
Một Dòng Xuôi Mải Miết

Bữa nhậu gần tàn. Kim đã uống gần hết một lượt để từ giã ra về thì có anh thanh
niên hào hển chạy lại hỏi thăm anh Kim nhà văn, còn dò đi hỏi lại có đúng là Kim
viết mấy cái truyện về về những người chăn vịt mới được đọc trên đài. Kim gật
đầu. Anh ta cười cái phào:
- Vậy thì may quá. Tôi tính xong mùa lúa này sẽ lên trển tìm cho được anh. Vợ
tôi cứ biểu hoài...
Kim ngờ ngợ, không biết mình có dây dưa chuyện gì với vợ chồng anh chàng
này đây. Anh hỏi, "Tôi giúp gì được cho anh...". Anh chàng nọ ngần ngừ nhìn
quanh rồi hỏi "Tôi có thể nói chuyện này cho một mình anh nghe được không...",
Kim dại gì mà không gật đầu, ở lại, dễ gì rụp một cái có thể rời khỏi chiếu nhậu.
Vậy mà cũng xà quần cả buổi, chờ cho anh chàng nọ uống chào sân hết cả thảy
chín ly rượu trắng mới đi được. Hai người xuống cái bến bùm xùm những lùm đậu
cộ, Kim chờ tàu Khánh Hội lên.
- Anh viết mấy cái truyện chăn vịt hay thiệt, sành sỏi như người trong nghề,
nghe bắt mê. Chắc anh đi nhiều chỗ, gặp nhiều người lắm. Tôi đang suốt lúa, nghe
có nhà văn Trần Kim về Rạch Giồng để viết về vụ hè thu, tôi bỏ dãi chạy ra đây.
Không biết anh nhà văn có biết người nuôi vịt chạy đồng nào tên Sáng, trạc ba sáu,
ba bảy tuổi không... Dà, vợ tôi nó trông gặp anh Sáng này tới mỏi con mắt nhưng
trời đất mênh mông, tôi hỏi cùng khắp rồi, mà chưa thấy tăm hơi đâu hết. Chuyện
của ba người chúng tôi cũng dài lắm anh à, anh biết, hai người với nhau thì dễ,

thêm người thứ ba rắc rối lắm.
Tôi không biết quê Sáng ở đâu, mấy lần nghe loáng thoáng ở An Bình, Phước
Long gì đó. Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm
Rạch Giồng này. Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê
trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng,
qua tới vườn xóm Lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra
đi.
Tôi thường trông Sáng mỗi khi mùa lúa mới về. Hai mươi hai tuổi, ông già tôi
đã giao cho cái máy suốt Bình Thủy, hễ lúa chín là tôi tha thủi một mình ngủ giữ
máy giữa đồng khơi. Anh nhà văn không biết chớ, ngủ trên đồng buồn thê thiết
lắm. Gió thì hiu hút, gió thổi rơm rạ tả tơi, trời sao vằng vặc, đất mênh mông. Đang
thèm hơi người nên gặp được ai là thương, là quý ngay người ấy. Vì vậy mà tôi
quý Sáng. Những đi cho vịt đi ăn xa, chạng vạng không về kịp, Sáng cũng hay cầm
vịt giữa đồng, hai đứa tôi ôm rơm tụm lại nhóm lửa, đánh bài tiến lên, uống ít ly
cho ấm người. Xong rồi ca khơi khơi vài câu vọng cổ. Tôi hay hỏi Sáng chuyện
đồng bãi mùa màng này nọ, về những nơi mà anh đã đi qua. Sáng lớn hơn tôi
chừng năm tuổi nhưng anh già dặn, chững chạc trầm lặng hơn tôi, hơn cả tuổi của
anh nhiều. Ban ngày, anh hay lội lại, khi thì xoắn tay xách lúa tiếp, lúc cho máy ăn
để chúng tôi lua vội bữa trưa, có khi giúp vác cái thùng suốt lội ròng rã mươi công
đất gò. Tôi ngại lắm, nhưng Sáng chỉ cười, "Một mình cũng buồn, tôi phải kiếm

