu sắc giữa một đêm thành thị “có đệm hồng và những điệu nhạc

quấn quýt bước chân”, “có nệm ấm và hương hơi da thịt” (tr.130) của thị dân trưởng giả và đêm

nông thôn với “ngọn đèn cầy tù mù chập chờn”, “đàn quạ bay liệng kêu oang trên chòi canh”

(tr.137 – 138).

Không chỉ đối lập sâu sắc với nông thôn, thành thị còn chứa đựng trong bản thân nó những tương

phản đến mức cực đoan giữa các biệt thự, cao ốc, nhà lầu, xe hơi của một số người phất lên do

hưởng lợi bất chính từ chiến tranh với những khu nhà ổ chuột ọp ẹp, những ngõ phố nhỏ tồi tàn của

đủ thành phần dân cư. Cái vũng nước bẩn thỉu, đen ngòm dưới chân đám người nghèo mỗi buổi tối

quây lại quanh chiếc ti vi nhỏ xíu trong Buổi tối ngoài ngõ cũng là hình ảnh gây nhiều suy nghĩ bên

cạnh cái bữa ăn tồi tàn, thảm hại dưới “cây đèn bỏng treo cao phả ra cái ánh sáng vàng mờ” trong

căn nhà tồi tàn của vợ chồng anh Điểu (Hộp thịt Mỹ). Trần Hồng Quang gợi nhiều xúc động với đời

sống dật dờ của những con người trong túp lều tạm cư: “mái tôn hầm hập (…) nhễ nhại, bức bối” và

tiếng chửi rủa của ông bố nát rượu, hình dáng nhẫn nhục ngồi bó gối của người mẹ đang cố nén

tiếng khóc, người con “đầm đìa nước mắt trong bóng đêm vo ve tiếng muỗi” (Mặt trời mù). Và còn

một xóm Lò Bò trở đi trở lại trong sáng tác của Trần Duy Phiên. Xóm Lò Bò, nơi “tập hợp đủ thành

phần – đĩ điếm, trộm cắp, cờ bạc, thợ thuyền, phu xe, binh sĩ lang bạt…Có nhiều heo ủi đất kiếm ăn

hai bên đường, nhiều trẻ em bụng ỏng lê lết ngoài ngõ. Xế chiều, những chàng say lè nhè ở mấy

quán cóc (…) Chập tối, trong mấy căn nhà chứa thấp lè tè, những vụ đánh ghen ỏm tỏi. Và giữa

khuya, cùng với gió rừng đổ về, tiếng chó tru dai dẳng ngoài bãi mồ hoang vắng” (Trốn, tr.113).

“Vũng dân cư” nơi chốn thị thành cao nguyên bé nhỏ nhưng đầy rẫy phức tạp này sống trong mùi

tanh hôi của những bãi rác cao ngất ngưởng, và không ít cuộc đời cầm hơi nhờ đống phế thải ấy (Tư

Giò). Xóm Lò Bò cũng là nơi bao nghịch cảnh diễn ra: từ một thứ “quỷ sứ” của chiến tranh như Sáu

Dền tiếp tục gây nên những cảnh kinh hoàng (Sáu Dền) đến cảnh vợ chồng đánh chửi nhau như cơm

bữa vì nghèo đói, bần cùng để rồi chị vợ bỏ nhà đi làm gái điếm (Sau bức màn hoa). Rồi lại tới việc

anh thanh niên trốn lính suốt 6 năm trời ròng rã trong một căn gác nhà chùa (Trốn). Có thể nói, xóm

Lò Bò là một bức tranh thu nhỏ khá điển hình về một thành thị miền Nam đang chìm dần trong sa

đọa và tan rã. Cũng như ngoại ô Dĩ An của Cung Tích Biền – xóm Lò Bò như “một món thời đại

nặn sinh ra” để rồi “Mọi nếp sống sẽ đổi thay. Mọi tâm hồn sẽ bị lung lạc trước sức mạnh của vật

chất” [1; tr.9].

Tuy chiếm số trang không phải là nhiều trong bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu, song những

tác phẩm viết về lao tù của Tiêu Dao Bảo Cự, Trần Quang Long và Trần Duy Phiên vẫn có được

một sức lay động mãnh liệt đối với lương tri và trái tim người đọc. Vạch trần một thực tại phi nhân

chốn lao tù là nguồn cảm hứng sôi sục trong những sáng tác một thời gây xôn xao dư luận: Mưa

trên lầu bát giác (Thế Vũ), Người bắt ruồi (Nguyễn Hoàng Thu) và không thể không kể đến Tự do

hay là chết (Tiêu Dao Bảo Cự), Trước khi mặt trời mọc (Trần Duy Phiên)…Một điều đáng chú ý

nữa là đọc truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này, không gian lao tù trở thành một nỗi ám ảnh

hầu như thường trực trên rất nhiều trang viết.

So với nhiều tác giả khác trong nhóm Việt, Tiêu Dao Bảo Cự viết không nhiều nhưng đã để lại

những tác phẩm như là những bản án thật đanh thép, sắc sảo về hiện thực rùng rợn của một địa ngục

trần gian “Căn phòng dài 15 mét rộng 10 mét. Gần 200 người xếp thành ba lớp như cá hộp. Muỗi.

Rệp. Năm này qua năm khác. Thiếu nước. Thiếu không khí. Thiếu vận động. Ăn uống kham khổ”.

Đó là đoạn văn trong Trích Nhật ký trong trại giam của Tiêu Dao Bảo Cự. Địa ngục ấy đầy rẫy

những kẻ cam tâm làm tay sai cho một thể chế chính trị dùng bạo lực để duy trì sự thống trị của

chúng, nơi người đối với người là thú dữ, nơi diễn ra như cơm bữa đủ các hình thức tra tấn dã man

thời trung cổ như một lời “đối thoại” của chính quyền với những con người vô tội, những người đòi

được thấy dân chủ, hòa bình, ấm no: “Người ta bắt tôi nhìn một người nằm bất động trong góc, mặt

úp vào tường. Quanh hắn những máu những phân và nước tiểu nhầy nhụa trên nền nhà”. Đó là lời

kể của người phụ nữ trong Trước khi mặt trời mọc. Chị đã bị đọa đầy, trốn tù không thành công, và

bị kết án tử hình: “Nhiều lần tôi gục mặt xuống không gian đen tối này, ru con cho khô hết những

giọt nước mắt còn lại” (tr.47). Ghê rợn không kém là những bệnh viện – nơi cứu chữa người trong

chốn lao tù:

Một bầu không khí chết chóc bao quanh anh. Phòng tối tăm như trời đang tờ mờ

sáng. Những chấn song lớn bằng cánh tay đặt sát bên nhau làm thành một bức

tường kiên cố vây bọc (…) Anh suýt kêu rú lên, vì người nằm bên anh đã chết từ

hồi nào (…) Tiếng anh gọi dội lại trong căn phòng lạnh lẽo làm anh rờn rợn. Dưới

chân anh là sàn nhà ngập lụt nước tiểu và phân người, bốc mùi hôi hám ngạt thở.

Đây là lần đầu tiên anh chứng kiến được một cảnh địa ngục rùng rợn hơn những

địa ngục có trong tưởng tượng của anh từ dạo bé (Bông cúc vàng, tr.105).

Bị đày đọa trong cái không gian mà ‘‘mỗi ngày đều bị quỷ sứ đem ra cưa tay cưa chân, moi mắt

mổ ruột nhưng không thể chết được” đã thực sự kinh hoàng. Nhưng so với những đày đọa về vật

chất là một sự đè bẹp ý chí và khát vọng đưa đến “sự cùng quẫn về tinh thần làm tất cả chúng tôi

mòn hơi (…) Ngày mai mù mịt không thể lường đoán” (Trích nhật ký trong trại giam, tr.99) càng

đáng sợ hơn.

Tuy nhiên, nhà tù – chốn địa ngục trần gian – cũng đồng thời là trường học, trường đào luyện lý

tưởng cho những con người chân chính, biết ước mơ một ngày mai tốt đẹp hơn. Ý chí, khát vọng

chắc chắn sẽ không bị tiêu diệt, mà ngược lại càng mạnh mẽ hơn, cường tráng hơn. Chính vì thế,

hình ảnh người con gái ngồi thêu trong tù gợi cho Phan nhiều xúc động và suy nghĩ: “Anh vẫn hình

dung được nàng đang ngồi thêu khăn trên một viên gạch đặt trước cửa phòng. Đầu nàng cúi xuống.

Những ngón tay mập tròn, linh động trên vuông khăn trắng. Những sợi chỉ mầu ngắn dần, tạo thành

những đóa hoa, những ngọn lá trên nền vải trắng trinh nguyên” (Bông cúc vàng, tr.109). Hiểu được

con đường mình đang đi, cảm được tình liên đới tuyệt đẹp giữa những người cùng tranh đấu, Phan

“thấy rạt rào một hạnh phúc kỳ diệu đang tỏa ngời hào quang chung quanh anh, đang xôn xao

trong không khí anh thở, đang dịu dàng mơn trớn trong cơn gió Hạ đầu mùa…” (tr.101). Rõ ràng,

thế lực cầm quyền đã sai lầm, bởi ngay trong song sắt của cánh cửa tù ấy, tiếng hát vẫn vang dội,

những cánh tay vẫn đưa lên (Mưa trên lầu bát giác – Thế Vũ). Cùng với “những giọt nước mắt

người mẹ…đôi mắt sợ hãi của đứa em nhỏ…Những bàn khai cung…Những chén cơn hẩm lổn chổn

sạn…Những tiếng thét hãi hùng chung quanh”, người ta vẫn có “những dự tính cho ngày mai” [85;

tr.299]. Và người con gái vẫn âm thầm thêu lên những cánh hoa vàng tươi thắm…

Cùng với một không gian hiện thực phong phú và nhiều ý nghĩa, các tác giả trẻ xứ Huế đồng

thời cũng xây dựng lên trong truyện ngắn một không gian suy tưởng, tưởng tượng. Đúng như tên

gọi của nó, đây là loại không gian gắn rất chặt với cõi tâm tư của nhân vật, và nhiều khi chỉ có ở

trong tưởng tượng, mơ ước.

Khi con người càng bị dồn nén trong một không gian chật chội, bé nhỏ, phải sống trong một thực

tại nghiệt ngã, mỏi mòn thì cõi tâm tư của họ càng bùng nổ, càng mở rộng ra tới mênh mang, nhất là

khi họ là những con người khát sống và giàu ước mơ. Cho nên không phải ngẫu nhiên loại không

gian suy tưởng thường gặp trong truyện ngắn yêu nước ở Huế là loại không gian nhỏ hẹp: một căn

nhà (hay căn phòng, căn gác) , một lớp học, một nhà lao…

Trong chính những không gian nhỏ hẹp đó, các nhân vật thường đắm chìm trong suy tư về thế

cuộc, về thân phận. Tất nhiên vẫn có những hồi ức: kỷ niệm êm đềm của người tù về tuổi thơ với

hình ảnh người mẹ ngồi bên bếp lửa những ngày mưa, nồi bánh tét nóng hổi đêm giao thừa (Chọn

một con đường); ký ức về một thời trẻ giàu khát vọng của người thanh niên đang trốn lính suốt mấy

năm trời ròng rã trong căn gác nhỏ (Trốn, Tiếng hát lên trời); hồi tưởng về một cõi chiến trường đầy

máu me chết chóc ghê rợn của Tuân trong căn nhà bé bằng cái “hang chuột” (Căn nhà)…Song

nhiều nhất vẫn là những giây phút nung nấu nghĩ suy về thực tại. Thư học trò là tâm sự cay đắng

của người học trò suốt ngày chui rúc trong căn nhà có cái giường kê cạnh chuồng heo. Bằng nằm

ngay trên giường mà ngẫm nghĩ về kiếp đánh thuê tôi đòi (Những bước rã rời). Uyên nghi ngờ, tự

vấn, dằn vặt về kiếp “sống thừa” trong cái gác nhỏ xíu (Chiến tranh bước nhanh hơn khốn nạn

thật). Trong nhiều truyện ngắn của Trần Hữu Lục là một “căn nhà trống, bỏ hoang vì chiến cuộc”.

Ở đó, trong cái khuya khoắt, im lắng của những đêm dài, người thanh niên nghe được “cơn đau dài

của đất” , nghĩ về những tiếng “âm thầm thở dài” của “ruộng chiêm, ruộng mùa, vườn hoang nhà

trống (…) suốt những ngày trường chinh” (Thư từ thành thị, tr. 72 – 73). Cái phòng giam tối tăm

cũng là nơi bác T. nhận ra bản chất “quỷ sứ” của một lũ đày đọa con người (Tự do hay là chết).

Nhận chân hiện tại bi đát, họ cũng nghĩ nhiều về cách thế sống của chính mình. Người thiếu phụ

lấy Mỹ vì mong được gọi là “bà”, được thoát khỏi “lũ học trò nghèo suốt cả mùa đông chỉ mặc một

chiếc áo vải viện trợ Mỹ” những ngày sống chủi lủi, trốn tránh trong căn nhà ngột ngạt đã mong ước

hơn lúc nào hết là được trở về (Về nguồn). Cũng chính trong căn nhà “hoang vắng âm thầm”, người

thanh niên quyết “đi đến mặt trời” (Da vàng da đen). Và trong cái lớp học nghèo thôn quê – nơi

luôn rình rập những người đàn ông chực chờ bắt những đứa như thằng Hùng ấy – người thầy giáo

trẻ tự đấu tranh gay gắt với phần ươn hèn, khiếp nhược trong chính bản thân mình (Những đứa học

trò vắng mặt). Với Phan, nhà tù cũng là nơi “chứng nghiệm lại những điều đã thu thập trong sách

vở và trong đời sống” để rồi ý thức rõ hơn sứ mệnh tranh đấu của chính mình (Bông cúc vàng).

