
Mùa hoa vải
TRUYỆN KÝ CỦA NGUYỄN HỮU SƠN
Mỗi lần tôi về quê lại một lần thấy thôn xóm đổi mới. Trong vườn, ngoài bãi, trên đồi,
đâu đâu cũng một màu xanh của vải. Mỗi mùa xuân về, trên mái tóc người lại thêm sợi
bạc. Chỉ riêng có hoa vải vẫn giữ nguyên một màu vàng ấm áp, đúng hẹn theo về...
Kể từ ngày bước chân xa quê tính đến nay thấm thoát thoi đưa đã được ba mươi tám năm.
Xuân qua thu tới, năm nào tôi cũng về thăm quê ba bốn lần. Đường từ Hà Nội về xóm
Bãi Đá (Bình Sơn) dư trăm cây số chút đỉnh, nào có xa xăm gì. Nhiều lần tôi đưa cả hai
cô con gái rượu về thăm cố hương. Với chúng, tất cả hầu như xa lạ. Với tôi, những ngõ
xóm, những con đường, những cánh đồng, những tên suối, tên núi, bờ bãi thảy đều thân
thuộc. Này đây giếng làng, các cụ vẫn truyền gọi là giếng Cô Tiên, mới đây vừa được kè
lại. Này đây là ao làng, vào mùa nước cạn lũ trẻ chúng tôi thường moi đất sét chơi trò đập
pháo đất. Này là khu sân kho hợp tác xã, nơi có những cây nhãn cổ thụ, có chiếc kẻng
khua vang mỗi sáng gọi bà con xã viên đi làm. Này đây là bãi Thổ Kỳ, nghe nói ba bốn
thế kỷ xưa từng là nơi ở của quân binh nhà Mạc trốn chạy về...
Nhưng quê nội và cũng là nơi tôi sinh ra lại ở xóm Nhân Lý (Trường Sơn), cách quê
ngoại chừng dăm cây số. Khi tôi chưa đầy hai tuổi, bố tôi qua đời, mẹ bồng bế tôi về bên
ngoại.
Xóm Nhân Lý nằm trong thung lũng Mai Sưu, dưới chân ngọn núi cao. Nơi đây đến quá
buổi sáng mới thấy mặt trời và ngang chiều đã âm âm bóng tối. Vào những dịp giỗ tết tôi
vẫn thường về bên nội. Bà nội kể chuyện có con ma chàng giời đưa võng trên đỉnh mấy
cây dọc um tùm ngoài bãi Chè Độ. Vào những đêm mưa còn nghe rõ cả tiếng chúng gọi
nhau, tiếng ru con và tiếng khóc hời hời. Mỗi lần gặp, bà xoa đầu, lại bảo: “Người ta có
mười thì tốt, mình có một thì xấu. Sao mà gầy thế hả con?”. Sau này bà thượng thọ tám

mươi, rồi chín mươi, chín sáu, trí nhớ vẫn tốt, vẫn nhớ chuyện năm nảo năm nào. Bà mất
ngày 25 tháng Mười. Dân gian có câu: “Sống thì sống đủ một trăm/ Chết thì chết đúng
hai nhăm tháng Mười”…
Ông bà bên nội tôi đông con cháu. Ngày bé tôi hay lên nhà bác Phê là trưởng họ. Có lần
theo bác lên núi chặt gỗ. Chặt xong bác tuông cây gỗ lao xồng xộc xuống chân núi. Bác
chặt thêm một cây nho nhỏ cho tôi vác chơi. Có lần, đâu như cuối năm 1973, gặp bác
trong phiên chợ tết Mai Sưu, bác kéo tôi vào cửa hàng và mua cho chiếc khăn len. Bác
quàng khăn cho tôi, xoa đầu cười, chẳng nói gì nhiều. Nghe nói thời chống Pháp, bác
từng tham gia uỷ ban kháng chiến xã. Sau giận vì bị qui thành phần trung nông, bác về
làm sơn tràng, huyện gọi thế nào cũng không đi nữa. Tôi thấy bác hay chép miệng, tặc
lưỡi. Có mấy lần bác xuýt xoa: “Ngày ấy giá bác cứ nghe lời các ông ấy ra huyện công
