
183
Lê Văn Hùng và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 183-187. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1897
Nhận xét thực trạng thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch đối với nhân viên y tế tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Lê Văn Hùng1*, Phạm Thị Ngọc Thư1, Nguyễn Quang Minh1
1Bệnh viện Phụ sản Trung ương
doi: 10.46755/vjog.2025.3.1897
*Tác giả liên hệ (Corresponding author): Lê Văn Hùng, email: Hungle.hy@gmail.com
Nhận bài (received): 22/10/2025 - Chấp nhận đăng (accepted): 3/11/2025
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tuân thủ các tiêu chuẩn khi thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch và nhận xét thực trạng
thực hiện quy trình của nhân viên y tế tại Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức (PTGMHS), Bệnh viện Phụ sản Trung ương
(BVPSTW).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ 76 nhân viên y tế (NVYT) khoa
PTGMHS tham gia thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch trong tháng 8/2025.
Kết quả: Đa số NVYT đã thực hiện tương đối tốt các nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật, tuy nhiên, kiểm tra thông tin
người bệnh và tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật vẫn còn tỉ lệ thực hiện chưa đầy đủ (lần lượt 36,9% và 36,9%). NVYT
có mức giao tiếp chưa hiệu quả trong nội dung hỗ trợ đồng nghiệp và xử lý sự cố, với 56,6% chưa đạt mức phối hợp chủ
động. Phần lớn nhân viên y tế thực hiện tốt các yêu cầu về thời gian và tiến độ trong quy trình phẫu thuật. Mức độ tham
gia của NVYT vào hoạt động cải tiến quy trình và phân tích sự cố sau phẫu thuật còn chưa đồng đều.
Kết luận: NVYT khoa PTGMHS đã thực hiện tương đối tốt các nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật, bàn giao và kết thúc
công việc. Tuy nhiên, vẫn còn một tỉ lệ nhất định có mức giao tiếp trung bình hoặc chưa hiệu quả, đặc biệt trong nội dung
hỗ trợ đồng nghiệp và xử lý sự cố.
Từ khóa: quy trình, phẫu thuật kế hoạch.
Evaluation of the implementation of the elective surgery processat the National
Hospital of Obstetrics and Gynecology
Le Van Hung1*, Pham Thi Ngoc Thu1, Nguyen Quang Minh1
1National Hospital of Obstetrics and Gynecology
Abstract
Objective: To evaluate the outcomes of the implementation of the elective surgery process at the Department of
Anesthesiology and Surgical Intensive Care (DASC), National Hospital of Obstetrics and Gynecology (NHOG).
Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on all 76 healthcare professionals at the
DASC who participated in the elective surgery process during August 2025.
Results: The majority of healthcare professionals performed well in pre-operative preparation procedures. However,
a significant proportion still demonstrated incomplete compliance with patient information verification (36.9%) and
adherence to the surgical safety protocol (36.9%). Ineffective communication was observed in the contexts of collegial
support and incident management, with 56.6% of participants failing to achieve proactive collaboration. Most staff
members adhered well to the time and scheduling requirements of the surgical workflow. The level of engagement among
healthcare professionals in process improvement activities and post-operative incident analysis was inconsistent.
Conclusion: Healthcare professionals at the DASC effectively performed pre-operative preparations, handovers, and task
completion. Nevertheless, a certain proportion of staff exhibited moderate or ineffective communication, particularly in
providing collegial support and managing incidents.
Keywords: process, elective surgery, surgical safety.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật kế hoạch là một trong những chiến lược
can thiệp ngoại khoa được áp dụng rộng rãi trong lĩnh
vực sản phụ khoa nhằm giảm tỉ lệ tử vong mẹ - con,
nâng cao chất lượng điều trị và tối ưu nguồn lực bệnh
viện. Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, quy trình thực
hiện phẫu thuật kế hoạch đóng vai trò thiết yếu trong
kiểm soát các ca mổ chủ động như phẫu thuật u xơ tử
cung, u buồng trứng, mổ lấy thai chọn lọc cũng như xử
trí các rối loạn sản khoa có nguy cơ cao như rau cài
PHỤ KHOA

184
Lê Văn Hùng và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 183-187. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1897
răng lược hay tiền sản giật nặng.
Một nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ cho thấy các
quy trình phối hợp đa chuyên khoa trong phẫu thuật kế
hoạch giúp giảm thời gian nằm viện trung bình còn 5,3
ngày, tỉ lệ biến chứng hậu phẫu nặng giảm xuống dưới
2% ở nhóm được can thiệp theo đúng quy trình [1]. Tuy
nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo quy
trình được thực hiện thống nhất, đúng chuẩn và đánh
giá khách quan hiệu quả lâm sàng.
