
CHUYÊN ĐỀ LAO
21
STUDY ON THE RATE OF MALE SEXUAL
DYSFUNCTION AND RELATED FACTORS IN INFERTILE COUPLES
AT DANANG OBSTETRICS AND PEDIATRICS HOSPITAL
Nguyen Van Hien*, Pham Chi Kong, Tran Dinh Vinh
Da Nang Obstetrics and Pediatrics Hospital - 402 Le Van Hien, Khue My Ward, Da Nang City, Vietnam
Received: 10/09/2025
Revised: 27/09/2025; Accepted: 08/10/2025
ABSTRACT
Objectives: To determine the rate of male sexual dysfunction in infertile couples at the
Da Nang Obstetrics and Pediatrics Hospital and to survey some factors related to male
sexual dysfunction in infertile couples.
Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study on 279 husbands of infertile
couples who visited the Da Nang Obstetrics and Pediatrics Hospital from March to August
2024, meeting the inclusion and exclusion criteria.
Results: The rate of erectile dysfunction was 30.1% (95% CI: 24.8-35.9), of which mild
was 27.2%, mild to moderate was 2.2%, moderate was 0.7%. The rate of premature
ejaculation was about 15.4% (95% CI: 11.4-20.2), of which 8.6% could have premature
ejaculation and 6.8% definitely had premature ejaculation. The 4 factors independently
associated with erectile dysfunction included: having education above high school,
increased systolic blood pressure, obesity through body mass index and number of
intercourse < 4 times/month. There were 5 factors independently associated with
premature ejaculation through multivariate regression analysis, factors associated with
increased risk of premature ejaculation included: non-office occupation, lack of physical
activity, smoking, heavy alcohol consumption and thin body condition according to body
mass index.
Conclusion: The rate of sexual dysfunction tends to increase in the group of male infertile
patients and more and more risk factors are identified to increase these disorders. This
shows the need for routine assessment of sexual function in infertility examination and
treatment practice.
Keywords: Male sexual dysfunction, male infertility, erectile dysfunction, premature
ejaculation.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 21-27
*Corresponding author
Email: hhbang@vttu.edu.vn Phone: (+84) 399087545 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD17.3391

www.tapchiyhcd.vn
22
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ RỐI LOẠN TÌNH DỤC NAM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở CẶP VỢ CHỒNG VÔ SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN - NHI ĐÀ NẴNG
Nguyễn Văn Hiền*, Phạm Chí Kông, Trần Đình Vinh
Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng - 402 Lê Văn Hiến, P. Khuê Mỹ, Tp. Đà Nẵng, Việt Nam
Ngày nhận: 10/09/2025
Ngày sửa: 27/09/2025; Ngày đăng: 08/10/2025
ABSTRACT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn tình dục nam ở cặp vợ chồng khám vô sinh tại Bệnh viện
Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng và khảo sát một số yếu tố liên quan đến rối loạn tình dục nam ở cặp
vợ chồng khám vô sinh.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 279 người chồng của cặp vợ
chồng vô sinh đến khám tại Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng từ tháng 3-8 năm 2024 thỏa
mãn tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ.
Kết quả: Tỷ lệ rối loạn cương là 30,1% (KTC 95%: 24,8-35,9), trong đó mức độ nhẹ 27,2%,
nhẹ đến trung bình 2,2%, trung bình 0,7%. Tỷ lệ xuất tinh sớm khoảng 15,4% (KTC 95%:
11,4-20,2), trong đó 8,6% có thể xuất tinh sớm và 6,8% chắc chắn xuất tinh sớm. Có 4 yếu
tố liên quan độc lập với rối loạn cương gồm: học vấn trên trung học phổ thông, huyết áp
tâm thu tăng, béo phì qua chỉ số khối cơ thể và số lần giao hợp < 4 lần/tháng. Có 5 yếu tố
liên quan độc lập với xuất tinh sớm qua phân tích hồi quy đa biến, các yếu tố liên quan
tăng nguy cơ xuất tinh sớm gồm: nghề nghiệp không phải công nhân viên, không hoạt động
thể chất, hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều và thể trạng gầy theo chỉ số khối cơ thể.