tác có khi cũng thành ông to rồi”. Bác có anh con trai cả là thương binh chống Mỹ, từng
tham gia đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh Hà Bắc trước đây và anh út hy sinh ở Quảng Trị
đỏ lửa vào mùa thu năm 1972. Tôi biết bác là người trung trực, thẳng tính, cả làng cả xã
đều quí trọng. Bác lại chăm chỉ chịu khó, suốt ngày luôn chân luôn tay, đến năm tám
mươi tuổi rồi vẫn cắm cúi gánh nước tưới khắp cả vườn vải. Bây giờ bác đã đi xa nhưng
bóng người gánh nước tưới vải như vẫn quanh quất đâu đây mỗi lần tôi về thăm quê
trong chiều chạng vạng. Tôi nhớ nhất anh Lập con bác có cả một tủ sách, đủ những
truyện Tam quốc lẫn Sông Thami trong xanh, truyện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với
truyện tranh anh Bé nổ mìn hy sinh cùng lũ giặc, truyện cổ tíchvới đủ mọi tranh minh họa
kỳ quái. Tôi có thể nằm phủ phục bên bậc tam cấp sân nhà bác đọc sách suốt từ sáng đến
trưa, từ trưa sang chiều, cho đến lúc trời sâm sẩm tối.
Thời chiến tranh chống Mỹ có Trường Đại học Giao thông Hà Nội và Xí nghiệp Dược
phẩm Hải Phòng sơ tán về Mai Sưu. Sau này có thêm trung đoàn 568 đóng quân, xây
dựng đơn vị huấn luyện, thường ba bốn tháng lại một lần đưa quân vào Nam. Biết bao
nhiêu thanh niên trai trẻ đã từng qua nơi đây huấn luyện rồi thẳng đường vào Nam chiến
đấu, mãi mãi chẳng trở về. Người ta vẫn gọi vùng quê miền rừng này là Thủ đô Tắc Kè,
Maisưugrat. Công bằng mà nói, cũng nhờ thời chiến này mà người dân nơi thâm sơn

cùng cốc sớm biết đến ánh điện và tôi cũng đọc ké được nhiều loại sách báo. Ngay ở xóm
Bãi Đá bên quê ngoại cũng có rất nhiều sinh viên Giao thông. Lại nhớ chuyện bác Tư hay
nhắc tới cô Hương, cô Oanh vẫn được bác coi như con gái. Hình như một cô là con em
miền Nam tập kết, có mái tóc bồng. Nhiều lần bác Tư bâng quơ bảo tôi: “Chẳng biết cô
Hương, cô Oanh sau này ở đâu? Các cô sinh viên ấy thật là những người chăm ngoan,
hiền lành”. Tôi ở Hà Nội nhưng phố xá thì rộng, biết tìm đâu cô Hương, cô Oanh một
thuở một thời. Bác Tư nay đã là người thiên cổ. Trong nhà vẫn còn giữ tấm ảnh các cô
như nỗi niềm ông lão miền rừng chạnh lòng nhớ người con gái nuôi đã lẫn vào cõi nhân
gian hư ảo.
Ngày tôi còn nhỏ, dân xóm Bãi Đá còn thưa thớt, tất cả chưa đầy hai chục hộ. Đi quá
ngay đầu xóm đã thấy bạt ngàn những cánh rừng dẻ. Mùa dẻ rụng cũng thường đúng dịp
khai trường. Buổi sáng đi học, chiều về tranh thủ cũng nhặt được vài chục cân hạt dẻ. Sân
phơi đầy hạt dẻ, phải tận dụng đủ mọi thứ nong nia, giần sàng, thúng mủng mà chứa
đựng. Hạt dẻ cũng là thứ cứu đói ngày giáp vụ. Thứ thì rang cắn chắt, thứ thì sát lấy hạt
độn cơm, thứ thì nấu cháo, đủ cả. Cuối mùa thu, hoa dẻ vàng tràn ngập mọi cánh rừng.
Một màu vàng ươm man mác khắp sườn non, trải rộng ngút ngát đến chân trời.