Cùng với thời gian tương lai là một không gian tưởng tượng. Trước hết, đó là những hình ảnh

không gian xuất phát trên cơ sở thực tại, và mang đậm cảm xúc của nhân vật. Chẳng hạn trong Căn

nhà, sự hội tụ của những ký ức kinh hoàng về chiến tranh, những ngày tháng mòn mỏi chán ngán tột

độ cuộc sống nhạt nhẽo tình người mà đầy rẫy những dằn vặt, đố kỵ, khinh ghét, không hy vọng,

không tương lai đã đưa Tuân đến một tưởng tượng kinh hoàng: “Có chiều Tuân mê đầm trong một

thứ cảm giác thê lương khủng khiếp khi nghe tiếng quạ kêu; quạ kêu ngoài vườn tắt nắng đi vào

hoàng hôn. Tuân bụm mặt như vừa thấy được cõi sau mịt mờ kỳ dị của cuộc đời mình, bà Hạnh, ông

Lâm và muôn trùng. Tất cả chạy biến vào cõi không gian đầy đặc máu tươi, hắc khí và gai xương

rồng” (tr.44). Ở đây, sự xuất hiện của không gian tưởng tượng làm gia tăng sức mạnh tố cáo hiện

thực của tác phẩm.

Song, phần lớn không gian tưởng tượng là không gian mơ ước bát ngát, bay bổng trong không ít

những trang truyện ngắn. Tất nhiên, với ý hướng phản ánh hiện thực trên tinh thần tranh đấu, tần số

xuất hiện của loại không gian này khiêm tốn hơn nhiều so với không gian hiện thực, song vẫn để lại

nhiều dư vị đẹp và có sức thúc giục lòng người. Không gian tưởng tượng, mơ ước luôn gắn liền với

ánh sáng, với hồi sinh, nảy nở xóa đi bao cảnh điêu tàn: “Cái biền đất bồi, cái biền đất bồi…Chị

phải níu Thơ lại trên cái tương lai có giàn bầu chĩu trái, có luống cải hoa vàng thơm lừng trong

nắng mới trên biền đất bồi” (Nắng mới trên biền đất bồi); luôn gắn liền sự quật khởi của những kiếp

lầm than: “Rồi tôi bỏ nhà đi, thênh thang trên các ngõ đường nườm nượp người. Một vùng rợp

trắng những cánh bồ câu. Ngày hội lớn của bao năm chờ đợi phút chốc rầm rập những bước chân

người. Rừng mọc lên thành phố. Hàng cây cao cũng đốt đuốc theo đoàn người” (Còn quê hương để

trở về, tr.593).

Như vậy, có thể nói, không gian và thời gian nghệ thuật mà các tác giả yêu nước ở Huế giai đoạn

1964 – 1975 xây dựng trong truyện ngắn là khá đa dạng. Hình tượng không – thời gian ở đây không

chỉ có những nét chung đối với các sáng tác của những nhà văn tranh đấu đương thời mà còn có

không ít những nét đặc sắc thể hiện sở trường, bản lĩnh và tài năng nghệ thuật ở mỗi nhà văn; qua

đó góp phần làm nên thành công nghệ thuật của bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu.

3.4 CHẤT HUẾ TRONG NGÔN TỪ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN

Truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 không tách rời khỏi không khí văn hóa đã

góp phần sinh thành ra nó – văn hóa Huế. Nền văn hóa giàu truyền thống và bản sắc ấy không chỉ

lặn sâu trong hình tượng nhân vật mà còn được thể hiện dù ít hay nhiều trong ngôn từ nghệ thuật,

trong câu chữ, giọng điệu của từng nhà văn, từng tác phẩm.

3.4.1 Một kho tàng tiếng Huế phong phú, đặc sắc

Mỗi người cầm bút đều có một quê hương. Hai chữ “quê hương” ở đây không chỉ là mảnh đất

nuôi nấng người cầm bút ấy trong bầu khí quyển của tình yêu thương, của một nền văn hóa mà còn

là mảnh đất cung cấp hiện thực sinh động, khơi nguồn cho những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

và được anh ta làm sống dậy trong tác phẩm của mình. Với hầu hết các tác giả trẻ ở đây, thì Huế

đóng vai trò của cả hai quê hương như thế.

Khái niệm “tiếng Huế” trong trường hợp này được hiểu như cách hiểu của Bùi Minh Đức : “Khi

nói đến “Tiếng Huế” là chúng tôi muốn nói đến “ngôn từ xứ Huế”, có cả “Ngôn” và có cả “Từ”.

Tiếng Huế , không phải chỉ có các từ đơn mà thôi mà còn có cả những câu, những thành ngữ,

những ca dao, tục ngữ mà người Huế thường hay dùng trong đời sống hàng ngày của họ” (Chữ

nghĩa tiếng Huế,tr.11).

Có thể nói rằng, việc sử dụng tiếng Huế trong các tác phẩm của bộ phận truyện ngắn yêu nước ở

Huế không chỉ do những tác giả ấy là người Huế, mà quan trọng hơn là điều đó thể hiện một dụng ý

tu từ. Bởi “vẻ đẹp của âm điệu địa phương ấy” có tác dụng lớn lao trong sự “biểu đạt tính chân thực

của hình tượng, tâm lý, tính cách của con người địa phương, tóm lại là có sắc thái địa phương rõ

rệt”[41;tr.180].

Mỗi vùng, miền đều có cách phát âm riêng. Tuy nhiên, nếu trong văn bản viết, do sự chi phối của

yêu cầu viết đúng chính tả nên các nhà văn thường không thể hiện nhiều hiện tượng biến âm ấy thì

trên văn bản nghệ thuật, với dụng ý xây dựng nên các hình tượng nhân vật như những con người cụ

thể, sinh động, họ có thể ghi lại cách phát âm của chúng. Trong bộ phận truyện ngắn được nghiên

cứu, ta có thể thấy điều này ngay cả ở lời người trần thuật nhưng rõ nhất vẫn là lời nhân vật – những

nhân vật mà “giọng Huế đặc quánh trong tiếng nói” [84;tr.24].

Về mặt âm chính, ta thường thấy hiện tượng rút ngắn độ mở của nguyên âm: bịnh/ bệnh, bất

nhơn/ bất nhân, con kinh/ con kênh, cưng chìu/ cưng chiều, dập dình/ dập dềnh, giựt thót/ giật thót,

nhứt quyết/ nhất quyết, mát rọt/ mát ruột, tức tửi/ tức tưởi, Trường Tiền / Tràng Tiền…Ví dụ như:

“Thiệt là đồ bất nhơn, con hành rồi lại cháu hành” (Tình đất, tr.11) -

“Hắn cưng chìu, quý trọng tôi hơn bất cứ một người đàn ông Việt Nam nào đối với tôi” -

(Sa lầy ; tr.79)

“Tiếng thở dài âm thầm một thời đang dập dình trôi theo dòng nước” (Cách một dòng -

sông, tr.7)

Hiện tượng phụ âm đầu bị biến âm không nhiều. Chẳng hạn trong trường hợp, sau:

“Anh Đất nốc một hơi rồi mới day lại [quay lại] nhìn ông Mẹo thật lâu” (Xóm hói, tr.116) -

“Tịnh nghĩ lang bang [lan man] và mường tượng nỗi nhớ nhô mình trên thân thể, nhớ -

đến nổi da gà” (Cầu sương mù, tr.100)

Trong khi đó, rất hay gặp sự biến đổi trong cách phát âm phụ âm cuối. Các phụ âm cuối lợi “t”,

“n” đều chuyển thành các âm mạc tương ứng là “k”, “ng”. Ví dụ:

“Y nghe réo rắt, ray rức [ray rứt] trong đầu óc” (Da vàng da đen; tr.33) -

“Ba Thoàn bương bả [bươn bả] trên dốc đê” (Tình đất, tr.7) -

Về thanh điệu, người Huế rất hay dùng lẫn thanh ngã, thanh nặng với thanh hỏi. Ngay chỉ một

truyện Dáng hư hao của Trần Doãn Nho đã có rất nhiều trường hợp này: đi ngũ [đi ngủ] (tr.82), thả

lõng [thả lỏng] (tr.85), chẫm rải [chậm rãi], bữa cũi [bửa củi], đở đở [đỡ đỡ](tr.91), mĩm cười

[mỉm cười], hớt hãi [hớt hải] (tr.94) …Nhưng hiện tượng biến đổi thanh điệu này lại không nhiều

trong truyện ngắn yêu nước ở Huế. Điều này cho thấy ý thức chọn lọc, trau chuốt về mặt ngôn từ

của các tác giả trẻ ở đây:

“Mua chịu mua lửa [lựa] chi cũng được” (Hộp thịt Mỹ, tr.46) -

“Nghĩ đến con vàng đang ra công tìm kiếm ngỏ ngách [ngõ ngách] vào sục sạo xó bếp -

nhà ai, y thòng hai chân xuống tìm dép” (Da vàng da đen, tr.33).

Như vậy, các tác giả đã thể hiện được phần nào cách phát âm của người Huế, mà đến nay cách

phát âm ấy vẫn được dùng khá phổ biến trong khẩu ngữ. Nhờ đó, chất Huế ở nhân vật nói riêng và

trong truyện ngắn nói chung được hiện lên thật sinh động.

Một phương diện đáng chú ý nữa là sự sử dụng từ đơn, từ láy. Ngoài những từ được coi là “đặc

sản” của phương ngữ Huế hay được người Huế dùng nhiều, ta còn thấy ở đây một hiện tượng phổ

biến của ngôn ngữ thời ấy – đó là hiện tượng vay mượn tiếng nước ngoài như một hệ quả tất yếu

của một thời gian dài giao lưu văn hóa (mà phần lớn có tính chất cưỡng bức) , nhất là tiếng Pháp

như: đại từ xưng hô toi – moi (trong Da vàng da đen, Tuổi đồng quê), động từ đê – mông – tê

(Nước mắt thầy), danh từ công – voa (Tình đất), cam – nhông (Sau bức màn hoa), từ để chào hỏi ô

– voa, bye, hello (Da vàng da đen)…Đặc biệt, thời chiến đã kéo theo sự xuất hiện của những từ ngữ

vay mượn liên quan đến chiến tranh: hố ca – nông, mọoc – chê, pông – sô, plastic, zu – lu, ra –

phan…trong khá nhiều tác phẩm.

Ở phương diện từ đơn, người đọc thú vị khi thấy một chất Huế đậm đà qua các từ hình như đã là

của riêng vùng đất miền Trung này bao gồm tất cả các loại từ như: ui chao, chao, chi, mô, răng,

rứa, hỉ, hí, đa, chừ, nè, ni, nì, sắp nhỏ, o, mệ nội, chú, me…Tất cả tạo thành một tiếng Huế nghe

vừa “âm trầm sâu lắng” mà cũng vừa líu lo như chim hót. Trong số đó, có nhiều từ mà nếu không

có sự giải thích thì người ở vùng khác sẽ không dễ mà hiểu được. Chẳng hạn đoạn thư đứa con gái

nhỏ viết cho người cha đang ở mặt trận trong Ngón tay chết của Huỳnh Ngọc Sơn:

Chú ơi, mấy bửa ni thì mạ nằm liệt giường liệt chiếu. Mạ đau vì mạ đi chặt củi,

bị bổ xuống hố trợt cả hai trốt cúi. Mạ nằm dài cả ngày, đêm thì rên rỉ rỉ rên (…)

Chú ơi, ló mình mùa ni hai soi, dưới hói bị rầy bu hư hết, lưa còn hai soi côi biền

được hót lắm (tr.110)

Rõ ràng, lớp khẩu ngữ Huế đã được các tác giả triệt để khai thác và sử dụng để dựng lên chân

dung nhân vật một cách sinh động, cụ thể. Ở đây, không thể không nói đến vai trò của các từ láy –

lớp từ vừa nhấn mạnh được tính chất, đặc điểm của thiên nhiên, sự vật, con người kèm theo sắc thái

tình cảm rất mực tinh tế của người nói, đồng thời cũng tạo ra được âm hưởng nhịp nhàng, vẻ linh

động, mượt mà của câu văn. Trong đó, phải kể đến sự xuất hiện của các từ láy thuộc hệ thống từ

toàn dân bên cạnh những từ địa phương. Chẳng hạn trong truyện Huỳnh Ngọc Sơn:

“Những miếng khoai hết xô xảm, trôi nhẹ, tự nhiên” (Hộp thịt Mỹ, tr.46) -

“Thằng hai ngồi bè he một tay ôm cái nồi đồng, một tay cầm cái muỗng cạo rồn rột” -

(Hộp thịt Mỹ, tr.46)

- “Đôi dép Bình Trị Thiên đã mòn gần hết đế, bó rọ lấy hai bàn chân to bè sè” (Khu giọt

nước, tr.103)

- “Gã rờ rịt mân mo như âu yếm một người vợ xa cách lâu ngày” (Khu giọt nước, tr.104)

Nếu Huỳnh Ngọc Sơn hay sử dụng những từ ngữ “xô xảm” thể hiện rõ chất văn xuôi đời thường

thì Trần Hữu Lục lại tỏ ra có sở trường trong việc vận dụng các từ láy, nhất là những từ láy thể hiện

sắc điệu tình cảm mênh mang, vi tế của nhân vật:

- “Anh ngút ngợp trong nỗi nhớ về đó và chỉ nói được vài câu chẳng liên lạc gì với nhau”

(Cách một dòng sông, tr.21)

- “Không đâu làm anh chấp chới bằng lúc nhìn lại cây cầu im lìm trong hoang phế” (Cách

một dòng sông, tr.22).

