
P
Ph
hâ
ân
n
t
tí
íc
ch
h
n
nh
hâ
ân
n
t
tố
ố
n
nộ
ội
i
t
tạ
ại
i
t
tr
ro
on
ng
g
c
ch
hí
ín
nh
h
s
sá
ác
ch
h
đ
đố
ối
i
n
ng
go
oạ
ại
i
c
củ
ủa
a
V
Vi
iệ
ệt
t
N
Na
am
m
D
Dâ
ân
n
c
ch
hủ
ủ
C
Cộ
ộn
ng
g
h
hò
òa
a
t
tr
ro
on
ng
g
g
gi
ia
ai
i
đ
đo
oạ
ạn
n
1
19
94
45
5-
-1
19
94
46
6
–
–
N
Nh
hó
óm
m
2
2
L
Lớ
ớp
p
E
E3
33
3
1
Tiểu luận
P
Ph
hâ
ân
n
t
tí
íc
ch
h
n
nh
hâ
ân
n
t
tố
ố
n
nộ
ội
i
t
tạ
ại
i
t
tr
ro
on
ng
g
c
ch
hí
ín
nh
h
s
sá
ác
ch
h
đ
đố
ối
i
n
ng
go
oạ
ại
i
c
củ
ủa
a
V
Vi
iệ
ệt
t
N
Na
am
m
D
Dâ
ân
n
c
ch
hủ
ủ
C
Cộ
ộn
ng
g
h
hò
òa
a
t
tr
ro
on
ng
g
g
gi
ia
ai
i
đ
đo
oạ
ạn
n
1
19
94
45
5-
-1
19
94
46
6

P
Ph
hâ
ân
n
t
tí
íc
ch
h
n
nh
hâ
ân
n
t
tố
ố
n
nộ
ội
i
t
tạ
ại
i
t
tr
ro
on
ng
g
c
ch
hí
ín
nh
h
s
sá
ác
ch
h
đ
đố
ối
i
n
ng
go
oạ
ại
i
c
củ
ủa
a
V
Vi
iệ
ệt
t
N
Na
am
m
D
Dâ
ân
n
c
ch
hủ
ủ
C
Cộ
ộn
ng
g
h
hò
òa
a
t
tr
ro
on
ng
g
g
gi
ia
ai
i
đ
đo
oạ
ạn
n
1
19
94
45
5-
-1
19
94
46
6
–
–
N
Nh
hó
óm
m
2
2
L
Lớ
ớp
p
E
E3
33
3
2
TÓM TẮT
Sau “Bản Tuyên ngôn độc lập” năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa, Nhà nước non trẻ cùng lúc phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
Không chỉ là tình hình kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt mà nguy hiểm hơn còn
có mối đe dọa từ các lực lượng phản cách mạng và bọn ngoại xâm cùng tiến vào
nước ta với ý đồ hòng bóp chết Nhà nước non trẻ mới ra đời.
Giai đoạn 1945-1946 này là một thời gian ít tiếng súng nhưng lại là một
giai đoạn thử thách đối với mặt trận Ngoại giao mới thành lập. Bộ Ngoại Giao có
một vinh dự lớn lao được Bác Hồ là vị bộ trưởng đầu tiên. Đứng trước tình hình
như vậy, Bác cùng Chính phủ đã có những quyết sách như thế nào để đưa đất
nước thoát khỏi tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” lúc bấy giờ? Muốn hiểu thấu
đáo chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa giai đoạn
1945-1946 phải nghiên cứu từ những nhân tố nội tại tác động đến chính sách đối
ngoại thời gian này. Nhân tố nội tại của một chính sách bao gồm cả nhũng yếu tố
khách quan là bối cảnh thế giới, hoàn cảnh trong nước và yếu tố chủ quan là
nhận thức của người lãnh đạo. Vì thế, trong khuôn khổ bài tiểu luận này, chúng
tôi tập trung làm rõ những nhân tố nội tại kể trên tác động đến chính sách đối
ngoại giai đoạn này như thế nào, từ đó để trả lời cho câu hỏi chính: “ Liệu nhận
thức lãnh đạo có phải là nhân tố quan trọng nhất quyết định chính sách đối ngoại
giai đoạn 1945-1946 hay không?” Qua đó, bài tiểu luận này cũng muốn làm nổi
bật vai trò lãnh đạo xuất sắc của Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao
Hồ Chí Minh.

