
SỞ GD&ĐT PHÚ THỌ
TRƯỜNG THPT CẨM KHÊ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Cẩm Khê, ngày 15 tháng 9 năm 2023
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY
MÔN NGỮ VĂN
- Tên biện pháp: “Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động
hình thành kiến thức mới phần đọc văn bản chương trình Ngữ văn 10”.
- Họ và tên tác giả: Trần Thị Phương Thanh.
- Chức vụ, tổ chuyên môn: Tổ phó chuyên môn, Tổ Văn - Sử.
1. Lý do chọn biện pháp “Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong
hoạt động hình thành kiến thức mới phần đọc văn bản chương trình Ngữ văn
10”.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục, đào tạo đối với sự phát triển, Đảng và Nhà
nước luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới giáo dục. Hiện nay, chương trình giáo dục phổ
thông mới đặt ra mục tiêu chuyển dần từ tiếp cận nội dung (học sinh biết cái gì?) sang
tiếp cận năng lực (học sinh làm được gì và làm như thế nào?), tạo điều kiện tốt nhất và
đánh giá xác thực nhất năng lực của học sinh, tạo ra nguồn lao động thích ứng trong
tương lai. Vì vậy, việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa đặt ra yêu cầu cấp bách
phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh
dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên.
Để thực hiện mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông mới, sách giáo khoa
Ngữ văn thiết kế bài học theo chủ đề, mỗi chủ đề hướng học sinh hình thành các kĩ
năng đọc, nói - nghe, viết. Trong đó, kĩ năng đọc gắn với phần đọc tri thức Ngữ văn và
đọc văn bản. Qua phần đọc, học sinh sẽ nắm được tri thức nền, từ đó rèn các kĩ năng
nói - nghe, viết. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp dạy học tổ chức hoạt động hình
thành kiến thức mới trong phần đọc là vấn đề cốt yếu.
Ngữ văn là một trong số các môn học bắt buộc đối với học sinh trung học phổ
thông. Tuy nhiên, hiện nay môn học này không còn nhiều sự hấp dẫn đối với người
học. Mặt khác, một bộ phận giáo viên ngại đổi mới, chưa thực sự tích cực tìm kiếm và
lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp, điều đó ảnh hưởng đến hiệu quả của
việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Khi tổ chức hoạt động hình thành kiến thức

2
mới, phần đọc văn bản, giáo viên còn ảnh hưởng nhiều từ phương pháp dạy học thuyết
trình, vì vậy, ít phát huy tính chủ động tích cực của học sinh.
Qua thực tế giảng dạy sách giáo khoa chương trình Ngữ văn mới, bản thân tôi
rất băn khoăn, trăn trở trong việc lựa chọn cách thức tổ chức hoạt động học gắn với
các phương pháp dạy học hiện đại, phù hợp. Vì vậy, trong phạm vi báo cáo này tôi xin
được chia sẻ một biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn
theo chương trình sách giáo khoa mới, với nội dung “Vận dụng phương pháp dạy học
giải quyết vấn đề trong hoạt động hình thành kiến thức mới phần đọc văn bản chương
trình Ngữ văn 10”.
2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp “Vận dụng phương pháp dạy học
giải quyết vấn đề trong hoạt động hình thành kiến thức mới phần đọc văn bản
chương trình Ngữ văn 10”.
2.1. Nội dung phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Phương pháp giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học hiện
đại, trong đó, giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn
đề và chủ động tìm cách giải quyết. Qua đó, học sinh sẽ chiếm lĩnh được tri thức, rèn
luyện các kĩ năng, hình thành và hoàn thiện các năng lực, phẩm chất.
Bản chất của dạy học giải quyết vấn đề là tạo ra các mâu thuẫn, các giả định,
khiến người học bị kích thích về tư duy và tâm lý, tự giác đặt mình vào tình huống, tự
nhận thức được tính cấp thiết cần phải giải quyết tình huống. Phương pháp này có thể
vận dụng trong tất cả các hoạt động học, gồm hoạt động khởi động, hoạt động hình
thành kiến thức mới, hoạt động luyện tập, hoạt động vận dụng. Quá trình tổ chức dạy
học giải quyết vấn đề cần sự tương tác nhịp nhàng giữa giáo viên với học sinh, sự hợp
tác làm việc của học sinh với học sinh.
