185
THE 4TH INTERNATIONAL CONFERENCE PROCEEDINGS COMMERCE AND DISTRIBUTION
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH ÁP DỤNG
CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN VÀO HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
Lê Hà Yến Nhi, Phạm Thị Hiền Thảo, Trần Thị Thùy Linh, Chu Thị Nga
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Email: nhile.neu@gmail.com
Tóm tắt: Mục đích của nghiên cứu này xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến ý định áp dụng công nghệ blockchain từ quan điểm của các nhà quản trị các
doanh nghiệp nhỏ vừa tại Việt Nam. Dựa trên tổng quan nghiên cứu kết
quả nghiên cứu định tính, các tác giả đề xuất hình nghiên cứu kết hợp giữa
hình lý thuyết thống nhất về chấp nhận sử dụng công nghệ (UTAUT) và
hình công nghệ - tổ chức - môi trường (TOE) để xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến ý định áp dụng công nghệ blockchain.
Từ khóa: công nghệ blockchain, TOE, UTAUT, ý định áp dụng.
DETERMINANTS OF BLOCKCHAIN TECHNOLOGY ADOPTION
OF SMES IN VIETNAM
Abstract: The purpose of this study is to identify the factors affecting the
intention to apply blockchain technology from the perspective of the managers of
small and medium-sized enterprises in Vietnam. Based on the research overview
and qualitative research results, the authors propose a research model combining
the unified theoretical model of technology acceptance and use (UTAUT) and
the technology-organization model-environment (TOE) to determine the factors
affecting the intention to adopt blockchain technology.
Keywords: adoption, blockchain, intention to apply, TOE, UTAUT.
1. Giới thiệu
Công nghệ blockchain (chuỗi - khối) là một sổ cái cơ sở dữ liệu trực tuyến
mở phân tán, được tạo theo tuần tự thời gian, được ghi lại xác minh bởi
một mạng lưới các máy chủ máy tính [55]. Ngày nay, công nghệ blockchain đang
nhanh chóng cách mạng hóa nền kinh tế toàn cầu vì chúng hứa hẹn sẽ luôn có tác
động lạc quan.
186
KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ “THƯƠNG MẠI VÀ PHÂN PHỐI“ LẦN THỨ 4 NĂM 2023
Công nghệ blockchain vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp. Đây
một công nghệ độc lập, công nghệ blockchain thể được sử dụng để xác minh, theo dõi
thông tin theo thời gian, cho phép kiểm tra thông tin an toàn, đáng tin cậy [56]. Công nghệ
blockchain cho phép một giải pháp quy kích thước nhanh chóng, giúp các doanh
nghiệp cắt giảm chi phí bằng cách loại bỏ những người trung gian.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng công nghệ blockchain vào doanh
nghiệp chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Các nghiên cứu trước đã
nghiên cứu các nhóm nhân tố công nghệ, tổ chức, môi trường, nhân tố hiệu quả mong đợi,
nỗ lực mong đợi, ảnh hưởng của hội, các điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên, chưa nhiều
nghiên cứu được đặt trong bối cảnh Việt Nam. Đặc biệt, mối quan hệ giữa nhân tố chính
sách quy định của chính phủ trong nhóm nhân tố môi trường ý định áp dụng công nghệ
blockchain vào doanh nghiệp còn thiếu sự nhất quán. Trong nghiên cứu này, các tác giả sẽ đề
xuất hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng công nghệ blockchain
thông qua tổng quan nghiên cứu phỏng vấn sâu các nhà quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Việt Nam.
2. Tổng quan & Cơ sở lý thuyết
2.1. Ý định áp dụng công nghệ blockchain trong doanh nghiệp
Trong nghiên cứu của Kamble cộng sự (2018) đã nhắc tới việc áp dụng công nghệ
được Carr (1999) định nghĩa giai đoạn một nhân hoặc tổ chức lựa chọn một công
nghệ để sử dụng. Nghiên cứu cũng đề cập tới việc Samaradiwakara và Gunawardena (2014)
cho rằng việc áp dụng công nghệ là sự sẵn lòng của một nhóm người sử dụng công nghệ
lợi ích của họ [57].
Ý định hành vi để áp dụng công nghệ được Khazaei (2020) định nghĩa là khả năng chủ
quan của cá nhân hoặc tổ chức cho rằng anh ta/cô ta hoặc họ sẽ sử dụng công nghệ đó trong
tương lai [58]. Do đó, ý định công nghệ blockchain trong doanh nghiệp thể được định
nghĩa là khả năng chủ quan của tổ chức cho rằng họ sẽ chấp nhận, sử dụng phát triển công
nghệ blockchain trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp khi có ý định
áp dụng công nghệ blockchain cho hoạt động kinh doanh của họ sẽ biểu thị sự sẵn sàng của
mình với việc đổi mới công nghệ, chấp nhận các yếu tố rủi ro và thành công trong việc tiếp
cận tiêu chuẩn hóa để vận hành quản trị một cách đầy đủ các quy trình của công nghệ
blockchain.
