
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 478 - THÁNG 5 - SỐ 2 - 2019
9
Phương trình ước tính chiều rộng chop mũi =
18,12 + 0,46 x khoảng cách 2 điểm đỉnh
IV. KẾT LUẬN
Độ cao và chiều ngang chóp mũi, độ nhô đỉnh
mũi khác nhau ở cả 2 giới và kích thước ở nam
giới lớn hơn. Có sự tương quan giữa 2 điểm đỉnh
với chiều ngang chóp mũi. Có sự tương quan
giữa khoảng cách 2 điểm đỉnh với chiều rộng mỡ
gian vòm. Khảo sát vùng đỉnh mũi cho thấy, độ
dày lớp mỡ gian vòm sẽ ảnh hưởng đến độ cao
chóp mũi, khoảng cách giữa 2 điểm đỉnh sẽ ảnh
hưởng đến chiều rộng chóp mũi. Trong quá trình
phẫu thuật cần lưu ý đến mỡ gian vòm và điểm
đỉnh trong việc tạo hình vùng đỉnh mũi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anderson K.J., Henneberg M., Norris R.M.
(2008), “Anatomy of the nasal profile”, American
Journal of Anatomy, 213, pp. 210-216.
2. Burres S. (1999), "Tip Points: Defining the Tip",
Aesthetic Plastic Surgery, 23, pp. 113-118.
3. Choe K.S., Yalamanchili H.R., Litner J.A., et al
(2007), "The Korean american woman's nose",
Archives of Facial Plastic Surgery, 8, pp. 319-323.
4. Copcu E., Metin K., Ozsunar Y., et al. (2004),
"The interdomal fat pad of the nose: a new
anatomical structure", Surgical and Radiologic
Anatomy, 26, pp. 14-18.
5. Duskova M., Kristen M., Smahel Z. (2006), “The
Anthropometric Verification of Corrective Surgery
Outcome in Cleft Secondary Deformities”, The Journal
Of Craniofacial Surgery, 17(3), pp. 447-453.
6. Farkas L.G., Kolar J.C., Munro I.R. (1986),
"Geography of the Nose: A Morphometric Study",
Aesthetic Plastic Surgery, 10, pp. 191-223.
7. Khandekar B., Srinivasan S., Mokal N., et al.
(2005), "Anthropometric analysis of lip-nose
complex in Indian population", Indian Journal of
Plastic Surgery, 38(2), pp. 128-131.
8. Porter J.P., Lee J.I. (2002), "Facial analysis:
maintaining ethnic balance", Facial Plastic Surgery
Clinics of North America, 10, pp. 343-349.
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN
MẮC BỆNH THẬN MẠN TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Nguyễn Thị Thu Hiền*, Nguyễn Xuân Thủy*,
Nguyễn Duy Tuấn*, Lê Việt Thắng**
TÓM TẮT3
Mục tiêu: Khảo sát thực trạng đặc điểm bệnh
thận mạn được khám và điều trị tại các Bệnh viện tỉnh
Phú Thọ. Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện
nghiên cứu trên 300 bệnh nhân, các bệnh nhân được
hỏi, khám và làm các xét nghiệm máu, nước tiểu, siêu
âm thận, tiết niệu. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân lọc máu
chiếm 39,3%, điều trị nội khoa chiếm 59,4%, ghép
thận chiếm 1,3%. Tỷ lệ thiếu máu chung là 59,7%. Tỷ
lệ THA trong nghiên cứu là 76,0%. Có tới 73,7%
bệnh nhân có rối loạn ít nhất 1 thành phần lipid
máu. Tỷ lệ giảm albumin máu là 34,3%. Tỷ lệ bệnh
nhân có bệnh cầu thận có THA chiếm cao nhất 64,7%,
có ĐTĐ chiếm 16,3% và thấp nhất là có lupus ban đỏ
chiếm 7,7%. Kết luận: Bệnh nhân suy thận với đặc
điểm thiếu máu, THA là thường gặp ở các bệnh viện
Tỉnh Phú Thọ
Từ khoá:
Bệnh thận mạn, Tăng huyết áp, Thiếu
máu, Tỉnh Phú Thọ
SUMMARY
STUDYING ON SOME CHARACTERISTICS
*Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ
**Bệnh viện 103, Học viện Quân Y
Chịu trách nhiệm chính: Lê Việt Thắng
Email: lethangviet@yahoo.com.uk
Ngày nhận bài: 1/4/2019
Ngày: phản biện khoa học: 25/4/2019
Ngày duyệt bài: 10/5/2019
OF PATIENTS DIAGNOSED CHRONIC
KIDNEY DISEASE AT PHU THO PROVINCE
Purpose: Surveying the status of characteristics of
chronic kidney disease examined and treated in Phu
Tho provincial hospitals. Methods: Conducting a
study of 300 patients, who were asked, examined and
did blood, urine, urinary tests and ultrasound of
urinary tract, kidney. Results: The rate of dialysis
patients accounted for 39.3%, medical treatment
accounted for 59.4%, kidney transplant accounted for
1.3%. The prevalence of anemia is 59.7%. The
hypertension rate in the study was 76.0%. Up to
73.7% of patients have at least serum lipid disorder.
