MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KIỂM ĐỊNH THANG ĐO CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TỰ TO VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN VÙNG THU HỒI ĐT Ở VIỆT NAM
Đặng Phi Trường1
Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của
thanh niên vùng thu hồi đất ở Việt Nam. Nghiên cứu dựa trên phân tích, tổng hợp từ nhiều bài báo được
xuất bản bởi các tạp chí trong các lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm. Các nhóm nhân tố bao gồm: Thái độ;
Nhận thức kiểm soát hành vi; Ý kiến của gia đình, người thân (Chuẩn chủ quan); Nguồn tài chính và các đặc
điểm nhân khẩu học.
Từ khóa: Tự tạo việc làm, Thái độ, Nhận thức kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan
Abstract: This study is conducted to building a model of factors affecting Self-employment of young people
in the land acquisition area in Vietnam. Research is based on the analysis and synthesis of many articles
published by magazines in the field of economics, labor, and employment. The groups of factors include:
Attitude; Behavior control awareness; Opinions of family and relatives (Subjective standards); financial
resources and demographic characteristics
Keywords: Self-employment; attitude; Behavior control awareness; Subjective standards.
1. GIỚI THIỆU
Giải quyết việc làm nói chung, đặc biệt là việc làm cho thanh niên nói riêng là vấn đề kinh tế
xã hội, là mối quan tâm tất cả các quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam, vấn đề giải quyết việc
làm luôn được Nhà nước, chính quyền các địa phương coi trọng. Nghiên cứu thuyết các nhân tố
ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của thanh niên vùng thu hồi đất sẽ giúp chúng ta một góc nhìn
khái quát, đầy đủ về lý luận tự tạo việc làm, các nhân tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của thanh
niên. Qua đó, sẽ là tiền đề để thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá đầy đủ mức độ tác
động của từng yếu tố đến tự tạo việc làm của thanh niên vùng thu hồi đất ở Việt Nam.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về “Tự tạo việc làm”, đây một khía cạnh trong khái niệm về Khởi sự kinh
doanh. Đối với lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một khái niệm đa chiều. Theo Krueger cộng
sự (1994) thì Khởi sự kinh doanh thể “start a new business” hay “new venture creation”
1 Email: phitruong1706@gmail.com, Khoa Quản lý – Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế & QTKD Đại học Thái Nguyên.
726 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
theo quan điểm của Lowell W. B.(2003), còn Laviolette và cộng sự (2012) cho rằng khởi sự kinh
doanh hay tự làm chủ, tự kinh doanh (self-employment). Quan điểm đưa ra của Linan, F.
Chen, Y.W. (2006) thì lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc
kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ là khởi sự kinh doanh. Như vậy,
khi một người khởi sự, họ có thể thuê những người khác (tức là đóng vai trò làm chủ, ngay từ khi
bắt đầu), hoặc có thể tự làm công việc đó (tự làm). Còn Kolvereid và cộng sự (1996) lại cho rằng
tự tạo việc làm tương đương với khởi sự kinh doanh bản chất tự làm chủ công việc, tự kinh
doanh và có thể thuê người khác làm việc cho mình.
Việt Nam, thuật ngữ “tự tạo việc làm” thường xuất hiện khi đề cập tới khuyến khích khởi
sự các doanh nghiệp nhân hay đơn giản chỉ một hoạt động sản xuất kinh doanh buôn bán nhỏ
nhằm kiếm sống - doanh nghiệp vi mô, hoặc tạo lập các hoạt động kinh tế của hộ gia đình, trang trại
gia đình. Các đối tượng được khuyến khích hoặc hỗ trợ “tự tạo việc làm” trong các chính sách của
nhà nước hiện nay phần nhiều là thanh niên, phụ nữ, người nghèo, người mất việc làm, người tàn tật.
Về các yếu tố ảnh hưởng tới tự tạo việc làm, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện.