Trong quy trình thực hiện phẫu thuật kế hoạch, việc
tuân thủ các tiêu chuẩn môn và giao tiếp nội bộ đóng
vai trò quyết định đến chất lượng và an toàn người
bệnh. Cụ thể quy trình được đánh giá dựa trên các tiêu
chuẩn chính bao gồm:
- Kiểm tra và xác nhận thông tin người bệnh.
- Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, vật tư, thuốc trước phẫu
thuật.
- Tuân thủ quy trình kiểm tra an toàn phẫu thuật.
- Kiểm tra dụng cụ, phương tiện vô khuẩn trước mổ.
- Nắm vững kế hoạch phân công phẫu thuật kế
hoạch.
- Phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong ê
kíp phẫu thuật.
- Chủ động hỗ trợ đồng nghiệp và báo cáo kịp thời
các sự cố phát sinh.
Các tiêu chuẩn trên không chỉ phản ánh mức độ
tuân thủ quy trình chuyên môn mà còn thể hiện năng
lực giao tiếp, phối hợp nhóm và văn hóa an toàn phẫu
thuật của đơn vị.
Với mục tiêu nâng cao hiệu quả chăm sóc toàn
diện và an toàn phẫu thuật cho sản phụ, việc đánh giá
hiệu quả của quy trình thực hiện phẫu thuật kế hoạch
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương là cần thiết. Do đó,
chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu: Xác định tỉ lệ
tuân thủ các tiêu chuẩn khi thực hiện quy trình phẫu
thuật kế hoạch tại Khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức
(PTGMHS), Bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTW).
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả nhân viên của khoa PTGMHS tham gia thực
hiện quy trình.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Các nhân viên có thời gian làm việc tại khoa ≥ 6
tháng.
Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Các nhân viên đang nghỉ phép, nghỉ thai sản hoặc
nghỉ dài hạn.
Không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc bỏ dở
trong quá trình khảo sát.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2025 đến tháng
12/2025.
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi
sức, Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Chọn toàn bộ nhân
viên y tế (NVYT) của khoa PTGMHS đủ tiêu chuẩn lựa
chọn và loại trừ trong khoảng thời gian từ 1/8/2025 -
31/8/2025.
Bộ công cụ:
Thu thập số liệu bằng phiếu giám sát đánh giá được
soạn sẵn. Phiếu đánh giá gồm 2 phần được xây dựng
dựa trên hướng dẫn WHO, Tổ chức quốc tế ICN, tình
hình thực tế của địa bàn nghiên cứu và các tiêu chí từ
nghiên cứu của Ding L. và Robertson K:
Phần I: Gồm 5 câu về thông tin chung của ĐTNC
Phần II: Gồm các tiêu chí đánh giá tỉ lệ tuân thủ các
tiêu chuẩn khi thực hiện quy trình phẫu thuật kế hoạch
tạikhoa PTGMHS:
4 tiêu chí về tuân thủ quy trình chuyên môn trước
mổ.
3 tiêu chí về giao tiếp và phối hợp với kíp mổ.
Quy trình phẫu thuật kế hoạch tại Khoa PTGMHS
được thực hiện theo 6 bước chuẩn hóa bao gồm:
a. Tiếp nhận lịch phẫu thuật: Tiếp nhận lịch phẫu
thuật từ phòng kế hoạch tổng hợp, từ các khoa và kiểm
tra thông tin người bệnh, chẩn đoán, loại phẫu thuật.
b. Sắp xếp lịch và phân công kíp mổ: Phân bàn mổ
và nhân sự phù hợp.
c. Kiểm tra lại lịch phân công: Xác nhận nhân lực,
trang thiết bị, vật tư, thuốc và dụng cụ cần thiết.
d. Công bố lại lịch phẫu thuật: Thông báo công khai
trong nhóm khoa vào đầu giờ để toàn bộ ê kíp nắm rõ.
e. Thực hiện điều chỉnh nếu có: Cập nhật thay đổi
đột xuất về nhân lực, tình trạng người bệnh hoặc yêu
cầu khác.
f. Lưu hồ sơ: Hoàn thiện hồ sơ lưu trữ bao gồm kế
hoạch mổ, phiếu phân công, biên bản bàn giao và báo
cáo cuối ngày.