The rate of albumin reduction was 34.3%. The
proportion of patients with glomerular disease with
hypertension accounted for the highest 64.7%, with
diabetes accounted for 16.3% and the lowest was
lupus with 7.7%. Conclusion: Patients with renal
failure with anemia and hypertension are common in
Phu Tho Province hospitals.
Key words:
Chronic kidney disease, Hypertension,
Anemia, Phu Tho Province.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Phú Thọ là một tỉnh nằm khu vực trung
du phía Bắc Việt nam. Các bệnh viện đa khoa
tỉnh thu dung các bệnh nhân bệnh thận mạn tính
khu vực. Số bệnh nhân ngày càng gia tăng do
tăng người mắc các bệnh mạn tính gây tổn
thương thận như tăng huyết áp, đái tháo

vietnam medical journal n02 - MAY - 2019
10
đường… Chẩn đoán bệnh thận mạn còn khó
khăn, đặc biệt ở bệnh nhân chưa có suy thận.
Việc điều trị bệnh nhân bệnh thận mạn tuỳ theo
từng thể bệnh: bệnh nhân bệnh thận mạn có suy
thận được áp dụng theo hướng dẫn của Hội thận
học-tiết niệu Việt Nam.
Điều trị thay thế thận giai đoạn cuối chủ yếu
vẫn sử dụng lọc máu, phương pháp ghép thận
còn chưa phổ biến. Chưa có một nghiên cứu nào
đánh giá thực trạng bệnh thận mạn của tỉnh, để
từ đó đưa ra những thay đổi, khuyến cáo cho
bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn, góp phần
nâng cao hiệu quả lọc, chất lượng cuộc sống
bệnh nhân bệnh thận mạn của tỉnh. Chính
những lý do trên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề
tài này với mục tiêu:
Khảo sát một số đặc điểm
bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tại Tỉnh Phú Thọ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên
cứu gồm 300 bệnh nhân mắc bệnh thận mạn
được chẩn đoán và điều trị tại các Bệnh viện đa
khoa Tỉnh, trong thời gian từ 2017 – 2019.
*Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Các bệnh nhân được chẩn đoán và nằm
điều trị nội trú tại các bệnh viện tỉnh
- Các bệnh nhân không có rối loạn tâm thần.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, mô tả, theo
dõi dọc.
2.2. Nội dung nghiên cứu
+ Hỏi và khám bệnh nhân nghiên cứu
+ Các xét nghiệm được làm: nước tiểu 10 chỉ
tiêu, protein niệu 24 giờ, siêu âm thận tiết niệu,
công thức máu, sinh hoá máu
+ Tính mức lọc cầu thận theo công thức 4
biến MDRD
+ Các chỉ tiêu đánh giá: tính mức lọc cầu
thận phân chia giai đoạn bệnh thận mạn, tỷ lệ
bệnh nhân có tăng huyết áp, tình trạng thiếu
máu qua nồng độ hemoglobin, tình trạng rối loạn
lipid máu, giảm albumin máu.