Kết luận: Tỷ lệ rối loạn tình dục có xu hướng tăng trong nhóm bệnh nhân vô sinh nam và
ngày càng nhiều yếu tố nguy cơ được xác định làm tăng các rối loạn này. Điều này cho thấy
cần thiết đánh giá thường quy chức năng tình dục trong thực hành thăm khám và điều trị
vô sinh.
Từ khóa: Rối loạn chức năng tình dục nam, vô sinh nam, rối loạn cương, xuất tinh sớm.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, vô sinh là
một bệnh của hệ thống sinh sản nam hoặc nữ được
xác định bởi sự không đạt được mục tiêu mang thai
sau 12 tháng hoặc hơn nếu quan hệ tình dục thường
xuyên và không tránh thai [1]. Dựa trên dữ liệu từ năm
1990-2021, ước tính tỷ lệ vô sinh toàn cầu năm 2022
là: khoảng 1 trong 6 người đã từng bị vô sinh ở một
giai đoạn nào đó trong cuộc đời. Tỷ lệ vô sinh trọn đời
ước tính là 17,5% (KTC 95%: 15-20,3). Tỷ lệ vô sinh
theo thời kỳ ước tính là 12,6% (KTC 95%: 10,7-14,6)
[1]. Nguyên nhân vô sinh từ nam giới được ghi nhận
là nguyên nhân chính cho khoảng 20% các trường
hợp và là yếu tố góp phần gây ra 30-40% các trường
hợp vô sinh khác [2]. Chẩn đoán vô sinh có thể gây ra
căng thẳng về mặt tâm lý giữa vợ chồng. Ngoài ra, vô
sinh cũng có thể dẫn đến suy giảm sự tự tin và lòng
tự trọng; họ chịu áp lực liên quan đến việc mong con
và quá trình điều trị. Vô sinh có thể ảnh hưởng tiêu
cực đến mối quan hệ giữa các cặp đôi và thường gây
ra sự không thỏa mãn về tình dục. Nam giới vô sinh
sẽ phải chịu gánh nặng tâm lý rất lớn, do đó vô sinh
và các vấn đề tâm lý liên quan có thể là nguyên nhân
chính gây ra rối loạn chức năng tình dục [3].
Tỷ lệ mắc ít nhất một rối loạn chức năng tình dục ở
cộng đồng nam giới trưởng thành trên toàn thế giới
từ 20-30% [4-5] và tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi [5].
Các loại rối loạn chức năng tình dục dẫn đến vô sinh
ở nam giới bao gồm rối loạn cương (RLC) và rối loạn
xuất tinh, chẳng hạn như không xuất tinh, xuất tinh
ngược dòng và xuất tinh sớm (XTS) nghiêm trọng [2].
RLC và XTS là những loại rối loạn chức năng tình
dục nam giới phổ biến [6-7]. Ở nam giới vô sinh, tỷ
lệ mắc rối loạn chức năng tình dục có xu hướng cao
hơn cộng đồng, thay đổi từ 6,7-75% [8], trong đó các
nghiên cứu báo cáo tần suất RLC cao hơn và tỷ lệ
XTS tương tự hoặc cao hơn ở nam giới của cặp đôi
N.V. Hien et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 21-27
*Tác giả liên hệ
Email: hhbang@vttu.edu.vn Điện thoại: (+84) 399087545 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD17.3391

23
vô sinh, so với những gì quan sát thấy ở nam giới nói
chung ở độ tuổi tương tự [6-7].
Chức năng tình dục bình thường được mô tả là một
quá trình tâm sinh lý - xã hội liên quan đến sự phối
hợp của các hệ thống như tâm lý, nội tiết, mạch máu
và thần kinh [9], và hệ thống này dễ chịu tác động bởi
nhiều yếu tố liên quan đến lối sống như hút thuốc lá,
uống rượu bia, hoạt động thể chất, sử dụng cà phê,
sử dụng ma túy… [10] hoặc bệnh lý như tăng huyết
áp, đái tháo đường, bệnh lý niệu dục, bệnh lý tâm
thần… [11]. Việc xác định mối liên quan của các yếu
tố nguy cơ đến chức năng tình dục là cần thiết giúp
các bác sỹ lâm sàng có thêm thông tin khám và tư
vấn và điều trị [10].
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định
tỷ lệ rối loạn tình dục nam và khảo sát một số yếu tố
liên quan đến rối loạn tình dục nam ở cặp vợ chồng
khám vô sinh tại Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng.