2.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 20.0. Các thuật
toán sử dụng: thống kê mô tả (tỉ lệ %, trung bình, độ
lệch chuẩn).
2.4. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang không can thiệp trên
người bệnh, nghiên cứu chỉ được thực hiện khi đã được
thông qua hội đồng khoa học của Bệnh viện Phụ Sản
Trung ương số 1673/QĐ-PSTW ngày 10 tháng 7 năm
2025.

185
Lê Văn Hùng và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 183-187. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1897
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=76)
Đặc điểm Số lượng (n=76) Tỉ lệ (%)
Tuổi < 30 tuổi 23 30,3
30 - < 45 tuổi 44 57,9
≥ 45 tuổi 911,8
Trung bình 34,5 ± 8,1
Giới tính Nam 21 27,6
Nữ 55 72,4
Trình độ học vấn THPT 11 14,5
Cao đẳng 18 23,7
Đại học 38 50,0
Sau đại học 911,8
Thâm niên < 10 năm 37 48,7
10 - < 20 năm 25 32,9
> 20 năm 14 18,4
Kết quả bảng mô tả đặc điểm chung cho thấy, độ tuổi trung bình là 34,5 ± 8,1. Trong đó, nhóm từ 30 đến dưới 45
tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (57,9%), nữ giới chiếm đa số (72,4%). Phần lớn có trình độ đại học trở lên (61,8%) và thâm
niên công tác <10 năm chiếm 48,7%.
Bảng 2. Tuân thủ quy trình chuyên môn trước mổ tại khoa PTGMHS
Nội dung Số lượng
(n = 76)
Tỉ lệ
(%)
Kiểm tra thông tin người
bệnh trước mổ
Không thực hiện 0 0
Có thực hiện chưa đạt cơ bản 11 14,5
Thực hiện cơ bản, có thiếu sót 17 22,4
Thực hiện đầy đủ nhưng vẫn cần nhắc nhở 17 22,4
Thực hiện đầy đủ, chủ động 31 40,8
Chuẩn bị đầy đủ vật tư, hồ sơ,
thuốc trước phẫu thuật
Không thực hiện 0 0
Có thực hiện chưa đạt cơ bản 4 5,3
Thực hiện cơ bản, có thiếu sót 810,5
Thực hiện đầy đủ nhưng vẫn cần nhắc nhở 26 34,2
Thực hiện đầy đủ, chủ động 38 50,0
Tuân thủ quy trình kiểm tra
an toàn phẫu thuật
Không thực hiện 0 0
Có thực hiện chưa đạt cơ bản 11 14,5
Thực hiện cơ bản, có thiếu sót 17 22,4
Thực hiện đầy đủ nhưng vẫn cần nhắc nhở 19 25,0
Thực hiện đầy đủ, chủ động 29 38,2

186
Lê Văn Hùng và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 183-187. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1897
Kiểm tra dụng cụ vô khuẩn
trước mổ
Không thực hiện 0 0
Có thực hiện chưa đạt cơ bản 1 1,3
Thực hiện cơ bản, có thiếu sót 911,8
Thực hiện đầy đủ nhưng vẫn cần nhắc nhở 18 23,7
Thực hiện đầy đủ, chủ động 48 63,2
Kết quả bảng cho thấy đa số nhân viên y tế đã thực hiện tương đối tốt các nội dung chuẩn bị trước phẫu thuật,
đặc biệt là kiểm tra dụng cụ vô khuẩn đạt 63,2% và chuẩn bị vật tư, hồ sơ, thuốc trước mổ cũng đạt 50,0%. Tuy nhiên,
một số nội dung như kiểm tra thông tin người bệnh và tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật vẫn còn tỉ lệ thực hiện
chưa đầy đủ ở mức đáng kể (lần lượt 36,9% và 36,9%).