- “Tôi nôn nả bồi hồi, chờ đợi một sớm mai” (Vẫn còn là mơ ước, tr.22)

Đáng chú ý là sự có mặt của lớp từ láy tư. Trong Thằng cháu ngoại, Trần Hồng Quang sử dụng

rất đắc địa loại từ này:

- “ Thím ngó lui ngó tới, chừ lão khật khật khùng khùng chi đó” (tr.83)

- “ Mụ thêm mắm dặm muối thế nào mà câu chuyện có đầu đuôi xuôi ngược mà không ai

nghi ngờ vào đâu được” (tr.88)

Nếu “thêm mắm dặm muối”, “đầu đuôi xuôi ngược” lột tả cái lắm điều ở một người đàn bà thích

bàn tán việc người khác nhưng lại “ngó lui ngó tới” vì sợ “vạ mồm vạ miệng” thì “khật khật khùng

khùng” lại miêu tả rất rõ tính tình lẫn hình dáng của ông Năm với thái độ không ưa. Như vậy, lớp từ

này không những phát huy tối đa hiệu quả miêu tả mà còn cho thấy cách ăn nói nhịp nhàng, có lớp

có lang và đặc biệt sinh động của người bình dân xứ Huế.

Ngoài ra, kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè cũng được các tác giả ở Huế khai thác một

cách khá hữu hiệu. Trong bài viết Tiếng Huế trong lối nói văn hoa [180], Võ Thị Tiểu Kiều đã nhận

xét rằng: “Khi khuyên dạy con cái hay đối nhân xử thế, người Huế rất thích lối nói chữ, nói văn hoa

bóng bẩy bằng cách dùng ca dao, tục ngữ để thể hiện hay nhấn mạnh ý tưởng của mình sao cho hoa

mỹ, lời hay ý đẹp” (tr.45). Cùng suy nghĩ đó, Bùi Minh Đức nhấn mạnh: “Họ dùng nhiều tục ngữ,

ca dao và nhiều thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ. Họ nói một cách tự nhiên, song

suốt, không có vẻ gì là sáo ngữ, làm cho câu văn tự nhiên, trơn tru, bóng bẩy. Không một nơi nào

trong nước đã dùng các chữ văn hoa trong câu chuyện hàng ngày như vậy” [180;tr.14]. Tương tự,

các câu thơ , câu nói chữ Hán quen thuộc hay điển tích trong sử sách xưa cũng được người Huế sử

dụng để gia tăng sức mạnh và vẻ đẹp của lời nói.

Đọc truyện ngắn của các nhà văn trẻ xứ Huế, có thể thấy dù ít hay nhiều, họ đều thể hiện “nét

Huế” trên qua tác phẩm của mình. Đây là những lời nói “đoán già đoán non” nhưng “nhọn như dùi

đục” của những người “thích đàm tiếu dị nghị chuyện nhà người ta” [19; tr.15] – một “tật” của

không ít người Huế :

“Con Huyên, tốt lành chi đó, thứ voi chà ngựa trớn (…) Giọng kể của thím đã ra điều mà cách

kể lại như đinh đóng gỗ tạp” (Thằng cháu ngoại ; tr.88)

Còn đây là cách thề thốt của họ:

“Nhất là những chuyện nóng hôi hổi, dính dấp đến gia đình ông Năm, đến Huyên thì bất kể cha

căng chú kiết nào cũng vỗ ngực đã thấy, đã nghe, thề có thiên địa quỷ thần” (tr.90)

Nói về ước mơ của người nghèo thì họ nói “mơ cái ngày cai đội hồi hương” (Xóm hói, tr.117).

Nói đến cái lỡ làng của người phụ nữ thì họ bảo “chớ còn trẻ mỏ xuân thời chi” (Tình đất, tr.9).

Nhắc đến chuyện đi bước nữa thì người đàn ông tự nhủ: “Biết mô lại vớ phải thứ Tào thị” [139;

tr.583]. Than thở về con cái thì họ triết lý “người ta có năm có mười mà tốt, tui có một mà lại vô

duyên”[139; tr.813]. Bày tỏ sự tức giận quá độ thì họ nói “tức cành hông” (Tình đất). Cũng trong

Tình đất, khi chê trách người khách cười nói vô ý, thiếu trách nhiệm trước sự mất mát của mình thì

Ba Thoàn cằn nhằn: “cười chi mà đoản hậu rứa không biết” (tr.12). Còn đây là lời nói của một anh

nông dân nghèo:

“Năm hết tết tới rồi mà không lo sắm sửa chi ngó cũng chướng. Hương tàn bàn lạnh ông bà

quở chết” (Mùa xuân trên áo ,tr.26).

Họ rất ưa thích ca dao, hò vè và thường dùng nó trong đời sống hàng ngày. Điều này góp phần

quan trọng trong việc tạo nên giọng điệu trữ tình, nên thơ của những lời nói thường và qua đó, hé

mở chất thơ, chất trữ tình sâu lắng của tâm hồn Huế. Chẳng hạn:

“Một nguồn tình đã chảy khô trong Di, còn em, em thiếu anh cũng như sen khô hồ cạn” -

( Hát rong trên đồng, tr.56).

“Lão cất giọng ồ ồ hát tới hát lui như sợ quên đi “Hết mùa tót rã rơm khô, bạn về quê -

bạn biết mô mà tìm” (Di vật, tr.582)

3.4.2 Chất Huế trong giọng điệu truyện ngắn

Giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng

được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách

cảm thụ xa, gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [21;tr.91]. Nói đến

giọng điệu là nói đến một thành tố quan trọng làm nên phong cách cá nhân của một nhà văn. T.Sê –

khốp đã từng khẳng định: “Muốn đánh giá một nhà văn, hãy xem ngôn ngữ của anh ta. Nếu văn anh

ta không có cái giọng riêng, anh ta khó lòng có thể trở thành một nhà văn thực thụ”.

Giọng điệu thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả đối với nội dung thể hiện trong tác phẩm và

liên quan mật thiết đến nét riêng, phong cách của tác giả đó. Tuy nhiên, cũng có những giọng điệu

chung cho một giai đoạn văn học, một bộ phận, trào lưu văn học. Điều này không loại trừ trường

hợp bộ phận truyện ngắn được nghiên cứu, khi mà các tác giả sinh thành ra nó đã được nuôi dưỡng

trong không khí Huế, hấp thụ khá mạnh mẽ nền văn hóa của quê hương xứ sở ấy. Nhưng trước hết,

ta cần ghi nhận sự phong phú, đa dạng về giọng điệu như một thành tựu của bộ phận truyện ngắn

này.

Đọc truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975, không ít nhà nghiên cứu đã nhận ra sự

phong phú về giọng điệu của các tác giả ở đây. Chẳng hạn, Huỳnh Như Phương nhận thấy một

“giọng văn trữ tình” của Trần Hữu Lục ngay cả trong khi miêu tả một “không khí oi bức, giằng xé”

trong Di vật, Người tình lạ mặt…, “ngòi bút sắc cạnh và bạo liệt” của Trần Duy Phiên khi “miêu tả

cái ác và thể hiện sự thảm khốc của chiến tranh” trong Trước khi mặt trời mọc, “giọng văn nhân

hậu với tình cảm nâng đỡ những con người đang chết mòn trong nghịch cảnh đầy tai ương” của

Trần Hồng Quang, “giọng văn chất phác” của Huỳnh Ngọc Sơn và những trang viết đầy sức nổ của

Tiêu Dao Bảo Cự trong mảng đề tài lao tù [117;tr.76 – 78]. Tất nhiên, đó là chủ âm của truyện ngắn

của những tác giả ấy . Bởi ta cũng sẽ thấy một Trần Hữu Lục sắc sảo, đanh thép trong Chứng từ,

một Trần Duy Phiên trữ tình, bay bổng trong Chim tha lửa, Nắng đẹp sân trường, một Trần Hồng

Quang đi sâu vào những góc khuất, những xung đột ngầm ẩn của cuộc sống trong Trận tuyến âm

thầm, Những người không sống. Và ta cũng thật khâm phục Huỳnh Ngọc Sơn với ngòi bút sắc

nhọn, đánh vỗ vào bộ mặt thật của cái ác trong Thằng Khùng, Nước vỗ chân cầu. Còn Trần Quang

Long, cây bút này tươi trẻ, mạnh bạo trong Bông cúc vàng, hóm hỉnh , sâu cay trong Mụ Lé, Chưa

từng thấy, đôn hậu với Buổi tối ngoài ngõ và trăn trở với Con đường. Và người ta cũng nhận ra chất

thi sĩ tài hoa, bay bổng của Ngô Kha, Tần Hoài Dạ Vũ trong Chị Mận, Bóng tối sau lưng nhưng

cũng rất ngổn ngang đời thường trong Chiến tranh bước nhanh hơn khốn nạn thật.

Như vậy, rõ ràng dù tự xác lập cho mình một giọng điệu chủ đạo nhưng với bản lĩnh nghệ thuật,

các nhà văn đã không hề tự khép mình trong một khuôn khổ chật hẹp nào. Tác phẩm của họ là

những “chứng từ” của một hiện thực tâm tưởng mãnh liệt, giàu suy tư của tuổi trẻ và một hiện thực

xã hội nhiều biến động, không dễ nắm bắt.

Nhưng điều cần nói ở đây là một chất Huế trong giọng điệu. Muốn tìm ra chất Huế trong giọng

điệu truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này, phải xác định được đặc trưng cơ bản của giọng

Huế. Điều này không đơn giản, vì khái niệm “giọng Huế” ấy sẽ không đơn thuần chỉ về ngôn ngữ,

tiếng nói mà còn phải tính đến cả tâm tính, tâm hồn của con người xứ Huế trong nét nổi bật, đặc sắc

của nó khi so sánh với các vùng quê khác. Điều này phải dựa vào những nhận định có thể xác tín

của những nhà nghiên cứu, các nhà văn hóa.

Nguyễn Văn Dũng trong bài Giọng Huế và phong cách Huế [180] đã dẫn ra nhận định: “Nhiều

người không phải Huế khen giọng Huế răng mà nhẹ như gió thoảng, ngọt như mía lùi, và líu lo như

chim hót” (tr.34). Trần Thanh Đạm [180] cho rằng cái “giọng nói âm trầm sâu lắng lạ” ấy “là một

nét cá tính phong cách đặc trưng độc đáo của con người xứ Huế” mà cụ thể là của một tâm hồn

Huế “đa tình, đa cảm và cả đa duyên, đa đoan nữa” (tr.42), của một trí tuệ Huế đáng tự hào. Có

phần chung nhận định, Ngô Đức Thịnh [187] viết: “Văn hóa Huế, con người Huế không hướng về

những gì kì vĩ, to lớn, sặc sỡ, ồn ào, mà dung dị, , trầm lắng, tinh tế, nhuần nhị. Đó cũng là những

nét tiêu biểu của tính cách con người xứ Huế trong giao tiếp xã hội. Thiên nhiên, văn hóa, con

người xứ Huế mang đầy vẻ trữ tình, rung động sâu lắng, nhiều khi hơi nghiêng về sầu cảm, buồn

thương” (tr.363). Là nhà nghiên cứu tiếng Huế, văn hóa Huế và cũng là người con của Huế, Bùi

Minh Đức cho rằng, “xuyên qua ca dao Huế và lời hò xứ Huế, người các xứ có thể thấy rõ được tâm

hồn lãng mạn, đa tình đa cảm của người dân đất Thần kinh ngày xưa” [19;tr.59]. Ở đoạn văn khác,

ông nhấn mạnh, chính các câu hò, điệu ví ấy là nơi chứa đựng “cái “hồn Huế”, cái tinh anh của

Huế ngày xưa” (tr.71). Thâu tóm sự gặp gỡ của các nhận định, nghiên cứu trên, ta có thể thấy giọng

Huế có một đặc trưng cơ bản nhất: giọng trữ tình ngọt ngào, mượt mà, sâu lắng và thường phảng

phất nét buồn thương.

Đọc truyện ngắn của các nhà văn trẻ xứ Huế, ta thấy một số lượng truyện ngắn – trữ tình hóa

chiếm ưu thế tuyệt đối so với loại hình truyện ngắn – kịch hóa. Đây chính là minh chứng rõ ràng

cho chất Huế trong giọng điệu truyện ngắn. Hơn nữa, ngay cả trong những truyện ngắn – kịch hóa,

chất trữ tình vẫn hiện lên trong giọng nói, ngôn từ của nhân vật cũng như người trần thuật, và âm

thầm, trầm lắng với mạch cảm xúc buồn thương cho thân phận con người và đất nước, quê hương

bắt nguồn từ tấm lòng thương mến của các tác giả (Tự do hay là chết, Thằng Khùng)

Ca dao là linh hồn của một xứ sở, một vùng đất. Nếu trong những trang viết của Võ Trường

Chinh, ta như được sống trong hơi thở của một vùng miệt vườn sông nước với tiếng hát của những

người nông dân gan góc, đôn hậu: “Ầu ơ vì dầu cầu ván đóng đinh cầu tre lắt lẻo gập ghình…ầu

ơ…chiều chiều vịt lội cò bay ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng” (Bảy Chất) thì đi vào thế giới của

truyện ngắn yêu nước ở Huế, người đọc sẽ cảm nhận được nỗi man mác, buồn thương đậm chất

hoài cảm, một nỗi buồn trong sáng được dấy lên từ trái tim giàu tình nặng nghĩa – đó chính là điều

mà ta hay gặp ở những câu ca dao, những câu hò xứ Huế:

“Chị lại cất tiếng hát ru buồn buồn mặc dầu đứa bé trong tấm khăn vẫn im lặng say ngủ:

- A ơ ờ…Mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái Tử. Gái trông chồng…lên núi…Vọng

Phu…””

(Về miền xuôi, tr.290)

Trần Hữu Lục rất gần với Mường Mán ở một giọng văn thấm đượm chất Huế. Nhưng nếu câu

văn Mường Mán thường óng ả một vẻ đài các, kiêu sa của người con gái hay làm duyên thì văn

Trần Hữu Lục lại mượt mà, trong sáng, hồn hậu. Cây bút này hay mở ra trước mắt ta một không

gian truyền thống đậm đà sắc Huế với bến đò, gốc đa và mái đình phai màu theo năm tháng, với con

hói, con kinh dập dềnh đám lục bình nở hoa tim tím, và những câu hò được khéo léo đưa vào thật

hợp tình hợp cảnh. Trong bài Mẹ ca dao [59], ông đã xúc động kể về người mẹ đã nuôi dưỡng hồn

thơ của mình:

Hồi nhỏ, tôi vẫn nghe bà con gọi đùa mẹ tôi là “Bà nói vần”. Mẹ tôi không có

nhiều chữ để làm thơ, nhưng mẹ thuộc ca dao nằm lòng, và hay xen vào giữa câu

chuyện một hai câu ca dao thật ý nhị (…) Lớn lên, tôi mới hiểu nỗi lòng của mẹ

tôi. Nỗi lòng ấy có nỗi buồn ca dao. Những câu nói vần mà mẹ tôi đã học ở người

khác suốt thì con gái. Những câu hò mái nhì, êm ả vang lên trên một vùng sông

Hương, Cồn. Nỗi buồn ca dao ấy đã “vận” vào đời mẹ, chảy vào máu thịt tạo thành

giọng ru tha thiết vời vợi (tr.91 – 92).