+ Các số liệu được xử lý theo phương pháp
thống kê y học bằng chương trình phần mềm
SPSS 15.1.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nhóm bệnh tuổi trung bình là 52,78 tuổi, nữ
chiếm 44,0% nam 56,0%. BMI trung bình là 20,11,
có 23,9% bệnh nhân thiếu cân (BMI < 18,5).
Bảng 1. Phân bố bệnh nhân theo giai
đoạn BTM (n=300)
Giai đoạn bệnh
Số lượng
Tỷ lệ %
G1
23
7,7
G2
34
11,3
G3
65
21,7
G4
50
16,6
G5 (Cả bệnh nhân
lọc máu)
128
42,7
Phân bố bệnh nhân theo giai đoạn BTM chiếm
tỉ lệ cao nhất giai đoạn bệnh G5 (42,7%); G3
(21,7%); thấp nhất là giai đoạn G1 7,7%.
Bảng 2. Đặc điểm huyết áp nhóm bệnh
nhân BTM (n=300)
Đặc điểm huyết áp
Số lượng
Tỷ lệ %
Không THA
72
24,0
THA
228
76,0
Kiểm soát được
(< 140/90 mmHg)
89
39,0
Không kiểm soát được
139
61,0
Tỷ lệ đối tượng có THA 76,0%; trong đó tỷ lệ
đối tượng kiểm soát được huyết áp (<140/90) là
39,0%; phần lớn đối tượng vẫn chưa kiểm soát
được huyết áp 61,0%.
Bảng 3. Đặc điểm thiếu máu nhóm bệnh
nhân BTM (n=300)
Đặc điểm thiếu
máu
Số lượng
Tỷ lệ %
Không TM
121
40,3
TM
179
59,7
Mức độ nhẹ
80
44,7
Mức độ vừa
88
49,2
Mức độ nặng
11
6,1
Tỷ lệ thiếu máu ở bệnh nhân BTM 59,7%.
Trong các bệnh nhân thiếu máu (179 bệnh
nhân), TM mức độ vừa chiếm tỷ lệ cao nhất
49,2%; tiếp theo là mức độ nhẹ 44,7%; mức độ
nặng chỉ chiếm 6,1%.
Bảng 4. Đặc điểm điện giải nhóm bệnh
nhân nghiên cứu (n=300)
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ %
Natri
Giảm < 135
101
33,7
Bình thường
199
66,3
Kali
Tăng > 5,0
119
39,7
Bình thường
181
60,3
Canxi
Giảm
130
43,3
Bình thường
170
56,7
Tỷ lệ đối tượng có Natri giảm dưới 135 là 33,7%;
kali tăng trên 5 là 39,7%; canxin giảm là 43,3%.
Bảng 5. Đặc điểm acid uric, protein và
albumin máu nhóm bệnh nhân nghiên cứu
(n=300)
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ %
Acid
uric
Tăng
231
77,0
Bình thường
69
23,0
Albumin
Bình thường
197
65,7
Giảm <35g/l
103
34,3
Protein
Bình thường
202
67,3
Giảm < 60g/l
98
32,7

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 478 - THÁNG 5 - SỐ 2 - 2019
11
Tỷ lệ đối tượng có acid uric tăng 77,0%;
albumin giảm 34,3%; protein giảm 32,7%.
Bảng 6. Tỷ lệ rối loạn lipid máu nhóm
bệnh nhân nghiên cứu (n=300)
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ %
Có rối loạn
221
73,7
Không rối loạn
79
26,3
Chung
300
100
Tỷ lệ rối loạn lipid máu ở nhóm BTM là 73,7%.
Bảng 7. Đặc điểm hình thái thận trên
siêu âm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
(n=300)
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ %
Giảm kích thước
192
64,0
Tăng âm
180
60,0
Mất ranh giới tuỷ và vỏ thận
174
58,0
Tỷ lệ đối tượng giảm kích thước 64,0%; có tăng
âm 60,0%, mất ranh giới tuỷ và vỏ thận 58,0%.