Theo tác giả Hồ Thị Diệu Ánh (2015), vấn đề tự tạo việc làm chịu ảnh hưởng bởi ba nhóm
nhân tố: 1) các yếu tố nhân; 2) các yếu tố thuộc về hộ gia đình; 3) các yếu tố thuộc về cộng
đồng. Với yếu tố cá nhân và yếu tố thuộc về hộ gia đình, tác giả chỉ ra rằng lao động nông thôn
chỉ dựa vào vốn tài chính của bản thân để tự tạo việc làm phi nông nghiệp thì khả năng tự tạo
việc làm phi nông nghiệp thấp hơn nhiều những lao động nông thôn sử dụng kết hợp nhiều
nguồn vốn khác nhau. Việc lao động nông thôn tiếp cận đa dạng các nguồn vốn tác động mạnh
mẽ đến khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp. Yếu tố cộng đồng được thể hiện sự hỗ trợ,
khả năng chia sẻ thông tin của hàng xóm, bạn bè và họ hàng những yếu tố này tác động lớn đến
khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn. Tương tự kết quả tìm thấy ở
nghiên cứu của Diệu Ánh (2015), Evan (1989), Kidd (1993), Bernhart (1994), các tác giả cho
rằng vốn tài chính nguồn lực thuộc về nhân hộ gia đình, đồng thời các tác giả nhận
định yếu tố tài chính là một rào cản đối với tự tạo việc làm của người lao động. Tác giả Đỗ Thị
Quỳnh Trang (2007) lại chỉ ra thu nhập từ nguồn bên ngoài (tiền do người thân gửi, từ đầu bất
động sản hoặc đầu tài chính) càng cao thì khả năng lựa chọn tự tạo việc làm càng thấp. Liên
quan đến yếu tố cá nhân, Ngô Quỳnh An (2012) chỉ ra rằng vốn con người được thể hiện ở kinh
nghiệm trên thị trường lao động, trình độ học vấn…
Tổng kết những nghiên cứu trên cho thấy phần nhiều các nghiên cứu về đề tài tự tạo việc làm
của lao động thanh niên nói chung những vấn đề liên quan Việt Nam đã đề cập nhưng một
mức độ còn tương đối hạn chế, sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu. Ngoài ra, nghiên
cứu về ý định tự tạo việc làm của đối tượng thanh niên sinh sống tại vùng thu hồi đất cho đến nay
vẫn chưa được thực hiện.
3. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Hành động tự tạo việc làm sẽ diễn ra nếu một nhân có thái độ tích cực, suy nghĩ, dự định
về hành động đó. Để giải thích về quá trình khởi sự hay tự tạo việc làm, các nhà nghiên cứu theo
trường phái dự định đã xây dựng kiểm chứng nhiều mô hình dự định khởi sự, đây cơ sở để
tác giả lựa chọn được lý thuyết nền cho nghiên cứu này.
727
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
* Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen 1991 (TPB - theory of planned behavior)
Về lĩnh vực khởi sự doanh nghiệp hay tự tạo việc làm, hình thuyết hành vi kế hoạch
của Ajzen (1991) là một trong những mô hình được sử dụng phổ biến để giải thích ý định của một
cá nhân. Lý thuyết hành vi kế hoạch của Ajzen (1991) cho rằng ý định thực hiện một hành vi chịu
tác động của ba yếu tố: 1) thái độ của nhân; 2) chuẩn chủ quan kiến người xung quanh)
3) nhận thức kiểm soát hành vi.
Thái đ với hành vi
Cm nhn kh ng kim soát nh vi
Ý kiến ni xung quanh
Hành vi
Dự định
Hình 1. Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen, 1991
- Thái độ của cá nhân đối với hành vi – perceived attitude: thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực
hoặc tích cực của cá nhân về việc tự tạo việc làm. Đó không chỉ đơn giản là cảm giác của cá nhân
mà bao hàm cả việc cân nhắc đánh giá giá trị của việc tự tạo việc làm.