Nỗi buồn ca dao ấy cũng chảy vào thế giới truyện ngắn của Trần Hữu Lục, vẫn là nỗi buồn

thương nhớ nhưng đã được phả vào đó một sức sống của thời hiện đại, chất tươi tắn, tin yêu của tuổi

trẻ:

- “Quê ta những ngày “giặc đi thì có, giặc về thì không” vẫn nức lòng người chứ anh?

Chắc hẳn, lúc trở lại, đò ba bến cùng dậy sóng, đình làng trầm hương lại nghi ngút, chiếc cầu tre

vẫn “dạ sầu bấy nhiêu” và cây đa vẫn phất phơ ngọn cờ đuổi giặc? (…) Cái cồn cát vẫn “sung

ngái một lòng”” [53;tr.67]

- “Câu hò một thời trên môi mẹ như hâm nóng nỗi nhớ trong anh. Mẹ già như chuối ba

hương, như xôi nếp một như đường mía lau” [52 ;tr.25].

- “Chi mà “khoai to vồn thì tốt củ, đậu ba lá thì vừa em…gái chưa chồng thì thậm khổ,

anh một mình cũng thậm khổ…mây trên trời mây cuộn lại, o ở ngoài o cuộn vô…” (…) Thụy nhớ

từng câu rời rạc. Câu hát đuổi bắt thời con gái của Thụy” [48; tr.21]

Những câu ca ấy có sắc thái riêng bên cạnh một Ngụy Ngữ hay Trần Hoài Thư chất chứa âm

điệu thương thân xót phận và đau đáu một niềm ước mơ xa vời:

- “Tiếng ru u ám mê man theo tiếng khóc trổi lên, à ơi chiều chiều à ra đứng ạ à ngõ sau

à muốn về quê mẹ ạ ruột đâu ạ à chín chìu. Bàn tay người lính úp trên khuôn mặt bạn, vuốt xuống

chậm chạp theo lời ru. Ạ à ời chín chìu đứt ruột mẹ ơi, à à muốn về nhưng quá à xa xôi đường

về” [77; tr.63].

- “Một đàn chim vỗ cánh nhịp nhàng giữa thinh không. Vài người gánh lúa trở về trên con

đường đê nhỏ. Bóng họ in trên giòng nước. Vợ chàng tự dưng xúc cảm, cất lên tiếng hát: chiều ơi

lúc chiều về gặt lúa nương khoai, trâu bò về dục mọ xa xôi, ới chiều…” [165;tr.86]

Giọng man mác, ngọt ngào, buồn thương của xứ Huế còn được gợi nhiều qua những câu văn cấu

tạo theo nguyên tắc trùng điệp nhẹ nhàng, trầm lắng, chất chứa bao nỗi niềm hoài cảm trong rất

nhiều truyện ngắn. Trong đó, thiên nhiên, đất trời xứ Huế nhiều trường hợp tự nó đã toát lên một

chất thơ đằm thắm. Và cũng là chất Huế đấy thôi, nhưng có khi là một cung bậc thâm trầm, bình dị.

“Con sông mùa nước lớn dào dạt, cuồn cuộn đưa những âm vang dồn dập khi gần sát bên, khi xa

vời vợi mất hút đâu tận tít mù rồi lại ào ào ập đến. Tiếng con nước đong đưa như tiếng chày giã

gạo vọng lại trong những trưa hè vắng vẻ, tiếng thì thầm ỉ ôi của lũ ếch nhái ngoài vườn quyện

trong cái lạnh đầu mùa làm chị co người lại” [25 ; tr.245]

Có khi là một cung bậc trong trẻo, rộn ràng:

“Nào con đường đất bột miền chiều tung mù bụi vàng lúc đàn trâu về chuồng; nào biền rau

muống xanh non nhấp nhô sóng nước; nào mấy cây dừa xanh trước sân nhà thờ họ Cửu vẫn ngả

ngốn nô đùa với gió; nào cồn cát bỏ hoang đã mấy mùa bơ vơ đợi người về…Ôi, bước chân anh

thênh thang” [53; tr.67].

Và có khi thật sang trọng, thanh tao :

“Hay là những đường ngang lối dọc để vẽ lên dấu chân của bầy ngựa chạy qua một cánh đồng

mạ non mới trổ. Đó là con thuyền buồm rách nát trôi trên một cuồng lưu. Hay là gió đã thốc lên

rừng tre khô để làm rụng tất cả những chiếc lá vàng cuối cùng trên đầu con chim trĩ. Tôi đã ôm

dòng sông, men vào bờ, nương theo trăng để cố tìm em giữa một trần gian đổ vỡ” [171;tr.173].

Có thể nói, sức quyến rũ và mê đắm lòng người ở đây đã được tạo nên nhờ chất giọng Huế ngọt

ngào, trữ tình khó quên, khó lẫn ấy.

Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến những đóng góp về mặt nghệ thuật sao cho nghệ thuật

ấy phục vụ tốt nhất cho việc chuyển tải nội dung. Ví von như dân gian, ý bao giờ cũng cần gắn làm

một với lời: lời hay ý đẹp. Trần Duy Phiên đã bày tỏ trong một lần tiếp xúc với chúng tôi: tác phẩm,

theo ông, phải là chỉnh thể tạo thành bởi hai phương diện: tư tưởng và bút pháp. Với mỗi một

truyện ngắn, nhà văn sẽ vận dụng một bút pháp riêng, thật sự sáng tạo và không lắp lại mình. Và

ông muốn được miêu tả là nhà văn hơn là một nhà tranh đấu.

Thực ra, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể thời bấy giờ, việc lựa chọn con đường sáng tác của những

cây bút xứ Huế ấy không chỉ là khát vọng mãnh liệt muốn tự khẳng định mình của tuổi trẻ bồng bột

và sôi nổi, mà còn là một sự thể hiện trách nhiệm, lương tri của con người chân chính đối với số

phận của đất nước, của đồng loại. Do đó, với họ, văn chương là văn chương, nhưng quan trọng hơn,

văn chương ở thời buổi ấy còn là một cách thế tranh đấu. Song bằng bản lĩnh và tài năng của mình –

họ - những nhà văn trẻ thực sự có tài ấy – đã “lên tiếng một cách nghệ thuật” qua một khối lượng

tác phẩm dày dặn về số lượng và già dặn, chắc tay về nghệ thuật tự sự.

Trong sự rộng lớn, phong phú của truyện ngắn yêu nước, tiến bộ thành thị miền Nam thời bấy

giờ, truyện ngắn của các nhà văn yêu nước xứ Huế ngoài những nét chung của một thời kỳ, một bộ

phận văn học vẫn nổi lên những đặc sắc không thể lẫn. Bên cạnh những truyện ngắn – kịch hóa rất

ấn tượng của Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Duy Phiên…đã tồn tại một số lượng chiếm ưu thế tuyệt đối

của truyện ngắn – trữ tình hóa. Nhìn chung, đó là những bài thơ vương vấn nỗi buồn trong sáng, là

những bài ca của tin yêu và hy vọng. Đọc truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 sau

hơn ba mươi năm, dẫu xét về nội dung tư tưởng, lẽ dĩ nhiên về đại thể không ít nhân vật đã thuộc về

tinh thần của thời đã qua, song nếu xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật, ta vẫn phải ghi nhận những

thành tựu đầy ấn tượng của nó. Các tác giả đã đóng góp vào sự thể hiện chân dung con người, đặc

biệt là những người trẻ sống trong hoàn cảnh đen tối thời ấy bằng một hệ thống nhân vật phong phú,

đa dạng với sự thành công đặc biệt của nghệ thuật khai thác tâm lý. Đặc biệt, những nhân vật tự vấn,

tự phân tích được xây dựng chân thật và có chiều sâu đã bộc lộ một quan niệm đúng đắn, hiện đại

về con người: con người không đơn giản, không trùng khít với lớp áo bề ngoài của nó. Truyện

phong phú về lớp thời gian, và xây dựng được những thế giới nghệ thuật đa dạng thông qua hệ

thống không gian giàu sức khái quát. Chất Huế thấm đẫm trong ngôn từ, trong giọng điệu cũng là

đặc trưng khó lẫn của văn học xứ Thần Kinh. Tuy nhiên, cũng cần thấy các nhà văn đã tung hoành

như thế nào trong việc thể hiện bản sắc riêng của mình ở phương diện này, nhất là ở giọng điệu

truyện ngắn.

Dù còn tồn tại những hạn chế như vẫn thường gặp ở bộ phận văn học yêu nước, tiến bộ thành thị

miền Nam: chưa thực sự viết được các tác phẩm “có tầm khái quát, có giá trị nghệ thuật cao tương

ứng với thực tế” [20; tr.451], nhân vật chưa vươn tới tính điển hình thực sự như là sự thống nhất

giữa tính khái quát tiêu biểu và tính lịch sử cụ thể (chẳng hạn như ở chủ đề tố cáo )…; song nhìn

chung, truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 đã thực sự là những áng văn nghệ thuật

đẹp và có giá trị.

KẾT LUẬN

Nói đến văn học yêu nước ở Huế trong chặng đường hơn 10 năm cuối của cuộc chiến tranh

chống Mỹ cứu nước là nói đến một dòng chảy thơ văn đậm đà giá trị tư tưởng và đạt đến trình độ

nghệ thuật khá cao, trong đó, bộ phận truyện ngắn nổi bật lên như dấu ấn tiêu biểu của một giai

đoạn phát triển vượt bậc và đầy khởi sắc.

Chọn truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975 làm đối tượng nghiên cứu, luận văn là

một cố gắng đi tới xác định và đánh giá những đặc điểm, thành tựu nổi bật, cơ bản góp phần làm

nên sức sống mãnh liệt của nó trong lòng công chúng cũng như vị trí không thể phủ nhận của nó

trong khuynh hướng yêu nước, tiến bộ của văn học thành thị miền Nam. Tất nhiên, khoảng cách

thời gian hơn ba mươi năm, cùng với hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt nên cố gắng sưu tầm, tập hợp

đầy đủ tài liệu nhằm tiến tới khôi phục diện mạo hoàn chỉnh của giai đoạn văn học đã thuộc về quá

khứ này không phải không có những trở ngại. Nhưng trên cơ sở nghiên cứu của mình, chúng tôi

nhận thức được các vấn đề sau:

Thứ nhất, sự vận động và phát triển của truyện ngắn yêu nước ở Huế gắn bó chặt chẽ với hoàn

cảnh lịch sử - xã hội của miền Nam nói chung và của Huế nói riêng trong những năm cuối của cuộc

chiến tranh kéo dài và hết sức ác liệt.

Trung tâm của bức tranh lịch sử là sự can thiệp của người Mỹ và những xáo trộn rất lớn về chính trị

- xã hội sau đó, sự bộc lộ ngày càng rõ nét bản chất hại dân hại nước của chính quyền Sài Gòn,

chiến tranh dâng cao và mở rộng, thân phận đất nước và con người bị đặt bên bờ vực thẳm. Cùng

với những điều ấy là phong trào xuống đường của quần chúng ngày càng dâng cao ở các đô thị miền

Nam với vai trò xung kích của học sinh, sinh viên trong đó Huế là một “lò lửa”, một trung tâm tranh

đấu. Lịch sử đã buộc thế hệ trẻ Huế lúc ấy phải chọn lựa cách thế sống và rất nhiều người, rất nhiều

nhà văn (phần lớn bắt nguồn từ “dân phong trào”) đã tự nguyện gánh lấy trách nhiệm công dân vô

cùng nặng nề nhưng cũng rất đỗi vinh quang của mình. Cùng với trận địa đường phố, nhiều người

con đất Thần Kinh – trên cơ sở tiếp thu và kế thừa truyền thống văn hóa đáng tự hào của xứ sở

mình, đã tham gia trận địa tư tưởng thật sôi nổi. Tiếp cận bộ phận truyện ngắn cần nghiên cứu trên

quan điểm lịch sử - cụ thể sẽ cho phép ta tránh được cái nhìn thiên kiến, máy móc, từ đó đi đến cách

lý giải và cắt nghĩa đúng đắn, khách quan, công bằng về những đóng góp cũng như những mặt hạn

chế mà các tác giả đã thể hiện trong tác phẩm của họ.

