
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
---------------
NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH
VIÊN CHÍNH QUY CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP, NHÓM
NGÀNH KINH TẾ - TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2010

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
---------------
NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH
VIÊN CHÍNH QUY CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP, NHÓM
NGÀNH KINH TẾ - TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN QUỲNH HOA
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2010

TÓM TẮT
Luận văn này khám phá các khái niệm hình ảnh của nhà trường, kỳ
vọng của sinh viên, giá trị cảm nhận về dịch vụ đào tạo, chất lượng “phần
cứng” và chất lượng “phần mềm” từ góc độ của các sinh viên đại học chính
quy một số trường đại học công lập, nhóm ngành kinh tế - trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh. Từ đó, luận văn xem xét sự tác động của những yếu tố này
đến mức độ hài lòng của sinh viên.
Dựa trên mô hình chỉ số thực hiện hài lòng châu Âu (EPSI), hay chỉ số
hài lòng của người tiêu dùng châu Âu (ECSI) và thang đo chất lượng khóa
học CEQ, thang đo giá trị cảm nhận của LeBlanc & Nha Nguyen, tác giả đã
xây dựng mô hình nghiên cứu với 10 giả thuyết được đặt ra. Nghiên cứu
chính thức được tiến hành với cỡ mẫu 966 sinh viên đến từ 3 trường Đại học:
Ngân hàng, Ngoại thương, Kinh tế - Luật. Phương pháp xử lý dữ liệu bằng
phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy tuyến tính bội và phân tích
ANOVA để tìm kiếm sự khác biệt về mức độ hài lòng của sinh viên theo các
tiêu thức khác nhau.
Kiểm định Cronbach Alpha cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy và
độ giá trị. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho thấy có 10 nhân tố được rút
trích ra tác động đến sự hài lòng của sinh viên. Thang đo chất lượng “phần
cứng” được cấu thành từ 3 nhân tố: chương trình học, tài liệu học tập và cơ sở
vật chất. Thang đo chất lượng “phần mềm” bao gồm 4 nhân tố: Kiến thức và
phương pháp giảng dạy, mối quan hệ giữa giảng viên với sinh viên, thông tin
& tổ chức khóa học và quản lý & phục vụ đào tạo. Thang đo giá trị cảm nhận
được gom lại thành yếu tố chung là giá trị cảm nhận. Các thang đo hình ảnh
của nhà trường và kỳ vọng của sinh viên gần như không thay đổi so với lý
thuyết.

Mô hình điều chỉnh phù hợp với dữ liệu hơn mô hình đề nghị. Kết quả
phân tích hồi quy cho thấy các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận, dấu
của các hệ số hồi quy đều đúng dấu kỳ vọng. Hình ảnh của nhà trường, kỳ
vọng của sinh viên, giá trị cảm nhận về dịch vụ đào tạo, chương trình học, tài
liệu học tập và cơ sở vật chất, kiến thức và phương pháp giảng dạy, mối quan
hệ giữa giảng viên với sinh viên, thông tin & tổ chức khóa học và quản lý &
phục vụ đào tạo đều có ảnh hưởng thuận chiều đến sự hài lòng của sinh viên.
Trong đó những sự ảnh hưởng mạnh đến từ nhân tố giá trị cảm nhận và kiến
thức & kỹ năng giảng dạy của giảng viên.
Kết quả phân tích ANOVA cho thấy: có sự khác biệt về mức độ hài
lòng của sinh viên theo hai tiêu chí: ngành học của sinh viên và mức độ yêu
thích ngành học của sinh viên. Những sinh viên yêu thích ngành học có mức
độ hài lòng cao hơn so với những sinh viên không thích ngành học Ngoài ra,
sinh viên học ngành Luật thương mại Quốc tế có mức độ hài lòng cao hơn
những ngành khác.
Luận văn có đóng góp đáng kể trong việc xác nhận rằng ở môi trường
giáo dục đại học Việt Nam ngoài các yếu tố như giá trị cảm nhận, chất lượng
đào tạo thì yếu tố hình ảnh của nhà trường, kỳ vọng của sinh viên thực sự có
một sự tác động nhất định đến sự hài lòng của sinh viên, phù hợp với các kết
quả nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài. Ngoài ra, luận văn còn có những
đóng góp trong việc phát triển và hoàn thiện thang đo chất lượng “phần cứng”,
chất lượng “phần mềm” trong giáo dục đại học
Về mặt ý nghĩa thực tiễn, luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm cải tiến
chất lượng đào tạo đại học, nâng cao sự hài lòng của sinh viên đối với Bộ giáo
dục và đào tạo, đối với lãnh đạo các trường Đại học, các giảng viên và các bộ
phận có liên quan.

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự ủng
hộ và giúp đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn các Quý thầy cô trong Khoa Kinh
tế phát triển, cũng như các thầy cô của Chương trình giảng dạy Kinh tế -
Fulbright đã trang bị cho tác giả nhiều kiến thức quý báu.
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn TS. Nguyễn Quỳnh Hoa, người hướng
dẫn khoa học của luận văn, đã giúp tác giả tiếp cận thực tiễn, phát hiện đề tài
và đã tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các khoa, các phòng ban chuyên môn của
trường Đại học Ngân hàng, trường Đại học Ngoại thương, trường Đại học
Kinh tế - Luật, các đồng nghiệp cũng như các em sinh viên là phỏng vấn viên
và đáp viên đã giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra khảo sát.
Sau cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Phi Hổ, TS. Trần Tiến
Khai, Th.s Nguyễn Kim Nam, Th.s Nguyễn Khánh Duy, những người bạn,
những đồng nghiệp và những người thân đã góp ý và giúp đỡ tác giả rất nhiều
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng Nga