P
Ph
hâ
ân
n
t
tí
íc
ch
h
n
nh
hâ
ân
n
t
tố
ố
n
nộ
ội
i
t
tạ
ại
i
t
tr
ro
on
ng
g
c
ch
hí
ín
nh
h
s
sá
ác
ch
h
đ
đố
ối
i
n
ng
go
oạ
ại
i
c
củ
ủa
a
V
Vi
iệ
ệt
t
N
Na
am
m
D
Dâ
ân
n
c
ch
hủ
ủ
C
Cộ
ộn
ng
g
h
hò
òa
a
t
tr
ro
on
ng
g
g
gi
ia
ai
i
đ
đo
oạ
ạn
n
1
19
94
45
5-
-1
19
94
46
6
–
–
N
Nh
hó
óm
m
2
2
L
Lớ
ớp
p
E
E3
33
3
3
LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới thành lập, chủ tịch Hồ
Chí Minh sớm thấy vai trò vô cùng quan trọng của mặt trận Ngoại giao. Đồng
thời Người cũng nhìn nhận chính xác thánh thức to lớn mà nền Ngoại giao non
trẻ phải đối mặt vào thời điểm năm 1945. Do vậy, Người đã đích thân lãnh trách
nhiệm Bộ trưởng bộ Ngoại giao đầu tiên.
Dưới ách áp bức bóc lột “hai tròng” của cả thực dân Pháp và phát xít
Nhật, dân ta đói dốt, tình hình xã hội rối ren, Chính phủ mới chỉ nắm một quốc
khố trống rỗng. Nạn ngoại xâm và nội phản lăm le đạp đổ thành quả cách mạng.
Thực tế đất nước khó khăn như vậy phản chiếu qua lăng kính chủ quan của
những nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ cộng hòa như thế nào rồi mới đến được
những chính sách đối ngoại hợp lý. Bác và các vị lãnh đạo trong Chính phủ biết
rằng vào thời điểm này không thể lấy sức mạnh quân sự mà chống giặc, mà vũ
khí hiệu quả nhất của chúng ta không gì khác chính là vũ khí Ngoại giao. Với
mục đích cao nhất trong giai đoạn này là bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước và
sự tồn tại của Nhà nước non trẻ, Bác cùng Chính phủ đã đề ra chính sách đối
ngoại linh hoạt, mềm dẻo, khéo léo để phân hóa kẻ thù, đồng thời kéo dài thời
gian hòa bình để toàn dân tộc củng cố lực lượng chuẩn bị cho một cuộc kháng
chiến chống Pháp khó tránh khỏi.
Bài tiểu luận của chúng tôi sẽ lần lượt trình bày những khó khăn, thử thách
mà Nhà nước Việt nam Dân chủ cộng hòa non trẻ phải đối mặt trong giai đoạn
mới thành lập, từ đó đi đến lý giải vì sao lại có những chính sách đối ngoại giai
đoạn 1945-1946. Đồng thời cũng khẳng định vai trò của nhận thức lãnh đạo là

P
Ph
hâ
ân
n
t
tí
íc
ch
h
n
nh
hâ
ân
n
t
tố
ố
n
nộ
ội
i
t
tạ
ại
i
t
tr
ro
on
ng
g
c
ch
hí
ín
nh
h
s
sá
ác
ch
h
đ
đố
ối
i
n
ng
go
oạ
ại
i
c
củ
ủa
a
V
Vi
iệ
ệt
t
N
Na
am
m
D
Dâ
ân
n
c
ch
hủ
ủ
C
Cộ
ộn
ng
g
h
hò
òa
a
t
tr
ro
on
ng
g
g
gi
ia
ai
i
đ
đo
oạ
ạn
n
1
19
94
45
5-
-1
19
94
46
6
–
–
N
Nh
hó
óm
m
2
2
L
Lớ
ớp
p
E
E3
33
3
4
nhân tố quan trọng nhất tác động đến việc quyết định chính sách đối ngoại giai
đoạn này.