Thứ hai, truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này là một bộ phận không thể tách rời của văn

học yêu nước ở Huế nói riêng và văn học thành thị miền Nam nói chung. Ở đây, có một sự hỗ trợ

hoàn hảo giữa sáng tác và phê bình, giữa các phương thức tiếp cận đời sống, mà rõ nhất là giữa thơ

ca và truyện ngắn. Cùng với sự đóng góp của những cây bút yêu nước, tiến bộ ở Sài Gòn, Đà Lạt,

Nha Trang…, các nhà văn trẻ xứ Huế đã cùng nhau vẽ lên một bức chân dung khá toàn vẹn, sinh

động, chân thật và đầy xúc động về một thế hệ trẻ trong phong trào đấu tranh đô thị miền Nam qua

bốn mối quan hệ chính yếu: tuổi trẻ với hiện tình đất nước, tuổi trẻ với số phận của tha nhân, tuổi trẻ

với sứ mệnh lịch sử và tuổi trẻ với giá trị văn hóa truyền thống. Bằng lương tri và bản lĩnh dám nói

lên sự thật, nói lên suy nghĩ của thế hệ mình, họ đã tạo nên những tiếng nói nghệ thuật với bao cung

bậc cảm xúc và qua đó, tiếp nối một cách xuất sắc chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo – hai

dòng mạch chính của văn học nước nhà. Ở phương diện này, lời đánh giá chung của Trần Bạch

Đằng về văn nghệ chống Mỹ của học sinh sinh viên đô thị miền Nam cũng rất đúng khi nói về

truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn 1964 – 1975: “Văn nghệ học sinh sinh viên các đô thị miền

Nam là mắt xích trong tổng thể nền văn nghệ dân tộc Việt Nam. Nó xứng đáng ở vị trí ấy bởi vì nó

đã chứng minh và nâng cao tâm hồn Việt Nam trong một giai đoạn, bởi nó kế thừa tinh anh của

những người đi trước, của chiều dày văn hóa của Tổ Tiên và trên tất cả, bởi nó là Việt Nam, là hơi

thở của lớp trẻ Việt Nam” [22;tr.14]. Và cũng có thể coi những tiếng nói nghệ thuật ấy là sự đáp lại

đầy thuyết phục luồng tác phẩm văn học “phản văn hóa”, đi ngược lại với sự thật đã và đang hiện

diện ngày càng rõ nét ở miền Nam thời bấy giờ. Hơn nữa, bên cạnh những tác phẩm theo sát để

phản ánh một thời đã qua và bản thân nó có lẽ đã thuộc về quá khứ, thì vẫn có không ít tác phẩm

bằng bề sâu và tính phổ quát của tâm tưởng, những suy tư trăn trở nhất là trăn trở về thân phận,

bằng quan niệm khá toàn vẹn, nhiều chiều về con người và đời sống, có khả năng vượt qua được

tính giai đoạn mà vươn tới mai hậu.

Thứ ba, đúng như Huỳnh Như Phương đã nhận định, các cây bút xứ Huế không chỉ lên tiếng, mà

còn “lên tiếng một cách nghệ thuật” [117;tr.75]. Có thể khẳng định rằng, hầu hết các tác phẩm, với

chất lượng nghệ thuật của mình, đã vượt qua “tính phong trào”, qua thử thách nghiệt ngã của thời

gian, để sống đến bây giờ như những “quả xanh” [25;tr.12]. Trong cách tiếp cận đời sống của mình,

nhiều tác giả đã lựa chọn được những tình huống khiến cho thực tại vốn phức tạp ấy lóe lên được

một thứ ánh sáng kì diệu, qua đó bộc lộ thật ấn tượng những phần còn ẩn kín hay bị che giấu của nó.

Cũng cần ghi nhận thành tựu lớn lao về nghệ thuật xây dựng nhân vật, mà đỉnh cao là khắc họa

miền tâm linh, tư tưởng sâu thẳm của con người qua những nhân vật tư tưởng, nhân vật tự vấn, tự

phân tích. Các nhân vật của bộ phận truyện ngắn này lại được đặt trong những lớp không gian

phong phú, có tính khái quát cao đồng thời “đi về”, tức là thực hiện những cuộc hành trình tâm

tưởng, một cách thật linh hoạt trong những chiều thời gian đa dạng. Điều thú vị nữa là tất cả được

chuyển tải đến người đọc qua một lớp ngôn từ và giọng điệu trẻ trung, tươi mới, hiện đại, vừa đậm

đà chất Huế vừa mang đậm dấu ấn cá nhân của mỗi người viết.

Bộ phận truyện ngắn yêu nước ở Huế giai đoạn này một lần nữa là minh chứng cho chân lý: sức

sống đích thực của một tác phẩm văn chương bao giờ cũng là sự tổng hòa bởi cái hay, cái đẹp của

cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Ở các tác giả ấy, nhà văn và nhà tranh đấu trong họ là một.

Bất chấp những rào cản của hoàn cảnh, tự nguyện làm một chứng nhân của lịch sử và biến tác phẩm

của mình thành “chứng từ” cho thực tại cuộc sống, thực tại tâm hồn của con người Việt Nam trong

một giai đoạn đầy nghiệt ngã với trình độ nghệ thuật không thể phủ nhận, các nhà văn xứ Huế ấy đã

đi vào văn học sử với tư thế đáng tự hào. Tất nhiên, vẫn còn những hạt sạn không tránh khỏi ở tác

giả này, tác phẩm nọ. Nhưng cũng cần khách quan mà nhìn nhận rằng, những hạn chế đó là điều

khó tránh khỏi khi trong hoàn cảnh tranh đấu, họ đâu có thời giờ nhiều cho những suy ngẫm, chắt

lọc; trong thực tại phức tạp, tranh tối tranh sáng, đâu có thể xác điinh chân lý, sự thật trong một sớm

một chiều.

Luận văn đã đi vào một bộ phận văn học mới chỉ được nghiên cứu nhiều trong mấy năm gần đây:

văn học thành thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Phải thừa nhận rằng, không phải sau hơn ba

mươi năm, mọi vấn đề của bộ phận văn học phức tạp, bề bộn này đã được giải quyết, nhìn nhận rốt

ráo. Vẫn còn nhiều khoảng trống trong văn học sử cho các công trình nghiên cứu lấp đầy về văn học

miền Nam, và ngay cả văn học yêu nước ở Huế chặng đường hai mươi năm ấy.

DANH MỤC THAM KHẢO

1. Cung Tích Biền (1969), Nỗi buồn thắp sáng, Minh Cường xuất bản, Sài Gòn.

2. Trường Sơn Ca (1973), Trích nhật kí trong trại giam, Đối Diện (46), tr.95 – 106.

3. Võ Trường Chinh (1971), Tiếng chim bìm bịp gọi người về, Đối Diện (27),

tr. 71 -117.

4. Võ Trường Chinh (1971), Về miệt rừng tràm, Đối Diện ( 29), tr. 53 – 71.

5. Võ Trường Chinh (1972), Bán máu, Đối Diện (31), tr. 75-92.

6. Võ Trường Chinh (1972), Bảy Chất, Đối Diện (32), tr. 83-98.

7. Võ Trường Chinh (1972), Người mẹ, Đối Diện (36), tr. 97-104.

8. Võ Trường Chinh (1973), Câu chuyện anh Bường, Đối Diện (43 + 44),

tr. 91-109.

9. Võ Trường Chinh (1973), Đồn kinh Xáng, Đối Diện (45), tr. 101-117.

10. Võ Trường Chinh (1973), Sống thảm, Đối Diện (53 + 54), tr. 81 – 96,113.

11. Võ Trường Chinh (1974), Những đóa hoa nhiễm độc, Đối Diện (57), tr. 65-83.

12. Võ Trường Chinh (1975), Một đêm đồng khởi, Đối Diện (71), tr. 67-77.

13. Lê Cung (2001), Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ

(1954 – 1975), NXB Thuận Hóa, Huế.

14. Tiêu Dao Bảo Cự (1972), Trong chiến tranh này, Tự Quyết (15), tr.40 – 53.

15. Tiêu Dao Bảo Cự (2008),Trên đỉnh thanh xuân, đăng trên trang web: chantran.art2all.net

/chantran_tho/ tieudaobaocu/trendinhthanhxuan.html

16. Nguyễn Văn Dấu (2001), Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (Trên cơ sở cứ liệu

truyện ngắn Việt Nam 1930 – 1945), Đại học Sư phạm Hà Nội (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn).

17. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Thành đoàn Huế (1989), Những sự kiện lịch sử trong phong trào đấu

tranh đô thị của thanh niên, học sinh, sinh viên Huế, Thành đoàn Huế xuất bản, Huế.

18. Bùi Minh Đức (2004), Từ điển tiếng Huế, người Huế, văn hóa Huế, NXB Văn học, TP.HCM.

19. Bùi Minh Đức (2008), Chữ nghĩa tiếng Huế, NXB Thuận Hóa, Huế.

20. Nhiều tác giả (1979), Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước (Phần V: Văn học yêu nước, tiến

bộ trong lòng các thành thị miền Nam), NXB Khoa học xã hội,

Hà Nội.

21. Nhiều tác giả (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

22. Nhiều tác giả (1993), Tiếng hát những người đi tới, Báo Thanh Niên – Báo

Tuổi Trẻ - NXB Trẻ hợp tác xuất bản, TP.HCM.

23. Nhiều tác giả (1997), Tuyển tập truyện ngắn Việt, NXB Trẻ, TPHCM

24. Nhiều tác giả (1998), Tuyển tập thơ nhạc họa Việt, NXB Trẻ, TPHCM.

25. Nhiều tác giả (2005), Viết trên đường tranh đấu: tuyển tập thơ văn yêu nước của tuổi trẻ Huế

trong phong trào đấu tranh đô thị 1954 – 1975, NXB Thuận Hóa, Huế.

26. Nhiều tác giả (2009), Chân dung Huế, NXB Trẻ, TP.HCM.

27. Nguyễn Mộng Giác (1972), Nhìn lại 15 năm văn học miền Nam, Bách Khoa (361 + 162), tr.43 –

66.

28. Trần Văn Giàu (1968 – 1978), Miền Nam giữ vững thành đồng (năm tập), NXB Khoa học Xã

hội, Hà Nội.

29. Lê Văn Hảo (1981), Huế giữa chúng ta, NXB Thuận Hóa, Huế.

30. Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên – Huế (2005), Cố đô Huế xưa và nay, NXB Thuận Hóa, Huế.

31. Phạm Thanh Hùng (2008), Truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam giai

đoạn 1954 – 1965, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM (Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn).

32. Lê Thị Hường (1995), Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn

1975 – 1995, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (Luận án Tiến sĩ Khoa học Ngữ

Văn).

33. Hồng Hữu (1971), Hiệp thương và trao đổi văn hóa?, Đối Diện (29), tr.1 – 7.

34. Hồng Hữu (1972), Bàn về văn nghệ “cúc vạn thọ”, Đối Diện (32), tr.40 – 47.

35. Hồng Hữu (1972), Trí thức nông dân, trí thức quan lại, trí thức thành thị và cuộc kháng chiến

chống Pháp, Đối Diện (39), tr.62 – 82.

36. Hồng Hữu (1973), Sinh mệnh chính trị của lực lượng thứ ba, Đối Diện (50), tr.35 – 51.

37. Ngô Kha (1971), Khi ngọn lửa tình thương bạo động, Đối Diện (27), tr.73- 88.

38. Thụy Khuê (2009), Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn về văn học miền Nam, đăng

trên trang web: thuykhue.free.fr/thumucindex.html.

39. Du Tử Lê (1973) , Mùa hoa móng tay, Văn xuất bản, Sài Gòn.

40. Du Tử Lê (2009), Trần Hoài Thư, ngọn cờ đầu: nỗ lực xiển dương 20 năm văn chương miền

Nam, đăng trên trang web :dutule.com /D_1-2_2-222_4-255_5-9_6-1_15-1/TRAN-HOAI-THU-

NGON-CO-DAU-NO-LUC-XIEN-DUONG-20-NAM-VAN-CHUONG-MIEN-NAM.html

41. Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa (2002), Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

42. Trần Quang Long ( 1966), Con đường, Văn học (61), tr. 55 – 63.

43. Trần Quang Long (1967), Bông cúc vàng, Trình Bày xb, Sài Gòn.

44. Trần Quang Long (1967), Mụ Lé, Đất Nước (2), tr. 39 – 53.

45. Trần Quang Long (1975), Thưa mẹ, trái tim, NXB Văn nghệ Giải phóng,

Hà Nội.

46. Trần Hữu Lục (1967), Đất trích, Ý Thức (16), tr.33 – 41.

47. Trần Hữu Lục (1967), Như chim bạt gió, Ý Thức (17), tr.13 – 16.

48. Trần Hữu Lục (1969), Căn nhà trong năm tới, Đối Diện (3), tr. 14 – 23.

49. Trần Hữu Lục (1969), Còn nơi nào khác, Ý Thức (3), tr. 69 – 79.

50. Trần Hữu Lục (1971), Bên ni bên nớ, Ý Thức (23), tr.13 – 17.

51. Trần Hữu Lục (1971), Văn nghệ viễn mơ, Ý Thức (18 + 19), tr.2 – 7.

52. Trần Hữu Lục (1971) , Cách một dòng sông, Đối Diện xuất bản, Sài Gòn.

53. Trần Hữu Lục (1971), Thư từ thành thị, Đối Diện (28), tr. 67 – 86.

54. Trần Hữu Lục (1971), Chim trong thành quách cũ, Ý Thức (23), tr.5 – 14.

55. Trần Hữu Lục ( 1971), Câu chuyện bưng biền, Đối Diện (29), tr. 115 – 126.

56. Trần Hữu Lục (1972), Thư gửi em gái Vân Dương, Đối Diện (37), tr. 97 – 102.

57. Trần Hữu Lục (1974), Vẫn còn là mơ ước,Ý Thức (Số mùa hạ 1), tr.24-28.

58. Trần Hữu Lục (1977), Những ngày Đối Diện, Đứng Dậy (100), tr.21, 24 – 25.

59. Trần Hữu Lục (2007), Mẹ và con, NXB Trẻ, TP.HCM.

60. Trần Hữu Lục (2010), Văn chương nhóm Việt, đăng trên trang web tapchisonghuong.com.vn

/index.php?main=news&catid=4&shname=Van-hoa-nghe-thuat

61. Phan Quốc Lữ (2003), Văn xuôi trữ tình thời kỳ 1930 – 1945, Mấy vấn đề thi pháp, Đại học Sư

Phạm TP.HCM (Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn).