2.2 Các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng công nghệ blockchain trong
doanh nghiệp
2.2.1 Các nhóm nhân tố thuộc về công nghệ
Lợi thế tương đối
Lợi thế tương đối khi ứng dụng công nghệ blockchain vào quản trị chuỗi cung ứng
nâng cao hiệu suất năng suất của quy trình này. Tipmontia cộng sự (2020) đã khẳng
định rằng công nghệ blockchain giúp cải thiện hiệu quả, quy trình sản xuất và chất lượng của
quản trị chuỗi cung ứng [5]. Nghiên cứu của Chittipaka cộng sự (2022) cho thấy lợi thế
tương đối đóng một vai trò thiết yếu trong việc nâng cao năng suất hiệu suất khi ứng dụng
công nghệ chuỗi - khối. Từ đó, việc ứng dụng công nghệ blockchain sẽ mang tới lợi ích cải
thiện hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng tổng thể [6].
187
THE 4TH INTERNATIONAL CONFERENCE PROCEEDINGS COMMERCE AND DISTRIBUTION
Wong cộng sự (2020) nêu rằng các doanh nghiệp vừa nhỏ sẽ nhận được nhiều lợi
ích khi ứng dụng hiệu quả công nghệ blockchain vào quy trình Quản trị chuỗi cung ứng
tính minh bạch và bảo mật cao hơn, giúp cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc chuỗi cung
ứng. Bên cạch đó, nhờ các quy trình kinh doanh được sắp xếp lợp lý, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ sẽ tận hưởng hiệu quả và tốc độ cao hơn trong hoạt động kinh doanh. Kết quả nghiên
cứu của Wong cộng sự (2020) cũng chứng minh lợi thế tương đối một cấu trúc ngoại
sinh quan trọng trong việc xác định ý định áp dụng công nghệ blockchain [7].
Theo kết quả nghiên cứu của Gökalp cộng sự (2020), lợi thế tương đối của công nghệ
blockchain là yếu tố quyết định quan trọng nhất trong việc ứng dụng công nghệ blockchain
vào Quản trị chuỗi cung ứng trong bối cảnh công nghệ. Trong bối cảnh nghiên cứu của
Gökalp cộng sự (2020), sử dụng công nghệ blockchain giúp cải thiện năng suất hiệu
suất, tăng cường tính minh bạch, cung cấp những cải tiến về hiệu suất điện tử trong quy trình
Quản trị chuỗi cung ứng [8].
Tóm lại, qua kết quả của một số nghiên cứu, lợi thế tương đối của công nghệ blockchain
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ blockchain vào quy trình
Vận hành Quản trị chuỗi cung ứng; đặc biệt lợi thế như cải thiện năng suất năng suất,
nâng cao tính minh bạch và bảo mật.
Sự phức tạp
Theo Slade và cộng sự (2015), mức độ phức tạp của một công nghệ gây nhầm lẫn cho
người dùng, khiến họ gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng, từ đó tác động xấu đến quyết
định áp dụng nó [9] [10] [11]. Các công ty sẽ có ít khả năng áp dụng công nghệ mới nếu nó
phức tạp và không tương thích với quy trình của họ, Shi & Yan (2016). Sự phức tạp về mặt
kỹ thuật của công nghệ blockchain là thách thức đối với các cá nhân để hiểu và sử dụng, trừ
khi công nghệ blockchain được tích hợp dễ dàng vào các hệ thống hiện có, có ít giá trị tiện
ích [12].
Trong bối cảnh nghiên cứu của Wong và cộng sự (2020), sự phức tạp là một yếu tố kìm
hãm đáng kể việc áp dụng một công nghệ mới [9]. Độ phức tạp, theo Linton (1998), là mức
độ khó hiểu và khó sử dụng đối với một đổi mới. Nghĩa là thời gian cần thiết để tìm hiểu và
sử dụng chức năng của công nghệ blockchain khi ứng dụng trong hệ thống Quản trị chuỗi
cung ứng càng ít, thì mức độ sẵn sàng sử dụng công nghệ càng nhiều [14].
Do đó, sự phức tạp của công nghệ blockchain ảnh hưởng tới quyết định ứng dụng
công nghệ blockchain vào Quản trị chuỗi cung ứng.