Đêm trăng mùa hè miền núi trong xanh, chúng tôi thường hái bưởi làm bóng chia quân đá
với nhau. Có hôm đá đến khuya, làm ầm ĩ cả thôn xóm. Đến khi cuộc chơi dừng lại bỗng
ngơ ngác nhận ra cái không khí tịch mịch, tĩnh lặng của đêm trăng xứ núi. Tất cả yên lặng
đến vô cùng. Bóng những mái nhà tranh khuất lấp sau hàng cây im lìm. Những ngọn cỏ
đọng hơi sương lạnh. Tiếng trâu cọ sừng và tiếng thở phì phì lạc lõng càng tôn thêm vẻ
vắng lặng đêm khuya.
Những ngày thơ bé chúng tôi có nhiều trò chơi vui nhưng cũng có nhiều trò thật dại dột,
bây giờ không thấy trẻ con chơi nữa. Mùa nước lũ, chúng tôi đua nhau bơi dọc con sông
Còng. Con sông này mùa nước cạn có thể lội qua được nhưng vào ngày lũ, nước đổ về
cuồn cuộn, kéo theo đầy những khúc gỗ khô, cành cây, rều rác. Hai bên bờ sông, nước
thúc vào những bụi cây dùng, cây hóp tạo thành vòm hang sâu hủm. Bây giờ nghĩ lại còn
thấy rùng mình. Chỉ cần buông tay, nước cuốn vào vòm hang thì thật là ôi thôi! Có khi

chúng tôi trèo lên cây sau sau cao vút, nhìn về phía chân dãy Yên Tử xa xa thấy thấp
thoáng những mái nhà, những vệt khói mờ ảo. Rồi chúng tôi chia quân lấy đất ném nhau,
đuổi nhau, chạy thục mạng. Có lần tôi bị một anh ném cho sưng vù cả mắt. Thế là tan
cuộc chơi.
Thời chúng tôi đi học có kỳ thi hết lớp Bốn rất quan trọng, gọi là thi tốt nghiệp cấp Một.
Năm ấy cô giáo chủ nhiệm làm giúp giấy khai sinh đã ghi sai cả tên họ tôi. Lên lớp Năm
chúng tôi phải sang xã Trường Sơn học vì cả cụm bốn xã vùng Mai Sưu mới có một
trường cấp Hai, xa nhà tới năm sáu cây số. Buổi sáng thường dậy từ năm giờ, ăn vội củ
khoai củ sắn nguội lạnh rồi lên đường. Nhiều ngày mùa đông sương muối, gió hun hút
thổi, có khi đi được nửa đường phải dừng lại vơ lá cây đốt sưởi một lúc rồi mới đi tiếp.
Đã thế trong túi sách còn phải có khúc gậy phòng bị lúc đánh nhau. Bởi lẽ bọn trẻ xóm
bên cậy đông, chúng thường đứng trong thành tre bất ngờ tập kích, có khi truy đuổi đến
tận trường. Vài năm sau lớn lên tôi mới biết lũ trẻ toàn người quen thuộc, thậm chí là anh
em gần gũi, thân thiết nữa. Lên lớp Sáu tôi được về học ngay trong xã vì ở Bình Sơn đã
mở trường cấp Hai, năm đầu chỉ có lớp Năm và Sáu. Lớp do thầy Lê Văn Cay làm chủ
nhiệm. Thầy thường ký chữ Kay. Tôi học khá, luôn đứng đầu lớp, chỉ thỉnh thoảng phải
đánh nhau một trận ra trò, chủ yếu trong tư thế tự vệ và đều thắng to. Thế rồi tôi được cử
đi dự thi học sinh giỏi văn ngoài huyện Lục Nam, cách nhà hai chục cây số. Đó là lần đi
xa đầu tiên trong tuổi trẻ thơ nên tôi thú lắm.