Bảng 8. Đặc điểm nước tiểu nhóm bệnh
nhân nghiên cứu (n=300)
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ %
Vô niệu (BN lọc máu)
118
39,3
Bình thường
182
60,7
HC (+)
165
55,0
Protein niệu (+)
175
58,3
BC (+)
197
65,7
39,3% đối tượng vô niệu; HC (+) 55,0%;
protein niệu 58,3%; BC (+) 65,7%.
Bảng 9. Đặc điểm nguyên nhân bệnh
thận mạn nhóm bệnh nhân nghiên cứu
(n=300)
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ %
Bệnh khe ống thận
34
11,3
Bệnh thận có ĐTĐ
49
16,3
Bệnh thận có Lupus
ban đỏ hệ thống
23
7,7
Bệnh cầu thận có THA
194
64,7
Do bệnh viện tuyến tỉnh một số nguyên nhân
không xác định được, do vậy chúng tôi thấy: Tỷ
lệ bệnh nhân có bệnh cầu thận có THA chiếm
cao nhất 64,7%, có ĐTĐ chiếm 16,3% và thấp
nhất là có lupus ban đỏ chiếm 7,7%.
Bảng 10. Tỷ lệ bệnh nhân suy thận được
điều trị theo các phương pháp (n=300)
Điều trị
Số lượng
Tỷ lệ %
Nội khoa
178
59,4
Lọc máu
118
39,3
Ghép thận
4
1,3
Chung
300
100
Trong 300 đối tượng, tỷ lệ cao nhất ở đối
tượng điều trị nội khoa 59,4%; thấp hơn là đối
tượng điều trị lọc máu 39,3%; tỷ lệ đối tượng
điều trị ghép thận 1,3%.
IV. BÀN LUẬN
- Đặc điểm tuổi và giới:
Trong nghiên cứu của
chúng tôi độ tuổi trung bình nhóm bệnh nhân
nghiên cứu là 52,78. Độ tuổi trung bình trong
nghiên cứu tương đương với các nghiên cứu của
các tác giả trong nước nhưng thấp hơn nhiều so
với các tác giả nước ngoài. Điều này có thể được
giải thích do mô hình bệnh của nước ta và các
nước phương tây khác nhau.
Giới tính trong nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy nữ chiếm 44,0% và nam là 56%. Theo
Nguyễn Thị Thanh Hương (2014) nam chiếm tỷ
lệ 75% nữ chiếm tỷ lệ 25%, theo Valderrabano
(2003) nam chiếm tỷ lệ 59% trong khi nữ chỉ
chiếm 41%, theo Hoffmann F (2011) nam chiếm
tỷ lệ 76,6% trong khi nữ chỉ có 23,4%. Như vậy
sự khác nhau về giới phụ thuộc chủ yếu vào tính
ngẫu nhiên của chọn mẫu nghiên cứu.
- Đặc điểm bệnh thận mạn tính:
Phân bố
bệnh nhân theo giai đoạn BTM chiếm tỉ lệ cao
nhất giai đoạn bệnh G5 (42,7%); G3 (21,7%);
thấp nhất là giai đoạn G1 7,7%. Bệnh nhân của
chúng tôi chỉ đến viện điều trị khi có các triệu
chứng hoặc biểu hiện lâm sàng, bệnh nhân
không thể chịu đựng được. Các biểu hiện chủ
yếu là các biến chứng liên quan đến bệnh nhân
suy thận mạn tính. Bên cạnh đó còn một số
bệnh nhân của chúng tôi đi khám và điều trị do
ĐTĐ, THA. Tỷ lệ này cũng phù hợp với các
nghiên cứu trong nước đã công bố.
- Đặc điểm huyết áp:
Tăng huyết áp được xác
định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và hoặc
huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg đo trong điều
kiện tiêu chuẩn hai tại hai thời điểm khác nhau
hoặc bệnh nhân có chỉ số huyết áp trong giới
hạn bình thường mà đang phải dùng thuốc
chống tăng huyết áp. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân THA lên tới 76,0%.