một việc gì đó để làm để khỏi phải mơ biến thành vịt".
Ai sống một mình cũng buồn hết, anh nhà văn à. Nhưng Sáng ngon hơn tôi
nhiều, anh kể đã nuôi vịt chạy đồng bảy năm. Tính ra thì cỡ mười lăm, mười sáu
tuổi anh đã dầu dãi giang hồ. Tôi ngẩn ngơ, "Sao ông hay vậy... Sống một mình...
Tôi mà lúc cúc một mình trên đồng khơi thể nào cũng điên". Sáng cười, nhiều
người ở cạnh tôi lắm chớ. Ai đâu. Không có ở đây, nhưng tôi luôn nghĩ về họ. Tôi
hỏi Sáng nghĩ tới ai. Sáng chỉ cười. Anh để ý coi, những người ít nói thì hay cười,
không phải vì vui mà vì để khỏi trả lời. Rồi tự nhiên Sáng hỏi ngược lại rằng tôi
đang nghĩ tới ai.
Tôi nói tôi nghĩ tới Xuyến, tên của vợ tôi bây giờ. Cùng xóm mà, thương lúc nào
cũng không nhớ, có thể hồi mười bảy hay hai mươi hay chừng tám chín tuổi gì
đó… Tôi nói thiệt, hồi thương cổ, tôi lội tới lội lui thiếu điều sạt bờ dừa nhà ông
già vợ. Tới lúc chiêm bao cũng thấy Xuyến là đậm lắm rồi. Mà chiêm bao ngộ lắm,
lặp đi lặp lại hoài cũng cái cảnh tôi nắm tay em Xuyến xuống bến, nhưng không có
chiếc xuồng nào, chờ một hồi thấy có người bơi lại, không thấy rõ mặt (thường thì
chiêm bao ít thấy rõ mặt người), chỉ thấy cái lưng hơi khom, vai bè bè… giống như
Sáng vậy, tới đó rồi thôi, giấc mơ đứt đoạn. Tôi kể cho Sáng nghe, hơi hồ nghi
"Sao trong câu chuyện của tôi và Xuyến lại có ông vậy ta...". Sáng chỉ cười, cái
cười làm tôi quên mau, chuyện chiêm bao mà.
Sáng cũng biết Xuyến, chỗ anh cầm vịt ngang với hậu vườn nhà Xuyến. Sáng

hay qua nhà uống trà, nói chuyện mùa màng chơi với ông già vợ tôi. Có bữa anh
nằm tâm sự, "Cứ mỗi lần cặp ghe vịt vô bến thấy thím Hai khum cái tay che nắng
hỏi ai in thằng Sáng, thấy cô Xuyến chạy ra cửa nhoẻn cười thấy lòng vui như
được trở về nhà". Cũng nghe nhiều người thắc mắc, thằng Sáng chắc có gì với con
Xuyến, chớ không sao năm nào cũng cầm vịt ngay trân chỗ đó, năm nào cũng mua
cho Xuyến khi thì khúc vải, lúc là cây dù… nhưng tôi ỷ y, cũng biết bao nhiêu
người lui tới nhà Xuyến rồi, thấy tôi mài miết còn chịu hổng nổi dạt ra. Sáng thì
một năm ở đây chừng ba mươi bữa, tôi đâu có ngán. Với lại tôi tin Sáng lắm, chính
anh biểu tôi chỗ đó được, bước tới đi. Tôi bước tới.
Bữa nay, anh nhà văn về gấp quá, nếu không thì lại nhà tôi chơi, cho biết mặt vợ
tôi. Cổ đẹp, giỏi mà hiền lắm. Hiền nhưng làm toàn chuyện động trời. Tôi bị một
lần, bây giờ đang ngủ nhiều lúc còn bàng hoàng thức dậy, ngồi coi có đúng người
nằm cạnh mình là Xuyến không.
Có lần, Xuyến băng đồng tìm tôi, cổ khóc, đã lỡ thương người khác rồi, nên
không thể làm đám cưới, không thể lấy tôi làm chồng. Không có đám cưới nào vào
rằm tháng Chạp này.
Anh nhà văn không biết cảnh này đâu. Tôi ngồi chết lặng. Cay đắng, bỡ ngỡ,
đau đớn, bàng hoàng không sao tả được. Có gì bằng vợ sắp cưới của mình lại hồi
hôn. Tôi cứ ngồi lặng, đầu thì tăm tăm cái câu hỏi, "Vậy là sao..."
Đâu biết. Tôi hỏi Xuyến vậy chớ em đã thương ai. Xuyến trả lời, "Anh Sáng".