Bảng 3. Giao tiếp và phối hợp với kíp mổ tại khoa PT GMHS
Nội dung Số lượng (n=76) Tỉ lệ (%)
Nắm vững kế hoạch
phân công mổ phiên
Không giao tiếp 0 0
Giao tiếp rời rạc 1 1,3
Giao tiếp trung bình 10 13,2
Giao tiếp tốt đôi lúc chưa hiệu quả 26 34,2
Phối hợp chủ động, hiệu quả 39 51,3
Phối hợp nhịp nhàng
giữa bác sĩ GMHS,
PTV, điều dưỡng
Không giao tiếp 0 0
Giao tiếp rời rạc 1 1,3
Giao tiếp trung bình 14 18,4
Giao tiếp tốt đôi lúc chưa hiệu quả 25 32,9
Phối hợp chủ động, hiệu quả 36 47,4
Chủ động hỗ trợ đồng
nghiệp, báo cáo kịp
thời sự cố
Không giao tiếp 0 0
Giao tiếp rời rạc 6 7,9
Giao tiếp trung bình 911,8
Giao tiếp tốt đôi lúc chưa hiệu quả 28 36,8
Phối hợp chủ động, hiệu quả 33 43,4
Kết quả bảng cho thấy phần lớn nhân viên y tế có
khả năng phối hợp hiệu quả trong môi trường phẫu
thuật. Cụ thể, hơn 50% nhân viên nắm vững kế hoạch
mổ và phối hợp một cách chủ động, hiệu quả. Giao tiếp
và phối hợp giữa các thành viên trong ê-kíp (gồm bác sĩ
gây mê hồi sức, phẫu thuật viên, điều dưỡng) đạt mức
khá tốt với gần một nửa số người được đánh giá phối
hợp hiệu quả (47,4%). Tuy nhiên, vẫn còn một tỉ lệ nhất
định có mức giao tiếp trung bình hoặc chưa hiệu quả,
đặc biệt trong nội dung hỗ trợ đồng nghiệp và xử lý sự
cố, với 56,6% chưa đạt mức phối hợp chủ động.
4. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc kiểm tra thông tin
người bệnh trước phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật - Gây
mê Hồi sức đạt tỉ lệ “thực hiện đầy đủ, chủ động” ở mức
40,8%, trong khi còn tới 59,2% các trường hợp còn thiếu
sót, chưa đạt chuẩn hoặc cần nhắc nhở. Khi so sánh với
nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự tại Bệnh
viện Từ Dũ năm 2021, tỉ lệ kiểm tra đầy đủ bước này
được ghi nhận ở mức 62,5% [1]. Ngoài ra, nghiên cứu tại
Philippines của Cruz và cộng sự (2019) cũng cho thấy tỉ
lệ này đạt tới 70,4% [2]. Sự chênh lệch giữa các cơ sở có
thể bắt nguồn từ yếu tố công nghệ và cơ chế kiểm soát
nội bộ. Cụ thể, tại các đơn vị có áp dụng hệ thống xác
nhận điện tử (barcode ID, bảng điện tử check-list), bước
kiểm tra thông tin được tích hợp và tự động hóa, giúp
giảm bỏ sót. Trong khi đó, tại bệnh viện Phụ sản Trung
ương, quy trình vẫn phụ thuộc vào ghi nhớ thủ công, gây
sai sót khi nhân lực quá tải hoặc bệnh nhân chuyển viện
chưa đầy đủ hồ sơ.
Tương tự, tỉ lệ chuẩn bị đầy đủ vật tư, hồ sơ, thuốc
trước mổ ở mức 50,0% thực hiện chủ động và 34,2%
thực hiện đầy đủ nhưng cần nhắc nhở, cho thấy bước
này đang đạt hiệu quả tương đối tốt. Một trong những
nguyên nhân có thể là do chưa có sự phân công rõ ràng

187
Lê Văn Hùng và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 183-187. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1897
về trách nhiệm giữa điều dưỡng và kỹ thuật viên, dẫn
đến hiện tượng “chia nhau làm” không nhất quán. Ngoài
ra, sự thiếu hụt điều dưỡng trong khung giờ cao điểm
cũng khiến việc chuẩn bị vật tư bị rút gọn hoặc bị nhắc
nhở mới thực hiện.
Về bước tuân thủ quy trình kiểm tra an toàn phẫu
thuật (WHO Surgical Safety Checklist), chỉ có 38,2% ca
được thực hiện đầy đủ và chủ động, trong khi còn lại
gần 62% là chưa đạt hoặc phải nhắc nhở. Điều này có
thể được lý giải bởi hai yếu tố chính: (1) chưa có bộ
phận độc lập giám sát checklist mổ, (2) văn hóa phối
hợp đa chuyên khoa chưa thực sự rõ ràng. Theo các
phản ánh định tính trong nghiên cứu, nhiều nhân viên y
tế còn coi checklist là nhiệm vụ của điều dưỡng, thay vì
là trách nhiệm chung của cả ê-kíp.