Chúng tôi ở ngay trong nhà thầy chủ nhiệm, buổi trưa thi xong liền kéo nhau ra tắm trên
bến sông Lục Nam. Chúng tôi đứng trên con phà và nhảy xuống dòng sông trong vắt,
khác hẳn nguồn nước mùa lũ đục ngầu bên xóm núi, tự trong lòng cảm thấy sung sướng
vô ngần. Nhìn sang bên kia bờ sông, thẳng lối trên bến phà có con đường lớn. Hai bên
đường là hàng cây xà cừ, dưới gốc quét một vòng vôi trắng, trông tựa như hàng quân
đứng uy nghiêm. Nhìn con đường mà lòng tự hỏi, chẳng biết bên kia bờ sông có những gì
và biết đến ngày nào mình mới được đi trên con đường thênh thang dường ấy?... Đến
năm lớp Bảy chúng tôi lại phải sang xã Trường Sơn học tiếp năm cuối cấp. Thế là cả ba

năm học đều thành những dấu mốc: Lớp Năm và lớp Bảy cuối cùng của xã Bình Sơn
phải học ở Trường Sơn và là lớp Sáu đầu tiên của Bình Sơn được học ngay tại xã nhà.
Bây giờ nghĩ lại mới thấy câu chuyện một thời hợp tác xã, vui thì có vui thật, nhưng quá
nhiều điều ngu ngơ, ấu trĩ. Người ta dập khuôn theo mô hình “xiềng ba sào” dưới xuôi,
bắt mỗi gia đình chỉ được trồng trỉa trong một diện tích nhất định. Đất ngay trong vườn
có thể bỏ hoang, chịu đói mà không được trồng bất cứ thứ hoa màu nào, chỉ sợ người
nông dân tư lợi trồng thêm mấy luống sắn luống khoai là tiến lên tư bản mất. Đói quá nên
phải ăn độn sắn quanh năm. Tháng tám giáp hạt đã phải đào sắn non trộn cơm, một khúc
sắn cõng lơ thơ mấy hạt cơm. Ăn sắn mãi đắng quá nên cố gặm phần cơm bám quanh, bỏ
lại nguyên cả khúc sắn. Giận lũ chó chầu hẫu xung quanh cũng không thèm ăn, cứ dúi
mõm ngửi miếng sắn rồi bỏ đi. Sau nữa các phụ huynh nghĩ cách chế món canh sắn, cháo
sắn. Rồi lại băm nhỏ sắn trộn lẫn với gạo nấu thành thứ nửa cơm nửa bánh đúc, không có
cách nào tách được sắn với cơm, ăn đắng ngắt. Sau này lại lấy sắn khô độn cơm còn đắng
khiếp hơn nữa. Ăn nhiều sắn đến mức cảm nhận trong máu toàn vị sắn đắng, đến bây giờ
nghĩ đến vẫn còn hãi.
Giữa những ngày đói khổ ngặt nghèo ấy thì mẹ tôi rước về một cây vải thiều, nói đúng
hơn là cành vải chiết. Một ai đó gánh đi ngang qua xóm rao bán, nói rằng đây là giống
vải thiều Hải Dương, quả sai và ngọt lắm. Ngày ấy nơi xóm núi chỉ biết cùng họ nhà vải
có giống tu hú, hạt bằng cái chén mít, lớp cùi mỏng dính, vị chua gần bằng khế. Trong
vườn nhà bác Tuệ có trồng một cây. Đến bây giờ không thấy đâu giống tu hú ấy nữa.
Mua được cành vải chiết, mẹ tôi đem trồng sau nhà. Hợp chất đất, cây vải lớn lên trông
thấy. Mùa xuân năm sau, cây phát lộc nõn nà. Cuối xuân đã thấy trổ hoa. Giống hoa vải
tựa như hoa nhãn, nở thành chùm một màu vàng hoa cải và tỏa mùi thơm dịu nhẹ. Cây
vải này được coi là vải tổ trong vườn nhà tôi. Từ cây vải tổ này đã chiết thành mấy chục
cành, rồi mấy trăm cành, phủ xanh cả ba mẫu vườn, tỏa rộng khắp cả mấy khu đồi gió hú
nữa. Sau này tôi xa nhà nhưng vẫn biết chính nhờ từ cây vải tổ này đã giúp chú em tôi
thoát nghèo, thoát chết, thoát bệnh, lại thêm vợ con đề huề nữa. Câu chuyện có phần dài
dòng thế này. Tôi có chú em tên Thủy mới đang học lớp Tám, không may bị bệnh phù