Khả năng tương thích
Dutta cộng sự (2020) cho rằng khả năng tương thích yếu tố quyết định, quan trọng
trong Quản trị chuỗi cung ứng [15]. Theo Chittipaka cộng sự (2022), khả năng tương
thích của công nghệ mới sẽ cao hơn nếu tương thích với tài nguyên công nghệ thông tin
sẵn của một tổ chức. Nghĩa các tổ chức sẵn sàng ứng dụng công nghệ mới như công
nghệ blockchain nếu nó tương thích với hệ thống thông tin hiện của họ. Nghiên cứu của
Chittipaka cộng sự (2022) khẳng định, khả năng tương thích tác động vừa phải đến
quyết định ứng dụng công nghệ blockchain trong Quản trị chuỗi cung ứng [2].
Azmi và cộng sự (2018); Chana & Chong (2013); Francisco & Swanson (2018); Imeri
& Khadraoui (2018); Low cộng sự (2011); Yusof và cộng sự (2018) cho rằng, khả năng
188
KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ “THƯƠNG MẠI VÀ PHÂN PHỐI“ LẦN THỨ 4 NĂM 2023
tương thích được xác định là một thứ nguyên quan trọng trong hệ thống Quản trị chuỗi cung
ứng nên nó được xác định là yếu tố quyết định việc tổ chức ứng dụng công nghệ blockchain
vào Quản trị chuỗi cung ứng [16][17][18][19][20][21].
Từ các kết quả nghiên cứu trên, có thể khẳn định, khả năng tương thích có ảnh hưởng
tới quyết định ứng dụng công nghệ blockchain vào Quản trị chuỗi cung ứng của các tổ chức.
Tiêu chuẩn hoá
Tiêu chuẩn hóa quá trình phát triển, thúc đẩy thể bắt buộc áp dụng các công
nghệ và quy trình tương thích dựa trên tiêu chuẩn trong một ngành nhất định (Wigmore,
2016) [22].
Khả năng tương tác cần thiết trên các mạng Chuỗi cung ứng làm tăng nhu cầu về các
tiêu chuẩn giao thức. Việc thiếu giao thức đồng thuận một thách thức đối với việc áp
dụng các công nghệ dựa trên blockchain (Makhdoom et al., 2019) [23]. Như đã nêu trong
(Holotiuk & Moormann, 2018 [24]; H. Wang cộng sự, 2016 [25]), nỗi sợ “nếu các tiêu
chuẩn không được thiết lập” một rào cản đối với việc áp dụng các công nghệ SCM dựa
trên blockchain; do đó tiêu chuẩn hóa được xác định yếu tố quyết định trong hình
nghiên cứu.
Do đó, tiêu chuẩn hoá của công nghệ chuối khối có ảnh hưởng tới ý định áp dụng công
nghệ blockchain.
Khả năng mở rộng
Khả năng mở rộng đề cập đến khả năng của một tổ chức (hoặc một hệ thống, chẳng hạn
như mạng máy tính) hoạt động tốt dưới khối lượng công việc gia tăng hoặc mở rộng. Một hệ
thống quy tốt sẽ thể duy trì hoặc tăng mức hiệu suất của ngay cả khi được
thử nghiệm bởi các nhu cầu vận hành ngày càng lớn hơn.
Việc mở rộng hệ thống blockchain ước tính chi phí của phần mở rộng này cùng
phức tạp (H. Wang cộng sự, 2016) [25]. Việc bổ sung dữ liệu mới, mở rộng blockchain,
yêu cầu sử dụng năng lượng tính toán bổ sung để xử lý và xác thực, cũng như lưu trữ để lưu
trữ các giá trị băm liên quan đến dữ liệu được nối thêm. Kích thước blockchain tăng lên
thể gây ra giao dịch kém hiệu quả và chậm chạp (Makhdoom et al., 2019) [24]. Do đó, khả
năng mở rộng được thêm vào như một yếu tố quyết định trong hình nghiên cứu, vì nó
thể ảnh hưởng đến việc tổ chức áp dụng các hệ thống SCM dựa trên blockchain.
thế, khả năng mở rộng của công nghệ chuối khối ảnh hưởng tới ý định áp dụng
công nghệ blockchain.
Niềm tin
Niềm tin được định nghĩa là “nhận thức về độ tin cậy và được điều tra về hiệu suất hệ
thống, tính khả dụng của hệ thống các rủi ro thể xảy ra liên quan đến việc áp dụng.”
(Umut Şener và cộng sự, 2016) [26].