Tổ chức phương pháp dạy học giải quyết vấn đề vừa sức với học sinh và phù
hợp với nội dung bài học sẽ mang lại hiệu quả tích cực. Phương pháp này sẽ giúp học
sinh rèn kĩ năng tư duy, phân tích, đánh giá, chủ động tìm tòi, vừa biết cách làm việc
cá nhân, vừa có tinh thần hợp tác cùng giải quyết vấn đề, tạo hứng thú học tập.
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề phù hợp với việc tổ chức hoạt động
hình thành kiến thức mới qua phẩn đọc. Bởi vì, phần đọc vừa hình thành kiến thức,
vừa hình thành kĩ năng cho học sinh (khác với phần nói – nghe hoặc viết chủ yếu hình

3
thành kĩ năng) nên người dạy vừa phải tổ chức cho học sinh khai thức kiến thức qua
câu hỏi “có vấn đề”, vừa phải rèn kĩ năng đọc qua các tình huống giả định, thực tế.
Để vận dụng tốt phương pháp này, đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn nội dung bài
học nhằm tạo ra các tình huống tốt, phải phân loại học sinh nhằm tạo ra tình huống
phù hợp, tránh hiện tượng chỉ tập trung vào một số học sinh có tư duy nhanh mà bỏ rơi
nhiều học sinh khác.
2.2. Cách thức thực hiện biện pháp “Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề trong hoạt động hình thành kiến thức mới phần đọc văn bản chương trình
Ngữ văn 10”.
2.2.1. Quy trình tổ chức
Từ kiến thức lí luận về phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, bản thân tôi đã
vận dụng vào thực tế giảng dạy môn Ngữ văn, tổ chức hoạt động hình thành kiến thức
mới theo hai bước.
* Bước 1: Chuẩn bị.
- Vai trò: Chuẩn bị là khâu quan trọng trong quá trình tổ chức và thực hiện các
hoạt động học. Vì vậy, đây là nhiệm vụ của cả giáo viên và học sinh, thường được tiến
hành ở nhà, trước khi diễn ra bài học.
- Yêu cầu:
+ Giáo viên cần chuẩn bị sẵn các câu hỏi, tình huống “có vấn đề”, các phương
tiện bổ trợ; giả định trước khả năng thực hiện và kết quả đạt được của học sinh; từ đó,
có phương án hỗ trợ kịp thời nếu học sinh gặp khó khăn.
+ Học sinh cần thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập ở nhà theo định hướng của
bài học trong sách giáo khoa (dựa vào các hộp chỉ dẫn) và định hướng của giáo viên
(dựa vào các nội dung bài học được giáo viên giao), thực chất đây là thao tác soạn bài
của học sinh.
- Kết quả đạt được:
+ Học sinh nắm được trước những nội dung kiến thức cơ bản của bài học, sẽ
tích cực, chủ động phát biểu xây dựng bài, giờ học sôi nổi, hứng thú.
+ Giáo viên tổ chức giờ học thuận lợi hơn.
Có thể minh họa bằng Bảng biểu thị kết quả đạt được của học sinh khi chuẩn bị
ở nhà bài “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”

4
Nội dung chuẩn bị Kết quả đạt được
Hộp
chỉ dẫn
Lưu ý câu “Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia” được nhắc
ngay đầu mạch lập luận.
Xác định được luận điểm 1: Vai trò của
người hiền tài đối với mỗi quốc gia.
Các vị vua anh minh đã ban ân
gì cho kẻ sĩ?
Xác định được luận điểm 2: Những
việc làm, chính sách để khuyến khích
người tài của bậc minh vương.
Lý do chính của việc dựng bia
là gì?
Xác định được luận điểm 3: Ý nghĩa
của việc cho khắc bia ghi tên tiến sĩ.
Định
hướng của
giáo viên
Nhận xét về cách lập luận của
tác giả.
Lập luận chặt chẽ, lôgic, mạch lạc.
* Bước 2: Tổ chức thực hiện.
- Vai trò: Khâu tổ chức thực hiện được tiến hành trong giờ học tại lớp học thông
qua quá trình tương tác trực tiếp giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh.