Một điểm sáng trong nghiên cứu là bước kiểm tra
dụng cụ vô khuẩn trước mổ với 63,2% thực hiện đầy đủ,
chủ động, là tỉ lệ cao nhất trong các bước khảo sát. Sở
dĩ bước này có tỉ lệ tốt hơn có thể do đây là thao tác
được kiểm tra trực tiếp bởi cả bộ phận kiểm soát nhiễm
khuẩn và phẫu thuật viên, đồng thời có nguy cơ liên
quan đến pháp lý nếu xảy ra sự cố. Do đó, nhân viên
thường chủ động thực hiện mà không cần giám sát quá
sát sao.
Theo kết quả khảo sát, chỉ 51,3% nhân viên được
đánh giá là “phối hợp chủ động, hiệu quả” trong việc
nắm vững kế hoạch phân công mổ phiên. Khoảng 48,7%
còn lại giao tiếp ở mức từ trung bình đến chưa hiệu quả,
trong đó có 34,2% được ghi nhận là giao tiếp tốt nhưng
vẫn cần điều chỉnh để đạt hiệu quả thực hành. Tại Bệnh
viện Phụ sản Trung ương, kế hoạch mổ vẫn đang phổ
biến dưới dạng bảng giấy hoặc thông báo miệng trong
tua đầu giờ, dễ gây sai sót nếu có thay đổi đột xuất.
Điều này phản ánh rõ sự cần thiết của ứng dụng công
nghệ thông tin để tăng tính chủ động và minh bạch
trong lập kế hoạch mổ.
Chỉ 47,4% phản hồi ghi nhận sự “phối hợp chủ động,
hiệu quả” giữa ba lực lượng chính trong phòng mổ: bác
sĩ gây mê hồi sức (GMHS), phẫu thuật viên (PTV) và
điều dưỡng. Phần còn lại (52,6%) cho thấy sự phối hợp
vẫn còn rời rạc, không nhất quán, hoặc chỉ mang tính
thụ động. Điều này cho thấy ở các bệnh viện lớn, nơi
có lượng ca mổ dày đặc và tua trực thay đổi thường
xuyên, phối hợp nhóm còn phụ thuộc vào kinh nghiệm
cá nhân và sự quen việc, chưa có cơ chế quản trị phối
hợp nhóm rõ ràng. Việc chưa đạt 50% về phối hợp chủ
động tại một bệnh viện đầu ngành cho thấy cần phải tái
cấu trúc cách phối hợp đa ngành theo hướng chuyên
nghiệp hóa, bao gồm cả việc xây dựng vai trò trưởng tua
- nhóm trưởng điều dưỡng rõ ràng và được trao quyền
điều phối.
Chỉ 43,4% phản hồi đánh giá rằng có sự “phối hợp
chủ động, hiệu quả” trong việc hỗ trợ đồng nghiệp và
báo cáo sự cố, trong khi có tới 36,8% là «giao tiếp tốt
nhưng đôi lúc chưa hiệu quả», và 19,7% giao tiếp còn
trung bình hoặc rời rạc. So với nghiên cứu của World
Health Organization - Western Pacific (2018) trong
đánh giá về văn hóa báo cáo sai sót tại các cơ sở y tế
khu vực, Việt Nam chỉ đạt 39% nhân viên đồng ý rằng họ
"thường xuyên báo cáo sự cố nhỏ" [3]. Một nguyên nhân
được nhắc đến nhiều là tâm lý ngại bị phê bình hoặc
ảnh hưởng thành tích cá nhân, khiến nhiều nhân viên
chỉ chia sẻ sự cố khi có hậu quả nghiêm trọng.
5. KẾT LUẬN
Kết quả khảo sát cho thấy NVYT khoa PTGMHS đã
thực hiện tương đối tốt các nội dung chuẩn bị trước
phẫu thuật, bàn giao và kết thúc công việc. Tuy nhiên,
vẫn còn một tỉ lệ nhất định có mức giao tiếp trung bình
hoặc chưa hiệu quả, đặc biệt trong nội dung hỗ trợ đồng
nghiệp và xử lý sự cố.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Lê Văn
Cường. Đánh giá hiệu quả phối hợp đa chuyên khoa
trong phẫu thuật sản phụ khoa tại Bệnh viện Từ Dũ. Tạp
chí Y học TP.HCM. 2021;25(3):156–162.
2. Alpendre FT, Cruz ED, Dyniewicz AM, Mantovani MF,
Camargo e Silva AE, dos Santos G, et al. Safe surgery:
validation of pre and postoperative checklists. Rev Lat
Am Enfermagem. 2017;25:e3111.
3. World Health Organization. Patient Safety in the
Western Pacific Region: 2018 report. Manila: WHO
Western Pacific Regional Office; 2018.