62. Mường Mán (1971), Những mùa trăng ca múa, Văn (197), tr.37 – 53.

63. Mường Mán (2003), Cạn chén tình, NXB Trẻ, TPHCM.

64. Mường Mán (2005), Sáu giang hồ và những mảnh đời phiêu bạt khác, NXB Trẻ, TP.HCM.

65. Yên My (1968), Chứng từ, Đất Nước (6), tr. 116 – 127.

66. Yên My (1969), Về nguồn, Đất Nước (9), tr. 29 – 43.

67. Yên My (1968), Sa lầy, Văn (105), tr. 79 – 86.

68. Yên My (1968), Tuổi đồng quê, Văn (114),tr. 45 – 54.

69. Phan Nhật Nam (1973), Dựa lưng nỗi chết, Hiện Đại xuất bản, Sài Gòn.

70. Lê Văn Ngăn (1974), Vào một thời im bóng, Thị Nại xuất bản, Quy Nhơn.

71. Nguyễn Hữu Ngô (2005), Trần Quang Long – cuộc đời và tác phẩm, NXB Thuận Hóa, Huế

(Nguyễn Hữu Ngô biên soạn).

72. Ngụy Ngữ (1969), Tiếng hát cơn say, Văn (148), tr.3 – 15.

73. Ngụy Ngữ (1969), Đêm không người, V (151), tr.43 – 59.

74. Ngụy Ngữ (1969), Tiếng chó sủa trên đồng không, Văn (138), tr. 21 – 42.

75. Ngụy Ngữ (1969), Mù giữa mưa đông, Văn (153), tr. 3 – 23.

76. Ngụy Ngữ (1969), Mưa trên thị trấn Blao, Khởi Hành (26), tr.10+ 11+ 13.

77. Ngụy Ngữ (1969), Ngoài tầm tiếng kêu, Vấn Đề (23), tr. 53 – 63.

78. Ngụy Ngữ (1970) , Ngày về tìm nhau, Vấn Đề (30 + 31), tr.69 – 79.

79. Ngụy Ngữ (1970) , Cuối sông, Vấn Đề (34), tr.69 – 82.

80. Ngụy Ngữ (1970), Mùa đi hái trái cây, Vấn Đề (37), tr. 56 – 62.

81. Ngụy Ngữ (1970), Người trở về ngồi, Vấn Đề (34), tr.47 – 65.

82. Ngụy Ngữ (1970), Giữa trời khuya khoắt, Trình Bày (1), tr.59 – 66.

83. Ngụy Ngữ (1970), Rừng trầm mai sau, Ý Thức (1), tr.18 – 23.

84. Ngụy Ngữ (1970), Tiếng động buổi chiều, Đất Nước (17), tr. 20 – 33.

85. Ngụy Ngữ (1970), Trong gió mùa chưa hết, Đối Diện (6), tr. 58 – 81.

86. Ngụy Ngữ (1971), Ngồi nói, Đối Diện (19), tr. 96 – 114.

87. Ngụy Ngữ (1971) , Sân bay, Vấn Đề (Số xuân Tân Hợi), tr.77 – 105.

88. Ngụy Ngữ (1971), Chị Hà, Vấn Đề (44), tr.17 – 32.

89. Ngụy Ngữ (1971), Theo những đường bay đi xa, Vấn Đề (46), tr.40 – 54.

90. Ngụy Ngữ (1971) , Phố miền Nam, Vấn Đề (50), tr.83 – 96.

91. Ngụy Ngữ (1971), Trại sốt rét, Đối Diện (21), tr. 81 – 91.

92. Ngụy Ngữ ( 1971), Bóng tối mịt mùng, Khởi Hành ( 120), tr 8 + 9 + 14.

93. Ngụy Ngữ ( 1972), Rồi đêm cũng dần khuya, Khởi Hành (152), tr 8 + 9 + 14.

94. Ngụy Ngữ (1972), Đầu sông cũ, Văn (số giai phẩm), tr. 103 – 111.

95. Ngụy Ngữ (1972), Khúc hát nhỏ trong đêm trước ngày ra đi, Văn (205),

tr. 99 – 104.

96. Ngụy Ngữ (1972), Trăng non, Văn (202), tr.56 – 75.

97. Thảo Nguyên (1967), Về thăm người yêu, Tin Văn (11), tr 1,4 – 5.

98. Thảo Nguyên (1967), Buổi tối ngoài ngõ, Tin Văn (18), tr 8 – 9,15.

99. Thảo Nguyên (1967), Chưa từng thấy, Tin Văn (bộ mới), (13), tr 4 – 6.

100. Trần Phước Nguyện (1972), Xóm hói, Đối Diện (34), tr. 112 – 121.

101. Trần Doãn Nho (1969), Bay cao, Bách Khoa (300), tr. 33 – 40.

102. Trần Doãn Nho (1970), Bỏ xứ, Đối Diện (1 + 2), tr. 46 – 62.

103. Trần Doãn Nho (1969), Dáng hư hao, Đối Diện (6), tr. 79 – 98.

104. Trần Doãn Nho (1969), Ngày tháng cằn, Văn (121), tr. 17 – 27.

105. Nguyễn Khắc Phê (2008), Bất ngờ … Mường Mán, đăng trên trang web: antgct.cand.com.vn/vi-

vn/sotay/2008/11/52571.cand

106. Trần Duy Phiên (1969), Mặt đất quê ngoại, Ý Thức (3), tr. 50 – 55.

107. Trần Duy Phiên (1969), Da vàng da đen, Ý Thức (6), 32 – 42.

108. Trần Duy Phiên (1970), Một giờ xót thương, Đối Diện (13), tr. 61 – 66.

109. Trần Duy Phiên (1970), Nước mắt thầy, Đối Diện (18), tr. 119-128.

110. Trần Duy Phiên (1971), Lời kinh cầu, Ý Thức (16), tr.34 – 39.

111. Trần Duy Phiên (1971), Đứa con, Trình Bày (24), tr. 50-56.

112. Trần Duy Phiên (1971), Sau bức màn hoa, Trình Bày (31), tr. 34-41.

113. Trần Duy Phiên (1972), Mất mả, Đối Diện (6), tr. 104 – 114.

114. Trần Duy Phiên (1972), Trước khi mặt trời mọc, Đối Diện xuất bản, Sài Gòn.

115. Nguyễn Văn Phúc (1995), Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và Chủ nghĩa hiện sinh vào

văn học đô thị miền Nam trước năm 1975, Đại học Tổng hợp Hà Nội (Luận án Tiến sĩ khoa học

Ngữ văn).

116. Huỳnh Như Phương (1986), Mùa xuân chim én bay về: tuyển tập truyện ngắn yêu nước tiến bộ ở

miền Nam (1954 – 1975), NXB Cửu Long, Cửu Long. (Huỳnh Như Phương sưu tầm – tuyển

chọn – giới thiệu).

117. Huỳnh Như Phương (2008), Những nguồn cảm hứng trong văn học, NXB

Văn Nghệ, TPHCM.

118. Trần Hồng Quang (1971), Những đứa học trò vắng mặt, Đối Diện(20),tr.11– 19.

119. Trần Hồng Quang (1971), Mặt trời mù, Đối Diện (28), tr. 75 – 86.

120. Trần Hồng Quang ( 1971), Thằng cháu ngoại, Đối Diện (30), tr. 83 – 96.

121. Võ Quê (2001), Thơ một thuở xuống đường, NXB Thuận Hóa, Huế.

122. Võ Quê (2005), Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế hình thành và phát

triển,đăng trên trang web:

voque.org/index.php?option=comcontent& task=view&id=391

123. Võ Quê (2005), Lửa đường phố, NXB Thuận Hóa, Huế.

124. Kim Quyên (2005), Bút nhóm Việt và những năm tháng ấy, đăng trên trang web Vietnamnet,

30/4/2005.

125. Trần Quý Sách (1968), Trưa địa ngục, Bách Khoa (176), tr. 55 – 58.

126. Thái Ngọc San (1970), Bệnh xá mùa hè, Văn (153), tr.15 – 23.

127. Thái Ngọc San (1970), Căn nhà, Văn (148), tr. 29 – 51.

128. Thái Ngọc San (1985), Khát vọng, NXB Thuận Hóa, Huế

129. Huỳnh Ngọc Sơn (1970), Về miền xuôi, Trình Bày (4), tr. 41 – 42.

130. Huỳnh Ngọc Sơn (1970), Hộp thịt Mỹ, Trình Bày (4), tr.43 – 48.

131. Huỳnh Ngọc Sơn (1971), Những bước rã rời, Trình Bày (11), tr. 50 – 62.

132. Huỳnh Ngọc Sơn (1971), Mùa xuân trên áo, Đối Diện (20), tr. 20 – 28.

133. Huỳnh Ngọc Sơn (1971), Ngón tay chết, Đối Diện (26), tr.106 – 117.

134. Huỳnh Ngọc Sơn (1972), Khu giọt nước, Đối Diện (34), tr. 103 – 111.

135. Huỳnh Ngọc Sơn (1972), Những điều chưa nói, Đối Diện (39), tr. 88 – 96.

136. Huỳnh Ngọc Sơn (1973), Mùa hoa muồng vàng, Đối Diện (51), tr. 97- 109.

137. Huỳnh Ngọc Sơn (1971), Con dao mổ chó, Ý Thức (18), tr. 30 – 36.

138. Huỳnh Ngọc Sơn (1971), Tiếng hát lên trời, Ý Thức (23), tr.18 – 24.

139. Trần Hữu Tá (2000), Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB.TPHCM, (Trần Hữu Tá nghiên

cứu – sưu tầm – tuyển chọn).

140. Nguyễn Thị Minh Thảo (2008), Kiểu “nhân vật mảnh vỡ” trong tác phẩm “Người yêu dấu”

của Toni Morrison, Châu Mỹ ngày nay (129).

141. Bùi Việt Thắng (2002), Truyện ngắn – những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, NXB Đại

học Quốc gia Hà Nội.

142. Trần Hữu Thục (1970), Trái cấm hòa bình, Đối Diện (4), tr.73 – 78.

143. Trần Hữu Thục (1970), Hiện tượng chống, Đối Diện (15), tr.121 – 128.

144. Trần Hoài Thư (1968), Biển đen, Văn (82 + 83), tr. 75 – 77.

145. Trần Hoài Thư (1968), Cõi sa mạc, Văn (104), tr. 49 – 61.

146. Trần Hoài Thư (1968), Nhật ký hành quân, Văn (100 + 101), tr. 79 – 86.

147. Trần Hoài Thư (1968), Nhật ký hành quân, Văn (114), tr. 20 – 30.

148. Trần Hoài Thư (1969) , Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang, Ý Thức xuất bản,

Sài Gòn.

149. Trần Hoài Thư (1970), Người mẹ, Trình Bày (3), tr. 39 – 43.

150. Trần Hoài Thư (1970), Gò Bồi bên kia sông, Ý Thức (1), tr.58 – 67.

151. Trần Hoài Thư (1970), Ga đêm quạnh quẽ, Văn (170), tr.23 – 34.

152. Trần Hoài Thư (1971), Khu chiến, Văn (181), tr. 65 – 76.

153. Trần Hoài Thư (1971) , Ngày tháng xa, Vấn Đề (47), tr.61 – 69.

154. Trần Hoài Thư (1971), Khung cửa nhỏ, Khởi Hành (100), tr. 10 - 11.

155. Trần Hoài Thư (1971), Nước mắt (2 kỳ) : Khởi Hành (110), tr. 4 và Khởi Hành (111), tr.6 + 7.

156. Trần Hoài Thư (1971), Những vì sao vĩnh biệt, Ý Thức xuất bản, Sài Gòn.

157. Tần Hoài Thư (1971), Một lần trở lại, Văn (192), tr.54 – 61.

158. Trần Hoài Thư (1971), Ngày dài nhất, Ý Thức (18 + 19), tr. 22 – 29.

159. Trần Hoài Thư (1971), Về thành, Văn (187), tr. 5 – 13.

160. Trần Hoài Thư (1971), Vì sao côi cút, Bách Khoa (345), tr. 57 – 65.

161. Trần Hoài Thư (1971), Viết về miền Trung, Đời (110), tr. 9 – 10.

162. Trần Hoài Thư (1972), Bệnh xá cuối năm, Văn (197), tr. 9 – 16.

163. Trần Hoài Thư (1972), Ngày thanh xuân, Trình Bày (36 + 37), tr. 72 – 89.

164. Trần Hoài Thư (1972), Mặt trận miền Đông, Trình Bày (39), tr. 69 – 81.

165. Trần Hoài Thư (1972), Mùa xuân ly biệt, Văn học (146), tr. 85 – 94.

166. Trần Hoài Thư (1972), Mùa xuân trên cao, Văn (196), tr.8 – 14.

167. Trần Hoài Thư (1973), Người trở về, Bách Khoa (399), tr. 55 – 63.

168. Trần Hoài Thư (1974), Bến sông, người về, Bách Khoa (402 + 403),

tr. 107 – 112.

169. Trần Hoài Thư (1974), Khi mùa hoa cà phê nở, Thời tập (tập X+.), tr. 75 – 81.

170. Trần Hoài Thư (1975), Gác gió thanh xuân, Văn học (Số Xuân), tr. 83 – 86.

171. Trần Thức (2005), Ngô Kha – Ngụ ngôn của một thế hệ, NXB Thuận Hóa, Huế (Trần Thức biên

soạn).

172. Nguyễn Thị Thu Trang (2008), Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong văn xuôi

đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM (Luận

án Tiến sĩ Ngữ văn).

173. Đông Trình (1962), Người đàn bà nấu cơm tháng, Phổ Thông (93), tr.18 – 22.

174. Đông Trình (1970), Trong tim Huế đập, Khởi Hành (80), tr. 13.

175. Đông Trình (1971), Chúng ta vẫn còn sống, Khởi Hành (108), tr. 6 – 7.