PHẦN NỘI DUNG
I. BỐI CẢNH THẾ GIỚI
1. Trật tự thế giới mới sau chiến tranh
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhiều mâu thuẫn và tranh
chấp trong nội bộ phe Đồng minh chống phát xít nổi lên gay gắt. Trong bối cảnh
đó, Hội nghị cấp cao của ba cường quốc họp tại Ianta (Liên Xô) từ ngày 4 đến
ngày 12/2/1945 đã đi đến thoả thuận việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp
quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.
Theo kết quả của hội nghị, Đông Nam Á, Tây Á, Nam Á… vẫn thuộc
phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây.
2. Tình hình các nước lớn và thái độ của họ đối với Việt Nam
Các nước lớn như Mỹ, Liên Xô, Anh đã làm ngơ cho Pháp quay trở lại
xâm lược Đông Dương bởi nhiều toan tính như sau:
Về phía Mỹ, mặc dù không muốn cho Pháp tiếp quản Đông Dương (1944-
1945) nhưng vào giai đoạn 1945-1947 khi chiến tranh lạnh bắt đầu nổ ra thì Mỹ
muốn lôi kéo Pháp làm đồng minh của Mỹ trong chạy đua vũ trang, chuẩn bị tiến
hành một cuộc “chiến tranh tổng lực” nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa.
Trong thời kỳ này, Liên Xô chưa quan tâm đến Việt Nam và việc mở rộng
ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Liên Xô cũng muốn Pháp đứng về phía mình trong
cuộc chiến tranh lạnh nên làm ngơ cho Pháp là điều dễ hiểu.

P
Ph
hâ
ân
n
t
tí
íc
ch
h
n
nh
hâ
ân
n
t
tố
ố
n
nộ
ội
i
t
tạ
ại
i
t
tr
ro
on
ng
g
c
ch
hí
ín
nh
h
s
sá
ác
ch
h
đ
đố
ối
i
n
ng
go
oạ
ại
i
c
củ
ủa
a
V
Vi
iệ
ệt
t
N
Na
am
m
D
Dâ
ân
n
c
ch
hủ
ủ
C
Cộ
ộn
ng
g
h
hò
òa
a
t
tr
ro
on
ng
g
g
gi
ia
ai
i
đ
đo
oạ
ạn
n
1
19
94
45
5-
-1
19
94
46
6
–
–
N
Nh
hó
óm
m
2
2
L
Lớ
ớp
p
E
E3
33
3
5
Còn nước Anh cấu kết với Pháp đàn áp cách mạng Đông Dương vì sợ
rằng phong trào ấy “làm gương” cho các thuộc địa của Anh. Mặt khác, cũng để
ngǎn chặn âm mưu của Mỹ muốn tranh giành quyền lợi với Anh, Pháp ở Đông
Dương và Đông Nam Á.
II. BỐI CẢNH KHU VỰC
Ở khu vực Đông Nam Á, phong trào giải phóng dân tộc bắt đầu dâng cao.
Điển hình có thể kể ra Inđônêxia giành độc lập 17/8/1945 từ Hà Lan; Philippin
giành độc lập năm 1946 đã cổ vũ tinh thần đấu tranh giành độc lập tự chủ ở các
nước thuộc địa.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc,
phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản và các
nước thuộc địa trong khu vực và trên toàn thế giới như vậy thì sự thắng lợi của
cuộc Cách mạng Tháng Tám dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung, phù hợp với Hiến chương Liên
Hợp Quốc.
III. BỐI CẢNH TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 1945-1946
Có thể khẳng định chính sách đối ngoại là sự kéo dài của chính sách đối
nội. Trong đó, nhân tố nội tại có tác động lớn đến chính sách đối nội từ đó ảnh
hưởng đến chính sách đối ngoại
1. Nạn đói
a. Nguyên nhân
Do hậu quả của sự vơ vét, bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp từ cuộc khai
thác thuộc địa để khôi phục lại nước Pháp sau chiến tranh, người dân Việt Nam
đã phải chịu một đời sống vô cùng khổ cực, xã hội bị phân hóa sâu sắc. Hơn thế,
việc phát xít Nhật tiến vào Đông Dương năm 1940 khi Pháp vẫn còn ở đó đã đặt