2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
279 nam giới của các cặp vợ chồng vô sinh, đồng ý
ký tham gia nghiên cứu và không có các tiêu chuẩn
loại trừ sau đây: có tiền sử nghiện rượu, ma túy; có
bệnh sử thiểu năng trí tuệ, bệnh tâm thần; có tiền
sử điều trị thuốc ảnh hưởng đến chức năng tình dục
như thuốc nội tiết, thuốc hạ huyết áp…; có dị dạng
tại cơ quan sinh dục; có sở thích tình dục dị biệt;
không biết đọc biết viết, khiếm khuyết về ngôn ngữ,
khiếm thính, khiếm thị, không có hoạt động tình dục
trong 4 tuần vừa qua.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang tại Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà
Nẵng từ tháng 4/2024 đến tháng 8/2024.
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được khám lâm
sàng cơ bản và được phỏng vấn hoàn thành một
bản câu hỏi gồm các thông tin sinh trắc học, nhân
khẩu học toàn diện và mục Việt hóa các bảng chỉ số
chức năng cương dương quốc tế (IIEF-15), thời gian
trì hoãn xuất tinh trong âm đạo (IELT) và bộ công cụ
chẩn đoán XTS (PEDT).
IELT được đo từ khi dương vật bắt đầu thâm nhập
vào âm đạo đến khi xuất tinh trong lần giao hợp gần
đây nhất bằng cách tự xác định của đối tượng nghiên
cứu.
Mức độ của RLC được phân theo điểm IIEF như sau:
không mắc RLC nếu IIEF > 25 điểm; RLC mức độ nhẹ
(IIEF = 22-25 điểm), RLC nhẹ đến trung bình (IIEF =
17-21 điểm), RLC trung bình (IIEF = 11-16 điểm) và
RLC nặng (IIEF ≤ 10 điểm).
XTS nguyên phát khi IELT < 1 phút; và XTS thứ phát
khi IELT < 3 phút.
Chẩn đoán XTS dựa trên điểm PEDT khi PEDT ≥ 9
điểm.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm chung
của đối tượng nghiên cứu (n = 279)
Đặc điểm Số
lượng Tỷ lệ
(%)
Học vấn
Tiểu học
hoặc thất học 28 10,0
Trung học cơ sở 54 19,4
Trung học phổ
thông 80 28,7
Cao đẳng, đại học 87 30,2
Sau đại học 30 10,8
Nghề
nghiệp
Công nhân viên 78 28,0
Buôn bán dịch vụ 52 18,6
Lao động phổ thông 93 33,3
Nội trợ 14 5,0
Khác 43 15,4
Tôn giáo
Không 235 84,2
Phật giáo 27 9,7
Thiên chúa giáo 14 5,0
Khác 3 1,1
Uống
rượu, bia
Không uống 103 36,9
Uống ít 71 25,4
Uống nhiều 105 37,7
Hút thuốc
lá Có 139 49,8
Không 140 50,2
Chỉ số
khối cơ
thể
Bình thường 185 66,3
Gầy 15 5,4
Tiền béo phì 67 24,0
Béo phì 12 4,3
Tỷ số eo/
hông
Bình thường 197 70,6
Tăng 82 29,4
Huyết áp Bình thường 199 71,3
Tăng 80 28,7
Hoạt động
thể chất
Không 54 19,4
Thỉnh thoảng 140 50,2
Thường xuyên 85 30,5
N.V. Hien et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 21-27

www.tapchiyhcd.vn
24
Đặc điểm Số
lượng Tỷ lệ
(%)
Tình trạng
nhà ở
Nhà riêng 165 59,1
Sống chung 144 40,9
Tình trạng
kinh tế
Khó khăn 88 31,5
Đủ sống 108 38,7
Khá giả 83 29,7
Tiền sử
quai bị
Không 250 89,6
Có 29 10,4
Tiền sử
tinh hoàn
ẩn
Không 264 94,6
Có 15 5,4
Tiền sử
viêm
niệu-dục
Không 243 87,1
Có 36 12,9
Tiền sử
mổ niệu-
dục
Không 262 93,9
Có 17 6,1
Tiền sử
bệnh nội
khoa
Không 237 84,9
Có 42 15,1
Tiền sử
điều trị vô
sinh
Không 171 61,3