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với mốt số
nghiên cứu của các tác giả khác: Nguyễn An
Giang BN THA chiếm 72,9%, Vũ Thị Loan tỷ lệ
BN tăng HA là 74,8%. Bệnh nhân BTMT biểu
hiện THA thường gặp, có khi xuất hiện rất sớm
ngay từ khi mắc bệnh thận, khi có suy thận, THA
gặp ở gần như 100% số bệnh nhân.
- Đặc điểm thiếu máu:
Thiếu máu là biểu hiện
thường xuyên của STM và không hồi phục. Thận
càng suy thì thiếu máu càng nặng. Thiếu máu có
thể xuất hiện ngay khi chẩn đoán STMT và luôn
tiến triển nặng dần lên cùng sự xấu đi của chức
năng thận. Theo tổ chức y tế thế giới WHO năm
2002 định nghĩa thiếu máu ở bệnh nhân STMT
dựa vào huyết sắc tố <120g/l với nữ và < 130g/l
đối với nam. Dựa vào đó có thế thấy trong
nghiên cứu của chúng tôi đa phần bệnh nhân bị
thiếu máu, tỷ lệ thiếu máu chiếm 59,7%. Nghiên

vietnam medical journal n02 - MAY - 2019
12
cứu của chúng tôi khác với nghiên cứu của các
tác giả trong nước Nguyễn Thị Thanh Hương
(2013) tỷ lệ thiếu máu là 97,2%, Vũ Thị Loan
(2013) tỷ lệ thiếu máu là 92,2%. Chúng tôi thấy
kết quả này hợp lý bởi nhóm bệnh nhân chúng
tôi bao gồm cả bệnh nhân BTMT giai đoạn 1 đến
5. Sản xuất thiếu erythropoietin là nguyên
nhân chính của thiếu máu trong BTMT, đây là
hormone có tác dụng kích thích sự biệt hoá
hồng cầu - từ giai đoạn hồng cầu ưa axít đến
giai đoạn hồng cầu ưa kiềm. Thận là cơ quan
chính sản xuất trên 90% erythropoietin trong
cơ thể. Khi các cầu thận bị tổn thương (teo
nhỏ, xơ hoá) thì lượng erythropoietin sẽ giảm
sút gây thiếu máu. Nguyên nhân tiếp theo là
giảm đời sống hồng cầu trong tình trạng
nhiễm toan chuyển hoá, tủy xương bị ức chế
do nhiễm độc mạn tính gây nên. Bên cạnh đó,
quá trình lọc máu cũng làm mất máu, làm tăng
khả năng tan vỡ hồng cầu, càng thúc đẩy mức
độ thiếu máu ở những bệnh nhân BTMT.
- Các đặc điểm khác:
Rối loạn lipid máu là
thường gặp ở bệnh nhân khi có một trong bốn
yếu tố tăng TG, cholesterol, LDL-C, hoặc giảm
HDL-C. Trên bệnh nhân BTM nói riêng và các
bệnh lý mạch máu nói chung rối loạn lipid máu là
yếu tố nguy cơ của các biến chứng tim mạch,
nguy cơ mất chức năng cầu nối thông động tĩnh
mạch sau phẫu thuật-một kỹ thuật sử dụng làm
cầu nối cho bệnh nhân lọc máu bằng thận nhân
tạo. Cơ chế rối loạn lipid máu ở nhóm bệnh nhân
này là cơ chế kết hợp nhiều yếu tố ảnh hưởng.
Quá trình lọc máu làm mất một số yếu tố liên
quan đến các enzyme tổng hợp và phân hủy
lipoprotein. Hoạt động của các enzym lipase
giảm, sự mất carnitin và dịch lọc có thể gián
tiếp làm tăng tổng hợp TG. Việc điều trị heparin
nhắc lại, về mặt lý thuyết có thể làm suy giảm
khả năng dịch đệm ít gây tăng TG hơn là sử
dụng acetate đối với bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
Gần đây người ta thấy lọc máu chu kỳ với màng
lọc có tính chọn lọc cao có thể cải thiện và
phương diện lipoprotein, do nó làm đào thải dễ
dàng các enzym ức chế ở những bệnh nhân này.
