VĂN MẪU LỚP 11
PHÂN TÍCH VẺ ĐẸP LÃNG MẠN VÀ HÀO HÙNG CỦA NHÂN VẬT
TRỮ TÌNH TRONG BÀI THƠ LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG – PHAN
BỘI CHÂU
BÀI MẪU SỐ 1:
Xuất dương lưu biệt không những một bài thơ hay, mà còn một mốc quan
trọng đánh dấu cuộc đời hoạt động cứu nước sôi nổi cùng thơ văn cổ động lòng yêu nước
và đấu tranh cách mạng đầy nhiệt huyết của nhà chí Phan Bội Châu. Bài thơ được ứng
khẩu trong hoàn cảnh tác giả tạm biệt bạn đồng chí để lên đường. Xuất dương lưu biệt
bài ca hào sảng hùng tráng vchí nam nhi của nhân vật trữ tình mang vđẹp lãng
mạn và hào hùng.
Bài thơ Xuất dương lưu biệt giờ phút con hổ được về rừng, con kình được ra
biển khơi, con đại bàng được tung cánh, phía trước còn biết bao khó khăn nguy
hiểm, nhưng chúng cái hanh phúc được vẫy vùng. Sau một thời gian tham gia các
phong trào yêu nước nhưng không đem lại hiệu quả, Phai Bội Châu đã trăn trở suy để
tìm ra một con đường cứu nước mới để đưa nước Việt Nam hùng mạnh như các nước
Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản). Đến m 1905 ông giã biệt bạn để sang Nhật cầu
giúp đỡ. Xuất dương lưu biệt là những lời lẽ tỏ rõ quyết tâm của ông trước khi lên đường:
Làm trai há phải lạ trên đời.
Há đế càn không tự chuyển dời.
Câu thơ thể hiện quan niệm vchí nam nhi của Phan Bội Châu, làm trai trước
hết phải được sự nghiệp anh hùng. Chúng ta bắt gặp ý thơ này trong bài Thuật hoài của
Phạm Ngũ Lão:
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thỉnh nhân gian thuyết Vũ hầu
Hay trong thơ của Nguyễn Công Trứ.
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển.
Quan niệm của cụ Phan giống với các nhà nho thuở xưa, đã con người sống
trong trời đất này, phải làm được một điều đấy, đã sinh ra làm knam nhi cũng phải
mong có điều lạ. Nhưng tới câu thơ thứ hai, ý thơ cửa Phan Bội Châu đã bắt đầu khác: Lẽ
nào dể trời đất chuyền vần lấy sao. Nghĩa Phan Bội Châu đã thoát ra khỏi tưởng
thiên mệnh của người xưa. Xưa kia người anh hùng tiết tháo Đặng Dung chua chát nhận
ra thời vận (tức ý trời) là nhân tố quyết định n sự thành bại. chứ không phải do tài năng
của bản thân:
Thời lai đồ điếu thành công dị.
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
(Gặp thời thì anh hùng thật, người câu cũng dễ dàng m nên công trạng / vận
đã hết thì anh hùng cũng chỉ nuốt hận mà thôi).
Với Phan Sào Nam thì ngược lại, ông đặt con người ngang tầm với càn khôn (đất
trời). Càn khôn xoay vần cuộc đời thi cớ con người không xoay vần được càn không.
Người xưa nói: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên (Mưu việc do con người, nhưng thành
công là bởi ý trời). Phan Bội Châu không đề cập chuyện thành bại ở đây nhưng ý chí dám
xoay lại n khôn thì không chngang tàng, bướng bỉnh phần tự tin, lạc quan.
Thoát khỏi tư tưởng thiên mệnh là bước đột khởi để người chí sĩ cách mạng thực hiện chí
nam nhi của mình. Sau khi so mình với càn khôn, tác giả lại so mình với đồng loại:
Uu bách niên trung tri hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy
(Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai?).
Hào kiệt xưa kém thua càn khôn nhưng với đồng loại thì tự cho mình xuảt
chúng, không bao giờ chịu trong đám đông tầm thường. Với Phan Bội Châu tkhác
nhiều, ông vừa đánh giá cao nhân anh hùng, nhưng cũng không cho nhân ấy duy
nhất. Câu thơ thứ ba của bài rất gần với ý thơ của Nguyền Công Trứ.
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải cỏ danh gì với núi sông.
Nhưng câu thơ thứ thì lại rất khác. Tác giả đặt vai trò của nhân mình bình
đẳng với các nhân khác, tuy rằng đó mới chỉ một câu nghi vấn: Sau này muôn thuở,
há không ai? Nhưng đã chứng tỏ Phan Bội Cháu không coi mình Là duy nhất.
Bản thân là một nhà nho, nhưng không vì thế mà Phan Bội Châu giữ lấy sự cố hữu
của nhà nho, trái lại ông con người của thực tiễn, m hớ với trào lưu đổi mới. Đầu
tiên đó là sự dổi mới của tư tưởng nhận thức.
Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Nhà thơ đã đặt số phận của đất nước bên cạnh số phận cùa mỗi người, điều này
không phải đến Phan Bội Châu mới có. Nhưng lẽ ít ai nói được điều đó da diết thống
thiết như cụ Phan. Nước đã mất đồng nghĩa với anh hùng chịu nhục. Nhục thì phải đứng
lên rửa nhục, làm được điều đó thì xứng đáng là anh hùng. Việc học cũng phải quan niệm
lại. Nếu như ở Nguyên Khuyến hay Tú Xương:
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Hay:
Ông nghè ông cống cũng nằm co.
Chỉ niềm cảm khái cho đạo thánh hiền đến buổi lụi tàn, thì Phan Bội Châu
sự phê phán đến gay gắt. Sách vthánh hiền dụng mà còn ngồi tong thì chỉ hoài,
nghi mà thôi.
Sau đổi mới về tư tưởng, nhận thức là sự đổi mới về hành động:
Muốn vượt biển đông theo cách gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
(Nguyện trục trường phong đông hải khứ Thiên trùng bạch lãng nhất tề phỉ).
Sóng gió ở đây không phải ng gió bình thường, mà là gió dài (trường phong),
sóng bạc (bạch lãng) tức sóng to gió lớn (phong ba bão táp). Nời hào kiệt không những
không sợ sóng gió còn coi sóng gió bạn đường (những khó khăn nguy hiểm trên
dường hoạt động) là đối tượng để mình dua sức, đua tài
Hai câu thơ cuối thế hiện ý chí mạnh mẽ của Phan Bội Châu, mong muốn được ra
đi bất chấp mọi kkhăn gian khổ. Câu thơ gợi một cảm giác bừng bừng tráng khí chứ
không mang một chút lo âu, cũng chẳng hề nghĩ đến quan san muôn dặm hay lữ ththa
hương. Nhiệt huyết cứu nước cứu nòi đã lấn át đi tất cả. Câu thơ vượt Biển Đông cũng
ngầm ý sang Nhật Bản, đất nước nhờ biết duy tân trở nên hùng cường, đánh thắng
cả nước Nga hùng mạnh, là tấm gương sáng cho các dân tộc noi theo.
Vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhân vật trữ tình trong tác phẩm đã được thế
hiện rõ nét trong chím trai của tác giả. Nó thể hiện khát vọng độc lập tự do cùa các bậc
chí sĩ yêu nước thuở xưa.
Trong bối cảnh đất nước Vua tượng gỗ, dân thân trâu tế á ca), sự
xuất hiện của Phan Bội Châu với sứ mệnh hai vai gánh vác cả sơn đã thổi vào lịch sử
văn học một luồn sinh khí hào hùng chưa từng có. Qua vẻ đẹp lãng mạn mà hào hùng của
nhân vật trữ tình, Phan Bội Châu muôn hát vang chí nam nhi, trở thành gạch nối giữa
tưởng cao đẹp của nhà nho chân chính với lí tưởng cách mạng hội chủ nghĩa của
người cộng sản, mà tiêu biểu là Nguvền Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
Nhằm khơi dậy lòng yêu nước, kêu gọi đấu tranh độc lập tự do của Tổ quốc,
trong các ng tác thơ ca của mình Phan Bội Châu thường xây dựng những nhân vật trữ
tình đầy băn khoăn trăn trởvì trách nhiệm, vì khát vọng làm người ở đời...
BÀI MẪU SỐ 2:
...Trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương,hình tượng nhân vật trữ tình hiện lên thật
đẹp đẽ, hùng vĩ gắn với lý tưởng tự khẳng định mình và lòng yêu nước thiết tha:
Làm trai phải lạ trên đời để càn khôn tự chuyển dời Trong khoảng trăm m
cần tớ Sau này muôn thuở không ai Non sông chết sống thêm nhục liền thánh
làm chi học cũng hoài Muốn vượt bể Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra
khơi.
Bài thơ nguyên văn làm bằng chữ Hán tên Xuất dương lưu biệt.Như ta đã biết,
sau khi vận động thành lập hội Duy tân (1905) Phan Bội Châu tranh thủ viện trợ nước
ngoài đào tạo cốt cán cho phong trào yêu nước. Bài thơ được làm trong buổi chia tay với
các đồng ccủa mình trước khi c giả lên đường. Trên đây bản dịch thơ của Tòn
Quang Phiệt.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ có một khát vọng lớn lao:
Làm trai phái lạ trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Ý thức nhân của con người ấy thể hiện rất rõ. ‘Làm trai’ tức ý thức vtrách
nhiệm của thân phận ‘Chí nam nhi nam bắc đông tây’. Làm trai phải lạ trên đời! ‘. ‘Phái
lạ’ sao? ‘Phải lạ’ phải điều khác hẳn, ợt lên hẳn mọi thứ tầm thường trên
đời. Nói như Nguyễn Công Trthì đó ‘Phải danh gì với núi ng’. Phan Bội Châu
đã ghi dấu ấn với sông với núi bằng khát vọng xoay trời chuyển đất: ‘Há để càn khôn tự
chuyển dời’. Không để đất trời tựvần xoay, phải chế ngựsự biến dối ày bằng những hành
động, việc làm xứng đáng với thân nam nhi.