- Ý kiến người xung quanh (social norm): đo lường các áp lực của xã hội mà một cá nhân tự
cảm nhận được về việc tiến hành hoặc không tiến hành tự tạo việc làm.
- Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi (perceived behavior control) là quan niệm của cá
nhân về độ khó hoặc dễ trong hoàn thành các hành vi.
* Mô hình dự định Shapero - Krueger (2000)
Trong mô hình mới được điều chỉnh từ mô hình SEE của Shapero và Sokol, Krueger và cộng
sự (2000), 3 nhân tố tác động tới dự định của một cá nhân: mong muốn, cảm nhận về tính khả thi
và xu hướng hành động (propensity to act).
Các mô hình lý thuyết liên quan đến khởi sự, tự tạo việc làm có những đặc điểm tương đồng.
Dự định hành vi tự tạo việc làm đều được giải thích bằng khả năng cá nhân và thái độ. Cảm nhận
về tự tin hay là tính khả thi ở mô hình SEE cũng rất gần với cảm nhận về khả năng kiểm soát hành
vi ở mô hình TBP đều xuất phát từ cảm nhận của nhân về năng lực bản thân (self efficacy). Cảm
nhận về mong muốn khởi sự, tự tạo việc làm chính là kết hợp giữa thái độ của cá nhân với hành vi
đó ý kiến người xung quanh về việc họ ủng hộ hay phản đối họ lựa chọn tự tạo việc làm. Tuy
các quan điểm khác nhau trong định nghĩa các biến số nhưng các hình dự định đều cho phép
kết hợp phân tích ba nhân tố quan trọng cho việc tự tạo việc làm gồm: 1) nhân; 2) môi trường
và 3) nguồn lực để lý giải nguyên nhân dẫn tới hành vi tự tạo việc làm.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tự tạo việc làm của thanh niên vùng thu hồi đất ở Việt Nam
Từ các mô hình lý thuyết đã trình bày ở trên, tác giả kế thừa các kết luận đã được sáng tỏ, tác
giả bổ sung một số nhân tố và đề xuất khung phân tích như sau:
Các giả thuyết
728 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
H1: Cảm nhận mong muốn tự tạo việc làm có tác động thuận chiều tới dự định tự tạo việc làm
H2: Cảm nhận về tính khả thi của tự tạo việc làm có tác động thuận chiều đến dự định tự tạo
việc làm
H3: Vai trò của gia đình người thân bạn tác động thuận chiều đến dự định tự tạo việc làm
H4: Nguồn tài chính tác động thuận chiều đến dự định tự tạo việc làm
H5: Dự định tự tạo việc làm có tác động đến tự tạo việc làm
Cm nhn mong mun t tạo
vic làm
Gia đình ngưi thân và bn bè
(chun ch quan)
Cm nhn v nh kh thi
T tạo vic làm ca
thanh niên
Dự định t tạo
vic làm
Ngun tài chính
Đặc đim
nhân khu học
Hình 2. Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất
4. KIỂM ĐỊNH THANG ĐO
Tổng hợp các lý thuyết về việc làm, tự tạo việc làm, khởi sự kinh doanh. Để tránh những
nhận định mang tính chủ quan, nghiên cứu tiến hành thảo luận nhóm các chuyên gia, nhà quản
chuyên môn sâu, những cán bộ quản trong các quan Nhà nước liên quan đến
lao động, việc làm, hoặc quản tại một địa phương (nơi thu hồi đất) nhằm hướng đến
các mục tiêu: Xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của thanh niên vùng thu
hồi đất Việt Nam; Tổng hợp xây dựng thang đo cụ thể cho các thành phần của hình
nghiên cứu.