176. Đông Trình (1971), Những cái quán ta thường ngồi, Khởi Hành (93),

tr. 8 +9+15.

177. Đông Trình (1971), Quả tim Sài Gòn, Ý Thức (23), tr.52 – 59.

178. Đông Trình (1972), Rừng dậy men mùa, Đối Diện xuất bản, Đà Nẵng.

179. Lý Chánh Trung (1971), Tìm hiểu thế hệ hai mươi, Đối Diện (25), tr. 35 – 64.

180. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2005), Tiếng Huế, người Huế &văn hóa Huế, NXB Văn học,

TPHCM.

181. Thao Trường – Du Tử Lê (1969), Chung cuộc, Trình Bày xuất bản, Sài Gòn.

182. Hoàng Phủ Ngọc Tường (1995), Huế - Di tích và Con người, NXB Thuận Hóa, Huế.

183. Hoàng Phủ Ngọc Tường (2002), Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (tập 2, 3), NXB Trẻ,

TPHCM (Trần Thức tuyển chọn).

184. Nguyễn Trọng Văn (1968), Hoàn cảnh những người cầm bút miền Nam trước và sau 1963, Đất

Nước (7), tr.49 – 80.

185. Nguyễn Trọng Văn (1971), Trí thức khuynh tả tại Việt Nam, Đối Diện (26),

tr.39 – 49.

186. Nguyễn Trọng Văn (1968), Triết học hiện sinh và những người cầm bút miền Nam, Đất Nước

(2).

187. Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian (1993) , Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội (Ngô Đức Thịnh chủ biên).

188. Việt (1971), Có, hay không một đường hướng sinh hoạt văn nghệ lúc này,

Đối Diện (25), tr.4 – 16.

189. Việt (1972), Nhận định về mấy cảm hứng văn nghệ, Đối Diện (36), tr.65 – 74.

190. Tần Hoài Dạ Vũ (1963), Gió đêm ngoài phố, Phổ Thông (104), tr. 16 – 21.

191. Tần Hoài Dạ Vũ (1964), Bóng tối sau lưng, Phổ Thông (124), tr 10 – 15

192. Tần Hoài Dạ Vũ (1997), Tình yêu và vầng trăng lửa, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh.

193. Tần Hoài Dạ Vũ – Nguyễn Đông Nhật (2007), Phác họa chân dung một thế hệ, NXB Đà Nẵng.

194. Thế Vũ (1989), Những vòng hoa ngụy tín, Hội Văn nghệ Phú Khánh.

195. Tô Nhuận Vỹ (1970), Người sông Hương, NXB Giải Phóng, Hà Nội.

Phụ lục 1: DANH MỤC TÁC PHẨM (76)

48. Những người không sống 49. Những đứa học trò vắng mặt

50. Mặt trời mù 51. Thằng cháu ngoại 52. Trận tuyến âm thầm 53. Nắng mới trên biền đất bồi 54. Về miền xuôi 54.Hộp thịt Mỹ 55. Con dao mổ chó 56. Thằng khùng 57. Đứa con của loài bò sát 58. Những bước rã rời 59. Mùa xuân trên áo 60. Ngón tay chết 61. Khu giọt nước 62. Những điều chưa nói 63. Mùa hoa muồng vàng 64. Thằng thuốc lá 65. Nước vỗ chân cầu 66. Tiếng hát lên trời 67. Giấc mơ êm đềm 68. Tự do hay là chết 69. Chọn một con đường 70. Trích nhật ký trong trại giam 71. Trong chiến tranh này 72. Bệnh xá mùa hè 73. Căn nhà 74. Bóng tối sau lưng 75. Chị Mận 76. Chiến tranh bước nhanh hơn khốn nạn thật

1. Mụ Lé 2. Về thăm người yêu 3. Buổi tối ngoài ngõ 4. Chưa từng thấy 5. Bông cúc vàng 6. Người phu xe xích lô 7. Chứng từ 8. Sa lầy 9. Tuổi đồng quê 10. Người tình lạ mặt 11. Về nguồn 12. Căn nhà trong năm tới 13. Còn nơi nào khác 14. Tình đất 15. Đá trăm năm 16. Còn quê hương để trở về 17. Cách một dòng sông 18. Hát rong trên đồng 19. Cầu sương mù 20. Ám ảnh 21. Di vật 22. Thư từ thành thị 23. Như chim bạt gió 24. Bên ni bên nớ 25. Đất trích 26. Thư gửi em gái Vân Dương 27. Xóm hói 28. Ngủ ấp 29. Vẫn còn là mơ ước 30. Mặt đất quê ngoại 31. Da vàng da đen 32. Sáu Dền 33. Thư học trò 34. Một giờ xót thương 35. Đứa con 36. Nước mắt thầy 37. Sau bức màn hoa 38. Lời kinh cầu 39. Trốn 40. Tư Giò 41. Mất mả 42. Trước khi mặt trời mọc 43. Nắng đẹp sân trường 44. Chim tha lửa 45. Qua đồng Văn Xá 46. Con đường 47. Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài

77. Phụ lục 2: SỐ LIỆU THỐNG KÊ

78. 79. 39 truyện đề cập đến thân phận người dân nghèo : 80. 81. Tuổi đồng quê, Căn nhà trong năm tới, Còn nơi nào khác, Tình đất, Hát rong trên đồng, Cầu sương mù, Di vật, Bên ni bên nớ, Xóm hói, Ngủ ấp, Đứa con, Thư học trò, Sau bức màn hoa, Nước mắt thầy, Tư Giò, Mất mả, Trước khi mặt trời mọc, Qua đồng Văn Xá, Mụ Lé, Buổi tối ngoài ngõ, Người phu xe xích lô, Những đứa học trò vắng mặt, Mặt trời mù, Thằng cháu ngoại, Thằng con trai khu vườn chiếc quan tài, Về miền xuôi, Hộp thịt Mỹ, Con dao mổ chó, Thằng khùng, Đứa con của loài bò sát, Mùa xuân trên áo, Khu giọt nước, Mùa hoa muồng vàng, Thằng thuốc lá, Tiếng hát lên trời, Tự do hay là chết, Căn nhà, Bóng tối sau lưng, Trong chiến tranh này.

82. 83. 15 truyện đề cập đến thân phận người lính, thương binh và người thanh niên trốn lính:

84. 85. Còn quê hương để trở về, Cách một dòng sông, Đất trích, Xóm hói, Trốn, Nắng mới trên biền đất bồi, Về miền xuôi, Những bước rã rời, Ngón tay chết, Những điều chưa nói, Nước vỗ chân cầu, Tiếng hát lên trời, Chọn một con đường, Trong chiến tranh này, Căn nhà.

86. 87. 63 truyện ngắn - trữ tình hóa, trong đó: 88. 89. - 10 truyện có tình huống trở về: 90. Căn nhà trong năm tới, Cách một dòng sông, Xóm hói, Mặt đất quê ngoại, Về miền xuôi, Những bước rã rời, Ngón tay chết, Khu giọt nước, Trong chiến tranh này, Người tình lạ mặt.

91. - 14 truyện có tình huống lựa chọn: 92. Con đường, Về thăm người yêu, Những đứa học trò vắng mặt, Chọn một con đường, Những điều chưa nói, Da vàng da đen, Sa lầy, Về nguồn, Tuổi đồng quê, Đá trăm năm, Còn quê hương để trở về, Trận tuyến âm thầm, Lời kinh cầu, Hộp thịt Mỹ.

93. - 39 truyện có tình huống khơi mở tâm lý (còn lại) 94. 95. 13 truyện ngắn - kịch hóa, trong đó: 96. 97. - 8 truyện có tình huống đối kháng giai cấp – ý thức hệ: 98. Sáu Dền, Trước khi mặt trời mọc, Con dao mổ chó, Mụ Lé, Thằng khùng, Đứa con của loài bò sát, Nước vỗ chân cầu, Tự do hay là chết. 99. - 5 truyện có tình huống mâu thuẫn giữa sự sống chân chính với các thế lực phản sự sống: 100. Chứng từ, Sau bức màn hoa, Mất mả, Qua đồng Văn Xá,Chưa từng thấy

Phụ lục 3: MỘT SỐ BÀI VIẾT, BÀI NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Nhìn lại một chặng đường văn học

(Trích)

TRẦN HỮU TÁ

…Huế là một trung tâm tranh đấu quan trọng. Có những đợt tranh đấu khởi đầu từ Huế, lan đi khắp nơi, rồi phát triển mạnh mẽ và kết thúc thắng lợi ở Sài Gòn. Phong trào chống Ngô Đình Diệm năm 1963 là một dẫn chứng cụ thể.

Thành phố có vẻ hiền hòa trầm mặc của miền Trung này vốn luôn luôn tiềm tàng giá trị của văn hóa truyền thống. Chính vì thế nó rất dễ dị ứng với các mưu đồ, thủ đoạn xâm lăng văn hóa. Hơn thế nữa, cùng với Sài Gòn, Huế là một trong hai trung tâm giáo dục của miền Nam. Nhiều trường đại học và trung học đã được xây dựng ở đây, qui tụ một số lượng lớn trí thức, sinh viên học sinh. Do đó phong trào yêu nước vừa có qui mô rộng vừa có chất lượng cao.

Chỉ ít lâu sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đổ, một số giáo sư đại học Huế như Lê Tuyên, Tôn Thất Hạnh, Cao Huy Thuần cho ra tờ Lập trường. Đây là tờ báo công khai đầu tiên có dạng báo phong trào, chủ trương chống mọi chế độ Ngô Đình Diệm mà không có Ngô Đình Diệm. Báo phát hành rộng ngoài cả phạm vi Huế, được người đọc miền Trung và Sài Gòn ưa thích.

Cũng thời gian này (1964), được sự chỉ đạo của khu ủy liên khu Năm, một số tạp chí lần lượt xuất hiện: Việt Nam – Việt Nam, Dân, Sinh viên Huế…Nòng cốt cho những tờ này là các cây bút trẻ có tài: Trần Quang Long, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Thanh Xuân…

Từ 1965 đến 1972, hoạt động văn nghệ báo chí ở Huế phát triển mạnh mẽ hơn. Nhiều tờ báo ra đời, một số sáng kiến độc đáo được thực hiện.

Bà Phạm Thị Xuân Quế chủ trương tờ Phụ nữ Huế; Ngô Kha – chủ tịch Mặt trận Văn hóa Dân tộc – phụ trách tờ tạp chí cùng tên với tổ chức đó. Tổng Hội sinh viên có tờ Sinh viên Huế in ấn chững chạc, bài vở phong phú. Chỉ riêng trường nữ trung học Đồng Khánh đã có hai nội san Truyền thống và Áo trắng.

Để phát huy ảnh hưởng trong các tầng lớp nhân dân lao động, sinh viên học sinh Huế thành lập Tủ sách đồng bào (do Võ Quê phụ trách). Bằng ca dao, hò vè, các cuốn trong tủ sách này đã trực diện tố cáo Mỹ và chính quyền tay sai, phản ảnh một cách sâu sắc và xúc động nỗi khổ nhục của nhân dân.

Mấy năm cuối cùng trước ngày Huế hoàn toàn giải phóng, nhiều nhóm sinh viên học sinh đã kế tục truyền thống phong trào với các tờ Nối tay, Tiếng gọi sinh viên, Tiếng gọi Việt Nam, Mặt trận hòa bình, Tranh đấu hòa bình, Đất nước ta, Đất mới, Thái Hòa, Tin yêu, Phụ nữ, Tập văn ngày mai…

Trong vô vàn những hoạt động văn hóa văn nghệ sôi nổi, phong phú ấy, nhóm Việt là một hiện tượng rất đẹp. Ngay từ đầu năm 1965, một số sinh viên, trí thức trẻ ở Huế như Bảo Cự, Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Hữu Lục, Trần Hồng Quang, Trần Duy Phiên…đã qui tụ lại, thành lập hội Hồng Sơn, để có một tiếng nói chung chống lại những khuynh hướng văn nghệ lai căng, vong bản. Các bạn trẻ đó đã ra tờ báo Đỉnh Triều và giữ vai trò nòng cốt trong việc biên tập báo Tranh thủ của Lực lượng tranh thủ hòa bình Thừa Thiên Huế, cũng như cho đài phát thanh Huế trong những ngày tháng 3 – 1966, khi sinh viên học sinh chiếm đài này. Năm 1967, Hội đã chuyển thành Phòng sinh hoạt giáo dục, văn hóa nghệ thuật với tôn chỉ mục đích rõ ràng, mà một trong những mục tiêu quan

trọng là “tuyệt đối bài trừ và cấm chỉ mọi hình thức làm văn nghệ đồi trụy, vong bản, ngoại lai và những đường lối giáo dục đầu độc, vô bổ”.

Bị khủng bố trắng, tổ chức này chỉ tạm lắng đi, để đến giữa năm 1968 nó phát triển mạnh hơn dưới một danh xưng mới: nhóm Việt, với một công cụ đấu tranh mới: tạp chí Việt (tháng 8 – 1968 ra số đầu tiên) và với một lực lượng ngày càng đông hơn, không chỉ thu hẹp trong địa bàn cố đô Huế. Ngoài số nòng cốt cũ, giờ đây có thêm Ngô Văn Ban, Huỳnh Ngọc Sơn, Võ Trường Chinh, Thái Ngọc San, Lê Văn Ngăn, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Phú Yên, Trần Đình Sơn Cước, Nguyễn Đông Nhật, Hoàng Văn Trương…Một số người trong lực lượng nói trên là đảng viên Cộng sản, và từ 1972 họ được sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy Huế. Như trên đã nói, từ giữa năm 1971 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhóm này đã đảm trách phần văn nghệ của tạp chí Đối Diện với chủ trương “ý hướng làm văn nghệ của chúng ta là làm công tác văn học nghệ thuật trên căn bản hiện thực xã hội, yêu hòa bình, yêu dân tộc, chống chiến tranh và ngoại xâm, kêu gọi thống nhất đất nước” – Nhóm cũng đã xác định thái độ đối với Đối Diện, sẽ “không hợp tác khi đường lối của tờ báo có mâu thuẫn với lập trường của nhóm”.