IVF 26 9,3
Không phải IVF 82 29,4
Loại vô
sinh Vô sinh 1 180 64,5
Vô sinh 2 99 35,5
Vợ chồng
hiểu nhau
Tốt 72 25,6
Trung bình 122 43,4
Kém 100 30,2
Nguyên
nhân vô
sinh
Do vợ 61 21,9
Do chồng 55 19,7
Do cả hai 75 26,9
Không rõ 88 31,5
Tinh dịch
đồ
Bình thường 9 3,2
Bất thường nhẹ 248 88,9
Bất thường nặng 22 7,9
Tuổi
chồng
Mean ± SD (năm) 33,1 ± 5,2
Min-max (năm) 21-58
Tuổi vợ Mean ± SD (năm) 30,6 ± 4,55
Min-max (năm) 21-43
Thời gian
kết hôn
Mean ± SD (tháng) 41,3 ± 7,8
Min-max (tháng) 19-60
Đặc điểm Số
lượng Tỷ lệ
(%)
Thời gian
vô sinh
Mean ± SD (tháng) 23,5 ± 6,9
Min-max (tháng) 12-41
Thời gian
điều trị vô
sinh
Mean ± SD (tháng) 7,4 ± 2,8
Min-max (tháng) 0-15
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu có trình độ
học vấn cao đẳng trở lên chiếm đa số, nghề nghiệp
chính là công nhân viên chức và lao động phổ thông,
không theo tôn giáo nào và kinh tế ở mức đủ sống.
Vô sinh nguyên phát chiếm phần lớn với thời gian vô
sinh trung bình 23,5 tháng và thời gian đã trải qua
điều trị vô sinh trung bình 7,4 tháng.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ RLC và XTS
Tỷ lệ RLC chiếm 30,1% (KTC 95%: 24,8-35,9). Về
rối loạn XTS thì tỷ lệ “có thể XTS” là 8,6% (KTC 95%:
5,6-12,5) và “chắc chắn XTS” là 6,8% (KTC 95%: 4,1-
10,4), như vậy khi gộp cả hai nhóm là 15,4% (KTC
95%: 11,4-20,2) là “có khả năng XTS”.
Biểu đồ 2. Tỷ lệ đơn mắc và đồng mắc RLC và XTS
Tỷ lệ bị mắc cả RLC và “khả năng XTS” là 2,5% (KTC
95%: 1-5,1), và có ít nhất 1 trong 2 tình trạng này là
40,5% (KTC 95%: 34,7-46,5).
N.V. Hien et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 21-27

25
Bảng 2. Các yếu tố liên quan với chẩn đoán RLC
qua phân tích hồi quy đa biến
Yếu tố
Hồi quy đa biến
PR KTC
95% p
Học vấn trên trung học
phổ thông 2,9 1,21-6,9 0,014
Nghề nghiệp cán bộ viên
chức 1,6 0,9-3,1 0,115
Không hoạt động thể
chất 2,2 1-5,1 0,059
Hút thuốc lá nhiều 1,8 0,9-3,4 0,092
Uống rượu bia nhiều 1,6 0,9-2,9 0,095
Tình trạng nhà ở sống
chung 1 0,5-1,7 0,907
Huyêt áp tâm thu tăng 2 1,1-3,7 0,028
Chỉ số khối
cơ thể
Gầy 0,00 0,00 0,998
Thừa cân 1,4 0,7-2,7 0,16
Béo phì 3,0 1,0-15,5 0,049
Số lần giao hợp < 4 lần/
tháng 3,2 1,3-7,8 0,009
Từ khảo sát hồi quy đơn biến 30 yếu tố lọc được 9
yếu tố có p < 0,05 xem xét có liên quan với chẩn đoán
RLC. Qua phân tích đa biến có 4 yếu tố duy trì được
mối liên quan với chẩn đoán RLC (p < 0,05).
Bảng 3. Các yếu tố liên quan với khả năng
XTS qua phân tích hồi quy đa biến
Yếu tố Hồi quy đa biến
PR KTC 95% p
Học vấn trên trung học
phổ thông 2,2 0,8-6 0,10
Nghề nghiệp khác cán
bộ công nhân viên 4,26 1,96-9,25 0,001
Không hoạt động thể
chất 4,6 1,2-17,3 0,021
Hút thuốc lá 2,6 1,18-5,9 0,017
Uống rượu bia nhiều 2,6 1,23-5,48 0,012
Chỉ số khối
cơ thể
Gầy 9,48 2,67-33,6 0,001
Thừa cân 1,58 0,66-3,7 0,3
Béo phì 1,6 0,34-7,6 0,54
Từ khảo sát hồi quy đơn biến 30 yếu tố, tìm thấy 9 yếu
tố có p < 0,05 xem xét liên quan với khả năng XTS.