4.1. Kết quả nghiên cứu định tính
4.1.1. Thang đo Thái độ
Thang đo Thái độ gồm 6 biến quan sát (TD1 - TD6). Tác giả sử dụng thang đo kế thừa từ
nghiên cứu của Krueger và Brazeal (1994) vì thang đo này đã được kiểm định bởi nghiên cứu của
Begley và Tan (2001). “Cảm nhận về mong muốn tự tạo việc làm” được đo lường bằng 4 tiêu chí
thể hiện suy nghĩ của cá nhân về sự yêu thích. Ngoài ra, tác giả cũng bổ sung thêm 2 thang đo đã
được nghiên cứu bởi tác giả Phan Anh Tú. Các biến được đo lường bằng thang đo Likert từ 1 (hoàn
toàn không đồng ý) tới 5 (hoàn toàn đồng ý). Kết quả thảo luận nhóm chuyên gia cho rằng cần điều
chỉnh lại văn phong các biến cho dễ hiểu.
729
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
Bảng 4.1. Thang đo thái độ sau điều chỉnh
Ký hiệu Nội dung
TD1 Tôi rất hứng thú với việc tự tạo việc làm
TD2 Tôi rất hài lòng nếu làm chủ công việc của mình
TD3 Tôi sẽ tự tạo việc làm nếu có cơ hội và nguồn lực
TD4 Tôi không ngại rủi ro khi tự tạo việc làm
TD5 Tôi sẽ cố gắng làm để chủ công việc của mình
TD6 Ước mơ chính của tôi là tạo lập công việc của riêng tôi
Nguồn: Krueger và Brazeal, (1994); Phan Anh Tú, (2014), Kết quả nghiên cứu định tính của tác giả
4.1.2. Thang đo Nhận thức kiểm soát hành vi
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các thang đo biến “Nhận thức kiểm soát hành vi” đã
được trình bày trong nghiên cứu của tác giả Phan Anh (2014). Thang đo được nhóm chuyên gia
đề xuất điều chỉnh câu từ cho phù hợp với đối tượng điều tra.
Bảng 4.2. Nhận thức kiểm soát hành vi sau điều chỉnh
Ký hiệu Nội dung
NT1 Tôi tin rằng có thể tự tạo việc làm cho mình
NT2 Tôi có thể kiểm soát được quá trình tự tạo việc làm
NT3 Nếu tôi cố gắng, tôi có thể thành công với tự tạo việc làm
Nguồn: Phan Anh Tú (2014), Kết quả nghiên cứu định tính của tác giả
4.1.3. Thang đo Bạn bè, gia đình và người thân
Thang đo Bạn bè, gia đình và người thân gồm 3 biến (BG1 – BG3). Ở các nghiên cứu trước,
“ý kiến người xung quanh” được sử dụng các thang đo khác nhau để đo lường. Theo quan điểm
của Krueger và Brazeal (1994); “ý kiến người xung quanh” chính là thể hiện sự phản đối/ ủng hộ
của những người quan trọng nhất đối với một cá nhân với việc tự tạo việc làm. Nhóm chuyên gia
đề nghị điều chỉnh và bổ sung câu từ các biến quan sát để dễ hiểu với đối tượng điều tra.
Bảng 4.3. Thang đo Bạn bè, gia đình và người thân sau điều chỉnh
Ký hiệu Nội dung
BG1 Bạn bè luôn ủng hộ quyết định tự tạo việc làm của tôi bằng vật chất và tinh thần
BG2 Gia đình và người thân luôn ủng hộ và đồng hành quyết định tự tạo việc làm của tôi
BG3 Những người quan trọng với tôi sẽ ủng hộ và hỗ trợ nếu tôi quyết định tự tạo việc làm
Nguồn: Krueger và Brazeal, (1994); Kết quả nghiên cứu định tính của tác giả
4.1.4. Thang đo Nguồn tài chính
Thang đo Nguồn tài chính gồm 3 biến (TC1 TC3). Tác giả kế thừa nghiên cứu của tác giả Đỗ
Thị Hoa Liên (2016) và xây dựng thang đo Nguồn tài chính từ nghiên cứu định tính. Các chuyên
gia đều nhất trí với các câu hỏi của thang đo và không phát triển gì thêm.