Trên cơ sở khâu chuẩn bị ở nhà, giáo viên sẽ đặt ra các tình huống có vấn đề, liên quan
đến nội dung bài học, học sinh tiếp nhận và tìm cách giải quyết tình huống. Từ đó, tiếp
thu kiến thức và rèn các năng lực, phẩm chất theo mục tiêu bài học.
- Yêu cầu:
+ Giáo viên: Trong quá trình đặt ra tình huống, giáo viên cần có sự phân hóa
học sinh, có thể đặt ra nhiều tình huống cùng một lúc, mỗi tình huống giao cho một
nhóm học sinh thực hiện phân theo mức độ nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề. Mặt
khác, giáo viên cần theo dõi quá trình hoạt động của học sinh, sẵn sàng hỗ trợ, gợi dẫn
khi học sinh khó khăn. Với mỗi tình huống, giáo viên dự tính và ấn định khoảng thời
gian thực hiện phù hợp, điều này sẽ giúp học sinh phải làm việc tích cực, phải tự thúc
giục bản thân và tìm cách giải quyết nhanh nhất. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, giáo
viên có thể giao nhiệm vụ thực hiện tình huống cho cá nhân hoặc nhóm học sinh, cần
có nhận xét, đánh giá kịp thời với quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ của học sinh
(có thể đánh giá bằng nhận xét và điểm số).
+ Học sinh: Chủ động tiếp nhận nhiệm vụ và giải quyết vấn đề, có thể làm việc
cá nhân hoặc làm việc nhóm theo chỉ dẫn của giáo viên.

5
- Kết quả đạt được:
+ Học sinh nắm được nội dung văn bản, đánh giá được ý nghĩa giá trị của văn
bản; từ đó hình thành kĩ năng đọc với các văn bản cùng loại.
+ Vận dụng năng lực viết để thực hành viết kết nối đọc sau bài học.
Như vậy, bước chuẩn bị và tổ chức thực hiện có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ
nhau, góp phần làm nên hiệu quả cho phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
2.2.2. Kĩ thuật tổ chức
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề được tổ chức thông qua nhiều kĩ thuật
dạy học, trong đó, tập trung vào kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật tạo tình huống giả định,
kĩ thuật tạo tình huống thực tế.
* Kĩ thuật đặt câu hỏi:
- Vai trò: Câu hỏi “có vấn đề” sẽ “kích não” người học, mở ra các ý tưởng mới,
tạo sự đa dạng và thúc đẩy những suy nghĩ sáng tạo, từ đó, thu hút sự tập trung cao độ
của học sinh.
- Phân loại:
+ Với văn bản thơ, các câu hỏi “có vấn đề” thường tập trung vào khai thác cách
sử dụng ngôn ngữ, cách lựa chọn hình ảnh, sự lôgic về mạch cảm xúc…
+ Với văn bản truyện, các câu hỏi “có vấn đề” thường tập trung vào khai thác
tình huống, cốt truyện, chi tiết, so sánh với tác phẩm khác,…
+ Với văn bản nghị luận, các câu hỏi “có vấn đề” thường tập trung vào khai
thác cách triển khai luận điểm, bài học rút ra từ văn bản,…
- Yêu cầu:
+ Giáo viên: Thiết kế hệ thống câu hỏi “kích não”, phát vấn cho học sinh. Để
tránh hiện tượng bỏ rơi học sinh có năng lực học tập kém hơn, khi tiến hành cách thức
này, giáo viên có thể tạo tình huống lồng ghép, đó là cho học sinh năng lực học tập
kém hơn bày tỏ quan điểm của bản thân về câu trả lời của bạn (dưới dạng lập luận
nhanh như: em có đồng tình với ý kiến của bạn không? Vì sao?). Giáo viên quan sát,
lắng nghe và đánh giá phù hợp mức độ.
+ Học sinh: Phải nắm chắc bài, hiểu bài, biết xâu chuỗi kiến thức giữa các phần
trong bài và phản xạ tư duy nhanh, dạng này chủ yếu hướng đến những học sinh có
năng lực học tập tốt. Tuy nhiên, những học sinh có năng lực học tập kém hơn sẽ lắng
nghe ý kiến của các bạn và bày tỏ quan điểm về ý kiến đó, tránh thụ động.