Niềm tin vào công nghệ được điều tra trong tài liệu (Bartlett et al., 2007) tuyên bố rằng
“giống như nhiều khía cạnh của hội loài người, máy tính dường như đang đối mặt với một
cuộc khủng hoảng về độ tin cậy”, và “huyền thoại văn hóa về máy tính có độ tin cậy cao có
thể sớm trở thành lịch sử” [27]. Các nghiên cứu trước đây (Angelis & Ribeiro da Silva, 2019
[28]; Chana & Chong, 2013 [29]; Nathan và cộng sự, 2012 [30]; H. Wang và cộng sự, 2016
[25]; Yusof và cộng sự, 2018) [31] chỉ ra rằng cấu trúc của bảo mật và quyền riêng tư không
189
THE 4TH INTERNATIONAL CONFERENCE PROCEEDINGS COMMERCE AND DISTRIBUTION
ảnh hưởng đến việc áp dụng các công nghệ blockchain, bởi quyền riêng bảo mật
thông qua hóa sức mạnh chính của các công nghệ blockchain (H. Wang cộng sự,
2016)[25]. Cấu trúc của niềm tin được định nghĩa mức độ tin cậy của tính khả dụng của hệ
thống và hiệu suất của hệ thống trong nghiên cứu này. Nó được coi là một yếu tố quan trọng
trong việc áp dụng các công nghệ blockchain (Wanitcharakkhakul & Rotchanakitumnuai,
2017) [32]. Do đó, nó được thêm vào mô hình nghiên cứu.
Vì vậy, niềm tin của công nghệ chuối khối có ảnh hưởng tới ý định áp dụng công nghệ
blockchain.
2.2.2 Các nhóm nhân tố thuộc về tổ chức
Hỗ trợ từ quản trị cấp trên
Hỗ trợ từ quản trị cấp trên được định nghĩa mức độ mà quản trị cấp trên hiểu được về
tầm quan trọng và có liên quan trong việc áp dụng công nghệ mới (Wong công sự) [33].
Hỗ trợ từ quản trị cấp trên là mức độ mà quản trị cấp trên hiểu được về tầm quan trọng của
công nghệ mới, tham gia vào quá trình áp dụng công nghệ (Kumar cộng sự, 2021) [34].
Việc chuyển đổi hệ thống sang dựa trên công nghệ chuối khố một quyết định chiến
lược được đưa ra bởi các thành viên ban điều hành, thái độ của họ với công nghệ blockchain
sẽ ảnh hưởng đến quyết định áp dụng của tổ chức. Nếu họ nhận thức được lợi ích mạng mẽ
của việc sử dụng công nghệ blockchain, các nguồn lực cần thiết sẽ được phân bổ kịp thời,
môi trường tổ chức tích cực được tạo ra, các rào cản khả năng chống lại sự thay đổi sẽ
được khắc phục hiệu quả hơn, nhân viên sẽ được khuyến khích áp dụng công nghệ mới. Việc
áp dụng công nghệ blockchain trong tổ chức đòi hỏi về các quy định mới trong tổ chức, sự
phân bổ nguồn tài chính, nhân lực, phát triển các khả năng và kỹ năng mới, tích hợp các tài
nguyên công nghệ thông tin hiện có với công nghệ blockchain và tài cấu trúc quy trình kinh
doanh (Gökalp cộng sự, 2020) [8]. Các trở ngại về quản trị thể tác động rất lớn đến
các quyết định áp dụng thường gắn liền với các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp,
đặc biệt trong việc triển khai công nghệ mới. Nhưng cam kết tới từ quản trị cấp trên
thể khuyến khích trong việc phổ biến công nghệ, phải tích cực tham gia để đạt được kết quả
mong muốn (Wong và cộng sự, 2020) [33].
Kết quả, sự hỗ trợ từ quản trị cấp trên ảnh hưởng tới ý định áp dụng công nghệ blockchain.
Tải nguyên công nghệ thông tin
Tài nguyên công nghệ thông tin của tổ chức bao gồm tài nguyên công nghệ thông tin
hữu hình tài nguyên công nghệ thông tin hình. Tài nguyên công nghệ thông tin hữu
hình bao gồm sở hạ tầng công nghệ thông tin vật lý, nhân sự có kỹ năng công nghệ thông
tin về kỹ thuật quản trị. Tài nguyên công nghệ thông tin hình bao gồm quyết văn
hóa công nghệ thông tin của tổ chức, theo Grant (2009) [35]. Tài nguyên công nghệ thông
tin của tổ chức cũng đề cập đến việc tổ chức thể hiện sự sẵn sàng áp dụng công nghệ mới cho
hệ thống hiện có dựa trên cơ cở hạ tầng kỹ thuật của tổ chức [6]
Tài nguyên công nghệ thông tin của tổ chức có tầm quan trọng cơ bản để áp dụng các
hệ thống công nghệ mới, do cần phải đáp ứng các yêu cầu bản về thiết bị phần cứng,
sở hạ tầng mạng, sở vật chất bảo trì ứng dụng. Khi sử dụng hệ thống áp dụng công nghệ
blockchain, một bản sao của giao dịch được lưu trữ trong cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
của tổ chức để hỗ trợ truy vấn bất cứ lúc nào. Bên cạnh đó cũng sẽ cho phép truy xuất sản
phẩm và dịch vụ một cách hiệu quả (Gökalp và cộng sự, 2020) [8].