Qua phân tích đa biến có 5 yếu tố duy trì được mối
liên quan với khả năng XTS (p < 0,05).
4. BÀN LUẬN
Rối loạn chức năng tình dục ở nam giới bao gồm
nhiều tình trạng, thường gặp nhất là RLC và XTS. Bộ
công cụ IIEF được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo
từ năm 1999 và hiện được xem là “tiêu chuẩn vàng”
trong nghiên cứu và lâm sàng nhờ độ tin cậy cao [16-
17]. Ngược lại, PEDT trong chẩn đoán XTS còn gây
tranh luận do những thay đổi trong định nghĩa IELT
theo ISSM, song vẫn được Hiệp hội Niệu khoa châu
Âu khuyến nghị sử dụng nhờ tính tiện lợi và giá trị
thực tiễn.
Trong nghiên cứu của chúng tôi trên nhóm nam
giới vô sinh (tuổi trung bình 33,1 ± 5,2), tỷ lệ RLC là
30,1%, chủ yếu ở mức nhẹ (27,2%), trong khi mức
trung bình và nặng rất thấp. Kết quả này tương đồng
với nhiều khảo sát quốc tế, nơi tỷ lệ RLC dao động
từ 15-30%, như Nam Phi (17,1%), Ấn Độ (15%),
Trung Quốc (18,1%) Canada (30,5%), Ý (17,8%) và
Mỹ (22%) [12]. Ở Việt Nam, Hồ Thị Thanh Tâm ghi
nhận 26,7% [12]. Như vậy, tỷ lệ RLC ở nam giới vô
sinh thường cao hơn so với dân số có khả năng sinh
sản bình thường. Điều này phản ánh mối quan hệ
hai chiều: vô sinh có thể làm tăng áp lực tâm lý và
ảnh hưởng đến chức năng cương, trong khi RLC lại
làm giảm tần suất giao hợp, hạn chế cơ hội thụ thai
tự nhiên.
Đối với XTS, tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi là
8,6% (KTC 95%: 5,6-12,5), trong đó “chắc chắn XTS”
chiếm 6,8%. Tỷ lệ này thấp hơn so với cộng đồng
chung, nơi XTS dao động từ 16-38% [2], và cũng thấp
hơn nhiều nghiên cứu trên nam giới vô sinh: Ấn Độ
(66%), Mỹ (50%) [2]. Nghiên cứu tại Trung Quốc cho
thấy XTS ở nam giới vô sinh cao hơn nhóm đối chứng
(19,0% so với 10,9%, p < 0,01) [6], nhấn mạnh ảnh
hưởng của căng thẳng liên quan đến vô sinh đối với
đời sống tình dục.
Nhìn chung, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
khoảng 40,5% nam giới vô sinh mắc ít nhất một
trong hai rối loạn tình dục phổ biến (RLC hoặc XTS).
Kết quả này khẳng định tầm quan trọng của việc
sàng lọc rối loạn chức năng tình dục trong quản lý
vô sinh, nhằm nâng cao chất lượng sống cũng như
khả năng sinh sản tự nhiên.
Các yếu tố liên quan đến RLC và XTS
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhiều yếu tố liên
quan đến RLC và XTS ở nam giới vô sinh đã được
phân tích. Về tuổi tác, mặc dù nhiều nghiên cứu trên
cộng đồng lớn cho thấy tuổi càng cao thì tình trạng
RLC càng nghiêm trọng trong khi tuổi ít ảnh hưởng
đến XTS [2], nhưng kết quả nghiên cứu này không
phát hiện mối liên quan rõ rệt, có thể do đối tượng
chủ yếu là người trẻ.
Về học vấn, nhóm có trình độ trên phổ thông chiếm
tỷ lệ cao (40,9%) và có nguy cơ RLC cao gấp 2,71
lần cũng như XTS cao gấp 4,15 lần so với nhóm thấp
N.V. Hien et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 17, 21-27

