
Nghinh Xuân Viên

Nghinh Xuân viện tọa lạc trên triền đồi thoai thoải, nép mình dưới những tàn cây
rậm lá, vừa kín đáo vừa thơ mộng, và tuy tọa lạc giữa Tây Thành Bắc Kinh, nhưng
lại không nằm trong khu phố ồn ào náo nhiệt, nên rất tiện cho các hàng vương tôn
công tử âm thầm tìm đến hưởng thú phong lưu. Đoàn kiều nữ của Viện toàn là
những người đẹp hương sắc tuyệt vời, tài nghệ đa dạng, và đặc biệt nhất phải kể
đến nàng Tống Liên Hương, người được tôn là đệ nhất ca kỹ của thành Bắc Kinh.
Tao nhân thuộc hạng hào phóng sang trọng phải bách hẹn trước mới mong được
nàng tiếp đón. Nàng duyên dáng thùy mị dù chưa phải là hạng sắc sảo tuyệt trần,
nàng cũng không điêu luyện các nghệ thuật ái ân, nhưng nàng lại ngầm quyến rủ
bởi hơi thở thoảng hương thơm hoa sen và âm thanh giọng nói êm ái ngọt ngào, lời
ca thánh thót du dương khiến cho khách mê mẩn tâm thần, chỉ muốn gần gũi với
nàng để nghe thanh âm tuyệt vời của nàng thỏ thẻ bên tai. Do đó, khách cầu cạnh
nàng không hẳn nhằm mua vui xác thịt, mà đôi khi chỉ tìm những giây phút mạn
đàm tao nhã, nâng tách trà và nghe nàng ca một khúc hành vân lưu thủy hay ngâm
nga một áng thơ Đường.
Hồ thuận An, vị thái thú trấn giữ ải Nhạn Quan và Ngũ Đài sơn, nhân chuyến về
Bắc Kinh triều bái thánh thượng đã giả dạng thường dân đến Nghinh Xuân viện
một lần, thượng quan lưu lại hàng giờ chỉ để trà đàm và nghe Liên Hương ngâm
khúc Tỳ bà Hành của Bạch cư Dị và Phong kiều dạï bạc của Trương Kế mà thôi.
Không ngờ, nay thái thú lại phái thuộc hạ đến thương lượng với bà chủ để chuộc

nàng ra khỏi viện, đưa về doanh trại hầu sớm hôm gần gũi. Nể trọng bực quyền
thế, chủ nhân viện Nghinh Xuân không dám khước từ, còn thân phận bèo bọt của
người kỹ nữ thì đâu có quyền góp ý. Thế là Liên Hương phải cấp tốc gói ghém
hành trang, để sẵn sàng theo đoàn tùy tùng lên đường ngày hôm sau. Chuẩn bị ra đi
mà lòng dạ nàng hoang mang cùng cực nên thỉnh thoảng nàng lại buông tiếng thở
dài não nuột. Trong thời gian ngắn, nàng phải rời bỏ ngôi kỹ viện quen thuộc, bỏ
bạn bè thân thiết, sao chẳng khỏi bùi ngùi tất dạ. Nàng thơ thẩn dạo quanh khu
vườn, luyến tiếc ngắm nhìn từng cụm hoa, bụi kiểng... và cuối cùng thả tầm mắt
hướng về những cụm mây trắng nổi trên bầu trời xanh lợ Nhìn áng mây bình bồng
trôi lang thang vô định rồi tan loãng dần trong không gian, nàng bỗng liên tưởng
đến cuộc đời trôi nổi của mình, chẳng biết sẽ trôi giạt về đâu. Liên Hương vốn
thuộc gia đình cầm ca khá giả tại huyện Vĩnh Châu, từ thuở ấu thơ sớm đã được
trau chuốt nghệ thuật ca ngâm, nàng bẩm sinh có trí nhớ đặc biệt học thuộc làu làu
các áng văn chương thi phú nổi danh, nên tao nhân mặc khách muốn thưởng thức
thể thơ nào cũng toại nguyện. Năm 15 tuổi, cha mẹ nàng sớm chiều bạo bệnh qua
đời, thân gái cô đơn bị đời đẩy đưa rơi vào bẫy rập sở khanh rồi bị bán vào kỹ viện.
Tài nghệ ca ngâm của nàng khiến cho viên tri huyện sở tại là Âu Dương Vĩnh Thúc
động lòng mua về làm nàng hầu. Tấm thân liễu yếu tưởng như đã tạm có chỗ
nương thân, không ngờ nàng gặp phải phu nhân Âu Dương ghen tuông nghiệt ngã,
sai khiến hành hạ như kẻ tôi đòi, rồi đem bán nàng cho một kỹ viện xa xôi, tuyệt