Kháng định chí làm trai, tiến thêm một bước là khẳng định một cái ‘Tôi’ kỳvĩ:
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
SAU nảy muôn thuở há không ai.
Lời nói hùng khí ấy chỉcó thể thốt lên từ một bậc anh hùng. Trong khoảng trăm
năm cứa cuộc đời cần ta gánh vác. Câu thơ khẳng định vai trò nhân đối với vận
mệnh đất nước cũng thể hiện một cái ‘tôi’ đầy trách nhiệm sẵn sàng gánh vác kế
trăm năm nghiệp vuông trên của đồ xã tắc. Trong thời cuộc rối ren đẩu thế kỷ XX, khi
bao kẻ chỉ chăm chăm ‘nm co’ cho khuôn vừa thòi thế, sự vùng vẫy của cái tôi kia thật
đáng trân trọng.
Tin bán thân cái ‘tôi’, nhân vật trữ tình còn tin tương lai ‘sau này muôn thuở
không ai’. Sau này nghìn m lại không ai lưu danh muôn thuởvì dân nước hay
sao? Cau thơ dáng dấp một câu hỏi nhưng cũng một câu khẳng định ắt sau này có
người làm nên nghiệp lớn, lưu danh muôn thuởcứu dân cứu nước. Đó không là ta thì sẽ là
một người hậu thế. Lời thơ bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai, đó giống như sự trao 2Ú'i
lịch sử vào tay hậu thế.
Bàn về chí lam trai, bàn về cái ‘tôi’ đời, nhà thơ đặt nhân vật trtình hoàn cảnh
cụ thê cùa đất nước:
Non sòng đã chết sống thêm nhục
Hiên thánh lùm chi học cũng hoài.
Luận vế lẽsống chết ở đời để khẳng định, đề cao tư tưởng mới mẻ của nhân vật trữ
tình. * ‘Non sông đã chết sống thêm nhục’. Nếu như chí m trai gắn số phận k m trai
với trách nhiệm xoay trời chuyển đất thì ớc nhà sa ‘đã chết’ cái nhục thuộc
vềsựsống kẻ m trai. Nhận trách nhiệm chung về mình, đó biểu hiện cao độ cùa lòng
tự trọng con người. đây lòng tự trọng được thể hiện nỗi đau mất nước, nỗi nhục quốc
thể.
Đặc biệt, tướng nhàn vật trữ tình đối vói nghiệp bút nghiên một tưởng vô
cùng mới mé ‘Hiền thánh làm chi học cũng hoài’. Tư tưởng ấy khẳng định: đạo Nho, chữ
Nho, quan điểm nhà Nho (hiền thánh) đã không còn hợp thời hợp thế. Chúng không còn
tác dụng thúc đẩy sự phát triển của dân tộc. Vậy, trong thời đại mới cần xếp bút nghiên
nắm lây khí tranh đấu cho lòng tự tôn dân tộc, lòng tự trọng nhàn. tưởng ày
hết sức mới mẻ, táo bạo thoát ra khỏi lề lối sáo mòn gò ép của tư tưởng Nho gia thúc giục
con người lên đường tranh đấu.
Vậy lên đường tranh đấu bằng cách nào?
Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
Hình tượng nhân vật trữ tình không còn hiện lên trong khuôn khổ những tưởng
ý chí vụt hóa thành con người của hành động. Càu thơ khắc họa một cuộc tiễn đưa
hào hùng của lịch sử. Hình ảnh thế người ra đi cùng lớn lao kỳvĩ vượt bể Đông
theo cánh gió’ để ‘Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi’. Phải ‘bể Đông’ ‘cánh gió’ mới
xứng đáng với sự kỳvĩ của ước người anh hùng. ‘Muôn trùng sóng bạc’ của quê
hương tiễn đưa người anh hùng ra đi chí lớn. Bài thơ khép lại nhưng mớ ra hy vọng
cho tương lai đất nước dựa vào cuộc ra đi hào hùng cua bậc anh hùng hào kiệt.
Hình tượng nhân vật trtình trong bài thơ hiện lên nhiều phương diện: tưởng
khát vọng, hành động. Qua đó bộc lnhững quan điểm mới mẻ, tiến bộ về nhân sinh
quan. Bài thơ kết thúc hình ảnh người ra đi đẹp hào hùng gieo vào lòng người những
đợi chờ hy vọng.
Hóa thân vào nhân vật trữ tình của bài thơ, Phan Bội Châu thể hiện khát vọng ý
chí nhân m nên nhiều biến động đổi thay trong lịch sử. nhà thơ, thơ người