Giảm protein và albumin máu là biểu hiện hay
gặp ở nhóm nghiên cứu này, có tới 2/3 số bệnh
nhân giảm. Tỷ lệ giảm của chúng tôi cao hơn các
nghiên cứu khác, bởi đối tượng nghiên cứu của
chúng tôi gồm cả bệnh nhân suy thận và hội
chứng thận hư.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có thể thấy
có sự biến đổi về các chỉ số điện giải trong nhóm
bệnh nhân nghiên cứu mà rõ ràng nhất là sự
biến đổi Na+. Trong suy thận mạn tính ure và
các sản phầm chuyển hóa khác tích tụ lại gây
độc cho cơ thể. Khi nồng độ ure huyết cao sẽ
ảnh hưởng tới tính toàn vẹn của thể tích và
thành phần tế bào. Tính toàn vẹn của thế tích và
thành phần tế bào phụ thuộc vào sự vận chuyển
tích cực của Na+ từ trong ra ngoài tế bào và vận
chuyển K+ từ ngoài vào trong tế bào, quá trình
này cần tiêu tốn năng lượng (gần 20% năng
lượng của tế bào). Sự tích tụ của urê và các sản
phẩm chuyển hóa đi kèm làm giảm quá trình sản
xuất năng lượng của ty lạp thể, giảm ATP nội
bào. Do đó làm giảm quá trình vận chuyển tích
cực nêu trên gây ứ Na+ ở nội bào và K+ ở ngoại
bào. Một số nguyên nhân có thể gây hạ Na+ máu
như do sử dụng lợi tiểu điều trị huyết áp, do ăn
nhạt quá mức, do giải phóng ADH bởi kích thích
đau, thiếu oxy, giảm thể tích máu…. Trong
nghiên cứu của chúng tôi có 47 bệnh nhân
tương đương với 56,6% bệnh nhân giảm Na+
máu, và 31,3 % tương đương với 26 bệnh nhân
có tăng K+ máu. Tăng Na+ ít gặp hơn giảm Na+
máu, nguyên nhân thường do hạn chế nước và
do dùng lợi tiểu thẩm thấu, trong nghiên cứu của
chúng tôi không thấy có bệnh nhân tăng Na+.
Chẩn đoán nguyên nhân gây BTMT là một nội
dung khó nhất chúng tôi không thực hiện được,
do chúng tôi không sinh thiết thận bệnh nhân.
Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh cầu thận có THA chiếm
cao nhất 64,7%, có ĐTĐ chiếm 16,3% và thấp
nhất là có lupus ban đỏ chiếm 7,7% là kết quả
tương đối phù hợp với các nghiên cứu khác.
V. KẾT LUẬN
+ Tỷ lệ bệnh nhân lọc máu chiếm 39,3%, điều
trị nội khoa chiếm 59,4%, ghép thận chiếm 1,3%.
+ Tỷ lệ thiếu máu chung là 59,7%. Tỷ lệ THA
trong nghiên cứu là 76,0%. Có tới 73,7%
bệnh nhân có rối loạn ít nhất 1 thành phần
lipid máu. Tỷ lệ giảm albumin máu là 34,3%.
+ Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh cầu thận có THA
chiếm cao nhất 64,7%, có ĐTĐ chiếm 16,3% và
thấp nhất là có lupus ban đỏ chiếm 7,7%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Wang H.H., Hung C.C., Hwang D.Y., et al.
(2013). Hypokalemia, its contributing factors and
renal outcomes in patients with chronic kidney
disease. PLoS One, 8(7).
2. Valderrabano F. (2003). Predialysis survey on
anemia management. Nephrol Dial Transplant, 18,
pp. 100.
3. Nguyễn Thị Thanh Hương (2014). Đánh giá
nồng độ albumin và prealbumin ở bệnh nhân mắc
bệnh thận mãn tính chưa điều trị thay thế tại khoa
Thận - Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai. Luận văn
thạc sỹ y học, Trường đại học y Hà Nội.
4. Hoffmann F., Haastert B., Koch M., et al.