đối không dành cho viên tri huyện hảo ngọt một cơ hội lui tới. Tấm thân bầm dập
trôi nổi từ nơi nầy sang nơi khác, bị các mụ tú bà bóc lột, chà đạp rẻ rúng chẳng
chút tiếc thương.
Thời may, chủ nhân viện Nghinh Xuân khám phá được điểm quyến rủ của nàng,
bèn mua về Bắc Kinh, truyền dạy thêm vài bí quyết để thành danh như ngày naỵ
Liên Hương đã có kinh nghiệm đắng cay về thân phận hầu thiếp, nên dẫu được Hồ
tướng quân ra tay cứu vớt thoát kiếp kỹ nữ mà lòng lại bối rối bất an. Thân phận kỹ
nữ bọt bèo, ai lại không mơ thoát khỏi số kiếp hẩm hiu nầy, nhưng nàng chỉ mơ
một mái gia đình tầm thường mà hạnh phúc, chớ nào cầu mong cảnh làm hầu thiếp
cho các bậc quyền quí, tuy được sống trong nhung lụa mà bất trắc hung hiểm khó
ước lường. Liên Hương lại hoàn toàn chẳng hiểu biết gì về Hồ thái thú: tánh tình
đức độ của người ra sao? quan mua nàng về làm hầu thiếp hay làm ca nhỉ phu nhân
của người có sống trong doanh trại không và tánh nết bà như thế nào? Bao nỗi
khắc khoải đó cứ ám ảnh nàng không nguôi trong suốt cuộc hành trình, nàng toan
mở lời dò hỏi đám tùy tùng mấy lần nhưng rụt rè rồi nín lặng. Khi đoàn ngựa xe đi
ngang ngọn Hằng sơn, giữa chốn núi rừng hoang vu Liên Hương bỗng thấy xuất
hiện ngôi chùa Huyền Không ẩn khuất trong mây “huyền bí có có không không”
như một bức tranh chạm nổi màu sắc linh động vĩ đại trải dài trên triền núi, nàng
bỗng sinh lòng quy ngưỡng nên yêu cầu dừng lại để chiêm bái. Liên Hương đặt
từng bước chân run rẩy trên chiếc cầu treo lắt lẻo để vượt qua khe suối đến chân

núi, rồi leo hàng trăm nấc thang đá, mới lên được tiền điện. Chùa lợp ngói ống
xanh, mái uốn cong, dựng trên sàn gỗ ép sát vào những chỗ lõm của vách đá. Chùa
có rất nhiều điện, điện bé nhỏ, chỉ vừa đủ cho chừng hai Phật tử lễ bái; điện nầy
nối tiếp viện khác, nương theo địa hình mà xây, lên cao xuống thấp cheo leo hay có
chỗ còn phải chui qua hang động nữa. Nhờ kỹ thuật xây cất phối hợp với thiên
nhiên nầy, chùa Huyền Không mang nét đặc thù riêng: thơ mộng, xinh xắn, mũm
mĩm và tràn đầy sức sống. Tự thuở giờ Liên Hương chỉ biết vái lạy thần Bạch Mi
tại kỹ viện, chớ chưa hề đi chùa lễ Phật, khi được chú tiểu hướng dẫn đi chiêm bái
từng điện, nơi nào nàng cũng vái lạy để cầu xin phù hộ, dù chẳng biết đang cầu xin
vị nào. Tuy vậy, Liên Hương lại có cảm giác lạ lùng là rất thân thương quen thuộc
với chốn tôn nghiêm nầy, ở đây nàng tìm thấy được sự bình an thoải mái mà suốt
quãng đời qua, từ dạo sa chân vào chốn giang hồ, nàng đã đánh mất. Từ giã Hằng
sơn, từ giã chùa Huyền Không, Liên Hương tiếp tục cuộc hành trình với bao niềm
lưu luyến. Đến doanh trại, trái với lòng mong ước của Liên Hương, nàng chẳng
được tiếp kiến ngay quan thái thú, nhưng nhờ bà quản gia ân cần tiếp đãi cơm nước
và chu đáo sắp xếp chỗ ở tươm tất nàng cũng tạm yên lòng. Khi sắp rời bước, bà
quản gia mới dặn dò: “Cô nương đi đường xa, xin nghỉ ngơi cho khỏe để hôm sau
còn ra mắt phu nhân”. Nghe chuyện phải ra mắt phu nhân, Liên Hương chết điếng
trong lòng, trọn đêm thao thức chẳng phút nào yên.