Trên thực tế, mâu thuẫn không xảy ra, và giữa báo Đối Diện với nhóm này đã có sự hợp tác thủy chung, ăn ý. Trong suốt 5 năm trời, tờ tạp chí này đã đi đầu trong phong trào báo chí, văn nghệ yêu nước chống Mỹ và đã đăng tải không ít những tác phẩm văn học (thơ, truyện, lý luận) có giá trị cao cả về tư tưởng và nghệ thuật (…)

(Nhìn lại một chặng đường văn học,

NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.42- 44)

Văn chương nhóm Việt

(Trích)

TRẦN HỮU LỤC

Ở tuổi 20, hành trình sáng tác của Nhóm Việt gắn liền với những biến cố lịch sử ở miền Nam (1965-1975). Những cây bút trẻ của Nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc, vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ.

Ý thức dấn thân nhập cuộc đã đưa các tác giả trẻ Nhóm Việt đi ra ngoài cái thế giới riêng tư của mình để vươn tới sự cảm thông và chia sẻ thân phận bèo bọt của người cùng khổ, người bị áp bức. Thế đứng đó đã khiến cho Nhóm Việt trở thành một trong rất ít tổ chức văn nghệ ở miền Nam đã bày tỏ tình liên đới đối với đồng bào mình.

Nhóm Việt nhập cuộc

Lực lượng nòng cốt đầu tiên của Nhóm Việt là sinh viên trường Đại học Sư phạm Huế với những bước đi ban đầu: Hội Hồng Sơn và Phòng sinh hoạt giáo dục, văn học nghệ thuật. Và đến năm 1968, Nhóm Việt và Tạp chí Việt ra đời (xuất bản được 5 số). Nhóm Việt đã đóng góp hàng trăm truyện ngắn, hàng nghìn bài thơ, chưa kể các bài phê bình, lý luận, biên khảo, các tác phẩm thuộc thể loại khác như nhạc, họa. Nhóm Việt đã nhập cuộc, “xuống đường”, có mặt trong “những đêm không ngủ”, “đoàn sinh viên quyết tử” và “hát cho đồng bào tôi nghe” tại các thành thị Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn. Nhóm Việt đã uỷ nhiệm Trần Hữu Lục phụ trách phần văn nghệ của tạp chí Đối Diện từ năm 1971 đến năm 1975. Một số tác phẩm của Nhóm Việt đã được tạp chí Đối Diện xuất bản như: Cách một dòng sông (tập truyện của Trần Hữu Lục), Rừng dậy men mùa (tập thơ của Đông Trình), Trước khi mặt trời mọc (tập truyện của Trần Duy Phiên).

Vào thời thanh xuân, những tác giả trẻ của Nhóm Việt đã có những hoạt động tích cực, trở thành một trong những trường hợp tiêu biểu về khuynh hướng hiện thực và cách mạng trong phong trào văn học yêu nước những năm tháng đó. Tác phẩm của họ đã được báo chí, đài phát thanh vùng giải phóng miền Nam và miền Bắc, các báo chí tiến bộ của Việt kiều như Thế Hệ, Tiền Phong (Canada), Sứ Mệnh (Nhật), Thức (Cộng hòa Liên bang Đức), Liên Hiệp, Gió Nội (Pháp)… in lại. Lực lượng Việt ngày càng chặt chẽ và phát triển, ảnh hưởng ngày càng rộng lớn và tính cách mạng ngày càng đậm nét. Nhóm Việt “không chỉ là lên tiếng, mà còn là lên tiếng một cách nghệ thuật”. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà văn, thơ Nhóm Việt đã nhiều lần được chọn vào các tuyển tập văn học trong hơn 20 năm qua. Với ý thức dấn thân trong một chọn lựa nghệ thuật, dẫu sau một khoảng cách 30 năm, vẫn mang ý nghĩa tinh khôi của nó. Sáng tác của mỗi tác giả trong Nhóm Việt, tuy hòa chung vào phong trào đấu tranh đô thị miền Nam, nhưng đã sớm bộc lộ sắc thái, nét riêng rất dễ nhận biết của mỗi người.

Thơ văn Nhóm Việt

Dẫu sau một khoảng thời gian, ngày nay đọc hai tuyển tập “Truyện ngắn Việt” và “Thơ - Nhạc - Họa Việt” vẫn còn mang “ý nghĩa tinh khôi của nó”. Trong dòng văn hóa văn nghệ yêu nước tiến bộ giữa vùng địch tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam, có một lực lượng quan trọng là những sinh viên, học sinh đã “xuống đường” bằng trái tim và khối óc, sáng tác bằng tất cả tâm huyết của mình và đã có những cống hiến đầy ý nghĩa về phẩm cũng như về lượng tác phẩm cho nền văn học nghệ thuật cách mạng. Nhóm Việt là một tập hợp những người trẻ sáng tác văn học nghệ thuật của dòng văn nghệ yêu nước tại đô thị lúc ấy. Những cây bút của Nhóm Việt đã có phần đóng góp đáng kể. Sáng tác văn, thơ, nhạc, họa, biên khảo… của Nhóm Việt với ý hướng “về nguồn” đã được chọn in lại trong các tuyển tập (…) Đọc văn của Nhóm Việt được tuyển chọn trong tuyển tập này, theo TS-Nhà văn Huỳnh Như Phương: “Chúng ta không chỉ đọc tuổi trẻ của họ mà còn đọc số phận nhân dân, số phận những người bị bức hại. Ý thức nhập cuộc đã đưa các nhà văn đi ra ngoài cái thế giới riêng tư của mình để vươn tới sự cảm thông và chia sẻ thân phận bèo bọt của những người bị thiệt thòi nhất trong xã hội miền Nam trước 1975” và “…Trong những điều kiện khắc nghiệt nhất của lịch sử, đã

hình thành một tổ chức văn nghệ trẻ không chịu để cho ngòi bút của mình ngả theo xu hướng bợ đỡ các thế lực cầm quyền trong xã hội và không chọn con đường văn nghệ “viễn mơ” làm sự nghiệp - con đường chắc chắn sẽ đem lại cho người cầm bút một vị trí yên ổn và thuận lợi trước một công chúng thời thượng trong các thành thị bị tạm chiếm” (Lời tựa - Tuyển tập truyện ngắn Việt - NXB Trẻ 1997). Tháng 12-1998, Tuyển tập Thơ Nhạc Họa Việt của 11 tác giả Đông Trình, Lê Văn Ngăn, Tần Hoài Dạ Vũ, Nguyễn Đông Nhật, Thái Ngọc San, Trần Phá Nhạc, Trường Sơn, Võ Quê… (thơ), Nguyễn Phú Yên (nhạc) và Bửu Chỉ (họa)… là những cây bút đã có một thời “tâm huyết đổ ra trên đầu ngọn bút chỉ là vi ti huyết quản nhưng trăm sông về biển, trăm ngàn vi ti huyết quản đã hợp thành dòng chảy tươi đỏ và đầy sức sống trong châu thân của người mẹ Tổ quốc Việt Nam” (Lời giới thiệu của NXB Trẻ, 12-1998).

Tuyển tập Thơ Nhạc Họa Việt gồm có 44 bài thơ, 10 bài hát, 10 bức tranh và bài viết của những người hoạt động cùng thời và những nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật. Viết về thơ Nhóm Việt có hai nhà nghiên cứu văn học Thạch Phương và Trần Thức, viết về nhạc có nhạc sĩ Tôn Thất Lập và giáo sư - nhạc sĩ Thế Bảo, viết về họa có nhạc sĩ - họa sĩ Trịnh Công Sơn và nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy. Và phần phụ lục: “Những chặng đường của Nhóm Việt” của hai nhà nghiên cứu Trần Thức và Hoàng Dũng. Những trang thơ, nhạc, họa trong Tuyển tập này đã được sáng tác trong những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau. Hầu hết được sáng tác tại đô thị (giảng đường, hội thảo, xuống đường…) và một ít trong nhà tù và vùng giải phóng nên khá đa dạng trong tiếng nói nghệ thuật của Nhóm Việt.

Từ “sức bật của một đội ngũ cầm bút trẻ”, người làm thơ đã có ý thức sử dụng sáng tác của mình đi sâu vào quần chúng để phục vụ cho cuộc đấu tranh: Tố cáo tội ác kẻ thù, bảo vệ quê hương, đòi hỏi tự do, hòa bình, ca ngợi những cuộc lên đường, ý chí chiến đấu, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, không sợ hy sinh… Sáng tác của mỗi tác giả Nhóm Việt, tuy hòa chung vào phong trào đấu tranh đô thị miền Nam, nhưng đã sớm bộc lộ sắc thái của mỗi người. Cái nét riêng ấy không chỉ là một thái độ dấn thân, nhập cuộc, chọn đường.

(…) Đọc thơ của tác giả Nhóm Việt, nhà nghiên cứu văn học Trần Thức đã cảm nhận “Độ nóng toát ra từ chất liệu nghệ thuật. Có thể nói, trong thơ của họ, lửa là chất kết dính mọi cảm hứng sáng tạo với hình thức biểu hiện”. Đấy là ngọn lửa ấm nồng, có lúc hừng hực, giục giã, có khi phẫn nộ, và không ngừng nung nấu niềm tin và hy vọng, dù phải đương đầu với những thử thách khốc liệt, thậm chí phải trả giá cho sự chọn lựa bằng chính sinh mệnh của mình. Âm hưởng tráng ca vẫn là âm hưởng chủ đạo thổi xuyên suốt các tác phẩm Nhóm Việt. Và người đọc phải luyện cho mình cách “đọc giữa hai hàng chữ” mới hiểu được tấm lòng của tác giả.

Về mặt nghệ thuật, những Đông Trình, Lê Văn Ngăn, Võ Quê, Tần Hoài Dạ Vũ, Thái Ngọc San, Trần Phá Nhạc… đã định hình phong cách ngay từ trên chiến hào, lúc xuống đường, hay trong lao tù… Các tác giả Nhóm Việt đã góp một giọng rất riêng trong dòng văn học yêu nước cách mạng. Những bài thơ ngày ấy vẫn còn lan tỏa ngày nay. Có thể kể đến Hạo khí ca, Hoa đã hướng dương (Đông Trình), Chào mừng nắng mai (Tần Hoài Dạ Vũ) Sóng vẫn đập vào eo biển, Vì sao những lời quyết liệt (Lê Văn Ngăn), Tiếng gọi thanh niên, Lòng ngưỡng mộ (Thái Ngọc San), Thừa Phủ ơi, lòng ta hồng biển lửa, Cho người bạn tù sơ sinh (Võ Quê), Mẹ phù sa (Trần Phá Nhạc)…

Âm hưởng tráng ca đó cũng là âm hưởng chủ đạo trong các bài hát Thuyền em đi trong đêm, Thừa Phủ ơi, lòng ta hồng biển lửa (phổ thơ Võ Quê),Tiếng gọi thanh niên (phổ thơ Thái Ngọc San). Sài Gòn ơi, vùng lên của Nguyễn Phú Yên, qua đường nét mạnh mẽ mà dứt khoát, sắc sảo mà lay động trong các bức tranh Phận người, Ngọn Hòa bình, Mẹ Hòa bình, Một tuổi thơ chưa kịp lớn, Hãy cùng bay lên với khát vọng… của Bửu Chỉ. Vào thời điểm ấy, tranh của Bửu Chỉ đã được in lại trên nhiều tờ báo tiến bộ ở nước ngoài. Tất nhiên, bên cạnh những quả chín vẫn còn những quả còn xanh, vẫn còn một ít bài thơ, câu thơ của “văn nghệ phong trào”.

Đọc thơ văn Nhóm Việt để sống lại một thời lịch sử tuyệt đẹp và đáng ghi nhớ. Ở đấy, “tiếng nói giàu chất trữ tình, giàu tính chiến đấu” cũng là “hơi thở của lớp trẻ Việt Nam”, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình, đồng hành đi tìm và vươn tới mùa xuân vĩnh cửu của đất

nước. Trong điều kiện sống và viết vô cùng nghiệt ngã, trong lúc sinh mệnh của người cầm bút chân chính luôn luôn bị đe dọa, nhiều khi người đọc phải luyện cho mình cách “đọc giữa hai hàng chữ” mới hiểu được tấm lòng tác giả. Từ Hồng Sơn đến Việt là một chặng đường biết bao gian nan thử thách, Nhóm Việt gần như là nhóm văn học nghệ thuật duy nhất tồn tại lâu dài đến như vậy trong phong trào đấu tranh đô thị ở miền Nam. Phần lớn anh em Nhóm Việt hiện nay đang tiếp tục phát huy ngòi bút của mình. Nhóm Việt đã có những nhà thơ, nhà văn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (Đông Trình, Võ Quê, Lê Văn Ngăn, Trần Hữu Lục, Tần Hoài Dạ Vũ), hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam (Bửu Chỉ), Hội Nhạc sĩ Việt Nam (Nguyễn Phú Yên).

Có một thời thanh xuân, Nhóm Việt đã dấn thân như thế.

(Bài đăng trên trang web của tạp chí Sông Hương, 2010)

Phụ lục 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TẠP CHÍ ĐỐI DIỆN – NƠI GHI DẤU MỘT THỜI TRANH ĐẤU CỦA CÁC CÂY BÚT NHÓM VIỆT

TRỤ SỞ TỔNG HỘI SINH VIÊN HUẾ, 22 TRƯƠNG ĐỊNH - NƠI PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO TRANH ĐẤU CỦA TUỔI TRẺ HUẾ (Nay là trụ sở Thành Đoàn Huế, 44 Trương Định, TP Huế)

NHỮNG ẤN PHẨM CỦA VĂN HỌC YÊU NƯỚC Ở HUẾ XUẤT BẢN TRƯỚC VÀ SAU 1975